1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐƯỜNG lối đối NGOẠI của ĐẢNG CSVN TRONG GIAI đoạn 1945 1946 và sự vận DỤNG để GIẢI QUYẾT vấn đề BIỂN ĐÔNG TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY

19 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 384,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay Pháp, cộng với đó, quân Tưởng cho lưu hành đồng tiền mất giá của Trung Quốc, tự ý quy định tỷ giá tiền quan kim và tiền Đông Dương, làm lũ

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

UNG THỊ MỸ NHIÊN – 1954030037 – 005108

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN

VIỆT NAM

ĐỀ TÀI: “ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CSVN TRONG GIAI ĐOẠN 1945-1946 VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG TRONG GIAI

ĐOẠN HIỆN NAY”

Giảng viên hướng dẫn: Ths Lê Thanh Chương

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021

Trang 2

2

MỤC LỤC

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3

CHƯƠNG 1: ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1945 – 1946 4

1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước thời kỳ 1945 – 1946 4

1.1.1 Bối cảnh quốc tế giai đoạn 1945 – 1946 4

1.1.2 Bối cảnh trong nước giai đoạn 1945 – 1946 4

1.2 Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1946 5

1.2.1 Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1946 6

1.2.2 Triển khai đường lối 7

1.3 Kết quả, ý nghĩa của đường lối ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam…10 CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIỂN ĐẢO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 12

2.1 Các khái niệm đến chủ quyền biển đảo 12

2.2 Khẳng định chủ quyền biển Đông 12

2.3 Tình hình biển Đông trong giai đoạn hiện nay 13

2.4 Vận dụng đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề biển Đông hiện nay 14

KẾT LUẬN 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

3

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hướng tới sự hòa bình, hợp tác và phát triển Các quốc gia ngày càng có thêm nhiểu mối quan hệ về kinh tế, chính trị, xã hội Và để giữ được những mối quan hệ này trở nên tốt đẹp, bền vững, mỗi quốc gia cần có quan hệ ngoại giao tốt với các quốc gia khác nhau trong khu vực và thế giới Hoạt động đối ngoại có thể làm một nước tụt hậu về mọi mặt nếu không đưa ra chính sách đối ngoại hợp lý, không

có sự hợp tác giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới và ngược lại, nếu một quốc gia có chính sách đối ngoại hợp lý sẽ thúc đẩy được mọi mặt đời sống xã hội phát triển, hợp tác, giao lưu quốc tế ngày càng sâu rộng Chính sách đối ngoại của bất cứ quốc gia nào cũng đều nhằm ba mục tiêu cơ bản, đó là góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia; tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi nhất để phát triển đất nước và nâng cao

vị thế, mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế Chính sách đối ngoại của nước ta cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn thể hiện được bản lĩnh, trí tuệ của mình trong việc hoạch định chủ trương, chính sách đối ngoại phù hợp với từng thời kỳ lịch sử Đặc biệt trong giai đoạn 1945-1946, khi đất nước đang ở trong hoàn cảnh

vô cùng khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc”, bằng những chính sách ngoại giao khôn khéo, linh hoạt, sáng tạo, Đảng ta đã tập trung tinh thần và lực lượng giải quyết từng khó khăn, đưa đất nước thoát khỏi vòng vây của kẻ thù

Vấn đề xung đột biển Đông luôn là vấn đề nóng, trở thành chủ đề bàn luận được các khu vực cũng như quốc tế trên các phương tiện truyền thông; là một trong những vấn đề cấp thiết của quốc gia, thu hút nhiều sự quan tâm từ dư luận thế giới Mặc dù việc xung đột, tranh chấp

đó không phải là vấn đề mới nhưng với diễn biến phức tạp cùng những thách thức và nguy

cơ tiềm ẩn đã hối thúc quốc gia thực hiện các hành động khẩn trương phù hợp nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia

Vì vậy, thông qua đề tài: “Đường lối đối ngoại của Đảng CSVN trong giai đoạn

1945-1946 và sự vận dụng để giải quyết vấn đề biển Đông trong giai đoạn hiện nay” em có cơ hội

tìm hiểu kỹ hơn về các đường lối đối ngoại của Đảng ta, từ đó học hỏi, rút ra bài học kinh nghiệm cũng như nghiên cứu đề ra các giải pháp giải quyết vấn đề biển Đông ngày nay

Trang 4

4

CHƯƠNG 1: ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN 1945 – 1946 1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước thời kỳ 1945 – 1946

1.1.1 Bối cảnh quốc tế giai đoạn 1945 – 1946

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với thắng lợi thuộc về phe Đồng minh Tình hình thế giới thay đổi với nhịp độ nhanh chóng, các nước lớn điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình Phe Đồng Minh, quan hệ giữa các nước dần chuyển từ hợp tác trong chiến tranh sang đối đầu trong hòa bình Trật tự thế giới thay đổi, chuyển từ một cực được thiết lập sau thế chiến thứ nhất thành trật tự hai cực mà người ta vẫn gọi là trật tự hai cực Ianta, đứng đầu là

Mỹ và Liên Xô

Sau chiến tranh, Mỹ là quốc gia mạnh nhất về kinh tế, tài chính, quân sự, độc quyền

về vũ khí nguyên tử, chủ nợ chính của phần lớn các quốc gia Âu, Á, Mỹ Latinh, với mưu đồ

bá chủ thế giới, hoạt động ngoại giao của Mỹ bắt đầu hướng vào chống Liên Xô và phong trào cách mạng thế giới

Liên xô sau chiến tranh thì nhanh chóng trở thành cường quốc hàng đầu Châu Âu Tuy còn thua kém Mỹ về tiềm lực kinh tế và vũ khí hạt nhân nhưng Liên Xô vẫn đóng một vai trò quyết định cùng Mỹ giải quyết những vấn đề lớn về hòa bình, an ninh trong khu vực và trên thế giới

Lúc này, các nước lớn phe Đồng Minh cũng ra sức củng cố lại hệ thống thuộc địa Anh, Pháp mặc dù thắng trận nhưng trong thế suy yếu, chính trị không ổn định nên cần phải nhanh chóng khôi phục lại nền kinh tế, ổn định chính trị, duy trì vai trò cường quốc sau chiến tranh và cố bảo vệ được hệ thống thuộc địa và khu vực ảnh hưởng của mình

Trong khi đó ở Châu Á và Châu Phi, phong trào đấu tranh chống chiến tranh xâm lược

và sự thống trị, đô hộ của thực dân phương Tây trở nên vô cùng mạnh mẽ Các cuộc đấu tranh

ở các nước đều có chung một xu hướng là lật độ ách thống trị bên ngoài, giải phóng đất nước

và thuộc địa của đế quốc, thực dân Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước này dần lan sang Châu Âu và lan rộng toàn thế giới

Như vậy, ta thấy được bối cảnh quốc tế trong những năm 1945 – 1946 có nhiều diễn biến phức tạp tác động sâu sắc và rộng lớn tới nhiều mối quan hệ quốc tế và có tác động trực tiếp đến tình hình ở Việt Nam

1.1.2 Bối cảnh trong nước giai đoạn 1945 – 1946

Trang 5

5

Tháng 8 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh đứng đầu trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng nổ ra và giành được thắng lợi Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn thể nhân dân Việt Nam

Những này đầu thành lập nước, chính quyền nhân dân phải đối mặt với nhiều khó khăn Đời sống kinh tế - xã hôi rối loạn, nạn đói hoành hành khiến hơn hai triệu người chết, mọi hoạt động sản xuất, tài chính, thương mại đình đốn Hệ thống ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay Pháp, cộng với đó, quân Tưởng cho lưu hành đồng tiền mất giá của Trung Quốc, tự ý quy định tỷ giá tiền quan kim và tiền Đông Dương, làm lũng đoạn thị trường ở miền Bắc; chính sách ngu dân của thực dân Pháp làm cho 95% dân ta mù chữ Cùng lúc đó, nhiều thế lực quân sự đối địch của các nước lớn đang có mặt tại nước ta, gần 2000 quân Tưởng vào miền Bắc với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, mang theo nhóm người Việt sống lưu vong ở Trung Quốc, thuộc tổ chức Việt Quốc, Việt Cách do chính quyền Tưởng thu nạp và nuôi dưỡng từ lâu Ở miền Nam, có khoảng 26 nghìn quân Anh - Ấn cũng vào giải giáp quân đội Nhật

Tháng 10/1945, Anh đã ký với Pháp hiệp định chính thức công nhận quyền dân sự của Pháp tại Đông Dương Ngày 1/1/1946, Anh ký hiệp định trao quyền cho Pháp giải giáp quân đội Nhật ở phía Nam vĩ tuyến 16 Đổi lại, Pháp nhân nhượng cho Anh một số quyền lợi ở Xyri và Libăng Sau chiến tranh, 1500 lính Pháp bị Nhật giam giữ ở miền Nam Việt Nam trong cuộc đảo chính ngày 9/3/1945 được thả và vũ trang trở lại Quân viễn chinh mới của Pháp được gấp rút đưa vào miền Nam Ngày 23/9/1945, Pháp mở cuộc xâm lược Việt Nam lần 2 Ngoài ra, còn khoảng 60 nghìn quân Nhật ở Việt Nam chờ giải giáp lúc này Như vậy, bốn thế lực quân sự lớn (Anh, Pháp, Nhật và quân Tưởng) và bốn trong năm nước lớn là thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc lấy danh nghĩa giải giáp Đông Dương với mục tiêu duy nhất là xóa bỏ chính quyền cách mạng, lập lại trật tự của thực dân phương Tây Dễ thấy, về tổng thể thì sự chênh lệch về kinh tế, lực lượng quân sự của quân ta và địch quá lớn, đất nước ta lại rơi vào thế “châu chấu đá xe”

Lúc này, chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cùng Thường vụ Trung ương Đảng đã sớm thấy khả năng dùng ngoại giao như vũ khí sắc bén tham gia năng động vào quá trình tự bảo vệ thành quả cách mạng, chia rẽ, cô lập kẻ thù Ngoại giao Việt Nam từ những ngày đầu đã chủ động phát huy thế tiến công chống lại âm mưu, cạm bẫy của kẻ thù, thực thi những nhiệm vụ to lớn tưởng chừng như khó có thể thực hiện được

1.2 Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1946

Trang 6

6

1.2.1 Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1946

Trước tình hình trong nước và quốc tế diễn biến rất phức tạp, nhà nước ta đã sớm ban hành chính sách ngoại giao của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa Một tháng sau khi tuyên bố nước Việt Nam giành được độc lập, ngày 3/10/1945, chính sách ngoại giao của nước

ta được công bố dưới dạng một văn kiện nhà nước: “Thông cáo về chính sách ngoại giao của nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam”, được đăng trên báo Cứu quốc

Mục tiêu của chính sách là: bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng Tháng 8 mà trước hết là duy trì, củng cố chính quyền nhân dân vừa thành lập trên cả nước Tiếp đó, đưa đất nước Việt Nam đến độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn; “Nước Việt Nam còn đương ở giai đoạn đấu tranh kịch liệt, tất chính sách ngoại giao phải có mục đích cốt yếu là giúp cho sự đấu tranh

giao của ta cũng chỉ rõ ta sẽ cùng các nước trong Đồng minh xây đắp lại nền hòa bình thế giới

Bản “Thông cáo về chính sách ngoại giao của nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam” (3/10/1945) đã đề ra chính sách đối ngoại rất cụ thể, đúng đắn, phù hợp với từng đối tượng Với các nước Đồng minh, Việt Nam mong muốn duy trì hữu nghị và thành thật hợp tác trên

cơ sở bình đẳng và tương trợ, để xây dựng nền hòa bình thế giới lâu dài

Với Pháp, ta mong muốn xây dựng quan hệ hữu nghị trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng và các quyền của nhau Còn đối với bọn thực dân Pháp có mưu đồ chống phá, xâm lược nước ta thì ta kiên quyết đấu tranh

Với các nước láng giềng, Việt Nam đặt quan hệ trên nguyên tắc dân tộc tự quyết Đã từng chịu ách đô hộ của Pháp, nhân dân ba nước phải hợp sức lại để cởi bỏ ách đô hộ đó, giúp

đỡ nhau giành được và duy trì nền độc lập của mình Hơn nữa, ba nước có quan hệ kinh tế chặt chẽ, sẽ giúp đỡ nhau trong công cuộc kiến thiết và cùng nhau tiến lên

“Với các tiểu dân tộc trên toàn cầu, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng thân thiện, hơp tác chặt chẽ trên nguyên tắc bình đẳng để ủng hộ lẫn nhau trong sự nghiệp

Trong bối cảnh thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, ta còn phải giải quyết mối quan hệ với nhiều lực lượng khác nữa Do đó, ta cần có chính sách linh hoạt, mềm dẻo, đề ra

1 Nguyễn Phúc Luân (2001), Ngoại giao Việt Nam vì sự nghiệp giành độc lập, tự do (1945-1975), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, trang 39

2 Nguồn: Bộ ngoại giao: Những văn bản chính của Hội nghị Giơnevơ (1995), Hà Nội, trang 25 – 26

Trang 7

7

những nhiệm vụ ưu tiên Kẻ thù chính lúc này của ta là thực dân Pháp xâm lược Ta cần tập trung lực lượng chống kẻ thù chính, hòa hoãn các lực lượng chống đối khác để rảnh tay đánh Pháp Đảng ta chủ chương: “phải đặt riêng bọn thực dân Pháp xâm lược ra mà đánh , đừng

bỏ cả Pháp, Anh, Ấn vào một bị mà đánh và đừng coi họ là kẻ thù ngang nhau, đừng công

Trên cơ sở này, thường vụ Trung ương Đảng, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh đã

đi đến quyết định chiến lược “Hòa để tiến” Bộ chỉ huy cách mạng lúc bấy giờ đã khái quát đúng các khả năng khác nhau để giữ vững thành quả cách mạng mà không nhất thiết phải đi theo con đường độc đạo Ta không chủ chương “đánh đến cùng” bởi chủ chương này sẽ làm cho ta bị cô lập và tiêu hao lực lượng Ta sử dụng các biện pháp “hòa để tiến”, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, khéo léo, linh hoạt biến các Hiệp định Anh – Pháp và Hoa – Pháp liên quan đến quyền lợi của nước ta thành thỏa thuận tay ba với sự tham gia của ta, đồng thời tạo thế hòa hoãn với một bên để tranh thủ thời gian củng cố nội lực, tăng cường sức mạnh để đối phó với những kẻ thù khác

Như vậy, ngoại giao của ta thời kì này là ngoại giao đa phương, mềm dẻo, linh hoạt, khi nhượng bộ, khi cương quyết và luôn khẳng định đường lối độc lập tự chủ của nước nhà

1.2.2 Triển khai đường lối

a Chính sách đối ngoại với quân Tưởng Giới Thạch

Chính quyền Tưởng từ lâu đã bắt đầu chuẩn bị cho kế hoạch “Hoa nhập quân Việt” và chủ trương “Diệt cộng cầm Hồ” Tưởng Giới Thạch đã chuẩn bị một lực lượng tay sai người Việt để khi đưa quân vào Việt Nam sẽ lập chính quyền thân Tưởng và mục tiêu là lật đổ Đảng cộng sản, phá tan Việt Minh Tuy nhiên, Chính quyền cách mạng của ta nêu cao khẩu hiệu

“Hoa – Việt thân thiện” và thực hiện hòa hoãn với các sách lược mềm mỏng và bình tĩnh mà

như một lực lượng đối trọng với thực dân Pháp, kiềm chế chủ trương của chính phủ Paris sớm khôi phục kiểm soát ở Đông Dương; có thời gian ổn định tình hình trong nước và rảnh tay đối phó với Pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường có những cuộc thăm hỏi tướng lĩnh của

mặt khác là để tìm hiểu các tướng lĩnh, lợi dụng mặt hám lời vật chất để hạn chế sự chống phá; tìm hiểu những mâu thuẫn nội bộ của chúng và các mâu thuẫn với bên ngoài Từ đó, lợi

3 Vũ Đoàn Kết (2007), Chính sách đối ngoại Việt Nam, Nhà xuất bản Thế giới, trang 24

4 Hồ Chí Minh nói chuyện Hội nghị ngoại giao 1964 Hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Việt Nam

Trang 8

8

dụng những mâu thuẫn để thực hiện những việc có ích cho ta Thêm vào đó, Hồ chủ tịch còn lợi dụng sự khác biệt về quyền lợi, biện pháp chống đối cách mạng nước ta của các tướng lĩnh Tưởng, từ đó gây ảnh hưởng đến cách thức hành động của chúng

Khi tình hình trong nước có nhiều biến đổi, Đảng ta chuyển sang hoạt động bí mật dưới hình thức tự giải tán ngày 11/10/1945 Để hạn chế các hoạt động phá hoại của nhóm thân Tưởng, Hồ Chí Minh đại diện Việt Minh thực hiện nhiều cuộc tiếp xúc, họp liên tịch với những kẻ đại diện cho Việt Quốc, Việt Cách để thống nhất những nguyên tắc chung và ký kết những thỏa thuận buộc bên kia phải nhất trí với các nguyên tắc đoàn kết, hợp tác đánh đuổi thực dân Pháp, vì lợi ích quốc gia, ủng hộ các chủ trương của chính phủ Ta phải dành cho bọn Việt Quốc, Việt Cách các chức phó chủ tịch nước, bộ trưởng bộ ngoại giao, bộ kinh tế và

70 ghế trong quốc hội Sách lược khéo léo và đúng đắn này đã xoa dịu sự chống đối của các tướng lĩnh Tưởng và các nhóm thân Tưởng, góp phần ngăn chặn âm mưu phá hoại và lật đổ của chúng Tuy vậy nhân nhượng nhưng ta vẫn có những nguyên tắc hoạt động rõ ràng, luôn khẳng định đường lối độc lập tự chủ

Đảng ta cũng đồng thời thực hiện biểu dương lực lượng chính trị lớn mạnh của quần chúng nhân dân ủng hộ cách mạng để hậu thuẫn cho hoạt động ngoại giao Điển hình là cuộc diễu hành của 30 vạn nhân dân thủ đô Hà Nội Cuộc diễu hành về danh nghĩa để hoan nghênh phái bộ Đồng minh nhưng thực chất là để biểu dương lực lượng của nhân dân ủng hộ chính quyền cách mạng và Hồ chủ tịch

Như vậy, ngoại giao của Việt Nam với Tưởng trong giai đoạn này dùng ba biện pháp chính: Biểu dương lực lượng, Lợi dụng mâu thuẫn tránh xung đột; Nhân nhượng có nguyên tắc Nhờ những biện pháp, chính sách của chính phủ Việt Nam hòa hoãn, kiềm chế lực lượng chống phá của Tưởng, miền Bắc nước ta một thời kỳ tương đối ổn định để thực hiện chủ trương kháng chiến kiến quốc, xây dựng củng cố chính quyền nhân dân; làm chậm chễ việc quân đội Pháp ra Bắc và tạo điều kiện để chi viện cho kháng chiến ở đồng bào miền Nam

b Chính sách đối ngoại với thực dân Pháp

Sau thế chiến 2, Pháp âm mưu xâm lược Việt Nam lần nữa Kế hoạch của chúng là đánh chiếm miền Nam trước sau đó mở rộng ra miền Bắc những đã thất bại vì cùng lúc phải đối mặt với khối đại đoàn kết dân tộc ta và hơn 20 vạn quân Tưởng Trước tình hình đó, Pháp

đã đưa ra giải pháp, đó là một mặt thương lượng với chính phủ Trùng Khánh để đạt được công nhận của Tưởng về chủ quyền ở Đông Dương và cho Pháp thay thế quân Tưởng ở miền

Trang 9

9

Bắc Việt Nam Mặt khác, đàm phán với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa để tránh chiến tranh lâu dài

Về phía quân Tưởng, vì vẫn muốn giữ được quyền lợi ở Đông Dương nên cũng muốn thương lượng với Pháp Ngày 28/2/1946, Pháp và Tưởng đã ký hiệp ước Hoa – Pháp tại Trùng Khánh Hiệp ước Hoa – Pháp là một bất lợi cho ta Trước đó ta lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp

và Tưởng để tránh đối đầu với hai thế lực lớn này, nay chúng lại bắt tay thỏa hiệp với nhau Tình thế này, buộc ta phải đưa ra được những chính sách đối ngoại mới, linh hoạt, để đối phó với Tưởng và Pháp Ta vẫn tiếp tục hòa hoãn với Tưởng ở Đông Dương nhằm dùng Tưởng

để cản trở ý đồ của Pháp ở Đông Dương, duy trì được thế hòa hoãn với cả hai phía, tạo thế vững chắc trong cuộc thương lượng với Pháp Sau đó, nhân nhượng với Pháp tuy nhiên vẫn giữ vững nền độc lập chính trị Mục tiêu hòa hoãn với Pháp là đề đuổi Tưởng về nước, biến hiệp định tay đôi thành thỏa thuận tay ba Ngày 6/3/1946, hiệp định sơ bộ Việt – Pháp được

ký kết ở Đông Dương với các nội dung cơ bản như sau: Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng và là một thành viên trong liên bang Đông Dương, nằm trong khối liên hiệp Pháp Về hợp nhất 3 kỳ, chính phủ Pháp cam kết thừa nhận những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết qua cuộc trưng cầu ý dân Đổi lại, chính phủ Việt Nam chấp thuận để 15 nghìn quân Pháp vào Bắc Việt Nam thay thế quân đội Trung Hoa làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật và đưa chúng về nước Số quân Pháp

kể trên sẽ được rút hết trong vòng 5 năm

Ngay sau khi Hiệp định được ký kết, nội bộ Pháp xảy ra mâu thuẫn giữa phái chủ chiền

và phái chủ hòa và chúng bắt đầu hạ thấp ý nghĩa của Hiệp định, tiếp tục tiến hành chiến tranh Nam Bộ, Nam Trung Kỳ, lập ra chính phủ Nam Kỳ và nước cộng hòa Nam Kỳ Và sau 2 cuộc họp được tổ chức ở Đà Lạt và Paris, kết quả là Hiệp định sơ bộ bị vô hiệu hóa, thay vào đó là tạm ước 14/9/1946 được ký kết giữa Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Mutê - đại diện của chính phủ Pháp Tạm ước ghi nhận tạm thời những cam kết của Việt Nam và Pháp trên cơ sở Hiệp định sơ bộ, nhằm giải quyết những vấn đề bức thiết trong mối quan hệ hai nước, khẳng định phải dừng ngay mọi xung đột Phía Pháp sẽ đảm bảo thực hiện các quyền tự do, dân chủ ở nam Bộ, thả người Việt bị chúng bắt và Việt Nam phải nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hóa

Như vậy, bằng việc nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa

và kiên trì quan điểm độc lập trong Liên hiệp Pháp, ta đạt được tiếp tục ngừng bắn, cam kết

Trang 10

10

quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Nam bộ Do đó, giúp ta có thêm thời gian để chuẩn bị lực lượng quân sự, kinh tế đối phó với quân địch

Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 và tạm ước 14/9/1946 đã thể hiện được chính sách đối ngoại

đa phương, mềm dẻo và linh hoạt của Đảng, chủ tịch Hồ Chí Minh Nhờ những chính sách này, ta không những loại bỏ được bớt kẻ thù (Tưởng Giới Thạch) mà còn có thêm thời gian

để chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến

c Chính sách đối ngoại với các nước khác

Với các nước lớn, các nước trong Đồng minh chống phát xít thì Việt Nam hết sức thân thiện và thành thực hợp tác trên lập trường bình đẳng và tương ái Mức độ ảnh hưởng của Mỹ rất lớn nên từ tháng 9/1945 đến 2/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thông điệp, thư, điện và công hàm cho Tổng thống và Ngoại trưởng Mỹ, giới thiệu các phát triển mới ở Việt Nam, tố cáo Pháp xâm lược Việt Namvà vi phạm các nguyên tắc nêu trong Hiến chương Đại Tây Dương và Hiến chương Liên Hợp Quốc, đề nghị Mỹ công nhận nền độc lập của Việt Nam Chính phủ ta giữ quan hệ với các đại diện của Mỹ tại Việt Nam nhằm lợi dụng họ để kiềm chế tướng lĩnh Tưởng và thế lực Pháp Tài liệu của Lầu Năm góc có nhận xét: “Trong khi không có hành động gì đáp ứng yêu cầu mà Hồ Chí Minh nêu lên, Mỹ cũng không sẵn

chủ động lập hội Việt – Mỹ thân hữu nhằm tranh thủ Mỹ trung lập, tạo điều kiện để hòa hoãn, kiềm chế lực lượng của Tưởng cũng như Pháp ở Việt Nam

Đối với các nước khác trên thế giới, ta chủ trương quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ từ bên ngoài Đối với nhân dân Pháp, Việt Nam không thù hằn gì, vẫn luôn tỏ thái độ thân thiện, tỏ ý muốn hợp tác Ta chỉ chống lại bọn thực dân Pháp phản động, có ý đồ muốn xâm lược nước ta

1.3 Kết quả, ý nghĩa của đường lối ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam

a Kết quả

Với những chủ trương, đường lối ngoại giao của ta đã thực hiện trong thời kì

1945-1946, tuy gặp nhiều khó khăn, trong Hiệp định sơ bộ cũng như các hội nghị ở Đà Lạt và Fontainebleau không thành do Pháp không thực hiện nhưng chúng ta đã giành được những kết quả đáng kể Chúng ta đã đuổi được hơn 20 vạn quân Tưởng cùng bè lũ tay sai về nước, miền Bắc tránh được sự phá hoại của các thế lực thù địch Nhân nhượng với Tưởng chúng ta

5 Các tài liệu của Lầu Năm góc, tập 1, trang 17 - 18

Ngày đăng: 03/11/2022, 03:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w