TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA NGỮ VĂN BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC VÀ NGỮ ÂM HỌC TIẾNG VIỆT TÊN ĐỀ TÀI Dựa trên việc phân loại âm tiết của 5 bài thơ 4 chữ5 chữ, hãy nhận xét về nguy.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA NGỮ VĂN
BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC: DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC VÀ NGỮ
ÂM HỌC TIẾNG VIỆT
TÊN ĐỀ TÀI:
Dựa trên việc phân loại âm tiết của 5 bài thơ 4 chữ/5 chữ, hãy nhận xét về nguyên tắc hiệp vần của thơ 4 chữ/5 chữ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hà Trang
Lớp: A8K70
Mã sinh viên: 705601420
Hà Nội, tháng 8 năm 2021
Trang 2
Mục lục Mở đầu 1
1.Ý nghĩa đề tài 1
2.Mục tiêu đề tài 2
Nội dung 2
I Cơ sở lí thuyết về thơ năm chữ và vần, âm tiết trong thơ năm chữ 2
1 Thơ năm chữ 2
2 Vần trong thơ năm chữ 3
2.1 Khái niệm về vần 3
2.2 Chức năng của vần trong thơ năm chữ 3
3 Phân loại âm tiết trong thơ năm chữ 4
II Khảo sát và phân loại các cách hiệp vần trong thơ năm chữ 5
1 Khảo sát thơ năm chữ 5
2.Phân loại các kiểu hiệp vần 11
2.1 Phân loại theo vị trí hiệp vần 11
2.2 Phân loại theo thanh điệu trong hiệp vần 11
2.3 Phân loại theo mức độ hòa âm 12
2.4 Phân loại theo thành phần kết thúc 12
III Nhận xét về quy tắc hiệp vần trong thơ năm chữ 13
Kết luận 15
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Ý nghĩa đề tài
Từ xưa đến nay, Tiếng Việt luôn được xem là một thứ tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam Nó là nơi kết tinh những tinh hoa văn hóa, tri thức ngôn ngữ giàu đẹp của dân tộc Những nét đẹp ấy được dân tộc ta xây dựng và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử Mỗi một dân tộc lại có một tiếng nói riêng, đó là nét đặc trưng của từng dân tộc Ngôn ngữ chính là sợi dây gắn kết những con người trong một cộng đồng, qua thế hệ này đến thế hệ khác Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam Như Đặng Thai Mai từng viết “ Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay”, nó là một thứ tiếng muôn hình muôn vẻ với vô vàn thanh điệu, vầm, luật, từ ngữ, cấu trúc, Sự giàu có về mặt phụ âm, nguyên âm trong Tiếng Việt đã làm cơ sở tiền đề cho việc tổ chức hiệp vần trong thi ca Việt Nam
Nhắc đến thơ là nhắc đến nhịp điệu Nhịp điệu của thơ được tạo nên chủ yếu phụ thuộc vào cách hiệp vần và sự hòa âm Sự hiện diện của vần và âm trong thơ khiến bài thơ trở thành khúc nhạc lòng đầy uyển chuyển, thấm đẫm tình cảm của tác giả Đi sâu vào nghiên cứu đề tài về phân loại âm tiết và nguyên tắc hiệp vần trong thơ năm chữ sẽ góp phần làm rõ hơn về các nguyên tắc hiệp vần trong thơ nhờ đó giúp ta thấy được những giá trị quan trọng của cách hiệp vần trong các sáng tác của thể loại thơ năm chữ nói riêng và thể loại thơ nói chung trong đời sống tinh thần của dân tộc, thấy được những cái đẹp, cái sáng tạo trong thể loại văn học nghệ thuật của dân tộc, thấy được những đặc trưng cũng như tầm quan trọng của vần và cách hiệp vần trong thi ca nói chung và thơ năm chữ nói riêng
Nghiên cứu về thơ cũng chính là nghiên cứu về ngôn ngữ dân tộc, về những nét đẹp văn hóa của dân tộc Có thể nói một trong những điểm nổi bật nhất của thể loại thơ là các kiểu hiệp vần vô cùng độc đáo Đặt trong bối cảnh hiện nay , sự giao thoa, hội nhập của các nền văn hóa trên thế giới đã đặt ra nhiều thách thứ cho chúng ta Một trong những nhiệm vụ quan trọng và bức thiết của thế hệ trẻ ngày nay là duy trì và bảo tồn những nét đẹp của văn hóa dân tộc Do đó, tìm hiểu rõ về
Trang 42
những giá trị văn hóa dân tộc là một cách tốt nhất để duy trì và bảo vệ nét đẹp ấy
mà nguyên tắc hiệp vần là một trong những nơi chứa đựng nó
2 Mục tiêu của đề tài
- Nêu được cơ sở lí thuyết cho việc triển khai đề tài
- Khảo sát và phân loại được các kiểu hiệp vần trong thơ 4 chữ/5 chữ
- Nhận xét được nguyên tắc hiệp vần trong thơ 4 chữ/5 chữ
Nội dung
I - Cơ sở lí thuyết về thơ năm chữ và vần, âm tiết trong thơ năm chữ
1 Thơ năm chữ
Trong kho tàng văn học Việt Nam, thể loại thơ chiếm một số lượng vô cùng lớn Trong đó, thể thơ năm chữ chiếm một số lượng không nhỏ Thơ năm chữ là một loại hình nghệ thuật của ngôn từ đầy nhạc tính Lời thơ của nó ngắn gọn mà lại hàm súc, truyền tải được những ngụ ý khác nhau Thể thơ ngũ ngôn thường được
sử dụng rộng rãi trong các thể thơ dân gian, các bài vè hoặc tục ngữ, đặc biệt là trong các câu ví dặm Nghệ-Tĩnh
Đặc điểm thơ năm chữ là bài thơ có nhiều dòng, mỗi dòng có năm chữ, gieo vần nhịp nhàng, phù hợp với lối diễn đạt chân thành, dạt dào tình cảm Nhịp điệu và thi
từ trong thơ ngũ ngôn gắn bó chặt chẽ với nhau Thể thơ được hình thành từ việc chọn lọc tự nhiên từ lời nói dân tộc Bằng ngôn ngữ riêng sáng tạo ra thơ của mình
mà mỗi dân tộc làm nên thơ truyền thống Thơ ngũ ngôn là một thể thơ tiêu biểu mang nhiều đặc trưng của dân tộc Bàn luận về vấn đề nội dung, khác với thơ bốn chữ thường viết về những vấn đề tươi vui, dí dỏm, phù hợp với trẻ thơ thì thể thơ năm chữ lại viết về những câu chuyện, những con người mà qua đó thể hiện nhiều
ý nghĩa lớn lao, phong phú hơn Thơ ngũ ngôn bàn luận về những chiều sâu suy tư, mang cảm xúc, tâm tư tình cảm của tác giả đến với nhân dân
Mặc dù không được sử dụng rộng rãi với số lượng lớn như thơ lục bát, thơ tự
do nhưng thơ ngũ ngôn cũng đã đươc nhiều nhà thơ lựa chọn để gửi gắm cảm xúc của mình
Trang 53
2 Vần trong thơ năm chữ
2.1 Khái niệm về vần
Vần là hiện tượng cần thiết và là yếu tố khách quan trong thơ ca nói chung và thư năm chữ nói riêng Trong thơ ca Việt Nam, đặc biệt là trong thơ ngũ ngôn độc giả dễ dàng nhận ra các vị trí hiệp vần trong mỗi dòng thơ, khổ thơ và toàn bài thơ bằng cảm quan nghệ thuật của mình Bất kì một ai nói, viết Tiếng Việt đều phải sử dụng đến vần Đã có rất nhiều nhà nghiên về vần và đưa ra những định nghĩa khác nhau về nó
Ý kiến của Đoàn Thiện Thuật trong cuốn Ngữ âm Tiếng Việt đã đưa ra nhận
định rằng “ Âm tiết Tiếng Việt bao gồm ba bộ phận độc lập: thanh điệu, âm đầu và phần còn lại Bọi phận thứ ba mang âm sắc chủ yếu của âm tiết Nó là bộ phận đoạn ttisnh duy nhất kết hợp với thanh điệu, tạo nên vần thơ- nên tạm gọi lf phần vần.”
Trong Vấn đề âm tiết của Tiếng Việt, Vũ Bá Hùng lại cho rằng “ Khi nói đến hệ
thống vần của Tiếng Việt chhusng tôi quan niệm nó là một bộ phận của một âm tiết nhưng đã được trừu tượng hóa, khái quát hóa khỏi những âm tiết cụ thể.Trong những âm tiết cụ thể vần mang bản sắc của âm tiết, đóng vai trò quyết định ttrong chức năng nhận diện của âm tiết.”
Dù các ý kiến trên có phần khác nhau về mặt câu chữ nhưng đều có điểm chung về định nghĩa vần là yếu tố không thể thiếu trong âm tiết Tiếng Việt
2.2 Chức năng của vần trong thơ năm chữ
Ở những bài thơ ngũ ngôn, vần đóng vai trò là chiếc cầu nối, là chất kết dính nối
liền các ý thơ, dòng thơ, khổ thơ lại với nhau tạo nên một bài thơ hoàn chỉnh Xét về chức năng tổ chức, chúng ta thấy rằng, trong quá trình tạo ra một bài thơ,
vần đóng vai trò vô cùng quan trọng Gs Nguyễn Nhã Bắc đã từng nói: “Vần như
sợi dây nhịp cầu bắt qua dòng thơ.” Thông thường, ở mỗi bài thơ năm chữ thường
có bốn câu thơ, giữa mỗi câu có thể sử dụng cách hiệp vần khác nhau để nối dòng, gắn kết cả bài thơ, giúp cho việc đọc thơ, thuộc thơ trở nên dễ dàng, gây cảm tình
đố với độc giả
Trang 64
Trong thơ năm chữ, vần còn có vai trò như là một công cụ để biểu trưng ngữ nghĩa Trong một dòng thơ, từ mang vần bao giờ cũng trở thành điểm sáng ngời của cả câu thơ, được nhấn mạnh hơn so với những từ đứng cạnh nó Do vậy, vần được hiểu không chỉ là một hiện tượng ngữ âm đơn giản mà nó còn được các tác giả sử dụng để bộc lộ ý nghĩa của cả khổ thơ, bài thơ
Về chức năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp và xác lập mối quan hệ giữa vần và nhịp, có ý kiến rằng “Nhịp là kết quả của sự vận động nhịp nhàng, sự lặp lại đều đặn những âm thanh nào đó trong thơ” Trong mỗi dòng thơ, vần và nhịp có mối quan hệ tác động với nhau Ngắt nhịp là cơ sở tiền đề tạo ra các nguyên tắc hiệp vần và ngược lại, vần cũng có thể gây ra các tác động trở lại đối với nhịp
3 Phân loại âm tiết trong thơ năm chữ
Thông thường trong thơ năm chữ, đơn vị hiệp vần là âm tiết Đi vào nghiên cứu
đề tài phân loại âm tiết, chúng ta có thể rút ra được âm tiết được phân loại theo các tiêu chí sau:
Tiêu chí thứ nhất là dựa vào thành phần âm chính của âm tiết Âm chính là hạt
nhân của âm tiết Là âm mang đường nét cơ bản của thanh điệu.Dựa vào góc nhìn ngôn ngữ học,ta có phân âm chính thành 3 loại: Nguyên âm hàng trước không tròn môi ( /i/, /e/, /ie/, /ε/ ) ; Nguyên âm hàng sau không tròn môi ( /w/, /ă/, /a/, /ɤ/, /ɤ/, /ɯɤ/ ) ; Nguyên âm hàng sau tròn môi ( /ɔ/, /u/, /uo/, /o/)
Tiêu chí thứ hai là dựa vào cách kết thúc âm tiết ta cũng có thể chia làm 4 loại
như tiêu chí 1: âm tiết mở, âm tiết đóng, âm tiết hơi mở và âm tiết hơi đóng Âm tiết mở là những âm tiết kết thúc bằng nguyên âm và không có thành phần kết thúc,
như: ta, qua, bà, Âm tiết hơi mở là những âm tiết có thành phần kết thúc là bán
âm (u, i) , như: tai, ngoài, nháy, Âm tiết hơi đóng là âm tiết có thành phần kết thúc là phụ âm vang, mũi ( m,n,ŋ, ɲ) như: nhưng, cứng, mõm, Âm tiết đóng là những âm tiết có thành phần kết thúc là phụ âm tắc,vô thanh (p,t,k,c) như: chớp,
tát, chiếc,
Tiêu chí cuối cùng là dựa vào thanh điệu Dựa vào tiêu chí này, ta có thể chia
âm tiết thành 2 loại: âm tiết bằng và âm tiết trắc, Âm tiết bằng là nhưng âm tiết
có thanh huyền hoặc thanh bằng, chẳng hạn: bàng, chiều, đan, Âm tiết trắc là những âm tiết có các thanh ngã, thanh nặng, thanh sắc và thanh hỏi, chẳng hạn: tóc,
Trang 75
tính, xẻ, Sự hòa phối về thanh điệu trong âm tiết cũng chính là cơ sở để phân loại
các kiểu hiệp vần trong thơ năm chữ
II ) Khảo sát và phân loại các cách hiệp vần trong thơ năm chữ
1 Khảo sát thơ năm chữ
Dựa trên các tiêu chí về phân loại âm tiết đã đưa ra ở trên, chúng ta đi vào khảo sát 5 bài thơ năm chữ để thấy được nguyên tắc hiệp vần của thể thơ năm chữ Thể loại thơ năm chữ cũng như cuộc sống luôn có sự vận động và phát triển Vần thơ ngày nay đã có ít nhiều sự thay đổi so với cách hiệp vần thơ truyền thống Cách hiệp vần truyền thống bắt buộc phải theo những nguyên tắc nhất định Đó là những nguyên tắc hiệp vần đòi hỏi sự chặt chẽ theo đúng quy luật ngữ âm về các yếu tố:
Vị trí hiệp vần, đường nét thanh điệu trong hiệp vần, âm cuối trong hiệp vần và âm chính trong hiệp vần Để làm rõ đề tài, chúng ta nghiên cứu lần lượt các yếu tố tham gia hiệp vần của năm bài thơ sau:
Ngữ liệu 1: “Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương Người Cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm
Rồi bác đi dém chǎn Từng người từng người một
Sợ cháu mình giật thột Bác nhón chân nhẹ nhàng.”
(Minh Huệ – Đêm nay Bác không ngủ)
*) Bác hiệp vần với bạc:
+) Cùng nhóm thanh trắc nhưng không cùng âm vực: Bác là thanh trắc,cao ;
còn bạc là thanh trắc, thấp
+) Cùng âm cuối là phụ âm cuối lưỡi, tắc vô thanh /k/
Trang 86
+) Cùng âm chính là nguyên âm /a/ rộng, nguyên âm hàng sau, không tròn môi
+) Cùng âm tiết đóng
+) Hiệp vần với nhau theo mức độ vần thông
+) Vị trí hiệp vần là vần chân
*) Một hiệp vần với thột :
+) Cùng nhóm thanh trắc, thấp
+) Cùng âm cuối là phụ âm đầu lưỡi, tắc vô thanh /t/
+) Cùng âm chính là nguyên âm /o/ hơi hẹp, nguyên âm hàng sau,tròn môi +) Cùng âm tiết đóng
+) Hiệp vần với nhau theo mức độ vần chính
+) Vị trí hiệp vần là vần chân
Ngữ liệu 2: “ Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau – rạn vỡ Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố.”
( Thuyền và biển- Xuân Quỳnh)
*) Nhau hiệp vần với đầu:
+) Cùng nhóm thanh bằng nhưng khác âm vực: nhau là thanh ngang, cao; còn đầu là thanh huyền,thấp
+) Cùng âm cuối là bán âm, vang /u/
+) Âm chính /ă/ ( au) và /ɤ/ ( â) cùng nguyên âm hàng sau, không tròn môi nhưng khác độ mở: /ă/ là rộng ; /ɤ/ là hơi hẹp
+) Cùng âm tiết hơi mở
Trang 97
+) Hiệp vần với nhau theo mức độ vần thông
+) Vị trí hiệp vần là vần lưng
*) Nhau hiệp vần với đau:
+) Cùng thanh ngang, cao, thuộc nhóm thanh bằng
+) Cùng âm cuối là bán âm, vang /u/
+) Cùng âm chính là nguyên âm /ă/ rộng, nguyên âm hàng sau, không tròn môi
+) Cùng âm tiết hơi mở
+) Hiệp vần với nhau theo mức độ vần chính
+) Vị trí hiệp vần là vần lưng
*) Nhớ hiệp vần với vỡ:
+) Cùng thanh trắc, cao
+) Cùng âm cuối /zerô/, không có âm cuối
+) Cùng âm chính là nguyên âm /ɤ/ hơi hẹp, nguyên âm hàng sau, không tròn môi
+) Cùng âm tiết mở
+) Hiệp vần với nhau theo mức độ vần thông
+) Vị trí hiệp vần là vần chân
*) Gió hiệp vần với tố:
+) Cùng nhóm thanh trắc, cao
+) Cùng âm cuối /zerô/, không có âm cuối
+) Âm chính /ɔ/ (o) và /o/ ( ô) cùng nguyên âm hàng sau, tròn môi nhưng khác độ mở: /ɔ/ là hơi rộng ; /o/ là hơi hẹp
+) Cùng âm tiết mở
+) Hiệp vần với nhau theo mức độ vần thông
+) Vị trí hiệp vần là vần chân
Trang 108
Ngữ liệu 3: “Từ ngày con thơ bé
Đến bây giờ lớn khôn Tiếng ru hời khe khẽ Vẫn thấm đượm trong hồn
Qua những ngày nắng cháy Chân mẹ đã khô cằn
Mùa lũ về nước chảy
Mẹ dãi dầu vai xương.”
( Mẹ! -Huỳnh Minh Nhật)
*) Bé hiệp vần với khẽ :
+) Cùng nhóm thanh trắc, cao
+) Cùng âm cuối /zerô/, không có âm cuối
+) Cùng âm chính là nguyên âm /ε/ hơi rộng, nguyên âm hàng trước, không tròn môi
+) Cùng âm tiết mở
+) Hiệp vần với nhau theo mức độ vần thông
+) Vị trí hiệp vần là vần chân
*) Khôn hiệp vần với hồn :
+) Cùng nhóm thanh bằng nhưng không cùng âm vực: Khôn là thanh ngang,cao ; còn hồn là thanh huyền, thấp
+) Cùng âm cuối là phụ âm đầu lưỡi, tắc vang /n/
+) Cùng âm chính là nguyên âm /o/ hơi hẹp, nguyên âm hàng sau, tròn môi +) Cùng âm tiết hơi đóng
+) Hiệp vần với nhau theo mức độ vần thông
+) Vị trí hiệp vần là vần chân
Trang 119
*) Cháy hiệp vần với chảy:
+) Cùng nhóm thanh trắc nhưng không cùng âm vực: Cháy là thanh trắc,
cao; còn chảy là thanh trắc,thấp
+) Cùng âm cuối là bán âm, vang /i/
+) Cùng âm chính là nguyên âm /a/ rộng, nguyên âm hàng sau, không tròn
môi
+) Cùng âm tiết hơi mở
+) Hiệp vần với nhau theo mức độ vần chính
+) Vị trí hiệp vần là vần chân
Ngữ liệu 4: “ Nhấp chén trà thứ nhất
Da thịt bỗng toả hương Đời thực thành cõi mộng Trần gian hoá thiên đường
Ta nâng chén thứ hai
Cho đất trời tinh khiết
Tâm ta bừng sáng ra
Biết thêm điều chưa biết.”
( Đầu xuân uống trà cùng bạn – Trần Đăng Khoa)
*) Hương hiệp vần với đường:
+)Cùng nhóm thanh bằng nhưng không cùng âm vực: hương là thanh ngang,
cao; còn đường là thanh huyền, thấp
+) Cùng âm cuối là phụ âm mặt lưỡi, tắc vang /ŋ/
+) Cùng âm chính là nguyên âm /ɯɤ/ hơi hẹp, nguyên âm hàng sau, không
tròn môi
+) Cùng âm tiết hơi đóng
+) Hiệp vần với nhau theo mức độ vần thông
+) Vị trí hiệp vần là vần chân