Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần sữa Vinamilk Vinamilk là tên gọi tắt của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vietnam Dairy Products Joint Stock Company một công ty sản xuất, k
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VINAMILK
Giới thiệu chung về công ty cổ phần Vinamilk
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam được thành lập theo quyết định số 155/2003QĐ-BCN ngày 01 tháng 10 năm 2003 của Bộ Công nghiệp, trên cơ sở chuyển đổi từ Doanh nghiệp Nhà nước Công ty Sữa Việt Nam thành công ty cổ phần.
Công ty đã được cấp Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103001932 bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh vào ngày 20/11/2003, xác nhận đăng ký hoạt động kinh doanh hợp pháp Trước ngày 1 tháng 12 năm 2003, công ty là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Công nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực công nghiệp của nhà nước.
- Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
- Trụ sở: 36 - 38 Ngô Đức Kế, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh
- Văn phòng giao dịch: 184–186–188 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh
- Web site: www.vinamilk.com.vn
- Email: vinamilk@vinamilk.com.vn
Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần sữa Vinamilk
Vinamilk là tên gọi tắt của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vietnam Dairy
Products Joint Stock Company là công ty sản xuất và kinh doanh các sản phẩm sữa và thiết bị máy móc liên quan tại Việt Nam Theo thống kê của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, công ty này xếp thứ 15 về quy mô tại Việt Nam năm 2007.
Mã giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là VNM
Công ty là doanh nghiệp hàng đầu trong ngành chế biến sữa tại Việt Nam, chiếm lĩnh hơn 75% thị phần thị trường sữa quốc gia Với mạng lưới phân phối rộng khắp trong nước, công ty đảm bảo cung ứng các sản phẩm sữa chất lượng cao đến khách hàng trên toàn quốc.
Vinamilk đã xây dựng hệ thống phân phối rộng lớn gồm 183 nhà phân phối và gần 94.000 điểm bán hàng phủ đều khắp 64 tỉnh thành Việt Nam, đảm bảo sản phẩm dễ tiếp cận cho người tiêu dùng Sản phẩm của Vinamilk không chỉ phổ biến trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều quốc gia như Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Đức, khu vực Trung Đông và Đông Nam Á, mở rộng thị trường quốc tế Sau hơn 30 năm đồng hành cùng người tiêu dùng, Vinamilk đã xây dựng 8 nhà máy, 1 xí nghiệp và đang tiếp tục mở rộng thêm 3 nhà máy mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng Với đa dạng sản phẩm, hiện Vinamilk sở hữu hơn 200 mặt hàng sữa tiệt trùng, sữa thanh trùng và các sản phẩm chế biến từ sữa, khẳng định vị trí hàng đầu trong ngành sữa Việt Nam và quốc tế.
Th ời kỳ Cổ Phần Hóa (2003 -Nay)
2003: Công ty chuyển thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Tháng 11) Mã giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán là VNM
2004: Mua thâu tóm Công ty Cổ phần sữa Sài Gòn Tăng vốn điều lệ của Công ty lên 1,590 tỷ đồng
Năm 2005, công ty mua lại phần cổ phần còn lại của đối tác liên doanh trong Công ty Liên doanh Sữa Bình Định, sau đó đổi tên thành Nhà máy Sữa Bình Định Cũng trong năm này, nhà máy Sữa Nghệ An chính thức đi vào hoạt động và được khánh thành vào ngày 30 tháng 6, tọa lạc tại Khu Công Nghiệp Cửa.
Lò, tỉnh Nghệ An, là địa phương nơi liên doanh SABmiller Asia B.V thành lập Công ty TNHH Liên Doanh SABMiller Việt Nam vào tháng 8 năm 2005 Sản phẩm đầu tiên mang thương hiệu Zorok của liên doanh chính thức được giới thiệu ra thị trường vào đầu năm 2007, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong chiến lược mở rộng thị trường bia tại Việt Nam.
Vào ngày 19 tháng 01 năm 2006, Vinamilk chính thức niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hoạt động phát triển của công ty Tại thời điểm đó, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước nắm giữ 50.01% vốn điều lệ của Vinamilk, thể hiện sự kiểm soát chiến lược và định hướng phát triển của nhà nước đối với doanh nghiệp.
2007: Mua cổ phần chi phối 55% của Công ty sữa Lam Sơn vào tháng 9 năm
2007, có trụ sở tại Khu công nghiệp Lễ Môn, Tỉnh Thanh Hóa
2009: Phát triển được 135.000 đại lý phân phối, 9 nhà máy và nhiều trang trại nuôi bò sữa tại Nghệ An, Tuyên Quang
2010 - 2012: Xây dựng nhà máy sữa nước và sữa bột tại Bình Dương với tổng vốn đầu tư là 220 triệu USD
2011: Đưa vào hoạt động nhà máy sữa Đà Nẵng với vốn đầu tư 30 triệu USD.
Tình hình kinh doanh của công ty cổ phần Vinamilk trong những năm qua
Năm 2008, Vinamilk (VNM) đã thể hiện nội lực vững mạnh với kết quả kinh doanh ấn tượng, đạt 7.076 tỷ đồng doanh thu và 1.129 tỷ đồng lợi nhuận ròng trong 10 tháng, hoàn thành lần lượt 86,3% và 99% kế hoạch năm Cổ phiếu VNM có giá trị giao dịch bình quân đạt 706.000 USD/ngày, chiếm gần 5% tổng giá trị giao dịch trên sàn TP.HCM, và là một trong những cổ phiếu niêm yết có tính thanh khoản cao nhất Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn khó khăn, dự kiến mức chi tiêu cho các mặt hàng tiêu dùng tại Việt Nam sẽ giảm trong vòng 12 tháng tới.
Theo đánh giá của một công ty chứng khoán lớn tại TP.HCM, việc nhà đầu tư nước ngoài bán cổ phiếu VNM gần đây tạo cơ hội mua vào hấp dẫn Các hành động bán ra chỉ phản ứng trước các biến động kinh tế quốc tế, trong khi triển vọng tăng trưởng và nhận định tích cực về cổ phiếu VNM vẫn không đổi Nhiều công ty chứng khoán dự báo rằng, trong năm 2009, VNM sẽ phát huy 3 thế mạnh chính giúp nâng cao hiệu quả đầu tư.
+ Trước hết, cổ phiếu VNM có mức tăng trưởng cao, ổn định và giá hấp dẫn
+ Thứ hai, về khả năng tài chính, VNM là công ty có dòng tiền ổn định và khả năng tài trợ vốn tốt
+ Thứ ba, tiềm năng tăng trưởng của VNM còn dựa vào một số yếu tố quan trọng là thị phần, giá trị vốn hoá và mạng lưới phân phối
Dựa trên những thuận lợi đã có, dự báo tích cực về tăng trưởng của VNM trong tương lai được đưa ra, với tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu dự kiến tăng từ 27% năm 2007 lên 33% trong các năm 2008 và 2009 Các yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng này bao gồm giảm giá vốn, tăng giá bán, nâng cao hiệu quả kinh doanh nhờ quy mô sản xuất lớn hơn, giúp giảm giá thành trên đơn vị sản phẩm, cũng như quá trình tái cơ cấu sản phẩm nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.
Dự kiến, tỉ suất lợi nhuận từ hoạt động sẽ tăng đáng kể, từ 9% năm 2006 lên 19% năm 2009, chủ yếu nhờ vào việc tỉ suất lợi nhuận gộp tăng và chi phí bán hàng giảm chiếm tỷ trọng trong doanh thu (chỉ còn 11% trong 6 tháng đầu năm 2008) Đến năm 2010, dù vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, công ty đã đạt được kết quả kinh doanh cao nhất từ trước đến nay nhờ nỗ lực và sự tin tưởng của người tiêu dùng.
Về doanh thu & lợi nhuận
Tổng doanh thu đạt 16.081 tỷ đồng, tăng 49% so với kỳ trước, trong đó doanh thu nội địa tăng trưởng 50% và doanh thu xuất khẩu tăng 40% Doanh thu xuất khẩu đóng góp khoảng 10% vào tổng doanh thu, cho thấy sự mở rộng mạnh mẽ của thị trường quốc tế và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên toàn cầu.
Lợi nhuận trước thuế đạt 4.251 tỷ đồng, tăng 56% so với cùng kỳ năm 2009 Thu nhập cơ bản trên 1 cổ phiếu (EPS) đạt 10.251đồng/cp, tăng 51.4% so với 2009
Các chỉ tiêu về doanh số và lợi nhuận của ĐHĐCĐ đặt ra đầu năm Công ty đều vượt, cụ thể như sau:
Tổng tài sản đạt 10.773 tỷ đồng, tăng 27% so với 2009
Tổng nguồn vốn chủ sở hữu đạt 7.964 tỷ đồng, tăng 23 % so với 2009
Tài sản và nguồn vốn tăng chủ yếu là do lợi nhuận tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Cuối năm 2010, Vinamilk đã mở rộng hệ thống phân phối của mình lên đến khoảng 140.000 điểm bán lẻ, đảm bảo sự phủ sóng rộng khắp trên toàn quốc Trong năm này, công ty cũng tiến hành cải tổ và chuẩn hóa cấu trúc hệ thống phân phối, tập trung vào việc củng cố kênh truyền thống làm nền tảng chính cho sự phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.
Trong năm 2010, Vinamilk đã ra mắt 20 sản phẩm mới đa dạng, bao gồm sữa chua ăn lợi khuẩn bổ sung probiotics giúp cải thiện hệ tiêu hóa, nước uống Artiso, trà xanh hương chanh, nước táo, nước cam, trà bí đao, cùng các sản phẩm sữa tiệt trùng bổ sung vi chất và các loại bột dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu sức khỏe và sự đa dạng của người tiêu dùng.
Đầu tư tài sản cố định: trong năm Công ty đã giải ngân 1.680 tỷ đồng, đạt 98% kế hoạch
Các dự án lớn đã khởi động như nhà máy sữa Mega Bình Dương, nhà máy Sữa bột Dielac 2 và nhà máy sữa Ðà Nẵng
Trong năm 2010, Công ty đã đầu tư vào dự án nhà máy sữa bột Miraka tại New Zealand với số vốn 8.5 triệu USD, chiếm 19.3% vốn điều lệ của Công ty Miraka Đầu tư này thể hiện chiến lược mở rộng quốc tế và tăng cường vị thế trong ngành sữa toàn cầu.
Công ty đã hoàn tất việc chuyển nhượng toàn bộ vốn của Công ty TNHH F&N Việt Nam tại Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (VSIP) nhằm mở rộng dự án sản xuất Mục đích chính của giao dịch này là để có đủ quỹ đất xây dựng nhà máy sữa Dielac 2 với công suất 54.000 tấn/năm Qua đó, công ty nâng cao năng lực sản xuất và đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng tăng về các sản phẩm sữa chất lượng cao.
Nhà máy cà phê Sài Gòn đã hoàn tất việc chuyển nhượng bán cho Công ty Cổ phần Trung Nguyên Việc này giúp tập trung phát triển mảng ngành sữa của công ty Đây là bước đi chiến lược nhằm tối ưu hóa nguồn lực và hướng mạnh vào lĩnh vực kinh doanh chủ chốt.
Trong năm 2010, Vinamilk đã hoàn tất việc mua lại toàn bộ phần vốn của các cổ đông khác trong Công ty Sữa Lam Sơn để chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên Sữa Lam Sơn, đánh dấu bước tiến quan trọng trong chiến lược mở rộng và sử dụng nguồn lực nội bộ của công ty.
Nhà máy nước giải khát đã đi vào hoạt động từ tháng 6 năm 2010, giới thiệu các sản phẩm nước giải khát tốt cho sức khỏe như trà xanh, trà sâm bí đao, trà artiso và các loại nước ép trái cây đa dạng Các sản phẩm của nhà máy không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn mang lại lợi ích sức khỏe cho người tiêu dùng Việc ra mắt các dòng nước giải khát tự nhiên này thể hiện cam kết của công ty trong việc cung cấp các sản phẩm an toàn, tốt cho sức khỏe và phù hợp xu hướng tiêu dùng hiện đại.
Khai trương trụ sở mới của Vinamilk tại Phú Mỹ Hưng vào tháng 12/2010
Các danh hiệu đạt được: Vinamilk đã đạt được các danh hiệu đáng chú ý sau:
Top 200 doanh nghiệp tốt nhất châu Á
Top 5 doanh nghiệp tư nhất lớn nhất Việt Nam 2010
1 trong 50 Thương Hiệu Quốc Gia (Bộ Công Thương)
Top 10 Thương hiệu nổi tiếng nhất khu vực Superbrands
Hàng Việt Nam chất lượng cao năm 2010 (Báo Sài Gòn Tiếp Thị)
Thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2010 (Thời báo Kinh tế Việt Nam)
Thương hiệu nổi tiếng Việt Nam năm 2010 (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam)
1 trong 15 thương hiệu được nhận giải “Tự hào thương hiệu Việt” (Báo Ðại đoàn kết)
Top 50 DN nộp thuế cao nhất năm 2010 (Tổng cục thuế)
Thương hiệu chứng khoán uy tín năm 2010 (Hiệp hội kinh doanh chứng khoán)
1 trong 20 doanh nghiệp niêm yết tiêu biểu trên cả 2 sàn Hồ Chí Minh và Hà Nội (Trung tâm Thông tin Tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (CIC)).
Điểm mạnh, điểm yếu về hoạt động kinh doanh
Danh mục sản phẩm đa dạng và mạnh, mạng lưới phân phối và bán hàng rộng khắp
Vinamilk chiếm hơn 50% sản lượng sữa tươi nguyên liệu tiêu thụ trong nước, giúp doanh nghiệp nắm giữ vị thế thống lĩnh thị trường sữa tươi nguyên liệu Sự chi phối này mang lại lợi thế lớn trong việc định hình giá cả và kiểm soát nguồn cung trên thị trường nội địa Nhờ đó, Vinamilk củng cố vị trí hàng đầu trong ngành sữa tại Việt Nam, đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định và chiếm ưu thế cạnh tranh.
Xây dựng mối quan hệ bền vững với các nhà cung cấp giúp đảm bảo nguồn sữa đáng tin cậy và ổn định cho hoạt động sản xuất Quản lý tốt các mối quan hệ này thể hiện qua kết quả kinh doanh ổn định và hiệu quả Đồng thời, sử dụng thiết bị và công nghệ sản xuất đạt chuẩn quốc tế nâng cao chất lượng và năng suất, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Với bề dày lịch sử và mặt bằng thị trường Việt Nam, Vinamilk có khả năng nắm bắt xu hướng và thị hiếu tiêu dùng một cách chính xác Nhờ đó, công ty tập trung phát triển những dòng sản phẩm phù hợp, đáp ứng đánh giá của người tiêu dùng Ví dụ, sự hiểu biết sâu sắc về thị trường đã giúp dòng sản phẩm Vinamilk Kid trở thành một trong những sữa bán chạy nhất dành cho trẻ em từ 6 đến 12 tuổi tại Việt Nam năm 2007.
Công ty tiên phong trong việc chủ động về nguyên liệu và không ngừng học hỏi các kỹ thuật nuôi bò sữa tiên tiến để nâng cao hiệu quả sản xuất Hiện nay, công ty đã triển khai các dự án chăn nuôi bò sữa trực tiếp và đồng thời hỗ trợ nông dân trong quá trình nuôi bò sữa Bên cạnh đó, công ty còn hợp tác với các dự án nuôi bò sữa tại New Zealand – quốc gia xuất khẩu sữa nguyên liệu và sữa thành phẩm lớn nhất vào thị trường Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng nguồn nguyên liệu.
Vinamilk đầu tư mạnh vào hình ảnh và uy tín của công ty thông qua các hoạt động xã hội như chương trình học bổng, giúp đỡ người nghèo, cứu trợ bão lũ và nuôi dưỡng bà mẹ Việt Nam Anh Hùng Những hoạt động này đã nâng cao hình ảnh thương hiệu của Vinamilk trong lòng người tiêu dùng, góp phần đảm bảo sự ổn định và thúc đẩy tăng trưởng doanh thu của công ty.
1.4.2 Điể m y ế u: Điểm mạnh của Vinamilk là có những thương hiệu mạnh, những sản phẩm tốt với chất lượng rất cao nhưng năng lực marketing thì lại yếu, không tương xứng với sức mạnh to lớn của hệ thống sản phẩm và lực lượng sản xuất rất hùng hậu Marketing chưa xây dựng được một chiến lược truyền thông và những thông điệp hiệu quả để quảng bá đến người tiêu dùng về những điểm mạnh và ưu thế của các thương hiệu và sản phẩm của Vinamilk Nói về sản phẩm sữa tươi thì tỷ trọng sữa tươi của các sản phẩm Vinamilk rất cao, ít nhất từ 70% đến 99% sữa tươi so với các đối thủ chỉ có khoảng 10% sữa tươi nhưng Vinamilk lại chưa hề có một thông điệp nào mạnh mẽ để khẳng định ưu thế đó đến người tiêu dùng Chủ động trong nguồn nguyên liệu, giá thu mua sữa cao hơn, hệ thống xe đông lạnh vận chuyển tốt, dây chuyền chế biến hiện đại là một lợi thế vượt trội của Vinamilk nhưng tất cả thế mạnh hơn hẳn này lại không được chuyển tải đến người tiêu dùng Hoạt động Marketing của công ty chủ yếu tập trung ở miền Nam, trong khi Miền Bắc lại chưa được công ty đầu tư mạnh cho các hoạt động Marketing, điều này có thể dẫn đến việc công Vinamilk mất dần thị trường vào tay các đối thủ cạnh tranh của mình như Dutch Lady, Abbott…30% doanh thu của công ty là từ xuất khẩu, thị trường chính là Iraq, Campuchia và một số nước khác Tình hình bất ổn ở Iraq có thể khiến doanh thu từ hàng xuất khẩu sang thị trường này suy giảm.
PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG MARKETING TẠI CÔNG TY CP VINAMILK
Môi trường vĩ mô của công ty Vinamilk
Việt Nam có môi trường chính trị ổn định, nhà nước chú trọng đến công bằng
XH, trong SX-KD giữa các Dn tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các DN có thể yên tâm SX
Thuế cao đối với sản phẩm sữa nhập khẩu làm tăng giá thành, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành sản xuất sữa trong nước Hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu mở ra cơ hội cho doanh nghiệp sữa tiếp cận công nghệ sản xuất tiên tiến và hiện đại Các chính sách thuế và hội nhập giúp thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh và nâng cao chất lượng sản phẩm sữa nội địa.
Các quốc gia phát triển đều nhìn nhận rằng việc trẻ em tiếp xúc với sữa từ sớm, kết hợp với hoạt động vui chơi giải trí khoa học, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện về chiều cao, cân nặng và trí tuệ Điều này giúp các quốc gia sở hữu nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai Việt Nam cũng hướng tới mục tiêu này, với mong muốn mọi người dân có quyền hưởng lợi từ những điều kiện tự nhiên đó Mặc dù năng lực sản xuất và chế biến sữa của Việt Nam còn hạn chế, nhưng Đảng và Nhà nước đã ban hành các chính sách và hệ thống hỗ trợ để thúc đẩy ngành sữa phát triển Đặc biệt, Nhà nước có các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp như Vinamilk trong việc đảm bảo nguồn nguyên liệu, xây dựng hạ tầng, đào tạo chuyên gia, thúc đẩy thị trường, và quảng bá thương hiệu, nhằm nâng cao chất lượng và cạnh tranh của ngành sữa Việt Nam.
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập của người dân đang tăng cao, đời sống được cải thiện rõ rệt Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là trong việc sử dụng các sản phẩm sữa Việc lựa chọn các sản phẩm sữa đảm bảo an toàn không chỉ giúp duy trì sức khỏe mà còn phản ánh xu hướng tiêu dùng thông minh hiện nay.
Mức sống của người dân ngày càng cao đã thúc đẩy chi tiêu cho các sản phẩm sữa trong các hộ gia đình, tạo điều kiện phát triển cho ngành sữa Việt Nam Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỷ lệ lạm phát tăng cao khiến người tiêu dùng phải cắt giảm chi tiêu, đặc biệt tại các vùng nông thôn Việc giảm tiêu dùng sữa đã trở thành thách thức lớn đối với ngành sữa, gây khó khăn cho sự phát triển của ngành này.
2.1.4 Môi trường nhân khẩu học
Hiện nay, tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam diễn ra nhanh chóng, làm thay đổi phân bố dân số và kết cấu kinh tế đất nước Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ đã giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, hiện còn chiếm hơn 50% dân số, nhưng có tiềm năng tiếp tục được rút ngắn Thu nhập bình quân của người dân ngày càng tăng, vượt mốc 1.000 USD/người/năm, góp phần nâng cao mức sống và cải thiện đời sống của cư dân Việt Nam.
Trong cuộc sống hiện nay, nhu cầu của con người vô cùng đa dạng và phong phú, đòi hỏi các doanh nghiệp sữa như Vianmilk phải không ngừng đổi mới và phát triển để đáp ứng nhu cầu thị trường Cơ hội lớn đang mở ra cho các doanh nghiệp sữa khi họ có thể mở rộng sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Việc nắm bắt xu hướng tiêu dùng và cung cấp các sản phẩm sữa phù hợp là chìa khóa để thành công trong ngành công nghiệp sữa hiện nay.
2.1.5 Môi trường văn hóa Đối với Việt Nam, thói quen sử dụng các sản phẩm đồ ngọt cũng như các sản phẩm đóng hộp hay các sản liên quan đến sữa Điều này cũng là dễ hiểu vì điều kiện tình hình nền kinh tế của Việt Nam đang còn nhiều khó khăn và vừa thoát ra khỏi danh sách các nước nghèo nhất trên thế giới (2008), đại bộ phận người dân có mức sống dưới mức trung bình, khả năng tiếp cận với các sản phâm này là gần như rất ít Vì vậy thói quen này chỉ một phận nhỏ người dân thành thị, có mức sống tương đối mới bắt đầu hình thành thói quen sử dụng các sản phẩm liên quan đến sữa Đây là một trong những tác động ảnh hưởng thay đổi từ thành quả của công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập phát triển Nhân thức, thu nhập, lối sống, tư duy của người dân cũng thay đổi Sự tiếp cận các nguồn thông tin trở nên dễ dàng, qua loa đài, báo chí, tivi, tranh ảnh, băng rôn… khiến con người càng cảm thấy có nhu cầu ngày càng cao đối với việc chăm sóc và thoả mãn các nhu cầu về thể chất
Sữa và các sản phẩm như phô mát, café, nước ép là những thực phẩm rất tốt cho sức khỏe và đã trở thành thói quen hàng ngày của nhiều người Thương hiệu uy tín như Vinamilk tạo dựng niềm tin về chất lượng, giúp khách hàng trung thành và tiếp tục sử dụng sản phẩm Trong quan niệm của người Việt, việc dùng những sản phẩm mà mình cảm thấy an tâm và tin tưởng là rất quan trọng và ít khi thay đổi.
Người Việt Nam thường có chiều cao và cân nặng thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc tế, điều này phản ánh đặc điểm hình thể chung của người Việt Tâm lý muốn chứng tỏ bản thân và thu hút sự chú ý của người khác cũng ảnh hưởng đến các mô hình sống và kỳ vọng xã hội Công ty Vinamilk đã tận dụng điểm này để quảng bá một phong cách sống khỏe mạnh, phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ, hướng đến hình mẫu con người năng động, sáng tạo Chiến lược này đã mang lại hiệu quả rất lớn trong việc xây dựng hình ảnh thương hiệu và thúc đẩy lối sống tích cực cho cộng đồng.
Trong quan điểm của người Đông Á, việc tôn vinh hình ảnh quốc gia thông qua thương hiệu mạnh nổi bật trong các dòng sản phẩm nội địa còn có ý nghĩa thúc đẩy lòng tự hào dân tộc và tăng nhận thức về giá trị thương hiệu quốc gia Tham gia vào chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia không chỉ giúp nâng cao thứ hạng cạnh tranh trên thị trường quốc tế mà còn ảnh hưởng tích cực đến tâm lý tiêu dùng trong nước Dù có các chính sách hỗ trợ từ chính phủ, việc xây dựng thương hiệu mạnh vẫn là yếu tố then chốt để định vị thương hiệu quốc gia trên thị trường toàn cầu.
2.1.6 Môi trường khoa học- công nghệ
Vinamilk vẫn là doanh nghiệp hàng đầu trong ngành công nghiệp chế biến sữa tại Việt Nam, với ban lãnh đạo chú trọng vào yếu tố khoa học và công nghệ Công ty đã thực hiện ba đợt đánh giá trình độ công nghệ sản xuất nhằm xác định xuất phát điểm của từng giai đoạn và so sánh với trình độ công nghệ thế giới Kết quả từ các đợt đánh giá này giúp Vinamilk điều chỉnh chiến lược đầu tư và chuyển đổi công nghệ phù hợp với nhu cầu thị trường và nguồn vốn Việc liên tục cập nhật và nâng cao trình độ công nghệ giúp Vinamilk duy trì vị trí dẫn đầu và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành sữa Việt Nam.
Lĩnh vực chế biến sữa Việt Nam, đặc biệt là của Vinamilk, đã đạt tới trình độ tiên tiến và hiện đại của thế giới Nhờ áp dụng công nghệ tiên tiến cùng trang thiết bị hiện đại, ngành sữa Việt Nam đã nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng năng suất sản xuất Những ví dụ cụ thể cho thấy sự phát triển vượt bậc của ngành chế biến sữa Việt Nam hiện nay.
- Đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất sữa bột sấy phun từ công nghệ “gõ” sang công nghệ “thổi khí”
- Công nghệ và thiết bị thu mua sữa tươi của nông dân, đảm bảo thu mua hết lượng sữa bò, thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa trong nước
- Công nghệ tiệt trùng nhanh nhiệt độ cao để sản xuất sữa tươi tiệt trùng;
- Đầu tư và đổi mới công nghệ sản xuất vỏ lon 2 mảnh
Đổi mới công nghệ chiết lon sữa bột giúp ổn định chất lượng sản phẩm, nâng cao thời gian bảo quản và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Công nghệ mới này không chỉ tăng tính an toàn mà còn giữ nguyên vị ngon, đồng thời giảm thiểu rủi ro ô nhiễm trong quá trình đóng gói Việc nâng cấp quy trình chiết lon còn góp phần nâng cao năng suất, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thị trường và đảm bảo sự tín nhiệm của khách hàng.
2.1.6 Môi trường tự nhiên Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với bò sữa: nhiệt độ ảnh hưởngđến tập tính, khả năng thu nhận và tiêu hóa thức ăn, sự tăngtrưởng, sinh sản và sản xuất sữa của bò sữa
Nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng tới nguồn thức ăn và điềukiện thời tiết thay đổi là tác nhân gây bệnh cho bò sữa
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong quá trình lên men của sữa chua, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và độ đông đặc của sản phẩm Bên cạnh đó, điều kiện môi trường cũng ảnh hưởng đến quá trình bảo quản nguyên liệu sữa thô và các sản phẩm từ sữa bò, giúp duy trì độ tươi ngon và an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng.
2.1.7 Môi trường toàn cầu hoá
Môi trường vi mô
Thị trường sữa tại Việt Nam hiện nay rất đa dạng về chủng loại và chất lượng sản phẩm, thu hút sự quan tâm lớn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước Với dân số hơn 80 triệu người nhưng mức tiêu thụ sữa trên đầu người còn khá thấp, Việt Nam trở thành thị trường tiềm năng cho ngành sữa phát triển Cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sữa tại Việt Nam đang là vấn đề hàng đầu của các công ty chế biến sữa Trong những năm gần đây, nhu cầu tiêu thụ sữa tại Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp.
Sau đây là một số yếu tố vi mô của môi trường tác động đến Công ty sữa Vinamilk:
2.2.1 Cạnh tranh nội bộ ngành
Thị trường sữa cạnh tranh gay gắt, với các thương hiệu như VINAMILK và Dutch Lady duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 20% mỗi năm từ 2005 đến 2009, phù hợp với tốc độ tăng trưởng của ngành Mặc dù thị phần của các hãng sữa có sự biến động, nhưng những thay đổi này không đáng kể, cho thấy khả năng duy trì vị thế cạnh tranh và phát triển bền vững trong ngành sữa Việt Nam.
Trong lĩnh vực sữa bột, Abbott duy trì thị phần khoảng 23% từ 2004 đến 2008, trong khi Mead Johnson chiếm khoảng 15% Tuy nhiên, thị phần của VINAMILK đã có sự tăng trưởng đáng kể, từ 11,2% năm 2004 lên 17% vào năm 2008, thể hiện sự vươn lên mạnh mẽ của thương hiệu này trên thị trường.
Ngành sữa tại Việt Nam đang phát triển với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, góp phần thúc đẩy thị trường tiêu dùng trong nước Để duy trì và nâng cao vị thế cạnh tranh, các doanh nghiệp trong ngành cần xây dựng chiến lược đa dạng và sáng tạo, phù hợp với xu hướng thị trường Việc quản lý chiến lược cạnh tranh hiệu quả giúp các công ty nâng cao thị phần và phát triển bền vững trong ngành sữa Việt Nam.
Abbott ban đầu định vị sản phẩm sữa mang thương hiệu GAIN là “tăng cường IQ cho trẻ”, nhưng gần đây đã chuyển sang định vị “sữa bột số 1 Việt Nam” do nhiều hãng sữa khác cũng sử dụng thuật ngữ “tăng cường IQ” Trong khi đó, VINAMILK từng tự hào là “chất lượng quốc tế” và là công ty duy nhất của Việt Nam xuất khẩu sữa sang hơn 10 quốc gia, nhưng gần đây đã dần chuyển sang định vị là sản phẩm sữa dành riêng cho nhu cầu trẻ em Việt Nam.
Các công ty sữa tại Việt Nam đã nâng cấp loạt sản phẩm của mình nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng và giá trị dinh dưỡng Người tiêu dùng thường cho rằng sản phẩm có giá cao hơn đi kèm với chất lượng tốt hơn và nhiều thành phần dinh dưỡng hơn Vì vậy, các thương hiệu như Dutch Lady đã nâng cấp từ Friso thành Friso Gold, Dumex từ Dumex thành Dumex Gold, và Vinamilk đã cải tiến Dielac thành Dielac Alpha với sữa non colostrum, nhằm cung cấp sản phẩm chất lượng cao hơn cho khách hàng.
Các công ty sữa không chỉ tập trung bán sản phẩm mà còn phát triển dịch vụ hậu mãi để xây dựng lòng trung thành của khách hàng Họ thường thành lập các câu lạc bộ và trung tâm tư vấn sức khỏe miễn phí, như Enfa A+ của Mead Johnson, Anlene của Fonterra, Calcimex của Dutch Lady, và Gain Advance IQ của Abbott, nhằm cung cấp tư vấn dinh dưỡng chuyên sâu và hướng dẫn tiêu dùng sản phẩm hiệu quả Các hoạt động này giúp nâng cao giá trị thương hiệu và thúc đẩy sự gắn kết lâu dài với khách hàng.
2.2.2 Áp lực từ nhà cung cấp 2.2.2.1 Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp nguyên liệu sữa trong nước hạn chế
Trong ngành chăn nuôi bò sữa, khoảng 95% số bò được nuôi tại các hộ gia đình nhỏ, trong khi chỉ có khoảng 5% được chăm sóc tại các trang trại chuyên biệt có quy mô từ 100-200 con trở lên Điều này cho thấy quy mô nông hộ chiếm đa số trong ngành chăn nuôi bò sữa, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng và phát triển bền vững của ngành.
Người dân nuôi bò tự phát dẫn đến khó kiểm soát về số lượng và chất lượng, làm giảm khả năng thương lượng của các nhà cung cấp trong nước Thiếu kinh nghiệm quản lý, quy mô trang trại nhỏ, tỷ lệ rối loạn sinh sản và mắc bệnh của bò sữa cao gây bất lợi cho người nông dân nuôi bò sữa Chính vì vậy, các công ty sữa trong nước nắm thế chủ động trong việc thương lượng giá thu mua sữa, giúp đảm bảo ổn định nguồn cung và nâng cao giá trị sản phẩm.
2.2.2.2 Phụ thuộc nhiều vào diễn biến giá cả nguồn nguyên liệu nước ngoài
Với hơn 70% nguyên liệu sữa bột nhập khẩu, giá sữa bột thế giới đang tạo áp lực lớn lên ngành sản xuất sữa Việt Nam Trong thời gian tới, dự đoán giá sữa bột sẽ có xu hướng tăng do chi phí nguyên liệu tăng cao Nguồn cung từ các nước xuất khẩu như New Zealand và Úc tiếp tục tăng nhẹ, trong khi nhu cầu nhập khẩu từ các quốc gia châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, ngày càng tăng, ảnh hưởng đến thị trường sữa trong nước.
Việc kiểm soát chặt chẽ các hợp đồng mua sữa bột về cả số lượng và chất lượng đóng vai trò chiến lược quan trọng trong nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty Tuy nhiên, do giá sữa biến động khó lường trong những năm gần đây, các nhà sản xuất nội địa vẫn gặp khó khăn trong việc phản ứng kịp thời trước biến động của giá nguyên liệu nhập khẩu.
2.2.3 Áp lực từ người mua 2.2.3.1 Các khách hàng cuối cùng, có khả năng gây áp lực lớn cho các công ty về chất lượng của sản phẩm
Hiện nay, thị trường sữa rất đa dạng với nhiều sản phẩm khác nhau có thể thay thế lẫn nhau, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Giá cả không phải là yếu tố quan trọng nhất khi khách hàng lựa chọn sản phẩm sữa, mà còn phụ thuộc vào chất lượng và thương hiệu Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, dinh dưỡng và uy tín của sản phẩm hơn là giá thành Sự phong phú về chủng loại giúp người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu và sở thích riêng của mình.
Các công ty phải cạnh tranh với nhau bằng chất lượng, sự đa dạng của sản phẩm,sức mạnh thương hiệu… rồi mới đến cạnh tranh bằng giá cả
2.2.3.2 Các khách hàng trực tiếp
Là các đại lý phân phối nhỏ lẻ, các trung tâm dinh dưỡng…có khả năng tác động đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng
Các công ty sữa trong nước và các đại lý độc quyền của hãng sữa nước ngoài cạnh tranh gay gắt để chiếm lĩnh các điểm phân phối chiến lược như trung tâm dinh dưỡng, bệnh viện, nhà thuốc Việc này chủ yếu diễn ra qua các chương trình chiết khấu và hoa hồng hấp dẫn cho các đại lý bán lẻ, nhằm tăng cường hiện diện thị trường Các điểm phân phối này có sức mạnh đáng kể trong việc ảnh hưởng đến quyết định mua sữa cuối cùng của khách hàng thông qua hoạt động tư vấn và giới thiệu sản phẩm.
2.2.4 Áp lực từ sản phẩm thay thế
Trong ngành sữa, các sản phẩm mới thường ít xuất hiện do đặc thù của sữa là nguồn bổ sung dinh dưỡng thiết yếu Tuy nhiên, cạnh tranh gay gắt diễn ra giữa các sản phẩm trong ngành về thị phần, đặc biệt là với các loại đồ uống như sữa đậu nành, đồ uống ngũ cốc và ca cao, có thể gây ảnh hưởng đến thị phần của sữa nước.
2.2.5 Áp lực từ những đối thủ mới Đặc điểm ngành sữa là tăng trưởng ổn định, lợi nhuận cao, thị phần đã tương đối ổn định Để gia nhập ngành đòi hỏi các công ty mới phải có tiềm lực vốn lớn để vượt qua các hàng rào gia nhập như:
Hiện trạng Marketing trong thời gian qua của Vinamilk
Môi trường ngành gồm các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp ở mức vi mô, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp mà nhà quản trị không kiểm soát được Phân tích môi trường ngành giúp doanh nghiệp nhận diện các rủi ro và cơ hội tiềm năng, từ đó xây dựng các chiến lược marketing phù hợp để xử lý các vấn đề phát sinh Việc này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Vinamilk hiệnnay đã mở rộng mạng lưới bán hàng lên tới 135.000 điểm trên toàn quốc, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của khách hàng Doanh thu nội địa chiếm tới 90% tổng doanh thu của công ty, khẳng định vai trò quan trọng của thị trường trong chiến lược phát triển kinh doanh của Vinamilk Việc mở rộng hệ thống bán lẻ giúp tăng khả năng tiếp cận sản phẩm và thúc đẩy doanh số bán hàng trong nước.
Doanh thu xuất khẩu chiếm 10% doanh thu công ty Thị trường xuất khẩu chính của công ty là: các nước khu vực Trung Đông, Campuchia, Phillipines và Úc
Tốc độ tăng trưởng của ngành: nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm sữa ngày càng tăng, mức tăng trưởng bình quân mỗi năm của ngành đạt 15.2%
Hiện nay, thị trường sữa Việt Nam đang bị chi phối bởi hai ông lớn Vinamilk và Dutch Lady, chiếm gần 60% thị phần, thể hiện sức mạnh của các doanh nghiệp nội địa Sữa ngoại nhập từ các hãng như Mead Johnson, Abbott, Nestlé chiếm khoảng 20% thị phần, chủ yếu tập trung vào các sản phẩm sữa bột cao cấp Bên cạnh đó, hơn 20 công ty sữa nhỏ như Nutifood, Hanoi Milk, Ba Vì cũng góp phần chiếm lĩnh khoảng 19% thị phần còn lại, tạo nên cơ cấu cạnh tranh đa dạng và phong phú trên thị trường.
Thị trường sữa bột hiện nay đang đối mặt với cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các sản phẩm nội địa và nhập khẩu Trong đó, sữa nhập khẩu chiếm khoảng 65% thị phần, thể hiện sức cạnh tranh mạnh mẽ của các thương hiệu quốc tế Vinamilk và Dutch Lady lần lượt dẫn đầu thị trường với thị phần lần lượt là 16% và 20%, phản ánh vị trí vững chắc của các thương hiệu này trong ngành sữa bột Việt Nam.
Các hãng sản xuất sữa trong nước đang đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng, do chính sách giảm thuế nhập khẩu sữa theo cam kết CEPT/AFTA và WTO của Việt Nam Điều này giúp các sản phẩm sữa nhập khẩu trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường nội địa, gây ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp sữa nội địa trong việc duy trì thị phần và phát triển bền vững.
- Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư: chi phí đầu tư ban đầu của ngành sữa rất cao cho máy móc, thiết bị, công nghệ…
- Ràng buộc với người lao động
- Ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan
- Sản phẩm thay thế với chất lượng, thị hiếu, giá cả cạnh tranh
Hiện nay, chính sách của nhà nước tập trung khuyến khích mở rộng các trang trại nuôi bò sữa nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển bền vững Đồng thời, nhà nước hỗ trợ phát triển công nghệ chế biến sữa tiên tiến, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm Chính sách cũng hướng tới việc thay thế dần các nguyên liệu đầu vào nhập khẩu, giảm phụ thuộc vào nguồn ngoại tệ và thúc đẩy tự chủ trong ngành sản xuất sữa trong nước.
2.3.2 Chiến lược sản phẩm Để đạt được những thành công, thời gian qua Vinamilk đã linh hoạt điều chỉnh và sử dụng 1 cách hiệu quả các chính sách Marking áp dụng cho sản phẩm nhằm thực hiện mục tiêu đưa sản phẩm đạt chất lượng cao hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng, hiệu quả dinh dưỡng mà Vinamilk mang lại cho người sử dụng, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường sữa tại Việt Nam Các chính sách đó là:
Vinamilk đã đầu tư 10% trên tổng chi phí để nâng cao mẫu mã và chất lượng bao bì, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường Chính những mẫu bao bì đẹp, bắt mắt, an toàn và tiện dụng đã góp phần thúc đẩy doanh số bán hàng của Vinamilk trong thời gian gần đây.
Chính sách đa nhãn hiệu, đa dạng hóa dòng sản phẩm
Vinamilk cung cấp danh mục sản phẩm đa dạng gồm sữa nước và sữa bột là các mặt hàng chủ lực, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của khách hàng Bên cạnh đó, công ty còn phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng như sữa đặc, yoghurt ăn và yoghurt uống, kem và pho mát nhằm mở rộng thị trường và đa dạng hóa lựa chọn cho người tiêu dùng.
Công ty sản xuất đa dạng các chủng loại sản phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng phong phú của khách hàng và mang lại lợi thế cạnh tranh Ngoài ra, việc đa dạng hóa danh mục sản phẩm còn giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro hiệu quả, đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững trên thị trường.
Các dòng sản phẩm của Vinamilk:
Sữa đặc: chiếm 34% doanh thu
Sữa đặc chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu doanh thu của Vinamilk tại Việt Nam Trong năm 2007, doanh số của dòng sản phẩm này tăng trưởng 38%, góp phần giúp chiếm lĩnh 79% thị phần ngành sữa đặc Trong giai đoạn 2004-2007, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của sữa đặc đạt 22,7%, chứng tỏ sức hút mạnh mẽ của sản phẩm này trên thị trường nội địa.
Sữa tươi ( hay sữa nước): chiếm 26% doanh thu
Trong năm 2007, doanh thu từ sữa tươi của Vinamilk tăng trưởng 18%, chiếm khoảng 26% tổng doanh thu của công ty và là dòng sản phẩm đóng góp thứ hai về doanh thu sau các sản phẩm khác Sữa tươi Vinamilk chiếm 35% thị phần trong phân khúc này, với sự đa dạng cao về các nhãn hiệu Tuy nhiên, trong thời gian này, Vinamilk đã nhường vị trí dẫn đầu thị trường cho Dutch Lady nhờ mối quan hệ công chúng mạnh mẽ hơn và chiến lược marketing hiệu quả Trong giai đoạn từ 2004 đến 2007, tốc độ tăng trưởng trung bình của dòng sữa tươi đạt khoảng 31%.
Sữa bột và ngũ cốc ăn liền: chiếm 24% doanh thu
Trong năm 2007, sữa bột chiếm 24% doanh thu của Vinamilk, chứng tỏ tầm quan trọng của dòng sản phẩm này đối với công ty Vinamilk cùng với Abbott và Dutch Lady đều nằm trong nhóm ba công ty dẫn đầu thị trường sữa bột tại Việt Nam, với Vinamilk giữ vị trí chiếm 14% thị phần Doanh thu từ sữa bột của Vinamilk phụ thuộc nhiều vào hoạt động xuất khẩu, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành hàng này trong bối cảnh thị trường trong nước cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Sữa chua: chiếm 10% doanh thu
Sữa chua uống Vinamilk chiếm 26% thị phần và sữa chua ăn chiếm 96% thị phần
Năm 2007, dòng sản phẩm này đạt mức tăng trưởng 10% so với năm 2006 Và có mức tăng trưởng bình quân 26,2%/năm trong giai đoạn 2004 – 2007
Sản phẩm khác: chiếm 6% doanh thu
Chính sách chất lượng sản phẩm
Nguyên liệu sữa luôn là yếu tố quan trọng được các công ty sữa đặc biệt quan tâm do chủ yếu phải nhập khẩu giá cao và gặp khó khăn trong cung ứng Để giải quyết vấn đề này, nhiều chiến lược đã được triển khai thành công như kiểm soát chất lượng sữa tươi bằng cách ký lại hợp đồng với các điều khoản bắt buộc, hạn chế nhận sữa từ người vắt sữa thuê Ngoài ra, các công ty liên doanh còn xây dựng trung tâm huấn luyện kỹ thuật nuôi bò sữa tại các tỉnh để chủ động nguồn nguyên liệu, đảm bảo hoạt động chế biến sữa diễn ra ổn định và lâu dài Lãnh đạo Vinamilk đã chủ trương phát triển nguồn nguyên liệu nội địa, giảm dần phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, từ đó giải quyết triệt để vấn đề nguyên liệu sữa đầu vào.
Chính sách đổi mới, nâng cao công nghệ sản xuất sản phẩm
Vinamilk đã không ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao công tác quản lý và chất lượng sản phẩm
Năm 1999, Vinamilk đã thành công trong việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9002 và hiện nay đang duy trì hệ thống ISO 9001:2000, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng lòng tin của khách hàng Việc này đã làm gần hơn về mặt chất lượng với các sản phẩm sữa ngoại nhập và củng cố uy tín của công ty trên thị trường cạnh tranh Hiện tại, Vinamilk có hơn 250 chủng loại sản phẩm đạt chất lượng cao và được các tổ chức quốc tế kiểm định Các sản phẩm như sữa đặc có đường, sữa đậu nành, sữa chua và sữa bột Dielac đã được xuất khẩu sang nhiều thị trường quốc tế như Mỹ, Úc, Nam Phi, Trung Đông và các nước châu Á.
Một trong các chiến dịch nâng cao chất lượng sản phẩm được cho là có tầm ảnh hưởng đó là việc hợp tác vơi Viện Dinh dưỡng Quốc gia
Nghiên cứu hàng vi mua hàng và mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm sữa
Khảo sát mẫu nghiên cứu gồm 50 khách hàng đã sử dụng sản phẩm sữa Vinamilk để đánh giá hành vi mua hàng và mức độ hài lòng của khách hàng Kết quả cho thấy việc hiểu rõ hành vi tiêu dùng giúp Vinamilk xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng và sự hài lòng của khách hàng Dựa trên dữ liệu thu thập, các chuyên gia marketing đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, từ đó tăng cường sự hài lòng và trung thành của khách hàng Việc cải tiến liên tục các chiến lược marketing sẽ góp phần thúc đẩy doanh số và mở rộng thị trường cho các sản phẩm của Vinamilk.
Thiết kế bảng câu hỏi với cấu trúc sau:
- Câu hỏi về nhân khẩu
Sử dụng phần mềm SPSS xử lý dữ liệu từ kết quả khảo sát
Dựa trên khảo sát dữ liệu từ phần mềm SPSS, bài viết trình bày các biểu đồ phản ánh hành vi và mức độ hài lòng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm sữa Vinamilk Các biểu đồ này giúp làm rõ xu hướng tiêu dùng cũng như đánh giá tổng thể về chất lượng dịch vụ và sản phẩm của Vinamilk từ phía người tiêu dùng Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn khách hàng hài lòng với hương vị, chất lượng và giá cả của sữa Vinamilk, góp phần nâng cao uy tín thương hiệu trên thị trường Thông qua phân tích dữ liệu, doanh nghiệp có thể đưa ra các chiến lược nâng cao trải nghiệm khách hàng và mở rộng thị trường hiệu quả hơn.
Biểu đồ 1: Đánh giá mức độ thường xuyên sử dụng sữa Vinamilk?
Mức độ sử dụng sữa thường xuyên chỉ chiếm 26%, thỉnh thoảng là 42% cho đối tượng là nhân viên văn phòng là 56% và 24% đối tượng là bà nội trợ
Biểu đồ 2: Chi phí khách hàng bỏ ra mua sữa uống cho 1 lần:
Đối tượng phỏng vấn chủ yếu là công nhân viên và bà nội trợ, với mục đích mua sữa dùng cho bữa sáng hoặc làm thức ăn thêm Khoảng 44% người tiêu dùng chi từ 20.000 đến 100.000 VND mỗi lần mua, trong khi 36% chi dưới 20.000 VND, thể hiện sự phân khúc rõ ràng trong thói quen tiêu dùng sữa hàng ngày.
Biểu đồ 3: Thể hiện kênh phân phối được khách hàng lựa chọn:
Qua khảo sát thì khách hàng mua ở siêu thị chiếm 46%, mua tại chợ là 32%, còn lại là 22% khách hàng mua ở tạp hoá
Sau đây là một số kết quả khảo sát mức độ hài lòng của khách hàng về chất lượng sản phẩm, bao bì, giá cả, mùi vị sữa…
Biểu đồ 4: Đánh giá về nội dung quyết định chọn mua sữa liên quan đến chất lượng:
Theo biểu đồ, có tới 44% khách hàng chưa đưa ra ý kiến về chất lượng sữa, cho thấy mức độ hài lòng của khách hàng về sản phẩm sữa của Vinamilk ngày càng tăng Điều này phản ánh sự tin tưởng và hài lòng của khách hàng đối với chất lượng sản phẩm của thương hiệu Với tỷ lệ khách hàng không ý kiến còn cao, công ty cần duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của người tiêu dùng.
Biểu đồ 5: Đánh giá về nội dung Quyết định mua sắmliên quan đến màu sắc:
Quyết định chọn mua sữa liên quan đến màu sắc khách hàng cho là không quan trọng chiếm 30%
Biểu đồ 6: Đánh giá về nội dung Quyết định mua sắm liên quan đến mùi vị:
Dựa trên biểu đồ, khách hàng đặc biệt quan tâm đến mùi vị của sữa, chính vì vậy Vinamilk liên tục phát triển các loại sữa với mùi vị đa dạng, đặc trưng và hấp dẫn Nhờ đó, các sản phẩm sữa của Vinamilk luôn ghi điểm và được khách hàng yêu thích trên thị trường.
Biểu đồ 7: Đánh giá về nội dung quyết định chọn mua sắm liên quan đến giá cả:
Biểu đồ 8: Đánh giá về nội dung quyết định chọn mua sữa liên quan đến mẫu mã:
Biểu đồ 14: Đánh giá về nội dung Quyết định chọn mua sữa liên quan đến khuyến mãi:
Hình thành ma trận SWOT
Để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của công ty về mạng lưới, sản phẩm và thương hiệu, chúng tôi tập trung vào việc xác định các yếu tố nội lực then chốt, từ đó tận dụng các cơ hội thị trường và khắc phục các điểm yếu còn tồn tại Việc này giúp công ty nâng cao năng lực cạnh tranh, thích nghi tốt hơn với môi trường kinh doanh biến động và đối mặt với các thử thách từ bên ngoài một cách hiệu quả.
+ Thương hiệu mạnh, thị phần lớn (75%)
+ Mạng lưới phân phối rộng khắp (64 tỉnh thành)
+ Danh mục sản phẩm đa dạng và mạnh
+ Dây chuyền sản xuất tiên tiến
+ Ban lãnh đạo có năng lực quản lý tốt
+ Quan hệ bền vững với các đối tác
+ Đội ngũ tiếp thị và nghiên cứu sản phẩm giàu kinh nghiệm ĐIỂM YÉU
+ Chủ yếu tập trung sản phẩm vào thị trường trong nước
+ Hoạt động Marketing của công ty chủ yếu tập trung ở miền Nam
+ Các chính sách ưu đãi của chính phủ về ngành sữa (phê duyệt 2000 tỷ cho các dự án phát triển ngành sữa đến
Vinamilk chủ động đầu tư và xây dựng các nguồn nguyên liệu ổn định để đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Việc đảm bảo nguồn cung cấp nguyên liệu chất lượng giúp duy trì sản lượng và nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời giảm thiểu rủi ro về nguyên liệu đầu vào Nhờ vào nguồn nguyên liệu ổn định, Vinamilk có thể xây dựng chiến lược dài hạn và phát triển bền vững trên thị trường sữa trong nước và quốc tế.
+ Gia nhập WTO: mở rộng thị trường, kinh doanh, học hỏi kinh nghiệm
+ Nền kinh tế không ổn định (lạm phát, khủng hoảng kinh tế )
+ Gia nhập WTO: xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh
+ Tình hình chính trị trên thế giới còn nhiều bất ổn.