1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN môn vật lí THCS SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM một số kinh nghiệm về việc ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá trực tuyến có hiệu quả năm 2022 2023

13 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng Kiến Kinh Nghiệm một số kinh nghiệm về việc ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá trực tuyến có hiệu quả năm 2022 - 2023
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở Lý Thường Kiệt, Thành Phố Thanh Hóa
Chuyên ngành Vật lý
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 31,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Nền giáo dục Việt Nam nói riêng và nền giáo dục của thế giới nói chung đang được đặt trong bối cảnh mới, phải thích nghi với dịch bệnh Covid19 để tiếp tục không ngừng phát triển, vượt qua mọi khó khăn để mang tri thức tới người học và góp phần không nhỏ vào việc phát triển xã hội, phát triển đất nước. Năm học 2021 2022 là năm học thứ ba mà các thầy, cô giáo không ngừng nỗ lực thực hiện điều đó, cùng với những đối mới tích cực nhờ ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả, rộng rãi, linh hoạt hơn. Từ sự thành công của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự hỗ trợ từ trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big data) đã giúp các thầy, cô giáo tiếp cận với người học mọi lúc, mọi nơi thông qua các thiết bị di động, máy tính cá nhân kết nối Internet (dạy học trực tuyến). Việc dạy và học của thầy và trò đã thay đổi dẫn tới xu hướng tất yếu là việc kiểm tra, đánh giá cũng không thể giữ nguyên nếp cũ. Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay ngành giáo dục và đào tạo đang nỗ lực đổi mới dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập nhằm phù hợp với xu thế của thời đại. Do đó không chỉ điểm thi mà điểm thường xuyên và nhận xét quá trình học của học sinh thông qua các bài kiểm tra và sản phẩm tự làm đóng vai trò vô cùng quan trọng. Lứa tuổi học sinh trung học là lứa tuổi có sự phát triển nhanh về thể chất, cũng như về mặt tư duy. Các em thích khám phá, tìm tòi và khẳng định bản thân, chính vì vậy việc được ghi nhận sự tiến bộ thường xuyên, được tự do sáng tạo khoa học sẽ tạo sự hứng khởi cho các em và đem lại kết quả tốt hơn về mặt giáo dục. Vật lý là một bộ môn thuộc phạm trù khoa học tự nhiên, đóng góp phần kiến thức cơ bản, thiết yếu và quan trọng đối với học sinh trung học cơ sở. Môn học này cũng rất phù hợp để phát triển năng lực tư duy sáng tạo, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh và được ứng dụng nhiều trong cuộc sống. Qua việc học môn Vật lý và được kiểm tra, đánh giá theo cách mới, học sinh không chỉ biết tính toán, giải bài tập mà còn biết vận dụng kiến thức để liên hệ thực tiễn, nghiên cứu khoa học và ứng dụng, có niềm say mê và yêu thích với việc học tập. Môn Vật lý là một trong những môn học có khung phân phối chương trình 1 tiết tuần với khối 7, 8; 2 tiết tuần với khối 9. Trong thời lượng ngắn đó, nhiệm vụ chính của người giáo viên là bằng nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau để truyền thụ được hết kiến thức cơ bản cho học sinh, khó để có thể cho học sinh thảo luận nhóm mở rộng vấn đề, nghiên cứu sản phẩm khoa học kĩ thuật. Đồng thời, với việc dạy học trực tuyến còn nhiều trục trặc liên quan đến vấn đề đường truyền, thiết bị học, tính trung thực của điểm số khi kiểm tra trực tuyến do vậy việc đổi mới kiểm tra, đánh giá là vô cùng cần thiết. Với vai trò là người giáo viên dạy bộ Vật lý trong nhiều năm, tôi đã có suy nghĩ và trăn trở “làm thế nào để công tác kiểm tra, đánh giá khi dạy trực tuyến có hiệu quả?”. Những lí do kể trên đã thôi thúc tôi lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm đề tài: “Một số kinh nghiệm về việc ứng dụng hiệu quả Công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá trực tuyến có hiệu quả” 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu Đề tài này nghiên cứu về việc ứng dụng hiệu quả Công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá học sinh khi dạy trực tuyến đối với môn Vật lý cấp trung học cơ sở, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm giúp các thầy, cô giáo kiểm tra, đánh giá học sinh trong điều kiện mới: hiệu quả, công bằng, thúc đẩy được học sinh tích cực, có động lực học tập. 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá của giáo viên trong giai đoạn dạy học trực tuyến. Các biện pháp giúp giáo viên kiểm tra, đánh giá khi dạy học trực tuyến có hiệu quả. 3. Đối tượng nghiên cứu Học sinh khối 7, 8, 9 trường trung học cơ sở Lý Thường Kiệt. 4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu Bộ môn Vật lý khối 789. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý luận: Từ lý luận đến thực tiễn để phân tích đánh giá thực trạng. Phương pháp nghiên cứu thực tế: Khảo sát, quan sát, trao đổi qua các hình thức và kết quả kiểm tra của giáo viên và học sinh. Phương pháp thực nghiệm: Triển khai kiểm tra, đánh giá theo hình thức mới. Nhóm phương pháp hỗ trợ: Bảng biểu và thống kê toán học. UBND THÀNH PHỐ THANH HÓA TRƯỜNG THCS LÝ THƯỜNG KIỆT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC ỨNG DỤNG HIỆU QUẢ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRỰC TUYẾN CÓ HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI HỌC S.

Trang 1

UBND THÀNH PHỐ THANH HÓA

TRƯỜNG THCS LÝ THƯỜNG KIỆT

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC ỨNG DỤNG HIỆU QUẢ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRỰC TUYẾN CÓ HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI

HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ (THCS)

Năm học: 2022 - 2023

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Nền giáo dục Việt Nam nói riêng và nền giáo dục của thế giới nói chung đang được đặt trong bối cảnh mới, phải thích nghi với dịch bệnh Covid-19 để tiếp tục không ngừng phát triển, vượt qua mọi khó khăn để mang tri thức tới người học và góp phần không nhỏ vào việc phát triển xã hội, phát triển đất nước

Năm học 2021 - 2022 là năm học thứ ba mà các thầy, cô giáo không ngừng nỗ lực thực hiện điều đó, cùng với những đối mới tích cực nhờ ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả, rộng rãi, linh hoạt hơn Từ sự thành công của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự hỗ trợ từ trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big data) đã giúp các thầy, cô giáo tiếp cận với người học mọi lúc, mọi nơi thông qua các thiết bị di động, máy tính cá nhân kết nối Internet (dạy - học trực tuyến) Việc dạy và học của thầy và trò đã thay đổi dẫn tới xu hướng tất yếu là việc kiểm tra, đánh giá cũng không thể giữ nguyên nếp

cũ Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay ngành giáo dục và đào tạo đang nỗ lực đổi mới dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập nhằm phù hợp với xu thế của thời đại Do đó không chỉ điểm thi mà điểm thường xuyên và nhận xét quá trình học của học sinh thông qua các bài kiểm tra và sản phẩm tự làm đóng vai trò vô cùng quan trọng

Lứa tuổi học sinh trung học là lứa tuổi có sự phát triển nhanh về thể chất, cũng như về mặt tư duy Các em thích khám phá, tìm tòi và khẳng định bản thân, chính vì vậy việc được ghi nhận sự tiến bộ thường xuyên, được tự do sáng tạo khoa học sẽ tạo sự hứng khởi cho các em và đem lại kết quả tốt hơn về mặt giáo dục

Vật lý là một bộ môn thuộc phạm trù khoa học tự nhiên, đóng góp phần kiến thức cơ bản, thiết yếu và quan trọng đối với học sinh trung học cơ sở Môn học này cũng rất phù hợp để phát triển năng lực tư duy sáng tạo, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh và được ứng dụng nhiều trong cuộc sống Qua việc học môn Vật lý và được kiểm tra, đánh giá theo cách mới, học sinh không chỉ biết tính toán, giải bài tập mà còn biết vận dụng kiến thức để liên hệ thực tiễn, nghiên cứu khoa học và ứng dụng, có niềm say mê và yêu thích với việc học tập

Môn Vật lý là một trong những môn học có khung phân phối chương trình 1 tiết/ tuần với khối 7, 8; 2 tiết/ tuần với khối 9 Trong thời lượng ngắn đó, nhiệm vụ chính của người giáo viên là bằng nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau để truyền thụ được hết kiến thức cơ bản cho học sinh, khó để có thể cho học sinh thảo luận nhóm mở rộng vấn đề, nghiên cứu sản phẩm khoa học kĩ thuật Đồng thời, với việc dạy học trực tuyến còn nhiều trục trặc liên quan đến vấn đề đường truyền, thiết bị học, tính trung thực của điểm số khi kiểm tra trực tuyến do vậy việc đổi mới kiểm tra, đánh giá là vô cùng cần thiết

Trang 3

Với vai trò là người giáo viên dạy bộ Vật lý trong nhiều năm, tôi đã có suy nghĩ

và trăn trở “làm thế nào để công tác kiểm tra, đánh giá khi dạy trực tuyến có hiệu quả?”

Những lí do kể trên đã thôi thúc tôi lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm đề

tài: “Một số kinh nghiệm về việc ứng dụng hiệu quả Công nghệ thông tin

trong kiểm tra, đánh giá trực tuyến có hiệu quả”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu về việc ứng dụng hiệu quả Công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá học sinh khi dạy trực tuyến đối với môn Vật lý cấp trung học cơ sở, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm giúp các thầy, cô giáo kiểm tra, đánh giá học sinh trong điều kiện mới: hiệu quả, công bằng, thúc đẩy được học sinh tích cực, có động lực học tập

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá của giáo viên trong giai đoạn dạy học trực tuyến

- Các biện pháp giúp giáo viên kiểm tra, đánh giá khi dạy học trực tuyến có hiệu quả

3 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh khối 7, 8, 9 trường trung học cơ sở Lý Thường Kiệt

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Bộ môn Vật lý khối 7-8-9

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Từ lý luận đến thực tiễn để phân tích đánh giá thực trạng

- Phương pháp nghiên cứu thực tế: Khảo sát, quan sát, trao đổi qua các hình thức và kết quả kiểm tra của giáo viên và học sinh

- Phương pháp thực nghiệm: Triển khai kiểm tra, đánh giá theo hình thức mới

- Nhóm phương pháp hỗ trợ: Bảng biểu và thống kê toán học

Trang 4

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận:

Theo Thông tư 26/2020/TT-BGDĐT về Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông, số bài kiểm tra đánh giá thường xuyên của học sinh không bị giới hạn trong một năm học và công nhận kết quả kiểm tra trên máy tính là điều kiện thuận lợi cho giáo viên triển khai hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá Việc tăng số lượng bài kiểm tra sẽ không còn tăng áp lực hay số lượng công việc của giáo viên mà ngược lại với sự trợ giúp của công nghệ làm cho các bài kiểm tra thường xuyên hơn và tạo được hứng thu học tập cho học sinh thông qua hoạt động kiểm tra -đánh giá Phản hồi liên tục giữa giáo viên và học sinh tạo ra một cách giảng dạy rất khác so với cách tiếp cận truyền thống Quá trình dạy học trở nên giống như đang chèo thuyền với việc giáo viên liên tục điều chỉnh hướng đi để giúp cho học sinh hình thành năng lực và đạt được mục tiêu dạy học Mục tiêu được đặt

ra nhưng con đường thực tế phải đáp ứng với năng lực của từng cá nhân học sinh Đó là một minh hoạ mô hình cho hoạt động đánh giá học sinh khi nó xảy

ra liên tục trong quá trình dạy và học

Ở Việt Nam, những năm gần đây cũng đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ thông qua các văn bản quy định về đánh giá học sinh: đánh giá bằng nhận xét kết hợp với điểm số; kiểm tra, đánh giá được thực hiện theo hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến thông qua hỏi – đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập; (Thông tư 26), cho phép học sinh sử dụng sử dụng điện thoại di động, các thiết bị khác phục vụ cho việc học tập và được giáo viên cho phép (Thông tư 32) Việc tăng cường sử dụng công nghệ thông tin là một trong những giải pháp để hiện thực hoá các văn bản về kiểm tra đánh giá, giảm bớt áp lực cho đội ngũ giáo viên và nhà quản lí Bởi công nghệ giúp giáo viên cá nhân hoá các hoạt động, truy cập tức thời, hỗ trợ các quy trình nghiệp vụ, đồng thời tăng sự hứng thú giúp người học linh hoạt và thích ứng trong công việc

Blended Learning (Hybrid model) hay còn gọi là “học tập kết hợp” là một khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục nhằm mô tả sự kết hợp giữa cách học truyền thống trên lớp và cách học hiện đại E-Learning Triển khai hoạt động dạy học và kiểm tra đánh giá trong môi trường Blended Learning đòi hỏi người dạy cần phải có kế hoạch chi tiết và linh hoạt giữa các hoạt động đảm bảo phát huy cả 5 thành tố: Hoạt động trực tiếp (Live events), Tự học (Self-Paced Learning), Hợp tác (Collaboration), Đánh giá (Assessment) Sự phối hợp giữa 5 thành tố trên sẽ giúp việc dạy học đạt mục tiêu học tập thông qua việc tăng tương tác và kiểm soát được hoạt động học tập Trong quá trình dạy học này, đánh giá được xem như một thành tố quan trọng

Từ thực tế triển khai Blended Learning, ngoài việc tận dụng tối đa những

hỗ trợ của công nghệ vào quá trình dạy học, thách thức đặt ra là cần phải đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá dựa trên các nền tảng công nghệ Với xu hướng giáo dục hiện nay là chú trọng vào khả năng vận dụng sáng tạo tri thức của

Trang 5

người học vào các tình huống cụ thể, hay đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ trong những bối cảnh thực tế với mục tiêu đánh giá là kiểm tra xem người học

có năng lực gì, có thể làm được gì chứ không chỉ đơn thuần là biết những gì

Hoạt động đánh giá người học nói chung hay hoạt động đánh giá năng lực người học cần phải đáp ứng được: tính giá trị, toàn diện và linh hoạt, tính công bằng và tin cậy, quan tâm đến cả kết quả và những kinh nghiệm dẫn đến những kết quả đó, trong bối cảnh thực tiễn và vì sự phát triển của người được đánh giá Một trong những xu thế được nhắc tới nhiều nhất gần đây là “đánh giá

vì sự thành công của người học”

Công nghệ trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại cho giáo viên nhiều công cụ mới có thể được sử dụng trong lớp học Công nghệ giúp cho giáo viên theo dõi và đánh giá kết quả học tập của học sinh học sinh cũng như

sự theo dõi và tự đánh giá của chính học sinh trong lớp học Công nghệ cũng có thể được sử dụng để tạo môi trường giao tiếp giữa giáo viên với học sinh và tạo

hồ sơ học tập điện tử về sự tiến bộ và phát triển của học sinh có thể dễ dàng được kế thừa và áp dụng tiếp nối ở các lớp học, các cấp học

Gian lận trong kiểm tra, thi cử là vấn đề gây nhức nhối trong giáo dục ở hầu hết mọi nơi, mọi trình độ và hình thức đào tạo Trong đào tạo trực tuyến, do nhà trường và giáo viên hầu như không thể nắm bắt được hành vi của học sinh khi tham gia kiểm tra, thi cho nên việc gian lận có thể gia tăng so với kiểm tra, thi theo những cách truyền thống nếu giáo viên không chọn lựa được các phương thức đánh giá phù hợp Một số phương thức có thể được lựa chọn để hạn chế sự gian lận khi đánh giá trực tuyến là:

• Kiểm tra/thi vấn đáp trực tuyến thông qua các phần mềm cho phép nhìn thấy khuôn mặt, theo dõi màn hình thao tác người học

• Đánh giá thông qua các sản phẩm (ví dụ một phần mềm, video clip, tác phẩm nghệ thuật, ) được hình thành sau một quá trình có sự theo dõi của giáo viên

Thông tin phản hồi về kết quả học tập là điều đại đa số cha mẹ học sinh

và học sinh mong đợi trong quá trình học, nhưng lại là một trong những khó khăn để đảm bảo công bằng, thực chất trong dạy học trực tuyến Học sinh cần

có thông tin phản hồi kịp thời để nhận ra những gì mình biết là đúng hay chưa đúng, cha mẹ học sinh cần có thông tin phản hồi kịp thời để nhắc nhở, hỗ trợ con Môi trường học tập trực tuyến hạn chế sự gặp gỡ trực tiếp giữa thầy-trò và giữa trò-trò, vì vậy việc cung cấp thông tin phản hồi thường xuyên và kịp thời càng trở nên quan trọng

Từ những cơ sở lý luận trên tôi đã nhận thấy rõ vai trò của kiểm tra, đánh giá, đặc biệt trong giai đoạn dạy học trực tuyến

2 Thực trạng vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá trực tuyến ở trường THCS Lý Thường Kiệt

2.1 Thuận lợi:

Trang 6

Các cấp lãnh đạo, phòng giáo dục và đào tạo quận Long Biên, Ban giám hiệu trường trung học cơ sở Lý Thường Kiệt luôn sát cánh, tạo điều kiện khuyến khích giáo viên luôn tự học, tự sáng tạo, trau dồi kiến thức và luôn đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh để nâng cao chất lượng giảng dạy Đặc biệt trước khi năm học 2021 – 2022 bắt đầu, phòng giáo dục và đào tạo quận Long Biên đã tổ chức lớp học bồi dưỡng về công nghệ thông tin cho giáo viên, lập nhóm giáo viên cùng trao đổi Việc làm này đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi đã giúp đội ngũ giáo viên trong quận biết cách ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giảng dạy một cách thành thạo và có hiệu quả Đồng thời, nhóm mở cũng là một không gian để các giáo viên trao đổi kinh nghiệm, lan tỏa sự hứng khởi để giáo viên tiếp tục nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đạt hiệu quả ở mức độ cao hơn

Bên cạnh đó tổ nhóm chuyên môn với bề dày kinh nghiệm của các thành viên trong tổ luôn tích cực sinh hoạt chuyên môn với nội dung đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá nhằm mục đích phát triển năng lực của học sinh

Học sinh đang ở độ tuổi phát triển mạnh, tư duy cũng đang trên đà phát triển nên đa số các em ham học hỏi và có ý thức trong học tập Hầu hết học sinh được gia đình trang bị đầy đủ thiết bị học tập trực tuyến Đa số học sinh hoàn thành tốt phần bài tập mà giáo viên đã giao về nhà

2.2 Khó khăn

Kiểm tra, đánh giá là một nội dung không thể thiếu trong mỗi giáo án của người giáo viên khi lên lớp, nhưng thực trạng hiện nay khi học sinh học trực tuyến thì đây là một tình huống hoàn toàn mới đòi hỏi giáo viên phải tìm cách thích ứng kịp thời Với việc kiểm tra, đánh giá chưa có sự định hướng một cách

cụ thể, chưa thống nhất ở các môn, các lớp Một bộ phận nhỏ giáo viên còn ngại đổi mới

Bên cạnh đó, nhiều học sinh chỉ được sử dụng thiết bị học trực tuyến trong giờ học Thời gian đầu học sinh chưa kịp làm quen, mà lại có nhiều nền tảng học, kiểm tra trực tuyến khiến học sinh bị rối và chưa hiểu rõ cách dùng

Đôi khi, nếu có quá nhiều lượt truy cập cùng một lúc thì hệ thống máy chủ có thể bị lỗi

Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, thuận lợi và khó khăn nêu trên tôi đã xây dựng một số biện pháp giúp kiểm tra, đánh giá trực tuyến có hiệu quả

3 Nguyên nhân

Dịch bệnh bùng nổ là một tình huống bất ngờ xảy ra, lại mang tính cấp bách nên giáo viên nói riêng và ngành giáo dục nói chung chưa có sự chuẩn bị cho tình huống này

Đội ngũ giáo viên tuy đều đã học chứng chỉ công nghệ thông tin nhưng đây lại là nội dung mang tính đổi mới từng ngày, từng giờ, cần cập nhật thường xuyên Giáo viên lại ở nhiều lứa tuổi khác nhau, điều kiện kinh tế từng gia đình khác nhau nên trình độ xử lý thông tin và khả năng tiếp cận các thiết bị hiện đại còn hạn chế

Trang 7

Học sinh ở lứa tuổi dậy thì, được tiếp cận Internet khó có thể làm chủ bản thân nên khi kiểm tra, đánh giá trực tuyến các em có thể có các hành động gian lận trong kiểm tra, đánh giá hoặc quên tham gia làm bài kiểm tra, quên vào học

mà được nhắc nhở kịp thời

Đôi khi, các yếu tố khách quan cũng ảnh hưởng đến quá trình tham gia kiểm tra của các em: mất điện, mạng kém,

4 Biện pháp giúp kiểm tra, đánh giá khi dạy trực tuyến có hiệu quả cao

4.1 Đổi mới mục tiêu kiểm tra, đánh giá

Mục tiêu kiểm tra, đánh giá

Cung cấp những thông tin phản hồi giúp học sinh nhận ra mình cần phải đạt được những yêu cầu nào, mình có tiến bộ tới đâu, ở mảng kiến thức nào để điều chỉnh quá trình học tập

Khuyến khích, động viên, khơi gợi đam mê sáng tạo, đặc biệt không gây khó khăn, khiến học sinh sợ hãi hoặc bị tổn thương

Đánh giá quá trình học tập của học sinh một cách bao quát, tổng thể, giám sát được quá trình học tập của học sinh, dễ dàng giúp các em phát huy thế mạnh, khắc phục những yếu kém còn tồn tại

Phản ánh trung thực với cha mẹ học sinh và xã hội về chất lượng chương trình giáo dục

4.2 Đổi mới nội dung và hình thức kiểm tra đánh giá

Để đạt được mục tiêu đề ra, khi kiểm tra, đánh giá nội dung cần có sự đổi mới:

Theo cách làm cũ thường học sinh có 1 hoặc 2 bài kiểm tra 15 phút, hình thức trắc nghiệm 100%; 1 bài kiểm tra giữa kì hình thức trắc nghiệm 50%, tự luận 50%; 1 bài kiểm tra cuối kì hình thức trắc nghiệm 50%, tự luận 50% Điều

đó dẫn đến “khoảng thời gian áp lực thi cử” Đối với kiểm tra miệng thì số lượng học sinh được kiểm tra trong một giờ học còn hạn chế, phần lớn đó là những kiến thức học sinh học thuộc lòng chưa có sự hiểu sâu, giáo viên không chủ động được thời gian kiểm tra, đôi khi tiêu tốn thời gian và làm ảnh hưởng đến bài giảng tiếp theo

Theo cách làm mới kiểm tra, đánh giá thường xuyên (dưới 45 phút) tiến hành sau từng bài học; với những chủ đề có thể dễ dàng phát triển thành sản phẩm vận dụng kiến thức vật lý, có thể thay thế bài kiểm tra thành chấm điểm sản phẩm Từ đó, học sinh đồng thời tìm hiểu khám phá thêm những kiến thức mới

Đánh giá giữa cách làm cũ và mới:

Nội dung, hình thức kiểm tra đánh giá

Đánh giá hiệu quả Mức độ

hứng thú

Khi chưa

có sáng

kiến kinh

- Câu hỏi tự luận, câu hỏi trắc nghiệm

- Đề kiểm tra chiếu lên

- Còn nặng nề, khô khan

- Không có tính chính xác cao vì không theo dõi

Bình thường

Trang 8

nghiệm màn hình, chỉ yêu cầu học

sinh bật camera, không kiểm soát được các hành động trên máy của học sinh

được màn hình thiết bị của học sinh

Khi thực

hiện sáng

kiến kinh

nghiệm

- Câu hỏi tự luận, câu hỏi trắc nghiệm

- Ngoài việc yêu cầu camera còn có theo dõi màn hình làm bài, báo cáo, thống kê sau khi tự chấm bài

- Sản phẩm khoa học

- Không dồn áp lực vào một khoảng thời gian

- Tính chính xác cao

- Học sinh nỗ lực nhiều hơn ở những bài sau khi biết bài trước có kết quả chưa tốt

- Có hình thức đánh giá

mở, có thể cả học sinh tham gia vào quá trình đánh giá, nêu ý kiến nhận xét về các sản phẩm đã làm được

Rất hứng thú

4.3 Chọn các công cụ kiểm tra, đánh giá phù hợp

Hiện nay, trên “thị trường” có rất nhiều các công cụ để phục vụ kiểm tra, đánh giá trực tuyến Để đảm bảo triển khai có hiệu quả, trước hết người giáo viên cần tìm hiểu cách sử dụng, ưu, nhược điểm của từng loại, từ đó với đặc thù môn học và nội dung kiểm tra, đánh giá để lựa chọn công cụ phù hợp

* Đối với kiểm tra, đánh giá khi dạy trực tuyến, tôi lựa chọn trang web olm.vn vì những ưu điểm sau:

- Giao diện trang web hoàn toàn bằng tiếng Việt, đơn giản, dễ hiểu

- Cách sử dụng các tiện ích được hướng dẫn bằng video cụ thể

- Giáo viên có thể tạo tài khoản cho học sinh cả lớp, cả trường chỉ trong vài phút

- Đối với mỗi lớp, giáo viên chủ nhiệm có thể phân quyền cho giáo viên

bộ môn, vậy là giáo viên chủ nhiệm có thể theo dõi quá trình học tập các bộ môn của học sinh lớp mình

- Đối với học sinh, mỗi em có một tài khoản và mật khẩu, dùng cho tất cả các môn, vậy là không cần phải ghi nhớ quá nhiều Các em cũng có những diễn đàn, nhóm học tập trao đổi bài khó, có thể xem được kết quả quá trình học của mình, được xem và học theo các học liệu có sẵn của trang web

- Khi học sinh làm bài kiểm tra, trang web có chế độ theo dõi màn hình, thao tác trên máy của học sinh trong suốt thời gian thi Mỗi lần học sinh chuyển cửa sổ hệ thống đều ghi lại, cảnh báo cho học sinh, giáo viên nắm rõ, học sinh chuyển vào thời điểm nào, có thể đặt cảnh báo thu bài sau số lần vi phạm nhất định Nếu là bài thi giữa kì, cuối kì, giáo viên trông thi chỉ cần thông báo với học sinh thời gian mở đề và nhắc học sinh đăng nhập vào làm bài, không cần chia sẻ đề hoặc gửi link Không chỉ có vậy, giáo viên có thể xem được những

Trang 9

học sinh nào đã vào xem đề, lúc mấy giờ, những học sinh nào vẫn chưa vào làm bài để liên lạc với cha mẹ học sinh nhắc nhở kịp thời

- Đối với giáo viên ra đề, chỉ cần làm đề bản word theo mẫu, sau đó chức năng “import” của trang web sẽ cho phép giáo viên tải đề lên Đặc biệt, đối với phần trắc nghiệm trang web sẽ tự tráo câu hỏi Giáo viên cũng có thể tự lập ngân hàng các câu hỏi trắc nghiệm và chia mức độ, hoặc sử dụng kho học liệu của olm

- Sau các bài kiểm tra trắc nghiệm, giáo viên sẽ nhận được toàn bộ điểm của học sinh, lịch sử chọn đáp án vào thời điểm nào, giáo viên không cần tính hay chia điểm, máy tự làm theo thang điểm 10, 20 cho giáo viên đặt, kèm theo thống kê tỉ lệ phần trăm khá giỏi, học sinh có mấy lần không trung thực

- Đề thi hoặc đề kiểm tra đều có thể đặt giờ mở hoặc không, thu bài tự động khi hết giờ Giáo viên cũng có thể cài đặt chế độ học sinh không được nộp bài sớm trước 2/3 thời gian quy định, được xem điểm và đáp án ngay sau khi nộp bài hay không, Trong quá trình học sinh làm bài, máy hiện rõ cho học sinh còn bao nhiêu phút thì phải nộp bài

- Ngay sau khi học sinh hoàn thành bài, máy sẽ gửi kết quả chi tiết vào địa chỉ email của cha mẹ học sinh

- Giáo viên có thể soạn đề hoàn chỉnh và chia sẻ với các giáo viên cùng chuyên môn

* Đối với nộp các sản phẩm khoa học, tôi lựa chọn trang web azota.vn để học sinh nộp bài vì những ưu điểm sau:

- Giao diện trang web hoàn toàn bằng tiếng Việt, đơn giản, dễ hiểu

- Cách sử dụng các tiện ích được hướng dẫn bằng video cụ thể

- Trang web hỗ trợ nộp ảnh, video, audio, file pdf,

- Giáo viên có thể chấm, đánh dấu trực tiếp trên bài làm của học sinh

- Giáo viên, học sinh đều có thể tạo tài khoản dễ dàng thông qua đăng nhập zalo

- Giáo viên tạo đường link về từng sản phẩm trong đó có chi tiết yêu cầu (có thể soạn thảo trực tiếp hoặc đính kèm file), đặt thời hạn nộp bài nếu muốn, gửi cho học sinh vào nộp bài

- Học sinh có thể tự báo danh vào lớp lần đầu, những lần sau nếu vẫn là tài khoản và thiết bị đó, học sinh sẽ được hệ thống nhận diện luôn

- Trang web tự động thống kê số lượng học sinh đã nộp và chưa nộp bài, học sinh nào đã được chấm điểm, đã nộp bài nhưng chưa được chấm điểm, chưa nộp bài

5 Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm

Đánh giá kết quả khi thực hiện:

* Đối với học sinh

STT Nội dung áp dụng sáng kiến Trước khi áp dụng sáng kiến Sau khi

1 Kiến thức - Ghi nhớ kiến thức đãhọc - Nắm chắc và khắc sâu kiếnthức đã học

Trang 10

2 Kỹ năng

- Vận dụng kiến thức làm bài tập, giải thích một số hiện tượng vật lý có liên quan

- Vận dụng kiến thức làm bài tập

- Thực hành, quan sát tìm hiểu nghiên cứu giải thích hiện tượng vật lý có liên quan

- Làm được các sản phẩm đơn giản vận dụng kiến thức vật lý

3 Thái độ

- Trung thực, tự giác, cẩn thận

- Trung thực, tự giác, ham học hỏi, say mê nghiên cứu khoa học và tự tin, yêu thích môn học

4 Năng lực

- Năng lực tự học, năng lực tư duy

- Năng lực tự học, năng lực

tư duy, năng lực sáng tạo, năng lực tổng hợp hệ thống kiến thức

5 Mức độ

húng thú

- Bình thường - Rất hứng thú, say mê

6 Tính chính

xác, công

bằng

- Độ tin cậy thấp, điểm ảo nhiều

- Độ chính xác cao, điểm thực chất

7 Tỉ lệ học

sinh khá,

giỏi môn

Vật lý

- Khối 7: 82,04%

- Khối 8: 74,23%

- Khối 9: 76,15%

- Khối 7: 89,85%

- Khối 8: 88,34%

- Khối 9: 91,12%

* Đối với giáo viên

Có được kết quả kiểm tra, đánh giá khoa học, đầy đủ thông tin, thống kê

rõ ràng giúp giáo viên có cái nhìn bao quát, tổng thể, giám sát được quá trình học tập của học sinh, dễ dàng giúp các em phát huy thế mạnh, khắc phục những yếu kém còn tồn tại Với việc kiểm tra thường xuyên một cách cụ thể, khoa học, không chỉ là kiểm tra đánh giá mà còn giúp giáo viên việc định hướng cho học sinh đâu là nội dung kiến thức cơ bản cần ghi nhớ một cách hiệu quả, hướng các

em tới việc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn

Việc cho học sinh làm các sản phẩm khoa học khơi dạy trong bản thân các em trí tò mò muốn tìm tòi khám phá kiến thức mới Điều mà giáo viên không làm được nhiều trong 45 phút dạy học trên lớp Với cách làm này học sinh đã thực sự được trải nghiệm, tự làm thí nghiệm, tự nghiên cứu tìm tòi để phát hiện ra kiến thức ở bài học mới Đây cũng là cách đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy năng lực chủ động, tích cực, sáng tạo ham tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu của học sinh

Ngày đăng: 02/11/2022, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w