1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

VĂN hóa PHÁP LUẬT VN HIỆN NAY NHÌN từ mối QUAN hệ 221027 163714

145 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM = = = VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG Chủ nhiệm đề tài TS LÊ THỊ HỒNG VÂ.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

= = =

VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA

TRUYỀN THỐNG

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Chủ nhiệm đề tài: TS LÊ THỊ HỒNG VÂN

TP HCM - 2010

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài 8

4 Mục tiêu của đề tài 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Dự kiến sản phẩm nghiên cứu của đề tài và khả năng ứng dụng 10

7 Cấu trúc của công trình nghiên cứu 11

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VĂN HÓA – VĂN HÓA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 12

1.1 Khái niệm về văn hóa và văn hóa pháp luật 12

1.1.1 Giới thuyết về khái niệm về văn hóa 12

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa 12

1.1.1.2 Đặc trưng và biểu hiện của văn hóa 15

1.1.1.3 Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển 18

1.1.2 Giới thuyết về văn hóa pháp luật 19

1.1.2.1 Khái niệm văn hóa pháp luật 19

1.1.2.2 Biểu hiện của văn hóa pháp luật 22

1.2 Thực trạng của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay 24

1.2.1 Ý thức và hành vi ứng xử không thượng tôn pháp luật 26

1.2.1.1 Vi phạm trong lĩnh vực giao thông 26

1.2.1.2 Vi phạm trong quản lý xây dựng 31

1.2.1.3 Vi phạm trong bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm 34

1.2.1.4 Sự gia tăng các hành vi bạo lực và ứng xử “luật rừng” 41

1.2.2 Tính hiệu lực của các thiết chế thực thi pháp luật và văn bản pháp luật 50 1.2.2.1 Thực trạng chất lượng của bộ máy công quyền 50

Trang 3

1.2.2.2 Thực trạng về chất lượng xét xử của tòa án 60

1.2.2.3 Thực trạng về chất lượng văn bản pháp luật 71

1.3 Đánh giá chung về thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay 84

1.3.1.Thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay - bức tranh xám màu. 84 1.3.2 Các nguyên nhân trực tiếp 85

CHƯƠNG 2: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG ĐẾN VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 88

2.1 Sự tác động của văn hóa nông nghiệp lúa nước 90

2.1.1 Tính cộng đồng 90

2.1.2 Lối ứng xử trọng tình nhẹ lý 95

2.1.3 Lối sống trọng lệ hơn luật và ứng xử “phép vua thua lệ làng” 98

2.1.4 Tư duy tiểu nông tùy tiện, chủ quan, cảm tính 105

2.2 Sự tác động của tư tưởng Nho giáo ………… 108

2.2.1 Nho giáo và tư tưởng trong đạo lý hơn pháp lý 108

2.2.2 Nho giáo và truyền thống “vô tụng” 110

2.3 Phật giáo với tư tưởng hiếu hòa, nhân ái, vị tha 117

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO VĂN HÓA PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 121

3.1 Các giải pháp nền tảng có tính chiến lược 117

3.1.1 Thanh lọc, tẩy trừ những tiêu cực, lạc hậu của văn hóa truyền thống 122

3.1.1.1 Thay đổi tư duy tiểu nông tùy tiện, chủ quan, cảm tính 122

3.1.1.2 Thay đổi thói quen ứng xử của văn hóa làng 122

3.1.2 Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại 125

3.1.2.1 Tạo điều kiện cho sự phát triển ý thức về quyền cá nhân 125

3.1.2.2 Xây dựng ý thức và thói quen sử dụng pháp luật 126

3.2 Các giải pháp cụ thể và cấp bách 127

Trang 4

3.2.1 Xử lý nghiêm minh, triệt để và kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật.127 3.2.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và các thiết chế thực thi pháp luật 128 3.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực ngành Luật vừa hồng vừa chuyên…….…… 130 3.2.4 Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân…… ….……….131 KẾT LUẬN……….……….… 132

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đặt chúng ta trước nhiều mục tiêu

và nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, trong đó có mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, lấy pháp luật làm nền tảng điều tiết các hành vi cá nhân và các quan hệ xã hội, hướng đến một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Vì vậy, những năm gần đây, Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cùng với việc tuyên truyền, phổ biến để pháp luật đi vào đời sống, nhằm từng bước hình thành nếp sống và thói quen hành xử tôn trọng pháp luật Nhưng thực

tế cho thấy, văn hóa ứng xử với pháp luật trong xã hội ta hiện nay còn nhiều tiêu cực, biểu hiện từ các hành vi ứng xử với pháp luật của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày cho đến trình độ vận dụng công cụ pháp luật của Nhà nước trong quản lí xã hội cũng như việc thực thi pháp luật trong thực tế… Hệ quả là, thói quen không tuân thủ pháp luật, coi thường pháp luật, lách luật, lối ứng xử tùy tiện với pháp luật… đang tồn tại và biểu hiện rất phổ biến, không chỉ với dân thường

mà ngay cả đối với những cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền; thậm chí, cả với những người đang nắm giữ cán cân công lý của xã hội Theo đó là sự gia tăng đến mức báo động các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật Những biểu hiện xuống cấp và suy thoái đạo đức, đặc biệt là “ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền” đang là nỗi bất bình của toàn xã hội Thực trạng ấy đang từng ngày làm ô nhiễm bầu không khí tinh thần của xã hội, làm suy giảm đáng kể lòng tin của người dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật, dẫn đến coi thường kỉ cương phép nước Đó cũng chính là những biểu hiện của một đời sống văn hóa pháp luật không lành mạnh, một thái độ ứng xử văn hóa không thượng tôn pháp luật

1.2 Trong bối cảnh xã hội mà sự vi phạm pháp luật trở nên phổ biến và đáng báo động như hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền càng đặt ra cấp bách và khẩn thiết hơn bao giờ hết Trong nhiều bước đi và giải pháp có tính chiến lược và đồng bộ, cần phải coi việc xây dựng một nền văn hóa pháp luật tích cực, lành mạnh như một nhiệm vụ có tính nền tảng cần được đưa lên vị trí ưu tiên trong chiến lược phát triển Văn hóa pháp luật vừa là một lĩnh

Trang 6

vực biểu hiện của văn hóa xã hội, nhưng cũng đồng thời là sản phẩm của văn hóa

xã hội, chịu sự tác động của các yếu tố xã hội như phương thức sản xuất, các hệ

tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán… Sự hình thành văn hóa pháp luật của một quốc gia, do vậy, không thể không bị chi phối bởi những

văn hoá pháp luật cũng như thái độ của con người trong việc sử dụng pháp luật đều có thể tìm thấy nguyên nhân sâu xa trong tập quán sản xuất, nếp sống và những thói quen sinh hoạt…

Việt Nam là một quốc gia đã có lịch sử cả ngàn năm tồn tại và phát triển trên nền tảng của phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước tiểu nông và tư tưởng Nho giáo, nơi mà các chuẩn mực điều chỉnh hành vi của xã hội dựa trên cơ sở của luật tục hơn là luật pháp, đạo lý hơn là pháp lý, nay chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nền kinh tế thị trường Đây chính là một lực cản rất lớn trong quá trình hội nhập, phát triển kinh tế và cao hơn là xây dựng một

nay nếu không chỉ ra được những căn nguyên sâu xa từ nền tảng văn hóa truyền thống đứng sau những hiện tượng tiêu cực trong những hành vi ứng xử với pháp luật thì khó có thể tìm ra những giải pháp có tính chiến lược để xây dựng một nền văn hóa pháp luật Việt Nam tích cực, lành mạnh, tạo nền tảng để thực hiện thành công công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

1.3 Nếu văn hóa được coi là nền tảng, là nội lực của sự phát triển thì văn hóa pháp luật là nền tảng, là nội lực để thực hiện thành công công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu hóa ở nước ta hiện nay Để mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước

ta được thực hiện thành công, việc xây dựng, tạo lập một nền tảng văn hóa pháp luật lành mạnh và tích cực đang được đặt ra như một nhiệm vụ cấp thiết Một trong những giải pháp có tính nền tảng để thực hiện mục tiêu đó, theo chúng tôi, phải bắt đầu từ việc giáo dục, trang bị những kiến thức về văn hóa ứng xử với pháp luật, trước hết cho chính những người hoạt động trong ngành pháp luật, bởi

họ không chỉ có vai trò làm gương, đại diện cho văn hóa ứng xử tích cực đối với pháp luật, mà quan trọng hơn, họ còn có sứ mệnh “hướng đạo” trong việc xây

Trang 7

dựng một nền văn hóa pháp luật lành mạnh, tích cực trong điều kiện và hoàn cảnh của nước ta hiện nay Bởi vậy, trong nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo của trường Đại học Luật, cùng với việc truyền thụ kiến thức pháp lý, không nên, và không thể coi nhẹ việc giáo dục tình cảm, đạo lý và thái độ ứng xử nhân văn ngay trong môi trường điều chỉnh của pháp luật, bởi lẽ, việc nắm vững và áp dụng đúng các điều luật không hoàn toàn đồng nghĩa với việc hành xử một cách có văn hóa với pháp luật

Với tất cả những lý do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này với mục đích trước hết, và trực tiếp nhất, là trang bị cho sinh viên ngành Luật những kiến thức về văn hóa ứng xử với pháp luật, giúp họ ý thức được mối quan hệ bản chất giữa văn hóa với pháp luật và lý giải được thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay từ những căn nguyên sâu xa của nền tảng văn hóa truyền thống Trên cơ sở

và trách nhiệm trong việc xây dựng một xã hội có nền văn hóa pháp luật tích cực, lành mạnh để hội nhập và phát triển

2 Lịch sử vấn đề

Những năm gần đây, khi nhân loại ngày càng ý thức sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa với tư cách là nền tảng của sự phát triển thì các nghiên cứu về văn hóa đang trở thành một vấn đề được quan tâm đặc biệt Trong xu thế chung ấy, ở nước ta, trong hơn một thập niên trở lại đây, việc nghiên cứu văn hóa đã không chỉ dừng lại ở những nghiên cứu cơ bản như: bản chất của văn hóa, cấu trúc, vai trò và chức năng của văn hóa, tác động của văn hóa đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội… mà đang có xu hướng ngày càng đi vào chuyên sâu, gắn với các lĩnh vực ứng dụng thực tiễn như: văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa

thẩm mỹ, văn hóa du lịch, văn hóa kinh doanh… Trong đó, văn hóa pháp luật

cũng là một lĩnh vực nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Cho đến nay, đã có khá nhiều hội thảo và công

trình nghiên cứu về văn hóa pháp luật đã được thực hiện và công bố như: Xây

dựng ý thức và lối sống theo pháp luật [60]; Văn hóa pháp luật [48]; Văn hóa tư pháp [53]; Văn hóa pháp lý với sự nghiệp đổi mới ở nước ta [15]; Xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh văn hóa Việt Nam [47]; Văn hóa pháp lý Việt

Trang 8

Nam [56]. Ngoài ra còn có những bài báo, những cuốn sách chuyên khảo, những hội thảo khoa học dù không trực tiếp đặt vấn đề nghiên cứu văn hóa pháp luật như một đối tượng khảo sát độc lập nhưng cũng đã đề cập đến những khía cạnh, đưa ra những cứ liệu đánh giá về thực trạng của đời sống pháp luật ở nước ta hiện nay như: vấn đề thực thi pháp luật, hiệu quả của pháp luật, vấn đề giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật,…

Các nghiên cứu trên đây, ở những mức độ khác nhau đã hướng sự quan tâm vào các vấn đề:

1 Chỉ ra thực trạng và lý giải nguyên nhân trực tiếp tạo nên thái độ ứng xử với pháp luật trong xã hội ta hiện nay

2 Phân tích vai trò của việc xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền

3 Đề xuất các giải pháp để xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật ở nước ta hiện nay

Tuy nhiên, trong số các công trình nghiên cứu trên đây chưa có công trình nào khảo sát cụ thể về thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay dựa trên

tư liệu là các bài báo được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong khoảng thời gian 3 năm lại nay Cũng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu và lý giải nguyên nhân của thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay

từ sự chi phối của văn hóa truyền thống như một đối tượng nghiên cứu độc lập Bởi vậy, đề tài nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm những vấn đề nghiên cứu mà những người đi trước còn bỏ ngỏ, đó là:

- Khảo sát để nhận diện thực trạng tiêu cực của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay dựa trên các cứ liệu là những bài báo được đăng tải trên các phương tiện thông tin báo chí (những tờ báo có uy tín) trong khoảng 3 năm gần đây

- Nghiên cứu sự tác động, chi phối của các đặc trưng văn hóa truyền thống đến văn hóa pháp luật ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: nhận diện thực trạng tiêu cực trong văn

hóa pháp luật ở Việt Nam hiện nay và lý giải nguyên nhân từ sự chi phối của

các đặc trưng văn hóa truyền thống

Trang 9

- Giới hạn phạm vi khảo sát thực trạng là những bài báo được đăng tải trên các tờ báo có uy tín viết về những biểu hiện tiêu cực trong văn hóa ứng xử với pháp luật trong thời gian 4 năm trở lại đây

4 Nhiệm vụ của đề tài

4.1 Chỉ ra và phân tích thực trạng tiêu cực của văn hóa pháp luật ở Việt Nam

hiện nay

4.2 Lý giải nguyên nhân từ sự chi phối của nền tảng văn hóa truyền thống

4.3 Từ góc nhìn văn hóa để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao văn hóa pháp luật trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại:

Để nhận diện thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay, chúng tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại trên nguồn cứ liệu là các bài báo được đăng tải trên các tờ báo in và báo điện tử có uy tín trong khoảng 3 năm lại nay Trong số gần 400 bài báo liên quan đến văn hóa ứng xử với pháp luật đã được sưu tầm, thống kê, chúng tôi đã lựa chọn hơn 200 bài để khảo sát và phân loại theo các lĩnh vực là những điểm nóng gây nhiều bức xúc trong dư luận, đó là:

a) Hành vi ứng xử với pháp luật: vi phạm trong lĩnh vực giao thông; trong quản lý xây dựng; bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm; bạo lực và

“luật rừng” (ở cả hai phía: người dân và công chức trong các cơ quan công quyền)

b) Hệ thống pháp luật và các thiết chế pháp luật: hệ thống văn bản pháp luật; chất lượng nguồn nhân lực của các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật; tính hiệu lực của các thiết chế pháp luật

5.2 Phương pháp đồng đại: được sử dụng để phân tích, lý giải các nguyên nhân

xã hội đang chi phối đến văn hóa ứng xử với pháp luật của xã hội ta hiện nay

5.3 Phương pháp lịch đại: được sử dụng để nghiên cứu sự chi phối của các đặc

trưng văn hóa truyền thống đến văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay

Trang 10

5.4 Phương pháp phân tích, so sánh: được dùng để mổ xẻ, soi xét các nguyên

nhân trực tiếp và gián tiếp chi phối đến các hành vi pháp luật từ nhiều phía, nhiều chiều

5.5 Phương pháp hệ thống: được sử dụng để liên kết, xâu chuỗi các yếu tố trong

sự chi phối, liên đới lẫn nhau trong cả hai tương quan đồng đại và lịch đại

6 Dự kiến sản phẩm nghiên cứu của đề tài và khả năng ứng dụng

6.1 Đối với nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành Luật: sản phẩm nghiên cứu sau khi

nghiệm thu đề nghị được chỉnh lý, bổ sung thành một chương trong nội dung

môn Đại cương văn hóa Việt Nam để giảng dạy cho sinh viên hệ đào tạo cử nhân

Luật Qua đó để:

6.1.1 Tạo sự gắn kết giữa một môn học thuộc khối kiến thức cơ sở ngành

với kiến thức chuyên ngành Luật, để việc giảng dạy môn Đại cương Văn hóa Việt

Nam thể hiện đặc thù riêng của trường Luật, qua đó nhằm nâng cao tính ứng

dụng thực tiễn của môn học

6.1.2 Bổ sung thêm những kiến thức về văn hóa pháp luật – một mảng kiến thức rất cần thiết trong việc hành nghề Luật, nhưng hiện chưa được giảng dạy trong chương trình đào tạo cử nhân Luật, cụ thể là:

- Trang bị cho sinh viên những tri thức về văn hóa ứng xử với pháp luật cũng như ý thức một cách sâu sắc về vai trò của văn hóa pháp luật trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

- Nhận diện được thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay và lý giải được những căn nguyên của thực trạng ấy từ sự chi phối của các đặc trưng văn hóa truyền thống, qua đó nhằm gắn kết những tri thức cơ sở ngành với các tri thức chuyên ngành, giúp sinh viên biết vận dụng những kiến thức về văn hóa Việt Nam vào việc lý giải những vấn đề trong thực tiễn ứng xử với pháp luật

- Việc bổ sung những kiến thức về văn hóa pháp luật nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Luật một cách toàn diện, vừa

“hồng”, vừa “chuyên”, bởi những tri thức chuyên sâu về pháp luật không đồng nghĩa với chất lượng văn hóa trong thái độ ứng xử với pháp luật Việc giáo dục văn hóa ứng xử với pháp luật cho sinh viên Luật, vì vậy, trước hết để nâng cao chất lượng văn hóa trong hành xử pháp lý cho những người hành nghề luật, để họ

Trang 11

góp phần tích cực vào việc xây dựng một xã hội có nền văn hóa pháp luật cao, không chỉ bằng chính những hành vi mẫu mực của chính mình để “hướng đạo”, nêu gương, mà quan trọng hơn, họ còn có khả năng phổ biến, giáo dục văn hóa

pháp luật cho nhiều người khác

6.2 Đối với thực tiễn pháp luật:

Đề tài sau khi hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, ban hành các văn bản pháp luật và thực thi pháp luật cũng như những ai quan tâm tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa với pháp luật và thực trạng của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay

7 Cấu trúc của công trình nghiên cứu:

Cấu trúc của công trình nghiên cứu gồm phần mở đầu, phần kết luận và phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Khái niệm văn hóa pháp luật và thực trạng văn hóa pháp luật Việt

Nam hiện nay

Chương 2: Sự tác động của văn hóa truyền thống đến văn hóa pháp luật Việt

Nam hiện nay

Chương 3: Các giải pháp để nâng cao văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay

Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo

Trang 12

CHƯƠNG 1

KHÁI NIỆM VĂN HÓA PHÁP LUẬT

VÀ THỰC TRẠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Khái niệm về văn hóa và văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật là một bộ phận, một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa dân tộc, vì vậy để hiểu văn hóa pháp luật trước hết không thể không bắt đầu từ việc

giới thuyết khái niệm văn hóa với vai trò là công cụ lý thuyết nền tảng

1.1.1 Giới thuyết về khái niệm văn hóa

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là gì? Đó là một câu hỏi mà nhân loại đã tốn không ít giấy mực với

hàng trăm câu trả lời từ những góc nhìn, những cách tiếp cận khác nhau Định nghĩa đầu tiên về văn hóa gắn liền với tên tuổi của nhà nhân chủng học nổi tiếng người Anh - Edward Burnett Tylor (1832-1917) Trong công trình nghiên cứu

Văn hóa nguyên thủy (1871), ông viết: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng

về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [16, 13]

Định nghĩa này của E.B.Tylor vẫn thường được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trên thế giới dẫn ra như một mẫu mực có tính kinh điển, trong đó quan niệm văn hóa bao gồm một tổng thể những thành quả sáng tạo của con người

Sau công trình nghiên cứu của E.B.Tylor, việc nghiên cứu văn hóa đã được triển khai và mở rộng theo nhiều hướng khác nhau, cùng với đó là sự ra đời của rất nhiều định nghĩa văn hóa từ những góc độ tiếp cận khác nhau Trong cuốn

Văn hóa: tổng thuật có phê phán các quan điểm và định nghĩa, hai nhà văn hóa

người Mỹ là A.L.Kroeber và Cluc Khohn đã thống kê được, tính đến năm 1952, trên các sách báo phương Tây đã có khoảng 150 định nghĩa về văn hóa Còn theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc, đến năm 1994, trên thế giới đã có trên 400 định nghĩa

về văn hóa

Ở Việt Nam hiện cũng đã và đang tồn tại nhiều định nghĩa văn hóa, trong đó

có thể nêu một số định nghĩa tiêu biểu:

Trang 13

- Trong công trình nghiên cứu Việt Nam văn hóa sử cương xuất bản lần đầu tiên vào năm 1938, học giả Đào Duy Anh quan niệm: “Hai tiếng văn hóa chẳng

qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: văn hóa tức là sinh hoạt” [1, 13]

cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [69, 431]

- Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu

cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1999, tr 10)

Số lượng phong phú các định nghĩa về văn hóa đã phản ánh những góc độ tiếp cận khác nhau, đồng thời cũng cho thấy tính chất phức tạp của vấn đề Tuy nhiên, phần đông các quan niệm đều thống nhất khi cho rằng, văn hóa là sản phẩm tất yếu của xã hội, được hình thành trong hành trình sống của mỗi cộng đồng, khi nó là hệ quả của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên

và xã hội, được kết tinh và hiện diện trong mọi hành vi sáng tạo của con người, được biểu hiện qua tất cả những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người làm

ra, từ công cụ sản xuất và các vật dụng sinh hoạt thiết yếu hàng ngày cho đến các sản phẩm nghệ thuật; từ tri thức khoa học cho đến kinh nghiệm sống… Không chỉ hiện diện trong các sản phẩm vật chất và tinh thần do con người làm ra, văn hóa đồng thời lại cũng được hàm chứa ngay trong cái phương thức mà con người tạo ra các sản phẩm đó Văn hóa cũng là một thành tố có mặt trong các mối quan

hệ xã hội giữa con người với con người, dù đó là quan hệ kinh tế hay tôn giáo, quan hệ pháp luật hay các quan hệ đời thường… Văn hóa cũng đồng thời là bản thân các năng lực cấu thành nhân cách con người, từ trí tuệ đến đạo đức; từ tâm hồn đến tình cảm; từ ý chí đến các năng lực sáng tạo…, tất cả đã hình thành nên

Trang 14

lối sống, thói quen, phong tục tập quán, cách tư duy, ứng xử, qua đó phản ánh kiểu sống, lối suy nghĩ, cách hành xử của con người trong một môi trường sinh thái - nhân văn cụ thể, làm nên diện mạo riêng của mỗi cộng đồng

Như vậy, văn hóa phản ánh phương thức sống của một cộng đồng, được hình thành như là hệ quả tất yếu của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Tổng hợp tất cả những phương diện trên, văn hóa bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống con người, biểu hiện ở kiểu sống, “kiểu nhân vi”, ở phương thức sinh hoạt của con người, làm nên những nét riêng tiêu biểu và

có tính bền vững, tất cả đều góp phần làm nên đặc trưng riêng của một dân tộc, tạo ra sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác

Khi văn hóa là một hiện tượng phổ quát của nhân sinh, là cái “vô sở bất tại”

(không đâu không có), khi nó liên quan đến tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống con người, được biểu hiện vô cùng phong phú và đa dạng, từ vật chất đến tinh thần, từ vật thể đến phi vật thể, từ hữu hình đến vô hình thì mọi góc độ tiếp cận đều khó có thể bao quát hết được phạm vi của nó, cả về phương diện định tính lẫn định lượng Và cũng do mỗi lĩnh vực hoạt động của con người đều có sự hiện diện của văn hóa nên gần đây người ta đã quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu và nhận diện văn hóa theo các lĩnh vực chuyên ngành như: văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa kinh doanh, văn hóa ẩm thực, văn hóa du lịch, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa giao tiếp, văn hóa giao thông, văn hóa pháp luật, …

Không thể phủ nhận được rằng, trong di sản văn hóa của một dân tộc / cộng đồng bao giờ cũng kết tinh những giá trị tinh hoa đóng vai trò là nền tảng, cốt lõi, làm điểm tựa để nuôi dưỡng và bảo tồn sức sống của một dân tộc, bởi con người

ở đâu và bao giờ, trong hành trình sống của mình cũng luôn hướng đến những giá trị tích cực, cũng luôn khát khao vươn tới chân – thiện – mỹ Nhưng mặt khác cũng cần thấy rằng, nếu như văn hóa là một kiểu ứng xử đặc trưng của một cộng đồng trước những thách thức khác nhau của những điều kiện tự nhiên và xã hội, thì sự ứng xử có thể thế này hoặc thế kia, có mặt tốt cũng có mặt xấu, có tích cực

và cũng có tiêu cực, nhất là khi những điều kiện tự nhiên và xã hội không phù hợp hay đối lập với các nhu cầu và lợi ích của con người Điều đó cũng có nghĩa rằng, trong diện mạo văn hóa của mỗi cộng đồng không chỉ gồm những mặt tích

Trang 15

cực, giá trị mà còn có những nhược điểm, hạn chế Thêm vào đó, cái được coi là

có giá trị văn hóa cũng không phải là những giá trị hằng hữu, bất biến, mà còn được xem xét tùy thuộc vào các góc nhìn và các tiêu chí đánh giá khác nhau Xét

từ phương diện đồng đại, cùng một đặc trưng văn hóa nhưng có thể có giá trị xét trên tiêu chí này mà lại không có giá trị, thậm chí phản giá trị xét từ góc nhìn khác Ví dụ, tính cộng đồng có giá trị khi nó tạo nên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, lối sống sẻ chia, đùm bọc – một truyền thống tốt đẹp của dân tộc

ta, nhưng xét trên phương diện bảo vệ quyền cá nhân hay quan hệ với pháp luật thì đây lại là nguyên nhân tạo nên nhiều hạn chế và những ứng xử tiêu cực Xét trên phương diện lịch đại, các thước đo giá trị cũng không phải bất biến, vĩnh cửu, bởi vậy, một đặc trưng văn hóa nào đó ở giai đoạn này thì có giá trị tích cực nhưng ở giai đoạn khác thì lại trở thành phản giá trị, thành lực cản khi nó không còn phù hợp để thích nghi trong bối cảnh mới

Bởi vậy, việc nghiên cứu, nhận diện văn hóa của một dân tộc cần có một cái nhìn toàn diện và biện chứng, trong đó không chỉ hướng đến việc khẳng định những mặt tích cực, giá trị mà còn cần phải nhận diện cả những nhược điểm, những tiêu cực, hạn chế khi nó cũng là một phần tất yếu trong hành trang tinh thần của một dân tộc

1.1.1.2 Đặc trưng và biểu hiện của văn hóa

Là một hình thái ý thức xã hội, văn hóa cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, đều là sản phẩm của một thực tiễn xã hội cụ thể, và đến lượt mình, nó lại phản ánh, tác động trở lại thực tiễn xã hội ấy Tuy nhiên, trong tương quan với các hình thái ý thức xã hội khác, văn hóa là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt

Tính chất đặc biệt ấy được xác định bởi ba đặc trưng tiêu biểu: tính đa diện và

tổng hợp, tính hệ thống, tính truyền thống

Trước hết, văn hóa là một hình thái ý thức xã hội có tính đa diện và tổng hợp,

bởi nó thẩm thấu và hiện diện trong mọi hoạt động sống của con người Văn hóa

do không tồn tại như một lĩnh vực độc lập, không có giá trị tự thân, nên cũng chính vì vậy mà nó hiện diện khắp nơi, không đâu không có, thẩm thấu vào tất cả mọi phương diện của đời sống xã hội Văn hóa do đó là một khái niệm có tính tổng hợp - đó là dấu ấn về lối sống của một cộng đồng in dấu lên mọi hoạt động

Trang 16

vật chất (cách thức lao động sản xuất, ăn, mặc, ở, đi lại), mọi mặt sinh hoạt tinh thần (nhận thức, tư tưởng, tôn giáo, phong tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, nghệ thuật, giao tiếp ứng xử, lễ hội…), mọi quan hệ gia đình, xã hội (được qui chế thành đạo đức, nghi lễ, pháp luật…) Tổng hợp tất cả những điều đó mới làm nên cái diện

mạo riêng trong mô thức ứng xử, trong phương thức sống của một cộng đồng,

khiến cho cộng đồng này không giống với các cộng đồng khác Do tính đa diện

và tổng hợp, văn hóa như một bầu khí quyển bao trùm lên cuộc sống của chúng

ta, khiến cho - một cách tự nhiên và tất yếu, mọi người đều không thể sống ngoài

“bầu khí quyển văn hóa” ấy

Tính đa diện cũng chi phối đến một đặc trưng khác của văn hóa, đó là tính hệ

thống Văn hóa do nhiều thành tố hợp thành, nhưng giữa các thành tố trong cấu

trúc của một nền văn hóa không tồn tại như là những đơn vị rời rạc, riêng lẻ, độc lập, mà giữa chúng có các mối liên hệ nhiều mặt, nhiều chiều, đan cài, móc xích, qui định và thẩm thấu vào nhau tạo thành hệ thống, trong đó yếu tố này là nguyên nhân và hệ quả của những yếu tố khác Do đó, trong thực tế, không thể tách bạch các thành tố của hệ thống văn hóa vì chúng tồn tại trong sự gắn bó hữu cơ, lồng vào nhau như tâm hồn và thể xác, làm thành diện mạo của một nền văn hóa với một tổng thể các sản phẩm vật chất và tinh thần

Vì văn hóa có tính hệ thống nên khi khảo sát một hiện tượng văn hóa, không thể không đặt hiện tượng ấy trong tính hệ thống, trong sự chi phối, ràng buộc lẫn nhau giữa nhiều yếu tố làm nên hệ thống trong các tương quan đồng đại

Cùng với tính hệ thống, một trong những đặc trưng tiêu biểu của văn hóa là

tính truyền thống Nếu văn minh là sản phẩm có tính thời đoạn thì văn hóa là sản

phẩm của tính quá trình, được tích lũy qua nhiều thế hệ, được kế thừa và trao truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau Bởi vậy văn hóa là di sản tinh thần tồn tại

ổn định và có sức sống lâu bền, thẩm thấu trong chiều sâu tâm thức của cộng đồng để trở thành hành trang tinh thần mà mỗi cộng đồng mang theo khi bước từ thời đại này sang thời đại khác Truyền thống của văn hóa của một dân tộc được biểu hiện qua các di sản văn hóa, bao gồm hai bộ phận, đó là di sản vật thể (hữu hình) như: đền, chùa, lăng tẩm, nhà cửa, công cụ sản xuất, vật dụng… và các di sản văn hóa phi vật thể tồn tại dưới dạng tinh thần, ẩn trong chiều sâu tâm thức

Trang 17

cộng đồng, đó là những kinh nghiệm tập thể được lưu truyền trong qua không gian và thời gian, được đúc kết thành mô thức ứng xử xã hội, biểu hiện thông qua ngôn ngữ, lối sống, ẩm thực, phong tục, tập quán, nghi lễ, pháp luật, nghệ thuật,

… tạo thành nếp sống chung của cộng đồng Chính mô thức ứng xử đảm bảo cho các thành viên trong cộng đồng có sự gắn kết với nhau, tạo nên một nếp sống chung ổn định và bền vững

Về biểu hiện của văn hóa, nhà nghiên cứu Phạm Đức Dương đã đưa ra quan

niệm về một sơ đồ cấu trúc hai tầng bậc: cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu Cấu trúc bề mặt gồm hệ thống ký hiệu biểu thị và hệ thống ký hiệu biểu tượng,

đó là biến số, yếu tố động của văn hóa; còn cấu trúc chiều sâu là cái phần chìm, khó nhìn thấy, nó nằm trong tâm thức của con người, là yếu tố tĩnh của văn hóa, được kết tinh và tồn tại trong tiềm thức của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng trong suốt hành trình sống Giải thích về mối quan hệ giữa hai tầng cấu trúc này,

ông nói: “Cấu trúc chiều sâu là cái kết tinh, lắng đọng nằm ẩn dưới cơ tầng đóng

vai trò định hướng, điều chỉnh mọi sự biến đổi trên cấu trúc bề mặt, quy định bản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng và nhân cách của mỗi cá nhân, định hình nền văn hóa của mỗi dân tộc trong không gian và thời gian [14; 221-236] Cấu trúc

chiều sâu của văn hóa đó là ý thức, là các năng lực tinh thần của con người bao

gồm tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, kinh nghiệm sống và thói quen, phong tục, tập quán… được hình thành trong một môi trường sinh thái và nhân văn cụ thể Cấu trúc chiều sâu của văn hóa ẩn chứa trong ý thức, tiềm thức của con người, tuy không dễ nhận ra, và lại càng khó khăn hơn để có thể mô tả, nhận diện, nhưng đó là nền tảng để hình thành nên các quy tắc hướng dẫn tư duy, điều chỉnh hành vi ứng xử và phương thức hành động, cũng như sự lựa chọn các thang bậc giá trị trong xã hội và chi phối mọi hoạt động thực tiễn của con người

Chính cái cấu trúc chiều sâu khiến cho “văn hóa là cái còn lại khi người ta đã

quên đi tất cả” Bởi vậy, để nhận diện một hiện tượng văn hóa, không thể giản

đơn chỉ dừng lại ở việc mô tả, liệt kê các hiện tượng ở cấp độ bề mặt, tức không chỉ trả lời câu hỏi “cái gì?”, “như thế nào?”, mà quan trọng hơn là phải trả lời được câu hỏi “tại sao lại như thế?”, tức là phải chỉ ra được cái cấu trúc chiều sâu,

Trang 18

phải lý giải được những căn nguyên sâu xa từ trong ý thức, tiềm thức chi phối các hiện tượng bề mặt ấy

1.1.1.3 Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển

Trong nỗ lực tìm kiếm động lực của sự phát triển bền vững, văn hoá hiện đang

là vấn đề được đặc biệt quan tâm trong việc hoạch định chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, bởi con người là nhân tố quyết định sự phát triển, nhưng con người trước hết là một thực thể văn hóa Nền tảng của sự tăng trưởng bền vững ở ngay trong tiềm lực con người, ở năng lực trí tuệ và khả năng sáng tạo của con người,

ở trong đạo đức và động cơ hành động của con người, tức là ở trong văn hóa Nói đến con người là nói đến văn hóa; văn hóa là nơi thể hiện sức mạnh bản chất của con người, là công cụ điều chỉnh một cách tự nhiên nhất, trên phạm vi rộng lớn nhất, tinh tế nhưng cũng mạnh mẽ nhất đối với nhận thức, hành động và cách ứng

xử của con người Một khi nhân cách văn hóa là nội lực của con người, nó “thấm sâu vào tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người”, “xuyên suốt cơ thể xã hội”, thì triết lý của sự phát triển tất yếu phải được xây dựng trên nền tảng văn hóa Điều này đã được thể hiện trong Nghị quyết của UNESCO về phát triển: “Khái niệm phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội, cũng như các giá trị đạo đức và văn hóa, qui định sự nảy nở và phẩm giá của con người trong xã hội Nếu như con người là nguồn lực của phát triển, nếu như con người vừa là tác nhân lại vừa là người được hưởng, thì con người phải được coi chủ yếu như là sự biện minh và là mục đích của sự phát triển”, bởi vì “kinh nghiệm của hai thập kỉ vừa qua cho thấy rằng, trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào, hoặc xu hướng chính trị và kinh tế nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau” Chính vì lẽ đó, năm 1988 UNESCO đã phát động “Thập

kỉ thế giới phát triển văn hóa” và đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của các quốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam, trong suốt tiến trình cách mạng, đặc biệt là từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàn cầu hóa, Đảng ta luôn ý thức sâu sắc về vai trò của văn hóa trong sự phát triển của xã hội Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà

Trang 19

bản sắc dân tộc”, trong đó khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,

Cùng với việc nhấn mạnh vai trò đặc biệt của văn hóa, Nghị quyết còn đề ra phương châm phải gắn kết những vấn đề văn hóa với những vấn đề kinh tế - xã hội: “Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật kỉ cương… biến thành

bách hơn trong giai đoạn hiện nay, trước một thực tế đáng lo ngại đã và đang diễn ra, đó là trong khi mức sống, thu nhập quốc dân ngày càng được cải thiện thì đạo đức xã hội lại đang xuống cấp ở mức đáng báo động, lối sống chạy theo đồng tiền đang chi phối và làm khuynh đảo nhiều giá trị, các tệ nạn xã hội đang gia tăng ngày càng phức tạp hơn… Đó là những biểu hiện đáng báo động của tình trạng mất cân đối giữa văn hóa và phát triển Bởi vậy, hơn lúc nào hết, trong bối cảnh Việt Nam ở giai đoạn quá độ hiện nay, nhân tố văn hóa cần phải được coi là nền tảng, là nội lực của sự phát triển

1.1.2 Giới thuyết về văn hóa pháp luật

1.1.2.1 Khái niệm văn hóa pháp luật

Nếu văn hóa là một phạm trù xã hội để chỉ phương thức sống đặc trưng của một cộng đồng, biểu hiện thông qua sự ứng xử giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, thì văn hoá pháp luật thuộc về lĩnh vực ứng xử xã hội, đó là tổng thể các hành vi thể hiện sự ứng xử của con người trong môi trường điều chỉnh của pháp luật, là sự hiện thực hóa năng lực tinh thần và ý thức của con người trong các hoạt động pháp luật Do đó, văn hóa pháp luật là một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa – văn hóa xứng xử với pháp luật

Nếu như các đặc trưng văn hoá của một cộng đồng xuất hiện cùng với sự hình thành tổ chức xã hội từ buổi sơ khai, thì văn hoá pháp luật hình thành muộn hơn, khi các qui tắc ứng xử của con người được đặt trong sự kiểm soát của pháp

luật Nếu văn hóa là một khái niệm đa diện và mơ hồ, thì văn hóa pháp luật với

tư cách là một lĩnh vực biểu hiện đặc thù của văn hóa nên cũng là một khái niệm rất khó minh định Bởi vậy, hiện nay trong khoa học pháp lý cũng như trong lĩnh

Trang 20

vực nghiên cứu văn hóa chuyên ngành chưa có một quan niệm thật thống nhất về

văn hóa pháp luật

Trước hết, về thuật ngữ, hiện nay ở Việt Nam người ta đang dùng hai thuật

ngữ nào thì hợp lý hơn?

Trong Từ điển tiếng Việt, từ pháp lý có nghĩa là: “lý luận, nguyên lý về pháp luật”; còn pháp luật là “những qui phạm hành vi do nhà nước ban hành mà mọi

người dân buộc phải tuân theo nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật

tự xã hội” Như vậy, thuật ngữ pháp lý thiên về phương diện lý thuyết, là những

nguyên lý, nguyên tắc có tính phương pháp luận soi rọi và chi phối mọi hoạt

động pháp luật cụ thể Còn thuật ngữ pháp luật thiên về chỉ thực tiễn xã hội của

đời sống pháp luật, đó là sự hiện thực hóa những tư tưởng, quan điểm, nguyên lý, nguyên tắc của pháp luật thông qua việc xây dựng và thực thi pháp luật của nhà nước cũng như các hành vi, lối sống và ứng xử của xã hội trong phạm vi điều

chỉnh của pháp luật Bởi vậy, theo chúng tôi, dùng thuật ngữ văn hóa pháp luật

hợp lý hơn, khi nó bao quát được thực tiễn xã hội của đời sống pháp luật với tất

cả những biểu hiện phong phú và đa dạng của nó, và hiển nhiên, đằng sau thực tiễn xã hội của pháp luật là sự chi phối của những tư tưởng, quan điểm, nguyên

lý, nguyên tắc của pháp luật

Về khái niệm văn hóa pháp luật, trong công trình nghiên cứu Văn hóa pháp

luật và phát triển văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả Nguyễn

như sau: “Văn hóa pháp luật là những giá trị nhân đạo, tiến bộ, tích cực của

pháp luật trong xã hội, được thể hiện thông qua các bộ luật, các điều luật Đồng thời các giá trị đó còn được thể hiện trong các hoạt động pháp luật, thẩm thấu vào nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, biến thành nhu cầu thường trực trong ứng xử của họ” Còn tác giả Lê Minh Tâm [48] thì cho rằng: “Văn hóa

pháp luật là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng

Trang 21

tạo ra trong lĩnh vực pháp luật, bao gồm hệ thống qui phạm pháp luật được ban hành trong các thời kì lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lý, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật…” [48, 147]

Như vậy, với các định nghĩa trên đây, khái niệm văn hóa pháp luật chỉ được

hiểu đồng nghĩa với những mặt tích cực của đời sống pháp luật, theo đó, văn hóa pháp luật chỉ có được trong một môi trường pháp luật tiến bộ, lành mạnh và giàu tính nhân văn, trong đó pháp luật vừa có sức mạnh và tính hiệu lực cao, đồng thời cũng là một chuẩn mực ứng xử được tuân thủ một cách tự nhiên, tự nguyện Tuy nhiên, nếu quan niệm văn hóa là tất cả những gì thuộc về phương thức sống của một cộng đồng, với tất cả những ưu điểm và nhược điểm như là hệ quả tất yếu của sự thích nghi và ứng phó với các điều kiện tự nhiên và xã hội, thì văn hóa pháp luật cũng được hình thành và tồn tại một cách khách quan và tất yếu trong những môi trường xã hội được điều chỉnh bởi các qui phạm pháp luật Trong môi trường điều chỉnh của pháp luật, hành vi pháp luật là hành động có ý thức của con người, đó có thể là hành vi hợp pháp, tức phù hợp qui phạm pháp luật, nhưng cũng có thể là hành vi bất hợp pháp, tức là trái với qui định của pháp luật Dù hợp pháp hay không hợp pháp, tích cực hay tiêu cực, nhưng khi nó được thực hiện thường xuyên, phổ biến đến mức như một thói quen tự nhiên, tất yếu

như văn hoá nói chung, khái niệm văn hóa pháp luật cần được hiểu không đồng nghĩa với những hành vi ứng xử tích cực với pháp luật mà còn bao hàm cả những hành vi ứng xử tiêu cực của cá nhân/cộng đồng trong những môi trường điều

Tóm lại, văn hóa pháp luật là sự ứng xử của con người trong môi trường

những điều chỉnh của pháp luật, bao gồm tri thức, tư tưởng, quan điểm, thái độ, kinh nghiệm và thói quen, được tích lũy trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, được biểu hiện qua văn bản pháp luật, hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật và hành vi ứng xử với pháp luật

Vì văn hóa pháp luật là một bộ phận, một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa xã hội, do đó, việc nghiên cứu văn hóa pháp luật của một quốc gia ở một giai đoạn

Trang 22

cụ thể đòi hỏi chúng ta phải đặt nó trong mối tương quan và sự liên hệ với các lĩnh vực khác của văn hóa nói chung cũng như với mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội

1.1.2.2 Biểu hiện của văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật là một thành tố, một bộ phận, một lĩnh vực biểu hiện đặc thù của văn hóa xã hội, đó là lĩnh vực ứng xử với pháp luật, bởi vậy nó cũng mang những đặc trưng chung của văn hóa Tuy nhiên, nói đến văn hóa là nói đến

sự tự do, tự nguyện, là thói quen trong sự lựa chọn hành vi, trong khi đó thì pháp luật lại là công cụ điều chỉnh xã hội có tính áp đặt, cưỡng bức Bởi vậy, nếu pháp luật được thực hiện dựa trên sự cưỡng bức thì nó chưa trở thành hành vi mang tính văn hóa Nói cách khác, các hành vi ứng xử với pháp luật (dù tích cực hay tiêu cực) chỉ trở thành cái văn hóa khi người ta thực hiện các hành vi ấy trên tinh thần tự do, như một thói quen tự nhiên và tất yếu Theo đó, một xã hội có nền văn hóa pháp luật cao là một xã hội mà trong đó các qui phạm pháp luật được đối xử như là chuẩn mực của đạo đức và lương tâm, tức là khi pháp luật không còn là một công cụ cưỡng bức mà được thực thi một cách tự nhiên, tự nguyện

Xét về mặt kết cấu, văn hóa pháp luật là bộ phận cấu thành của một nền văn hóa nói chung Nếu các đặc trưng văn hóa của một dân tộc được biểu hiện qua

các sản phẩm vật chất, các sản phẩm tinh thần, các thói quen trong lối sống và hành vi ứng xử, thì cũng có thể nhận diện văn hóa pháp luật qua các phương diện

biểu hiện như: ý thức pháp luật, hệ thống và các thiết chế pháp luật, lối sống và hành vi ứng xử với pháp luật

a) Ý thức pháp luật (luật trong suy nghĩ và thái độ): “Là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có; thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội” [7, 421] Ý thức pháp luật phản ánh:

- Trình độ hiểu biết về pháp luật, đó là các tri thức, tư tưởng, quan điểm về

pháp luật, là trình độ nhận thức và mức độ am hiểu pháp luật của các tầng lớp

Trang 23

nhân dân, kể cả bộ phận cán bộ công chức trong các cơ quan có chức năng trực

tiếp áp dụng, thi hành và bảo vệ pháp luật

- Thái độ đối với pháp luật: đó là tâm lý, tình cảm, niềm tin, ý thức tôn trọng

và tự giác chấp hành hay coi thường pháp luật; thái độ lạc quan / bi quan, hy

xã hội có văn hóa pháp luật cao khi các thành viên xã hội có trình độ hiểu biết về pháp luật, có ý thức tôn trọng pháp luật, có thái độ tích cực phản ứng, lên án những hành vi vi phạm pháp luật

Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, bởi vậy nó chịu sự qui định của tồn tại xã hội, là sản phẩm và cũng là sự phản ánh những điều kiện kinh tế -

xã hội cụ thể Tuy nhiên, ý thức pháp luật cũng như ý thức xã hội nói chung, thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội Bằng chứng là, khi tồn tại xã hội đã thay đổi nhưng ý thức xã hội nói chung và ý thức pháp luật nói riêng vẫn còn tồn tại dai dẳng như là những tàn dư của quá khứ được kế thừa trong hiện tại Do đó ý thức pháp luật (đặc biệt là tâm lý pháp luật) là lĩnh vực mà ở đó truyền thống và các thói quen có một vai trò chi phối không nhỏ

b) Hành vi ứng xử với pháp luật (luật trong hành xử thực tế): là những phản

ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên ngoài của con người trong các mối quan

hệ mà pháp luật điều chỉnh Hành vi pháp luật được biểu hiện dưới hai dạng: hành vi hợp pháp (phù hợp với qui định của pháp luật) và hành vi không hợp pháp (vi phạm pháp luật, bất chấp pháp luật, lách luật…) Hành vi ứng xử với pháp luật là sự biểu hiện ý thức pháp luật (thái độ, tình cảm, niềm tin) của mỗi cá nhân/cộng đồng trong môi trường điều chỉnh của pháp luật

c) Văn bản pháp luật và hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật: bao gồm hệ

thống văn bản pháp luật (luật trên giấy) và hệ thống tổ chức và hoạt động của các thiết chế lập pháp, hành pháp, tư pháp , đó cũng là các phương diện hiện thực hóa của ý thức pháp luật Trong đó, hệ thống văn bản pháp luật vừa là sản phẩm, vừa

là cơ sở để các thiết chế thực thi pháp luật có thể hoạt động; đến lượt mình, các thiết chế thực thi pháp luật lại là công cụ để hiện thực hóa các văn bản pháp luật Theo đó, tính hiệu quả của hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật vừa là thước

Trang 24

đo chất lượng của văn bản pháp luật, lại vừa thể hiện khả năng, trình độ vận dụng kiến thức và công cụ pháp luật của nhà nước trong việc quản lý xã hội

Như vậy, để nhận diện một nền văn hóa pháp luật cần có một cái nhìn tổng hợp và bao quát từ tất cả các phương diện trên đây, bởi trong thực tế, ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật và hành vi pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại, là tiền đề và hệ quả của nhau Ý thức pháp luật có vai trò chỉ đạo việc xây dựng chính sách pháp luật và hệ thống pháp luật của nhà nước cũng như việc thực hiện hành vi pháp luật của cá nhân Ngược lại, chính sách và hệ thống pháp luật có vai trò định hướng cho việc giáo dục ý thức pháp luật và hành vi pháp luật Đến lượt mình, ý thức pháp luật và hành vi pháp luật lại tác động trở lại quá trình phát triển và hoàn thiện chính sách và hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật Như thế, ý thức pháp luật và hành vi pháp luật vừa là thước đo, vừa là bằng chứng thể hiện hiệu quả xã hội của một chính sách pháp luật và hệ thống pháp luật

1.1.3 Quan hệ giữa văn hóa với pháp luật

Trong cuộc sống, cả văn hóa và pháp luật đều có chức năng điều chỉnh hành

vi của con người, bởi vì, mọi tổ chức xã hội đều chỉ có thể duy trì được sự tồn tại trên cơ sở của sự thỏa thuận giữa các thành viên trong cộng đồng Sự thỏa thuận

này được thể hiện dưới hai hình thức: luật thành văn - đó là luật pháp, và luật bất

thành văn – đó là các qui tắc cộng đồng biểu hiện dưới dạng phong tục, tập quán,

lối sống, thói quen…, được mọi người tuân thủ một cách tự giác đến mức tự nhiên, thậm chí như là vô thức - đó là văn hóa Trong mối quan hệ này, “văn hóa

có một ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với pháp luật Văn hóa chính là cuộc sống, do đó, việc xây dựng pháp luật, theo lẽ tự nhiên, phải dựa trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là pháp luật phải có khả năng biến thành văn hóa để điều chỉnh cuộc sống” (Nguyễn Trần Bạt) Chính vì vậy, kinh nghiệm văn hóa là nền tảng quan trọng nhất để xây dựng pháp luật

Đồng thời, cũng chính trong lĩnh vực hoạt động pháp luật, văn hóa có khả năng hiện thực hóa những năng lực nhân tính, phát huy vai trò và tăng cường hiệu quả của pháp luật trong xã hội Đến lượt mình, tính hiệu quả của pháp luật trong xã hội là chỉ số, là thước đo chất lượng Chân – Thiện – Mỹ của một nền văn hóa Do đó, để hiểu pháp luật chúng ta phải hiểu thực tiễn xã hội của pháp

Trang 25

luật Hiểu thực tiễn xã hội của pháp luật cũng tức là chúng ta phải hiểu văn hoá chung của xã hội nơi có sự tồn tại của pháp luật

1.2 Thực trạng của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay

Trong tiến trình hội nhập và phát triển, Việt Nam đang nỗ lực để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội nhằm hiện đại hóa đất nước, trong đó xây dựng nhà nước pháp quyền được xác định là một mục tiêu quan trọng Nhưng một thực trạng đáng báo động là văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay đang bộc lộ nhiều tiêu cực Cách hành xử không thượng tôn pháp luật đang diễn ra hàng ngày, ở mọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng, dưới nhiều hình thức biểu hiện đa dạng và phức tạp Tình trạng này không chỉ diễn ra đối với một bộ phận không nhỏ người dân, mà cả các cơ quan công quyền, trong đó các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật cũng không phải là ngoại lệ Đây chính là một lực cản rất lớn trong việc thực hiện thành công mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền Trong bối cảnh ấy, việc chỉ ra thực trạng văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay để từ đó tìm ra nguyên nhân và các giải pháp khắc phục trở thành một yêu cầu cần thiết và cấp bách

Để nhận diện thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay, trong phạm vi hạn chế của đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, chúng tôi không có điều kiện

về thời gian và kinh phí để thực hiện sự khảo sát bằng phương pháp điều tra xã hội học trên các nhóm đối tượng, mà chỉ căn cứ trên cứ liệu là những thông tin được đăng tải trên báo chí, bởi với hàng trăm tờ báo được xuất bản hàng ngày, kể

cả báo in và báo điện tử, thì đây là một kênh thông tin phong phú, đa diện, phản ánh nhanh nhạy và kịp thời mọi diễn biến của đời sống hàng ngày Khảo sát qua công cụ tìm kiếm Googole cũng cho thấy các cụm từ liên quan đến thái độ và hành vi ứng xử với pháp luật xuất hiện với một số lượng rất lớn trên các phương tiện thông tin báo chí Điển hình là các cụm từ như: “không tuân thủ pháp luật”: 97.100 lượt; “coi thường pháp luật”: 1.280.000 lượt; “vi phạm pháp luật”: 23.500 lượt; “nhờn luật”: 19.600 lượt; “thách thức pháp luật”: 204.000 lượt; “luật rừng”: 142.000 lượt; “lách luật”: 187.000 lượt; “phép vua thua lệ làng”: 169.000 lượt;

“chạy án”: 184.000 lượt, “nạn mãi lộ”: 41.000 lượt… Dù những con số này, do

sự trùng lặp có thể là nhiều lần nên không thể là căn cứ để có thể đưa ra những

Trang 26

kết luận chính xác, song dù có trừ đi một số phần trăm đáng kể do sự trùng lặp thì cũng không thể không coi đây là những “con số biết nói” về một thực trạng đáng báo động trong thái độ và hành vi ứng xử với pháp luật Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan, khoa học và sự tin cậy của thông tin, chúng tôi đã lựa chọn các bài báo tiêu biểu để khảo sát, dựa trên các tiêu chí sau đây:

a) Những bài báo được đăng tải trên những tờ báo lớn, có uy tín trong công

luận như: Pháp luật Việt Nam, Pháp luật TP HCM, Đời sống & Pháp luật,

Vietnamnet, Dân trí, Lao động, Người lao động, Đại đoàn kết, Tuổi trẻ, Tiền phong, Thanh niên, VN Express, Sài Gòn tiếp thị, Doanh nhân Sài Gòn, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Nhà báo & Công luận, Gia đình & Xã hội,…

b) Về thời gian: lựa chọn những bài báo phản ánh những sự việc xẩy ra trong thời gian khoảng ba năm gần đây, đặc biệt ưu tiên hơn cho những bài báo phản ánh những sự việc còn nóng hổi tính thời sự

c) Về nội dung: lựa chọn những bài báo phản ánh trực tiếp về thực trạng tiêu cực của văn hóa pháp luật biểu hiện qua hai phương diện chủ yếu: 1) Ý thức và hành vi ứng xử với pháp luật; 2) Hệ thống và các thiết chế thực thi pháp luật d) Về tính chất của sự việc: lựa chọn những bài báo phản ánh những sự việc nổi cộm được nhiều người quan tâm, gây nhiều phản ứng và bức xúc trong dư luận xã hội

Với các tiêu chí trên, trong số cả hàng trăm bài báo đề cập đến những vấn đề liên quan, chúng tôi đã lựa chọn gần 200 bài báo làm cứ liệu để khảo sát nhằm đem lại một cái nhìn từ cận cảnh đến bao quát về mặt trái của thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay

Sau đây là phần nhận diện thực trạng tiêu cực của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay qua việc tổng thuật các bài báo:

1.2.1 Ý thức và hành vi ứng xử không thượng tôn pháp luật

Để nhận diện ý thức và hành vi pháp luật với tư cách là các lĩnh vực biểu hiện trực tiếp của văn hóa ứng xử với pháp luật, chúng tôi khảo sát vấn đề đối với cả hai đối tượng: người dân – đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật và các cơ quan công quyền – đối tượng chịu trách nhiệm thực thi pháp luật Các cứ liệu khảo sát cho thấy, thực trạng về các hành vi ứng xử không tôn trọng pháp luật ở

Trang 27

nước ta hiện nay đang diễn ra ở mức độ trầm trọng đáng báo động Trong gần

100 bài báo được khảo sát, có thể thấy các cụm từ như: “không tuân thủ pháp luật”, “vi phạm pháp luật”, “coi thường pháp luật”, “nhờn luật”, “thách thức pháp luật”, “xử kiểu luật rừng”… xuất hiện với một tần suất rất cao để chỉ các hành vi ứng xử không thượng tôn pháp luật diễn ra ở cả hai phía – người dân và các cơ quan công quyền Những hành vi này đã và đang diễn ra ở mọi nơi mọi lúc, mọi việc, nhưng tiêu biểu và điển hình nhất là trong các lĩnh vực như giao thông, quản

lý xây dựng, ô nhiễm môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm, các hành vi bạo lực và ứng xử “luật rừng”…

1.2.1.1 Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông

Nếu như ở các nước văn minh, các hành vi tham gia giao thông nhất nhất đều tuyệt đối tuân thủ pháp luật, thì ở nước ta hiện nay, văn hóa giao thông đang ở trong tình trạng hỗn độn đến mức khó kiểm soát, biểu hiện rõ qua việc gia tăng các vụ tai nạn giao thông hàng năm cũng như các hành vi vi phạm luật giao thông

đã trở nên phổ biến đến mức trở thành bình thường Trong bài báo Ý thức chấp

hành luật giao thông kém do đâu? tác giả Bùi Văn Kiên đã chứng minh bằng

những con số cụ thể về sự gia tăng của tai nạn giao thông ở nước ta: “Theo Ủy

ban An toàn giao thông quốc gia, tai nạn giao thông trong 10 năm qua liên tục gia tăng Nếu như năm 1990, số người bị chết vì tai nạn giao thông là 2.368 người thì đến những năm 1995 - 1996 là 6.000 người và đến năm 2002, con số này đã lên đến 12.989 (và 30.772 người bị thương) Tương tự, 6 tháng đầu năm nay cả nước đã có 6.300 người chết vì tai nạn giao thông - tăng 371 người (5,9%) so với cùng kỳ năm ngoái (và làm bị thương 714 người) Như vậy, bình quân mỗi ngày cả nước có 35 người chết và 48 người bị thương vì tai nạn giao thông - hơn cả số người bị chết vì căn bệnh thế kỷ HIV Cũng theo Ủy ban ATGT quốc gia, 83,8% số vụ tai nạn do người tham gia giao thông gây ra, trong đó: có 36% chạy quá tốc độ quy định; 17,2% tránh, vượt sai quy định; 13,9% thiếu chú

ý quan sát; 6,8% do không đi đúng phần đường; 6,8% sau rượu bia điều khiển phương tiện và 3,1% do đi bộ qua đường không chú ý quan sát” Từ đó tác giả

bài báo bức xúc: “Công sức, tiền bạc đã được đổ nhiều cho những công việc

được coi là cần thiết, từ làm luật, tuyên truyền, vận động, giáo dục ý thức tự giác

Trang 28

trong ứng xử, đến mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng hoàn thiện bộ máy kiểm soát, trấn áp, răn đe… Nhưng rồi giao thông công cộng vẫn mang bộ mặt nhếch

nhác, hỗn độn và chứa đầy bất trắc, rủi ro (theo Việt báo)

Về tình hình vi phạm luật giao thông, theo kết quả nghiên cứu của đề tài “Xây

dựng ý thức thị dân ở TP.HCM trong tiến trình phát triển đô thị văn minh, hiện đại”, (do TS Nguyễn Hữu Nguyên Viện Nghiên cứu phát triển làm chủ nhiệm,

công bố năm 2009) cho thấy:

- Các hành vi vi phạm Luật giao thông phổ biến là: vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, chạy quá tốc độ, không có bằng lái xe, không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định

- Về nguyên nhân vi phạm Luật giao thông: có 400 người được hỏi câu này và các lý do chủ yếu được đưa ra là:

1) Vì không thấy công an canh gác (71,8%);

2) Làm theo người khác (55%);

3) Vì vội công việc (54,3%);

4) Vì không bị phạt (28%);

5) Vì luật không nghiêm (27,8%);

6) Vì không biết Luật giao thông (23%);

7) Lý do khác (6,5%)

Như vậy, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến vi phạm luật giao thông là do không thấy công an canh gác (chiếm 71,8% số người được hỏi) Nhưng điều đáng ngại hơn cả, theo nhóm nghiên cứu, có đến 70% số trường hợp bị xử phạt do vi phạm Luật giao thông rơi vào độ tuổi 20-30 Điều này đã cho phép nhóm nghiên cứu kết luận rằng, giới trẻ là đối tượng vi phạm luật giao thông phổ biến nhất, trong khi đây lại cũng chính là đối tượng có hiểu biết về Luật giao thông

Tuy nhiên, TS Nguyễn Hữu Nguyên bày tỏ: “Điều chúng tôi lo lắng hơn thế nữa là tình trạng cố tình vi phạm Luật giao thông ở nhóm người mặc nhiên buộc

họ phải hiểu biết về luật lệ và quy tắc ứng xử khi lái xe Vi phạm Luật giao thông

ở tài xế taxi, xe buýt khá phổ biến, trong khi đây là nhóm người mà nghề nghiệp của họ buộc phải hiểu biết về Luật giao thông” Nhóm nghiên cứu cho biết, qua phỏng vấn 30 tài xế taxi thuộc các hãng có thương hiệu, có đến 25 tài xế trả lời

Trang 29

từng vi phạm Luật giao thông, như quay đầu xe, rẽ vào đường cấm khi không thấy cảnh sát giao thông Hậu quả sau đó là gây ra những vụ kẹt xe

- Về câu hỏi: vì sao có nạn kẹt xe ở thành phố? Có 400 người được hỏi, ngoài

các lý do khách quan về đường sá, đèn tín hiệu thì 62% trong số này nói nguyên nhân chủ quan là do có nhiều người chen lấn, vi phạm Luật giao thông Còn đối với thái độ ứng xử khi xảy ra tình trạng kẹt xe, gần một nửa số người được hỏi trả lời là họ tìm mọi cách len lách khỏi nơi kẹt xe Đó cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến nạn kẹt xe càng trầm trọng hơn, khi mọi người tự bao vây lẫn nhau đến mức không còn lối thoát…

- Về thái độ đối với các hành vi vi phạm Luật giao thông, nhóm nghiên cứu cho biết: chưa đầy 11% trong số người được hỏi phản đối các hành vi vi phạm Luật giao thông, song mức độ phản ứng cũng chỉ dừng ở mức nói vài câu phàn nàn “đi đứng thế à”, “không có mắt à” Nhóm nghiên cứu giải thích là do tâm lý ngại rắc rối, sợ chuốc lấy phiền phức, thậm chí sợ bị đánh khi buông lời nhắc nhở, lên án những hành vi vi phạm giao thông Trong khi đó số liệu điều tra cũng cho biết, có gần 30% số người trả lời mặc kệ trước những hành vi vi phạm của những người xung quanh Điều đó cho thấy, những hành vi vi phạm Luật giao thông ở nước ta hiện nay dù rất phổ biến nhưng vẫn chưa bị cộng đồng lên án đúng mức, thậm chí làm ngơ, coi như việc không liên quan đến mình

Những kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây chỉ được thực hiện với đối tượng người tham gia giao thông Vậy phải chăng tình trạng ứng xử tiêu cực, coi thường, vi phạm pháp luật giao thông ở nước ta hiện nay chỉ xảy ra ở đối tượng người tham gia giao thông, tức là từ phía người dân – đối tượng chấp hành, còn chủ thể chịu trách nhiệm thực thi pháp luật thì vô can?

Trong số các bài báo mà chúng tôi khảo sát, có một tỉ lệ không ít những bài báo phản ánh về thực trạng một bộ phận người nắm quyền lực công, có vai trò cầm cân nảy mực trong việc thực thi pháp luật trong giao thông (trực tiếp là cảnh sát giao thông) lại chưa hề gương mẫu trong việc chấp hành luật, thậm chí còn góp phần làm cho luật giao thông bị vô hiệu hóa Bằng chứng là nạn “mãi lộ” của cảnh sát giao thông được coi như là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, bởi nó

đã trở thành một căn “bệnh nghề nghiệp” mãn tính, gây bức xúc trong dư luận xã

Trang 30

hội đã hàng chục năm mà vẫn chưa được giải quyết triệt để Loạt bài “Mãi lộ ở

cửa ngõ TPHCM” trên báo Người Lao động ra ngày 8 và 9-12-2009 đã nhận

được nhiều tiếng nói đồng tình, cộng hưởng của công luận Bạn đọc Bùi Văn Phước (Q3, TP.HCM) viết:

“Nạn mãi lộ đã diễn ra từ lâu, cứ có tiền là được bỏ qua các lỗi vi phạm Đây

là một trong những nguyên nhân chính khiến người ta xem thường luật giao thông, chạy xe quá tải, phóng nhanh, vượt ẩu, lấn tuyến… gây bao cái chết thương tâm cho người khác… Lâu nay, khi nhân dân và báo chí phản ánh, lãnh đạo ngành công an đều nói rằng sẽ kiểm tra và xử lý nghiêm minh Tuy nhiên, nhìn từ thực tế cuộc sống thấy rằng tệ nạn này ngày càng trở nên công khai trắng trợn Như vậy, việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền chưa đủ nghiêm khắc, nên vẫn có người tìm mọi cách để nhận mãi lộ”

Bạn đọc Lê Đức Minh (Biên Hòa, Đồng Nai) cũng đồng tình khi cho rằng,

“việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền chưa đủ nghiêm khắc, nên vẫn có người

tìm mọi cách để nhận mãi lộ Trong việc xử lý nạn mãi lộ, nếu người chỉ huy và ngành công an làm kiên quyết sẽ được nhân dân ủng hộ Làm được như vậy, xã hội vừa trong sạch và nhiều cán bộ công an cũng không sa vào tha hóa, biến chất”

Cũng trong bài báo này, là nạn nhân của tệ nạn mãi lộ, bạn đọc Lâm Hải (công ty Vận tải ô tô số 2) bày tỏ sự bức xúc:

“Chúng tôi là những tài xế xe tải thuộc công ty Vận tải ô tô số 2 (TPHCM)

Nạn CSGT “làm luật” dọc đường lâu nay luôn là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong giới lái xe Có không ít CSGT dồn ép, kiếm cớ để buộc tài xế chung tiền hối lộ Anh em chúng tôi rất hoan nghênh các phóng viên báo Người Lao động đã đưa lên mặt báo những vụ mãi lộ có địa chỉ, thời gian rõ ràng, cụ thể Tuy nhiên, trước nay cũng đã có nhiều trường hợp tài xế và nhân dân tố cáo CSGT nhận hối

lộ, nhưng việc xử lý không đi đến đâu khiến cho tệ nạn này vẫn ngang nhiên tồn tại”

Từ đó bạn đọc này khẩn thiết yêu cầu “xin đừng dung túng”, vì rằng “công

việc tiếp theo không chỉ là giải quyết riêng những vụ việc vừa bị tố giác, mà chúng tôi mong muốn ngành công an hãy làm kiên quyết để dẹp bỏ những “con

Trang 31

sâu” Nếu như ngành công an xử nghiêm minh, công khai hình thức kỷ luật đối với những viên cảnh sát vi phạm, dân chúng sẽ rất hoan nghênh và tin tưởng Khi CSGT nói không với việc nhận hối lộ thì anh em tài xế cũng không dám dùng tiền

để khỏa lấp các lỗi vi phạm”

Các bài báo của các tác giả Bùi Văn Kiên (Ý thức chấp hành luật giao thông

kém do đâu? (Tiền phong); TS Nguyễn Ngọc Điện (Bắt đầu từ nhà chức trách công,Sài Gòn Tiếp thị, thứ sáu, 04/09/2009); TS Nguyễn Hữu Nguyên (Văn hóa giao thông nhìn từ hai phía, báo Pháp luật TP HCM, 26/3/2010)… đều phản ánh

thực trạng về việc hành xử không thượng tôn pháp luật từ phía người thực thi pháp luật trong lĩnh vực giao thông và đều cùng quan điểm khi cho rằng, một khi người thực thi thiếu văn hóa (giao thông) thì làm sao đòi hỏi người chấp hành có được Một khi người thực thi pháp luật giao thông mà lại không tôn trọng luật giao thông, thì tất yếu trong xã hội sẽ vẫn còn phổ biến niềm tin… vào tính không hữu hiệu của luật Đó là nguyên nhân quan trọng góp phần tạo cho người dân thói quen không tuân thủ pháp luật, coi thường pháp luật Chính việc hành xử không thượng tôn pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm làm cho người dân mất lòng tin vào sự nghiêm minh của pháp luật

Từ đó, các bài báo này đều khẳng định, cần phải coi văn hóa thực thi quan

trọng hơn văn hóa chấp hành vì nó có vai trò định hướng, làm gương Trong điều

kiện chính người được giao nhiệm vụ thực thi pháp luật lại cũng là người tìm cách vô hiệu hoá luật thì việc người dân không tuân thủ luật là lẽ hiển nhiên Bởi vậy, muốn pháp luật được tôn trọng một cách phổ biến, nghĩa là bằng ý thức công dân tự giác, thì trước hết nhà chức trách công phải nêu gương Nếu những người thay mặt chính quyền thi hành công vụ không gương mẫu, tất cả những hành vi như nhận mãi lộ, nhận tiền mặt không xé biên lai, bán bằng lái xe, thông kiểm cả các xe cũ nát sẽ góp phần làm cho các giá trị của văn hóa giao thông bị giảm sút nghiêm trọng Từ quan niệm đó, TS Nguyễn Hữu Nguyên khẳng định: “Chỉ cần những gì đang có được thực thi nghiêm, đúng mức thì trật tự, ý thức của người tham gia giao thông sẽ có một bức tranh khác với hiện tại” (Quốc Thanh, Tuổi trẻ, Thứ ba, 13/10/2009)

Trang 32

1.2.1.2 Vi phạm pháp luật trong quản lý xây dựng

Vi phạm và xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý xây dựng những năm gần đây cũng là một điểm nóng, gây bức xúc dư luận bởi thái độ, hành vi coi thường pháp luật, thách thức pháp luật, vô hiệu hóa pháp luật đang diễn ra rất phổ biến, xét từ cả hai phía, đối tượng vi phạm và các cơ quan quản lý, xử lý vi phạm Hàng trăm bài báo và các ý kiến phản hồi được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng thời gian gần đây đã bày tỏ sự bức xúc, bất bình của dư luận

xã hội trước tình hình các công trình xây dựng trái phép đua nhau mọc lên theo công thức “giấy phép nói một đằng, thực tế diễn ra một nẻo” mà vẫn ngang nhiên tồn tại như một thách thức đối với luật pháp, với công luận

Trong loạt bài viết về chủ đề này (Thách thức luật pháp; Không thể chần chừ

trong xử lý;“Lờn thuốc”vì xử phạt không nghiêm…), PGS, TS Nguyễn Ngọc

Điện phản ánh thực trạng phổ biến về hành vi thách thức luật pháp này:

“Chỉ được phép xây một căn nhà khiêm tốn nhưng lại cho ra đời cả một khối

kiến trúc hoành tráng Xã hội đã quen chứng kiến điều này, nhất là tại các đô thị lớn Hiện tượng xây cất nhà không phép hoặc to hơn nhiều so với giấy phép có dấu hiệu tràn lan, đến nỗi người ta phải tự hỏi liệu trong lĩnh vực quản lý xây dựng dân dụng có tồn tại một quy tắc không thành văn, một thứ tục lệ theo đó giấy phép xây dựng bằng văn bản chỉ đơn giản là một thủ tục, nghi thức, chứ không phải là khung pháp lý giới hạn một cách nghiêm ngặt quyền xây dựng của chủ thể sống trong không gian chung Chỉ có thể nói rằng xây dựng không đúng theo giấy phép thật sự là một vụ vi phạm pháp luật, đặc biệt là vi phạm trật tự công Không thể nói rằng những người được giao trách nhiệm quản lý nhà nước

về xây dựng không hay biết gì về sự tồn tại của những bất động sản không hợp lệ

ấy Theo lý lẽ thường tình, nhà xây dựng không phép tồn tại cũng có nghĩa rằng pháp luật xây dựng đã không được thực thi nghiêm chỉnh, nếu không muốn nói rằng nó đã bị coi thường”

Ở một bài báo khác, tác giả tiếp tục bày tỏ sự bức xúc:

“Hơn 20 tòa nhà mọc lên ngay giữa trung tâm thành phố (HCM) được xác

định là đối tượng của quyết định dỡ bỏ đối với phần xây dựng sai phép Mệnh lệnh đã được đưa ra và tống đạt từ lâu đến những người có trách nhiệm thi hành,

Trang 33

nhưng đến nay hầu hết công trình vẫn giữ nguyên hiện trạng như một thách thức ngang bướng đối với công luận Nói khác đi, người ta chỉ có thể giữ lại những phần nhà xây dựng ngoài giấy phép đã được cấp trước đó bằng cách vô hiệu hóa các quy tắc pháp lý liên quan Việc duy trì các công trình ấy hàm ý có một thông điệp đã được gửi đến toàn xã hội, theo đó luật pháp không được áp dụng, đúng hơn bị gạt ra một bên trong các trường hợp cụ thể này Dứt khoát không thể hình dung một thông điệp như thế có thể lưu hành một cách công nhiên trong điều

kiện xã hội được coi là có tổ chức” (Không thể chần chừ trong xử lý, Tuổi trẻ,

Thứ bảy, 04/12/2010)

Đặc biệt, vụ vi phạm ở công trình xây dựng cao ốc Pacific ở ngay giữa trung tâm quận 1, TP HCM là một trường hợp điển hình khiến dư luận đặc biệt quan tâm Cụm từ “cao ốc Pacific” được tìm thấy trên Googole với 79.100 lượt từ và hàng trăm bài viết bày tỏ sự bức xúc của dư luận về sự ngang nhiên coi thường pháp luật của chủ đầu tư và đơn vị thi công, giám sát, khi họ không những xây sai giấy phép mà còn phớt lờ những khiếu nại, cảnh báo về sự cố của các công trình

đẩy lên đến đỉnh điểm khi vụ việc kéo dài đã hơn hai năm qua, sau nhiều lần xử

lý ầu ơ, lấy lệ, tới nay các tầng hầm đào sai phép vẫn chưa được lấp, thế mà văn bản mới đây của UBND TP lại quyết định “tha” cho các tầng hầm đã đào sai phép Không những thế, để hợp thức hóa vi phạm này, chủ đầu tư lại còn được sở Xây dựng cấp phép xây dựng mới với quy mô 22 tầng (tăng 2 tầng so với giấy phép ban đầu) và có tới 5,5 tầng hầm Bởi vậy, điều làm dư luận bức xúc hơn cả chính là ở cách hành xử của các cơ quan có trách nhiệm trong việc xử lý vụ việc Hàng loạt bài viết được đăng tải trên các trang báo mà ngay các nhan đề cũng đã

thể hiện sự phản ứng gay gắt của dư luận: Cao ốc Pacific: Phớt lờ tất cả, xử lý ầu

ơ; “Lờn thuốc” vì xử phạt không nghiêm; "Tha" cho tầng hầm cao ốc Pacific: Cao ốc khác xây lố tầng hầm cũng phải "tha"; Kêu gào đòi lấp 2,5 tầng hầm cao

ốc Pacific mới là trái luật; Đừng để luật nước thua kẻ vi phạm; Pháp luật đã quy định "giết" thì phải "giết", sao lại "tha"?; Xin đừng ngụy biện; "Tha" như thế khác nào khuyến khích vi phạm?; Cao ốc Pacific: 2,5 tầng hầm xây lố được tha; Cao ốc Pacific: vì sao xây sai phép lại được tồn tại?

Trang 34

Chưa nguôi bức xúc trước thực trạng có quá nhiều sai phạm trong việc xây nhà trái phép chưa được xử lý nghiêm minh thì hiện nay người dân TP HCM lại đang được thử thách lòng kiên nhẫn trước thái độ đùn đẩy, không chịu trách nhiệm của các đơn vị liên quan về tình trạng xuất hiện hàng loạt “hố tử thần” gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông ngay giữa trung tâm thành phố Theo báo cáo của Giám đốc sở GTVT TP.HCM Trần Quang Phượng thì từ khi “hố tử thần” đầu tiên xuất hiện (tháng 7.2010) đến nay, TP.HCM đã có

57 “hố từ thần” Trong đó, 36 vụ sụp lún tại các vị trí không do công trình thi công và 21 vụ xảy ra trong quá trình thi công Hàng loạt bài báo với những câu

hỏi đầy bức xúc như:“Hố tử thần” tại TP.HCM: Nại đủ lý do chối trách nhiệm?

Né trách nhiệm“hố tử thần”; Đùn đẩy trách nhiệm“hố tử thần”(Huy Thịnh, Tiền

phong, 8/11/2010); “Hố tử thần”và“hố trách nhiệm” (Hạ Nguyên, Dân trí, 29/10/2010); “Hố tử thần”ở TPHCM: Cần xử lý hình sự? Mặc dù câu chuyện

“hố tử thần” trở thành đề tài “nóng” trên bàn nghị sự trong buổi chất vấn tại kỳ

họp thứ 19 HĐND TP HCM khóa VII vào sáng 9.12, nhưng câu hỏi “Hố tử thần

ở TP HCM - ai chịu trách nhiệm?” thì vẫn còn còn bỏ ngỏ, bởi “quả bóng trách

nhiệm” vẫn đang được đá qua lại mà chưa hạ hồi phân giải

Trong bài “Hố tử thần” và “hố trách nhiệm”, tác giả Hạ Nguyên (Dân trí)

khẳng định: “Theo tần suất xuất hiện ngày càng cao của “hố tử thần” trên địa

bàn TP.HCM, “hố trách nhiệm” càng lộ rõ khi chưa có đơn vị nào đứng ra nhận trách nhiệm Khi bị truy vấn thì các đơn vị liên quan đổ lỗi cho nhau Song song với việc “hố tử thần” xuất hiện ngày càng nhiều là “hố trách nhiệm” ngày càng lớn”

Còn tác giả Trần Minh Quân trong bài “Hố tử thần” và “hố đen”

trách nhiệm (Sài Gòn Tiếp thị, 2/12/2010) thì khẳng định: “Thực tế cho thấy, rất nhiều công trình được phát hiện sai phạm diễn ra trên hầu hết các địa phương đều có dấu ấn của tình trạng nhà thầu thi công “bắt tay” với giám sát để bỏ qua những lỗi do quá trình thi công gây ra Đây thực sự là căn bệnh trầm kha, đáng

sợ nhất và cũng là nguyên nhân của mọi nguyên nhân đã tồn tại rất lâu mà chưa

có phương thuốc đặc trị hữu hiệu”

Trang 35

Theo ông Lê Hiếu Đằng - nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQVN TP.HCM, tồn tại tình trạng trên là do sai phạm không được xử lý nghiêm theo nguyên tắc, bao che cho nhau, không ai truy cứu trách nhiệm, vì vậy, cần phải kiên quyết áp dụng các biện pháp chế tài mạnh tay (cách chức, xử lý hình sự) những cá nhân của đơn vị thiếu trách nhiệm thì mới hy vọng chấm dứt những “hố tử thần” Còn luật sư Thái Văn Chung, văn phòng Đoàn Luật sư TP.HCM thì cho rằng, đơn vị

từ nhà thầu phải chịu trách nhiệm khi thi công dự án, xảy ra tai nạn Ngoài ra cơ quan quản lý phải chịu trách nhiệm khi công trình đã bàn giao mà xảy ra tai nạn Luật sư Chung lý giải, do các biện pháp chế tài chưa đủ nặng khiến các đơn vị thi công vẫn “vô tư” vi phạm, pháp luật chưa được thực thi nghiêm minh khiến nhà thầu “nhờn luật” nên vẫn tiếp tục làm

1.2.1.3 Vi phạm trong bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

Đây là một lĩnh vực mà ảnh hưởng của nó tác động trực tiếp đến sức khỏe

và môi trường sống của mỗi người dân, mỗi gia đình cũng như của cả cộng đồng Nhưng cũng ở đây, sự vi phạm pháp luật đang diễn ra một cách phổ biến, ngang nhiên, khi có vô số doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường đang tồn tại trên thực

tế, nhưng lại vẫn không tồn tại đối với pháp luật Có thể dễ dàng nhận thấy, vài

ba năm gần đây, hầu như không ngày nào trên các phương tiện thông tin đại chúng lại không đưa tin về những vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường Từ các khu công nghiệp đến các nhà máy, xí nghiệp sản xuất lớn, nhỏ ở hầu hết các địa phương, ở những mức độ khác nhau đều thi nhau chôn trộm chất thải, xả chất thải gây ô nhiễm nguồn nước, đất đai, không khí… Các hành vi vi phạm pháp luật này thường diễn ra trong thời gian dài từ năm này qua năm khác mà chính quyền các địa phương chẳng mấy để tâm đến, kể cả khi có đơn thư khiếu nại cũng như sự phản ứng của những nạn nhân khốn khổ trong vùng Khi vụ việc bị phát hiện thì việc xử lý thường rất nương nhẹ, chế tài xử phạt cũng rất “dễ chịu” Cách xử lý theo kiểu “giơ cao đánh khẽ”, thậm chí “giơ” không cao và “đánh” còn rất khẽ khiến cho hành vi vi phạm không bị ngăn chặn mà cứ thế tiếp diễn, pháp luật mất hết tính răn đe Và khi pháp luật đã mất hết tính răn đe, vi phạm pháp luật về môi trường đã và đang xảy ra tràn lan, ngoài tầm kiểm soát của các

cơ quan chức năng

Trang 36

Đặc biệt, vụ Vedan là một điển hình về tình trạng đùn đấy, đá qua đá lại

“quả bóng trách nhiệm” giữa các cơ quan chức năng Dư luận bất bình và phẫn

nộ, vì hành vi vi phạm pháp luật của Vedan là vô cùng nghiêm trọng nhưng đã tồn tại tới 14 năm mới bị phát hiện Tuy nhiên, điều đáng nói hơn là, khi hành vi

vi phạm pháp luật nghiêm trọng này được phơi bày trước công luận, khi hậu quả

mà nó gây ra cho môi trường sống và mưu sinh của người dân ở ba tỉnh thành (TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa) là vô cùng nặng nề, thì việc xử lý hành vi vi phạm

và việc truy cứu trách nhiệm của cơ quan quản lý để xảy ra sai phạm lại cũng gây bức xúc cho dư luận không kém Trong suốt hai năm trời (2008 – 2010), báo chí

đã tốn rất nhiều giấy mực để phản ánh sự bức xúc, phẫn nộ của dư luận về thái độ thờ ơ, vô cảm, cũng như cách hành xử đùn đẩy trách nhiệm của các cơ quan quản

lý từ địa phương đến trung ương trong việc xử lý vi phạm

Trong bài: “Xử lý vụ Vedan “giết” sông Thị Vải: "Sư nói sư phải, vãi nói

vãi hay", tác giả Hồng Lê Thọ viết:

“Với tang chứng, vật chứng rành rành thì việc niêm phong những hệ thống

xả nước thải độc hại là đương nhiên, không cho chúng tiếp tục gây hại là điều phải làm thế mà sau gần một tháng vẫn loay hoay trong biện pháp "trừng phạt", điều bắt buộc nhà máy tạm dừng sản xuất không thể thực hiện được Khi

bộ Tài nguyên Môi trường "đề nghị" tỉnh Đồng Nai ra quyết định buộc Vedan phải ngừng sản xuất thì bị Đồng Nai từ chối, cho rằng chưa đủ thủ tục pháp lý hay Bộ phải trực tiếp ra lệnh chứ không thuộc về trách nhiệm của Đồng Nai vì người quyết định xử phạt là Bộ TN-MT(!)…Trái banh "pháp lý" qua lại giữa hai đơn vị quản lý ngành (Bộ TN-MT) và hành chính (tỉnh Đồng Nai) còn kéo dài đến bao giờ khi nước thải ô nhiễm vẫn tuồn ra!” (Hồng Lê Thọ, Sức khỏe và đời

sống, Thứ hai, 3/11/2008)

Những bài báo với các tiêu đề như: “Sông Thị Vải "bệnh" nặng nhiều năm,

dân kêu cứu vô vọng!”; “Độc giả phẫn nộ với Vedan và thanh tra môi trường”;

“Làm gì với Vedan?”; “Vedan và căn bệnh thường ngày của các cơ quan nhà

nước”; “Vụ Vedan: Trách nhiệm của cơ quan quản lý tới đâu?”… đã xuất hiện

rất thường xuyên và trở thành điểm nóng trên các trang báo trong một thời gian

Trang 37

dài Tác giả Đinh Thế Hưng trong bài “Nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự và

Vedan” viết:

… “Trong vụ Vedan, vai trò của cơ quan chức năng dường như mờ nhạt

Mờ nhạt trong việc phát hiện chậm trễ, trong việc xử lý vi phạm và trong việc không hoàn thành nhiệm vụ đặt ra luật lệ để giải quyết Pháp luật, cụ thể là luật

tố tụng dân sự đã quy định rõ trách nhiệm khởi kiện của cơ quan nhà nước Thế nhưng, không có cơ quan nào dũng cảm đứng ra đảm nhiệm việc này bởi lẽ ai cũng nghĩ "chắc nó trừ mình ra” Ủy ban nhân dân tỉnh, sở Tài nguyên môi trường tỉnh Đồng Nai có sự dè dặt đầy khôn ngoan khi không đứng ra khởi kiện

Họ là những người cấp phép hoạt động, kiểm tra, giám sát, xử phạt hành chính Vedan sau đó lại là người đứng ra khởi kiện dân sự đối với Vedan Có cái gì đó không ổn ở đây, nhất là khi sở này thay vì đàng hoàng khởi kiện thì họ lại vận động nông dân chấp nhận bồi thường, lấy "dĩ hòa vi quý” làm trọng Quan còn ngại ra tòa thì dân nói "vô phúc đáo tụng đình" là điều dễ hiểu Khi công quyền không nhiệt tình thì người dân buộc phải tự đi tìm công lý Quá trình đi tìm công

lý cho vụ Vedan đáng lẽ ra cơ quan nhà nước phải là người tiên phong nhưng thực tế họ lại chỉ vào cuộc khi người dân đã làm quyết liệt và cơ quan nhà nước lúc này vào cuộc với vai trò là người cổ vũ” (Vietnamnet, Thứ bảy, 18/09/2010)

Qua những thông tin mà báo chí và các phương tiện thông tin đã phản ánh,

có thể nói, Vedan chỉ là một vụ việc điển hình trong hàng trăm những vụ vi phạm luật bảo vệ môi trường đã và đang ngang nhiên tồn tại và thách thức dư luận và pháp luật hiện nay

Cùng với tình trạng báo động đỏ về ô nhiễm môi trường, nỗi lo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) cũng là chuyện “biết rồi, khổ lắm” nhưng vẫn phải

“nói mãi” khi các hành vi vi phạm pháp luật VSATTP đang ngày càng diễn ra phổ biến hơn, mức độ ngày càng trầm trọng hơn, theo đó là sự gia tăng số vụ ngộ độc thực phẩm hàng năm, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe người dân, thách thức dư luận và pháp luật từ năm này qua năm khác Từ chuyện nước tương, nước mắm, hàn the, thịt thối, mỡ bẩn, dư lượng thuốc trừ sâu trong rau quả cho đến tình trạng tẩm ướp đủ loại hóa chất, phẩm màu công nghiệp vào

Trang 38

thực phẩm,… Rồi ngộ độc tập thể xảy ra như cơm bữa, có vụ nghiêm trọng đến hàng trăm người

Trong bài báo “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm: chưa yên

tâm”, tác giả Trần Toàn cho biết:

“Theo đánh giá của HĐND TP.HCM, thực trạng vệ sinh an toàn thực

phẩm ở TP vào mùa giáp tết là rất đáng lo ngại Các vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm xảy ra ở tất cả các khâu, trong tất cả công đoạn của quy trình chế biến sản xuất Bác sĩ Trần Văn Ký, hội Khoa học kỹ thuật an toàn thực phẩm Việt Nam cảnh báo: Nhiều cơ sở sản xuất thực phẩm có quy mô vừa và nhỏ dùng thịt, cá hư, chất lượng kém như để sản xuất giò, chả hay để chế biến suất ăn công nghiệp Có cơ sở dùng cả axít HCl và xút công nghiệp trong công nghệ sản xuất nước tương, nhưng chưa có ai bị xử lý Thậm chí trong sản xuất bánh mì, bánh bông lan, bánh ngọt… người ta dùng cả các hoá chất tạo xốp, tạo nở trong chế biến cao su Đây chính là nguồn gốc của ngộ độc thực phẩm mãn tính và hậu quả là người tiêu dùng sẽ bị ung thư, bệnh mãn tính về sau mà chưa có số liệu nào thống kê được Riêng việc kinh doanh thực phẩm tại hàng chục ngàn quán

ăn, nhà hàng đều chung một “mẫu số”: không tuân thủ các quy định về VSATTP Trong khi đó việc quản lý chồng chéo giữa các bộ ngành khiến cho việc kiểm soát ATVSTP càng siết càng lỏng Ngay cả việc kiểm tra, giám sát, xử phạt nghiêm các sai phạm, có thái độ xử lý với chính quyền địa phương không làm tốt trách nhiệm, đình chỉ, thu hồi giấy phép của các cơ sở vi phạm cũng chỉ là "rung chuông" Nhiều ý kiến đánh giá, thực trạng ATVSTP tại các thành phố lớn như của Hà Nội, TP.HCM đang xấu đi Nhiều vụ ATVSTP được "khui" ra nhưng hầu như chưa có vụ nào xử lý hình sự Ngay cả việc kiểm tra, giám sát, xử phạt nghiêm các sai phạm, có thái độ xử lý với chính quyền địa phương không làm tốt trách nhiệm, đình chỉ, thu hồi giấy phép của các cơ sở vi phạm cũng hô hào suông!”

Trong bài: “Quốc hội giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm: Người ít, tiền

thiếu, trách nhiệm cha chung”, tác giả Lê Kiên cho biết, vệ sinh an toàn thực

phẩm với những gam màu loang lổ lo âu đã được đặt lên bàn nghị sự của Quốc hội (QH) trong cả ngày làm việc hôm (10-6-2010) và đã tường thuật lại cuộc truy

Trang 39

vấn đầy bức xúc của các vị đại biểu về vấn đề này Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) nói rằng: “Biết ăn gì, uống gì để tránh ngộ độc?” là câu hỏi mà không ít người thốt lên như thế khi hàng ngày liên tục nghe các tin như sữa nhiễm độc, chả, giò có hàn the, thịt, cá ướp phân urê, rượu pha thuốc sâu, rau, củ, quả sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích, nước đóng chai nhiễm vi sinh v.v vẫn bày bán khắp nơi “Đây cũng là câu hỏi mà cử tri đặt ra với đại biểu QH” - bà

phẩm vi phạm VSATTP vẫn được bày bán khắp nơi, vậy trách nhiệm của cơ quan quản lý ở đâu trong khi quản lý lĩnh vực này có tới năm bộ liên quan? Có nghĩa

là một con gà, một mâm cơm của người dân có tới năm bộ chức năng quản lý Một công việc mà nhiều chủ thể quản lý sẽ dễ dẫn đến đùn đẩy, giống như câu nói dân gian là “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa” Việc thực phẩm không đảm bảo chất lượng mà vẫn nhập khẩu, ai chịu trách nhiệm thì bộ này đùn đẩy bộ kia, cuối cùng cũng không rõ trách nhiệm của ai”

Trên báo Nông nghiệp Việt Nam (ngày 24/11/2009), với bài báo nhan đề

“Doanh nghiệp bất chính "lờn" thuốc, người dân lãnh đủ”, tác giả Đức Cường

viết:

“…Thực tế này đã được minh chứng qua hàng loạt vụ sai phạm liên quan đến thịt “bẩn” nhập khẩu vào Việt Nam thời gian qua Ngay trong thời điểm dư luận đang vô cùng bức xúc về chuyện thịt nhiễm khuẩn, người ta vẫn thấy hàng trăm tấn thịt gây hại “vô tư” hành quân ra thị trường như trêu ngươi, chọc tức

dư luận

Chưa bao giờ vấn đề mất VSATTP tại nước ta lại “nóng” như hiện nay khi một thực tế “bi đát” về nguồn thực phẩm mà hàng chục triệu người dân Việt Nam đang ăn hàng ngày bị phát hiện quá nhiều chất độc Đã có một thời gian rất dài, chỉ vì lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp đã nhập về Việt Nam hàng vạn tấn thịt

“trời ơi” hết “đát”, mốc rêu và bốc mùi (sau đó được xử lý hóa chất) để đầu độc người tiêu dùng Điều này tất yếu dẫn đến tình trạng trong suốt nhiều năm trời, người dân Việt Nam bị lừa dối, bị xâm hại sức khỏe nghiêm trọng mà không hề hay biết Vụ việc chỉ bắt đầu bị phanh phui khi cơ quan chức năng kiểm tra lô hàng cánh gà nhập khẩu của công ty Trúc Đen và phát hiện công ty này đang

Trang 40

“phù phép” để tung 13,5 tấn gà nhiễm khuẩn ra thị trường Tại thời điểm kiểm tra đã có gần một nửa lô hàng cánh gà đông lạnh nhập khẩu từng xác định bị nhiễm khuẩn e.coli và coliform được mang ra bán cho người tiêu dùng Sau vụ Trúc Đen, cơ quan chức năng tiếp tục phát hiện thêm 3 lô hàng tổng cộng 101 thùng bím dê phế thải với trọng lượng trên 1,5 tấn được khuyến cáo “không sử dụng cho người” nhập về bán cho người tiêu dùng Việt Nam

Tuy nhiên, phải đến khi vị “đại gia” nhập khẩu thịt đông lạnh lớn nhất nhì Việt Nam là Công ty Vinafood bị phát hiện đang "biến hóa" hàng trăm tấn thịt heo, xúc xích hết “đát” trong kho lạnh, đặc biệt là phát hiện “động trời”: hồ sơ gốc nhập khẩu thịt bên Mỹ và Canada không ghi hạn sử dụng, người tiêu dùng mới té ngửa rằng từ bao lâu nay niềm tin đã bị đặt nhầm chỗ Trong suốt nhiều tháng ròng rã (từ tháng 7 trở lại đây), hàng chục doanh nghiệp “đen” bị phanh phui cách làm ăn chụp giựt, vô đạo đức, kiếm tiền bất chính trên sức khỏe người tiêu dùng Một khối lượng thịt nhiễm khuẩn rất lớn lên đến 342 tấn (chỉ là phần nổi của tảng băng chìm) theo đó cũng bị tạm giữ trong “chiến dịch” muộn màng này

Điều đáng nói là, sau khi lượng thịt “bẩn” khổng lồ trên bị “bắt tận tay, day tận mặt”, không hiểu sao cơ quan chức năng cứ dây dưa xử lý mãi không xong Sự chậm trễ đó đã tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp tự tung tự tác mang hàng “bẩn” bán tứ tán ra thị trường Thông thường, khi doanh nghiệp phạm luật như vậy, cơ quan chức năng phải có biện pháp xử lý thật nghiêm khắc

để răn đe Tuy nhiên, chưa một doanh nghiệp nào bị xử nặng, chưa một doanh nghiệp nào bị khởi tố xử lý hình sự Tất cả đều chỉ dừng ở mức xử phạt hình chính một số tiền nho nhỏ, “khuyến mãi” thêm vài câu nhắc nhở rồi…huề cả làng!” (Đức Cường, báo Nông nghiệp, 24/11/2009)

Đây là tâm trạng âu lo, bức xúc của người dân khi phải là nạn nhân của tệ nạn làm ăn, kinh doanh gian dối, vô đạo đức, bất chấp pháp luật đang hoành hành trong xã hội hiện nay:

“Hãy làm nhà tiêu dùng thông thái”, lời cảnh báo này nay trở thành như một khẩu hiệu dường như đã lỗi thời, bởi dù có muốn và cố gắng “thông thái” cũng không thể thực hiện được Đủ các hình thức gian dối, lừa đảo diễn ra ngày

Ngày đăng: 02/11/2022, 21:27

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm