1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

3 mẫu WORD CHUYÊN sâu CHÙM THƠ HAI cư NHẬT bản (1)

7 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ BÀI - Thơ Hai-cư là thể thơ truyền thống có vị trí quan trọng trong văn học Nhật Bản, đồng thời được xem là một trong những hình thức cô đọng nhất của thơ ca thế giới.. Thơ hai-cư h

Trang 1

CHÙM THƠ HAI-CƯ NHẬT BẢN Đề số 1: Phân tích bài thơ của Mát-chư-ô Ba-sô

I MỞ BÀI

- Thơ Hai-cư là thể thơ truyền thống có vị trí quan trọng trong văn học Nhật Bản, đồng thời được xem là một trong những hình thức cô đọng nhất của thơ ca thế giới Một trong những bậc thầy về thơ hai-cư là Mát-chư-ô Ba-sô

- Mát-chư-ô Ba-sô (1644 - 1694) là nhà thơ nổi tiếng của văn học Nhật Bản Ông sinh trưởng trong một gia đình võ sĩ đạo Xa-mu-rai ở thành phố U-e-cô, Nhật Bản Các

tác phẩm của ông để lại khá nhiều, sau này được sưu tập lại trong Ba Tiêu thất bộ tập.

Ba-sô là người có công lớn trong việc hoàn thiện thể thơ Hai-cư, đưa nó trở thành thể thơ độc đáo nhất của Nhật Bản Thơ Hai-cư của Ba-sô rất có giá trị, phổ biến không những trong nước mà còn nổi tiếng khắp thế giới Thơ ông là sự dung hợp và hài hòa giữa thiên nhiên và tấm lòng của người thi sĩ, mang vẻ đẹp đơn sơ, tao nhã, cô liêu, trầm lắng, u buồn, nhẹ nhàng, bình dị mà trong sáng, gần gũi Một trong những bài thơ Hai-cư tiêu biểu cho hồn thơ của ông là bài thơ:

Trên cành khô

cánh quạ đậu

chiều thu.

II THÂN BÀI

1 Giới thiệu về thơ Hai-cư

- Trong văn học Nhật Bản, thơ hai-cư chiếm một vị trí khá quan trọng Thể thơ này

ra đời và phát triển rộng rãi trong thời kì Phục hưng văn học thế kỷ XVII - XVIII và song hành với đời sống văn hóa Nhật Lúc đầu thơ hai-cư bắt nguồn từ các thể thơ ca truyền thống như trường ca, hòa ca, đoản ca Sau đó một phần của bài thơ trong các thể thơ này tách ra độc lập và tồn tại một thời gian dài không có tên gọi chính thức, đến khi nhà thơ Shiki (1867-1902) gọi đó là thơ hai-cư vào những năm cuối thế kỷ XIX rồi nó tồn tại cho đến ngày nay

- Bài thơ Hai-cư trong tiếng Nhật chỉ gồm 17 âm tiết chia thành 3 dòng thơ (dòng 1

và dòng 3 có năm âm tiết; dòng 2 có bảy âm tiết) Các bản dịch tiếng Việt thường không đáp ứng được đầy đủ đòi hỏi của quy tắc trên nhưng vẫn đảm bảo được sự ngắn gọn, hàm súc đặc trưng của thể thơ này

- Một bài Hai-cư Nhật luôn tuân thủ hai nguyên lý tối thiểu, đó là bốn mùa của thiên nhiên và tính tương quan giữa hai ý tưởng Trong thơ bắt buộc phải có kigo (quý ngữ) nghĩa là từ miêu tả mùa màng một cách gián tiếp Trong bài không thì không nói rõ xuân, hạ, thu, đông nhưng sẽ nhắc đến hoa anh đào, lá úa vàng, tuyết phủ trắng Ngoài

ra bài thơ sẽ liên kết một hình ảnh bao la của vũ trụ ăn khớp với một hình ảnh bé nhỏ của đời thường Đây chính là điểm đặc biệt, hấp dẫn của bài thơ hai-cư

- Cảm thức thẩm mĩ: Thơ hai-cư thường thấm đẫm tinh thần Thiền tông và văn hóa phương Đông, đề cao sự vắng lặng, đơn sơ, u huyền và phản ánh sự vật trong mối tương

Trang 2

quan, giao hòa, thể hiện những rung cảm của con người trước thiên nhiên bằng những hình ảnh trong sáng, nhẹ nhàng nhưng cũng đậm tính tượng trưng

- Khởi nguồn từ Nhật Bản, ngày nay, hai-cư đã trở thành thể thơ được sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới Thơ hai-cư hiện đại có những đặc điểm riêng về bút pháp trong khi vẫn bảo lưu một số nguyên tắc quan trọng của tư duy và mĩ cảm cùa thơ hai-cư truyền thống như bài thơ được cấu tứ quanh một phát hiện mang tính chất “bừng ngộ” về mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, về sự tương thông đầy bí ẩn giữa thế giới và con người; thơ thiên về khơi gợi hơn là miêu tả và diễn giải

=> Sức sống và sự hấp dẫn của thơ hai-cư nằm ở khả năng kiệm lời mà vẫn gợi nhiều cảm xúc và suy tưởng

2 Phân tích bài thơ của Mát-chư-ô Ba-sô

- Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ được sáng tác vào năm 1679 khi Ba-sô ba mươi lăm tuổi.

Bài thơ tạo nên sức ám ảnh lạ kì và có tác động mạnh mẽ đến người đọc

- Quý ngữ: Trong bài thơ này, yếu tố mùa được thể hiện rất rõ ở từng câu chữ chứ không

đợi đến quý ngữ cuối bài Đây là bài thơ về mùa thu và thời điểm chính xác có lẽ là cuối thu, khi chim quạ đã xuất hiện, khi lá cây đã rụng hết chỉ còn lại cành khô Tác giả sử

dụng quý ngữ chiều thu kết hợp với hình ảnh cành khô gợi sự trơ trụi, không lá vàng và

cũng không có chồi non Đến với không gian của chiều thu buồn vắng ấy là độc giả đã cùng với thi nhân đắm chìm vào miền tịch tĩnh giữa bao la đất trời Khoảnh khắc được thể hiện trong bài thơ của Ba-sô có thể khơi gợi nhiều cảm xúc ở người đọc

- Khung cảnh được gợi tả trong bài thơ: Tác giả đã sử dụng bút pháp chấm phá gợi hơn

là tả, vẽ ra một bức tranh thủy mạc đơn sơ mà có chiều sâu

+ Không gian, thời gian: Hình ảnh trong bài thơ có lẽ phần nào thể hiện tâm cảm

thi nhân mặc dù nó như chi được chớp lấy trong một ánh nhìn, một không gian, thời gian nhất định Bài thơ mang nỗi buồn của buổi chiều tà, của lúc tàn thu, sự ngưng đọng, lặng

im của cảnh vật Giống như mọi bài thơ Hai-cư khác, cái tôi thi nhân không bao giờ xuất hiện trong thi phẩm nhưng từ những gì nhà thơ gửi gắm sẽ khởi sự cho trí tưởng tượng vô biên của độc giả

+ Màu sắc: Cành khô màu nâu xám, chim quạ chắc chắn là màu đen (hoặc xám)

và màu vàng (chiều thu) Đây là những gam màu chủ đạo của hội họa thủy mặc, một loại hình nghệ thuật mà chất liệt chính là màu nước đen và giấy trắng

+ Hình ảnh trung tâm: Hình ảnh trung tâm trong bài thơ là con quạ Hình ảnh

"con quạ" trước hết hiện lên với màu đen xám, nhỏ bé và ngoài ý nghĩa tả thực ấy còn có

ý nghĩa tượng trưng, là biểu tượng của sự cô đơn, cô độc giữa đất trời rộng lớn Thân hình đen muội nhỏ xíu của con quạ trong bóng tối bao la vô định của buổi chiều hôm trên cành cây trơ trụi khiến người đọc như bước vào cảnh giới u huyền và cô tịch, một thế giới

hư không

Hình ảnh con quạ xuất hiện cùng với hình ảnh cành cây khô càng khiến bức tranh cảnh vật chiều thu toát ra sự cô tịch, tàn úa Đọc bài thơ, ta thấy nền trời của buổi chiều thu hoang vắng hình ảnh một cánh chim ủ rũ đậu trên cành cây khô héo và chắc chắn những hình ảnh đó không thể được tạo dựng bằng những đường nét mềm mại mà phải bằng sự gân guốc, cứng cáp và đối xứng cũng là phong cách của tranh thủy mặc

Trang 3

- Xác định mối quan hệ giữa hình ảnh trung tâm trong bài thơ của Ba-sô với các yếu

tố thời gian và không gian: Hình ảnh cánh quạ đậu trên cành khô trong bài thơ gợi lên

một không gian chiều thu vắng lặng, đơn sơ, nhẹ nhàng Nhưng còn một yếu tố không kém phần quan trọng khiến thi phẩm “con quạ” của Ba-sô trở nên bất hủ là sự tương phản, đối lập một cách hài hòa trong sử dụng hình ảnh Đó là sự tương phản, đối lập giữa hình ảnh trên cành khô quạ đậu và chiều thu Một bên nhỏ hẹp, hiện hữu, một bên rộng lớn, mơ hồ Cành khô quạ đậu là cái có thể nắm bắt còn chiều thu là một khái niệm chung chung Sự đối lập ấy đã tạo thành một chỉnh thể, một bức tranh hoàn chỉnh: trên cái nền hoang vắng mơ hồ của buổi chiều thu, nổi bật lên hình hài màu đen của một chú quạ đậu trên cành khô Yếu tố cổ tích (Sí-bi) trong bài thơ này thể hiện đậm nét hơn bất cứ thi phẩm nào khác của Ba-sô

- Mặc dù bài thơ này không tuân thủ theo quy luật thông thường 5/7/5 của Hai-cư thường vẫn luôn được coi là thi phẩm mẫu mực bởi cấu tứ, ý tưởng và sự bứt phá trong cái hài hòa mà nó mang lại cho cảm giác của người đọc Bài thơ, các nhà nghiên cứu thường nhận xét, đúng là một bức tranh thủy mặc

III KẾT LUẬN

Ba-sô có nhiều đóng góp cho thơ Hai-cư truyền thống của Nhật Bản, mỗi bài thơ Hai-cư của ông đều thấm nhuần cảm xúc sa-bi tức là nỗi cô đơn huyền diệu của thiên nhiên, niềm cô đơn vô ngã và tịch mịch, vắng vẻ của muôn đời, đều đậm chất thơ, chất thi vị, lãng mạn Tình yêu cuộc sống là tình yêu quê hương đất nước, tình yêu con người

là giá trị nhân sinh cốt lõi trong thơ của Ba-sô, khiến thơ ông được bạn đọc trên khắp thế giới đón nhận nồng nhiệt

Đề số 2: Phân tích bài thơ của Chi-y-ô

I MỞ BÀI

- Thơ Hai-cư là thể thơ truyền thống có vị trí quan trọng trong văn học Nhật Bản, đồng thời được xem là một trong những hình thức cô đọng nhất của thơ ca thế giới Một trong những tác giả tiêu biểu của thơ hai-cư là Chi-y-ô

- Chi-y-ô (1703 -1775) nổi tiếng thần đồng với các sáng tác thơ Hai-cư từ năm 7 tuổi và được coi là người đánh dấu sự hiện diện của các tác giả nữ trong thơ Hai-cư bởi vì trước bà, thơ Hai-cư của tác giả nữ thường bị coi thường và quên lãng Bà đã trở thành một tiếng nói thơ ca độc đáo, được nhiều người yêu thích Thơ của bà nói về thiên nhiên

và sự hợp nhất giữa thiên nhiên và con người Bài thơ hay nhất của bà và được nhiều người biết đến là bài thơ:

Ôi hoa triêu nhan

Dây gàu vương hoa trên giếng

Đành xin nước nhà bên

II THÂN BÀI

1 Giới thiệu về thơ Hai-cư: Tham khảo đề 1

2 Phân tích bài thơ

- Khung cảnh được gợi tả trong bài thơ:

Trang 4

+ Bài thơ thứ hai gợi lên trong tâm trí người đọc hình ảnh hoa triêu nhan, một loài hoa có dây leo, màu tím quấn vào sợi dây gàu bên giếng

+ Hình ảnh trung tâm: Hình ảnh trung tâm trong bài thơ là hoa triêu nhan Hoa

triêu nhan (tiếng Nhật: asagao) nghĩa là gương mặt ban mai Cái tên triêu nhan cũng nói

lên đặc điểm của hoa: Hoa chỉ nở nửa ngày và tàn lúc về chiều Loài hoa này cũng có ở nước ta và được người Việt gọi là hoa bìm bìm và là một loại hoa ít được ai để ý tới (ngoài mấy vị thầy thuốc Đông y, vì cây hoa này chữa được một số bệnh) Đối lập với cái nhìn của người Việt, văn hóa Nhật Bản hết sức trân quý loài hoa này Dân tộc Nhật Bản

có một bản lĩnh phi thường ẩn chứa dưới những hình thức nhỏ bé nhất, cái gì cũng có thể nâng lên thành một nghi lễ: trà đạo, võ đạo, và cả hoa đạo Người Nhật sống theo tinh

thần của kinh Hoa nghiêm, “Tam thiên đại thiên thế giới chứa đựng trong một hạt bụi”.

Hoa triêu nhan được nhân loại xem là biểu tượng của sự khiêm nhường và tính bền bỉ, điều này dường như hoàn toàn phù hợp với cá tính của người Nhật

Văn hóa không có cao hay thấp mà chỉ có sự khác biệt Vậy nên, hoa triêu nhan từ địa vị ăn nhờ ở đậu trong mắt người Việt, thì sang văn hóa Nhật Bản đã vươn lên ngôi nữ hoàng kiêu hãnh Điều đó ó thể được chứng minh qua hàng loạt bài thơ Hai-cư của nhiều tác giả Nhật Bản Hãy khoan nhắc đến kiệt tác về hoa triêu nhan của Chi-y-ô mà kể ra một số bài thơ về hoa triêu nhan sau đây:

Bên hoa triêu nhan Gương mặt ai cũng Dường như điêu tàn

(Ít-sa) Hoa triêu nhan ơi Đến em rồi cũng Chẳng là bạn tôi

(Ba-sô)

Trong số đó, bài thơ Hai-cư đặc sắc nhất về hoa triêu nhan có lẽ phải là bài thơ của

nữ sĩ Chi-y-o

Thơ Hai-cư thường nắm bắt lấy khoảnh khắc và bài thơ miêu tả khoảnh khắc tác giả định thả gầu lấy nước giếng, nhưng phát hiện ra quanh dây gầu đang vướng bông hoa triêu nhan Khoảnh khắc được Chi-y-ô phát hiện, thế giới hiện ra đầy mới mẻ, đẹp đẽ và tinh khôi và thi sĩ hoàn toàn bất ngờ trước vẻ đẹp ấy

- Bài thơ thấm đẫm tinh thần Thiền tông: Khoảnh khắc bắt gặp bông hoa bé nhỏ,

đẹp đẽ, đầy sự sống ấy đã đánh thức hồn thơ để thi sĩ bước vào Diệu Xứ của Thơ Ca, của Hoa Thi sĩ đã bị cuốn hút vào vẻ đẹp kỳ ảo của hoa đến nỗi như thể toàn thể vũ trụ cũng tan chảy vào đóa hoa đang nở Đó cũng chính là lúc, theo cách nhìn nhận của Thiền tông, bông hoa cũng “nhìn thấy” thi sĩ Đây là tình huống đồng nhất hoàn toàn giữa chủ thể và khách thể, giữa người nhìn và cái được nhìn: toàn thể vũ trụ là một bông hoa, một bông hoa có thật đang mọc ở đây, thách thức mọi thay đổi và lụi tàn Và nếu không ai có thể trông thấy và thưởng thức hoa thì nó là một bông hoa tự chiêm ngưỡng mình, bị cuốn hút vào chính mình

Trang 5

Trong tinh thần của Thiền tông, ngay cả loài cây cỏ cũng có khả năng giác ngộ, tức

là có Phật tánh Bài thơ của Chi-y-ô có thể được xem như một tuyên ngôn hùng hồn của lòng từ bi Phật giáo và phảng phất triết lý của Thiền tông Nhà thơ nhìn thấy sự sống, nhìn thấy cái đẹp, nhìn thấy Phật tánh trong đóa triêu nhan nhỏ nhoi nhưng bền bỉ Hoa triêu nhan vốn là một loại dây leo, đã quấn vào dây gàu múc nước để nở Và một người lỗ mãng sẽ dễ dàng bứt nhánh triêu nhan để thuận lợi cho công việc múc nước của mình Nhưng trước cái đẹp, trước sự sống, nhà thơ đã nâng niu, trân trọng, không nỡ làm tổn thương nên bà chọn giải pháp “xin nước nhà bên”, để sự sống và cái đẹp được hiện hữu Thực tại được mô tả như nó chính là, không giải thích nhưng tự thân sự kiện đã nói nhiều hơn ba câu thơ ngắn ngủi Đây chính là tinh thần ý tại ngôn ngoại, lại cũng chính là sự vô ngôn của Thiền và là tính nhân văn của Phật giáo Cần phải có một nội tâm tĩnh lặng, một tính cách dịu dàng và hơn cả là một tình thương lớn, một tấm lòng trắc ẩn lớn mới có cách hành xử như vậy Vì vậy nên có thể nói: Một đóa triêu nhan mỏng manh làm tỏa sáng một tình thương mênh mông và cảm động

- Xác định mối quan hệ giữa hình ảnh trung tâm và ý nghĩa bài thơ: Hoa triêu

nhan vốn là biểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên ban sơ, thuần khiết, mong manh Sợi dây gầu thì xù xì, thô ráp vốn dể người ta dùng làm dây gàu múc nước là có ý nghĩa thực dụng Phát hiện dây hoa triêu nhan đang quấn quanh sợi dây gàu bên thành giếng, nhà thơ nhìn thấy sự sống, nhìn thấy cái đẹp, nhìn thấy Phật tánh trong đóa triêu nhan nhỏ nhoi nhưng bền bỉ nên không nỡ chạm vào hoa Vì thế, từ bài thơ của Chi-y-ô, ý nghĩa triết lí trong cách ứng xử của con người đối với thiên nhiên mà bài thơ gợi ra là thương hoa, trân trọng vẻ đẹp mong manh, thuần khiết của hoa, là triết lí về cách ứng xử của con người đối với thiên nhiên: trân trọng sự sống tự nhiên dù là nhỏ bé để sự sống và cái đẹp luôn được hiện hữu

III KẾT LUẬN

Bài thơ về hoa triêu nhan của Chi-y-o mang vẻ đẹp điển hình của thơ bà, chủ yếu

đề cập đến thiên nhiên và thể hiện sự thống nhất giữa thiên nhiên với con người Thi phẩm cho thấy thi sĩ có thể kết nối bằng cách quan sát và nghiên cứu cẩn thận những điều độc đáo xung quanh thế giới bình thường của mình và viết chúng ra bằng sự sắp xếp các

ý tưởng một cách tuần tự và những mô tả hết sức chi tiết từ một trí tưởng tượng mạnh

mẽ Bài thơ của Chi-y-ô góp phần cho thấy, thơ Hai-cư là hình thức thơ ca hồn nhiên, phù hợp và quan trọng đối với người Nhật trong việc mang đến những giải tỏa cảm hứng nghệ thuật cho người nghệ sĩ Một sự hiểu biết thấu đáo tâm lý người Nhật và những vấn

đề liên quan là rất cần thiết để lĩnh hội tinh thần Thiền tông và thơ Hai-cư cũng như thơ Chi-y-ô

Đề số 3: Phân tích bài thơ của Cô-ba-y-a-si Ít-sa

I MỞ BÀI

Trang 6

- Thơ Hai-cư là thể thơ truyền thống có vị trí quan trọng trong văn học Nhật Bản, đồng thời được xem là một trong những hình thức cô đọng nhất của thơ ca thế giới

- Cô-ba-y-a-si Ít-sa (1763 -1828) là nhà thơ kiêm tu sĩ Phật giáo Ông là một trong bốn nhà thơ Hai-cư vĩ đại nhất Nhật Bản và ngoài ra còn là hoạ sĩ tài ba, nổi tiếng với những bức tranh có đề các bài thơ Hai-cư do chính ông sáng tác

- Bài thơ về con ốc nhỏ leo núi Phú Sĩ là một trong những bài thơ Hai-cư nổi tiếng nhất của ông Bài thơ ngắn gọn, sử dụng hình ảnh ẩn dụ của con vật để truyền tải thông điệp sâu sắc, triết lý, đầy nhân văn:

Chậm rì, chậm rì Kìa con ốc nhỏ Trèo núi Phu-gi (Fuji).

II THÂN BÀI

1 Giới thiệu về thơ Hai-cư: Tham khảo đề 1

2 Phân tích bài thơ của Cô-ba-y-a-si Ít-sa

- Khung cảnh được gợi tả trong bài thơ: “Con ốc” gợi lên hình ảnh một con vật nhỏ bé,

chậm chạp, sống thụ động “Núi Fu-ji” là một ngọn núi nổi tiếng ở Nhật Bản, nó gợi lên

sự hùng vĩ, tráng lệ của tự nhiên

- Hình ảnh trung tâm: Hình ảnh trung tâm trong bài thơ là con ốc nhỏ Trong đó:

+ Câu thơ đầu tiên sử dụng điệp ngữ "chậm rì" để miêu tả trạng thái chậm chạp, kiên nhẫn, chầm chậm của chú ốc sên nhỏ

+ Câu thơ thứ hai "Kìa con ốc nhỏ" thể hiện sự xuất hiện nhỏ bé, bình dị của chú ốc nhỏ Trạng thái chậm rì được đảo lên câu thơ đầu để nhấn mạnh trạng thái, đặc điểm của chú ốc bình dị nhỏ bé ấy

+ Câu thơ thứ ba "Trèo núi Fuji" chỉ có ba chữ tái hiện hình ảnh ngọn núi Phú Sĩ- biểu tượng Nhật Bản và hình ảnh chú ốc sên nhỏ trèo chầm chậm lên núi Phú Sĩ- ngọn núi cao bậc nhất Nhật Bản Chú ốc nhỏ bé biết rằng mình di chuyển chậm nhưng vẫn nỗ lực, không bỏ cuộc

- Xác định mối quan hệ giữa hình ảnh trung tâm trong bài thơ với các yếu tố thời gian

và không gian: Hình ảnh con ốc nhỏ bé đối lập với ngọn núi Fu-ji hùng vĩ đã truyền tải

thông điệp đầy ý nghĩa Hình ảnh con ốc nhỏ bé đang trèo lên núi Fu-ji là hình ảnh biểu tượng con người trên quãng đường chinh phục ước mơ lớn lao của cuộc đời Cái chậm rì của con ốc phản ánh cảm thức thanh thoát (karumi): con ốc ung dung, tự tại trong hành trình của mình

- Bài thơ ngắn gọn súc tích, với hình thức độc đáo đã truyền tải thông điệp mang đầy tính nhân văn đến người đọc Hành trình con ốc trèo lên núi Phú Sĩ gợi lên cuộc hành trình chinh phục ước mơ, hoài bão, khát vọng của con người Trên thực tế cuộc sống, mỗi người đều là chú ốc nhỏ bé bình dị nhưng đều ấp ủ một giấc mơ cháy bỏng của riêng cuộc đời mình Sức mạnh nội tại của chính bản thân chúng ta là nguồn sức mạnh động lực để thúc đẩy đưa chúng ta lên đến đỉnh cao của cuộc đời mình Nếu như chú ốc sên khát khao chinh phục núi Phú Sĩ thì mỗi người đều có một đỉnh cao của cuộc đời mình

mà muốn chinh phục

Trang 7

Điều mà chúng ta cần làm đó chính là luôn luôn cố gắng không ngừng nghỉ trên hành trình, nỗ lực hết sức mình trên hành trình chinh phục lý tưởng sống của mình Ta có thể đi chậm hơn so với người khác nhưng điều quan trọng đó chính là ta không ngừng lại

mà luôn nỗ lực, kiên trì đến cùng với ước mơ của mình Đó chính là điều làm nên ý nghĩa của cuộc sống

- Bài học với các bạn trẻ: Bài thơ là một lời khuyên rất hữu ích với các bạn trẻ, nhắc nhở

các bạn trẻ cần sống cần có ước mơ, hoài bão, cần nỗ lực, cố gắng để đạt được ước mơ của mình giống như con ốc dù chậm rì những nó vẫn cố gắng leo lên đỉnh núi Và các bạn trẻ cần tự tin trên hành trình thực hiện ước mơ, bởi vì dù lên được đỉnh núi nhanh hay chậm thì cảnh vật thu vào tầm mắt, hay sự thành công cũng vẫn như nhau…

III KẾT LUẬN

Vẻ đẹp riêng của thơ Hai-cư là thể thơ ngắn gọn, súc tích; hình ảnh gợi cảm Nhân vật trung tâm trong các bài thơ là những sự vật, hiện tượng nhỏ bé, bình thường nhưng trở thành đầu mối liên hệ trong các bài thơ Đặc điểm chung của các hình ảnh trung tâm còn là luôn hiện diện với vẻ thuần khiết, tự mình xuất hiện chứ không cần sự thêm thắt nào của các nhà thơ Theo đó, người đọc như được bước vào thế giới do thiên nhiên tự sắp đặt, từ bày ra đợi mọi người chiêm ngắm Bài thơ của Cô-ba-y-a-si Ít-sa đã sử dụng hình ảnh con ốc nhỏ bé, bình dị để truyền tải thông điệp nhân văn, sâu sắc về tinh thần vượt khó, kiên trì đến cùng để chinh phục mục tiêu to lớn của mỗi người trong cuộc sống

Ngày đăng: 02/11/2022, 23:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w