1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM

39 108 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 736,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN Đề tài: VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM Từ xưa đến nay, bên cạnh các vấn đề về nhân quyền, bình đẳng giới luôn là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm từ cộng đồng và các quốc gia trên toàn thế giới. Bởi thực trạng bất bình đẳng giới đã và đang tạo nên nhiều tác động tiêu cực đến đời sống cá nhân cũng như là một trong những nguyên nhân kiềm chân bước phát hiện của kinh tế xã hội. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của đại dịch COVID19, vấn đề này càng trở nên phổ biến và nghiêm trọng hơn bao giờ hết.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG



TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

Đề tài:

VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BẤT

BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM

GIÁO VIÊN: ĐINH THẾ HOÀNG LỚP: B - BÁO CHÍ CLC

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

1 Lí do chọn đề tài 2

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu của đề tài 4

7 Lời cảm ơn 4

CHƯƠNG 1: NỘI DUNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 4

I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 4

1 Khái niệm phép biện chứng duy vật 4

2 Đặc điểm của phép biện chứng duy vật 5

3 Vai trò của phép biện chứng duy vật 5

II NỘI DUNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 5

1 Hai nguyên lý cơ bản 5

2 Sáu cặp phạm trù cơ bản: 6

3 Các quy luật cơ bản 9

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 12

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ GIỚI 12

1 Giới là gì? Giới tính là gì? 12

2 Bình đẳng giới là gì? 13

3 Bất bình đẳng giới là gì? Thước đo bất bình đẳng giới 13

II THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM 14

1 Về tư tưởng 14

Trang 3

2 Về lao động 14

3 Về giáo dục - đào tạo 16

4 Về bạo lực 16

5 Những thiếu sót trong việc thực hiện bình đẳng giới 17

III NGUYÊN NHÂN BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI 19

1 Ý thức hệ hình thành từ xã hội nguyên thủy- thời điểm sơ khai của loài người 19

2 Ý thức hệ ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo trong xã hội phong kiến:20 3 Ý thức hệ phát triển cuộc sống hiện đại: 21

IV MỘT SỐ THÀNH TỰU VÀ Ý NGHĨA CỦA BÌNH ĐẲNG GIỚI VIỆT NAM 24

V VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM 28

1 Vận dụng mối liên hệ phổ biến 28

2 Vận dụng nguyên lý về sự phát triển 33

KẾT LUẬN 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Từ xưa đến nay, bên cạnh các vấn đề về nhân quyền, bình đẳng giới luôn là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm từ cộng đồng và các quốc gia trên toàn thế giới Bởi thực trạng bất bình đẳng giới đã và đang tạo nên nhiều tác động tiêu cực đến đời sống cá nhân cũng như là một trong những nguyên nhân kiềm chân bước phát hiện của kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, vấn đề này càng trở nên phổ biến và nghiêm trọng hơn bao giờ hết

Bà Nguyễn Hồng Hà, đại diện lâm thời Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam phát biểu tại báo cáo “Tổng quan về Bình đẳng giới ở Việt Nam năm 2021”: “Đại dịch COVID-19 đã tác động nặng nề hơn tới phụ nữ ở Việt Nam và làm trầm trọng thêm khoảng cách về giới vốn đã tồn tại dai dẳng trên thị trường lao động Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ giảm sâu hơn so với nam giới, khiến chênh lệch theo giới tăng nhẹ lên 10,8%.” Theo báo cáo năm 2021

Trang 4

của Diễn đàn Kinh tế thế giới cho thấy, thế giới sẽ mất tới 136 năm thay vì 99năm như dự kiến trước khi đại dịch xảy ra Đồng thời, áp lực về kinh tế, bệnh tậtcũng đã dẫn đến sự gia tăng nạn bạo lực trên cơ sở giới Ngoài ra, bất bình đẳnggiới còn phổ biến trong quan niệm của một bộ phận người, tạo nên định kiến giớinhư “trọng nam khinh nữ”, Mặt khác, khi các phong trào nữ quyền nổ ra, xãhội đã xuất hiện suy nghĩ sai lệch, đánh đồng bình đẳng giới chỉ ủng hộ cho phái

nữ và căm ghét nam giới trong khi đó đây được xem là lý thuyết về sự bình đẳngtrong các quyền về chính trị, kinh tế và xã hội

Do vậy, nhóm quyết định chọn đề tài về bất bình đẳng giới ở Việt Nam Đây

có thể không phải là vấn đề mới mẻ song luôn là chủ đề thu hút đông đảo sự quantâm của xã hội Quan trọng hơn hết, nhóm muốn ứng dụng phép biện chứng duyvật của chủ nghĩa Mác Lênin trong việc phân tích, đánh giá thực trạng cũng như

từ đó đề ra các định hướng, giải pháp phù hợp, hiệu quả cho vấn đề này Vì vậy

đề tài nhóm nghiên cứu là “Vận dụng phép biện chứng duy vật trong việc giảiquyết vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Ở thời điểm hiện tại, trên các diễn đàn, phương tiện truyền thông đại chúng

đã xuất hiện rất nhiều báo cáo, tài liệu với đề tài nghiên cứu về vấn đề này Bêncạnh đó nước ta cũng gặt hái được một số thành tựu nhất định, giúp nâng caonhận thức công chúng về bất bình đẳng giới nói chung, nhưng cũng không thểphủ nhận rằng vẫn còn nhiều bất cập tồn tại và chưa được giải quyết triệt để

3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng, nguyên nhân bất bình đẳng giới tại ViệtNam qua đó vận dụng phép biện chứng duy vật đề xuất các định hướng và giảipháp nhằm góp phần cải thiện vấn đề cũng như tạo cơ hội bình đẳng về quyền lợicho cả hai giới

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu nhóm muốn hướng đến ở đây chính là cách giải quyếtthực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam bằng cách đánh giá toàn diện vấn đề,

hệ thống lại khái niệm giới và nguyên nhân gây nên dựa trên phép biện chứngduy vật của triết học Mác Lê-nin

4 Phạm vi nghiên cứu

Bài tiểu luận nghiên cứu xung quanh thực trạng bất bình đẳng giới ở ViệtNam, xuất phát từ những nguyên nhân xa xưa đến hiện tại để có cái nhìn toàndiện về vấn đề qua đó đưa ra giải pháp phù hợp

Trang 5

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của nhóm dựa trên phương pháp như: phép duy vật biệnchứng, phương pháp luận nghiên cứu khoa học, phương pháp thu thập số liệu,phương pháp nghiên cứu định tính

6 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Nội dung phép duy vật biện chứng

Chương 2: Vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

7 Lời cảm ơn

Đầu tiên, nhóm em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn và khoa đã đưa môn học Triết học Mác Lênin vàochương trình giảng dạy Đặc biệt, nhóm em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảngviên bộ môn - thầy Nguyễn Anh Quốc và thầy Đinh Thế Hoàng đã giảng dạy,truyền đạt kiến thức, hiểu biết về môn học này trong suốt thời gian vừa qua.Trong thời gian tham gia lớp học của thầy, chúng em đã có thêm nhiều kiến thức

bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ là những kiếnthức quý báu, là hành trang để chúng em có thể vững bước sau này

Bộ môn Triết học Mác Lênin là môn học thú vị, vô cùng bổ ích, đảm bảocung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu học tập của sinh viên Tuy nhiên, dovốn kiến thức là vô hạn và sự tiếp cận của bản thân mỗi người luôn tồn tại nhữnghạn chế nhất định Do đó, trong quá trình hoàn thiện bài tiểu luận đầu tiên, chắcchắn khó có thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy và khoa xem xét vàgóp ý để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

CHƯƠNG 1: NỘI DUNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Triết học được coi là khoa học của mọi khoa học Triết học Mác - Lênin là

hệ thống quan điểm duy vật biện chứng tự nhiên, xã hội và tư duy - thế giới quan

và phương pháp luận khoa học Chính vì thế, bằng tri thức của nó, triết học đang

là công cụ cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lựclượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới Trong triết học, phépbiện chứng duy vật là một trong những nội dung quan trọng Những nội dungkhái quát sau đây về phép biện chứng duy vật sẽ là cơ sở cho các phần nghiêncứu tiếp theo của tiểu luận

1.Khái niệm phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng (dialectic) là học thuyết về biện chứng của thế giới Chữ

“phép biện chứng” vốn có nguồn gốc từ một động từ trong tiếng Hy Lạp có nghĩa

Trang 6

là ‘đối thoại’ và ban đầu có nghĩa là “nghệ thuật đối thoại”, “bàn luận”, hay

“tranh biện”

Phép biện chứng duy vật là trở thành một khoa học, là “linh hồn sống”, là

“cái quyết định của chủ nghĩa Mác, bởi khi nghiên cứu các quy luật phát triểnphổ biến của hiện thực khách quan và của nhận thức khoa học, phép biện chứngduy vật thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhậnthức và thực tiễn

Khi bàn về các quy luật, Ăng-ghen định nghĩa: “Phép biện chứng chẳng quachỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triểncủa tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.[1,tr.82]

Biện chứng là phạm trù dùng để chỉ những mối liên hệ qua lại lẫn nhau, sự

vận động và phát triển của bản thân các sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại độclập bên ngoài ý thức con người; là phạm trù dùng để chỉ những mối liên hệ và sựvận động, biến đổi của chính quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óccon người

Biện chứng khách quan là khái niệm dùng để chỉ biện chứng của bản thân

thế giới tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người

Biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng của chính quá trình nhận

thức, là biện chứng của tư duy phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc conngười

2.Đặc điểm của phép biện chứng duy vật

Về đặc điểm, phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa quan

điểm thế giới vật chất và phương pháp luận biện chứng, nó nằm giữa lý luậnnhận thức và logic biện chứng

Mọi nguyên lý của phép biện chứng đều dựa trên quan điểm của chủ nghĩaduy vật, mọi quan điểm của phép biện chứng đều xuất phát từ sự vận hành của tựnhiên và lịch sử xã hội loài người; mọi nguyên lý, quy luật và phạm trù của phépbiện chứng đều được lý giải trên cơ sở khoa học và được chứng minh bởi tất cảnhững phát triển trước đây của khoa học tự nhiên

3.Vai trò của phép biện chứng duy vật

Về vai trò, phép biện chứng duy vật kế thừa và phát triển phép biện chứng

từ tự phát đến tự giác, tạo nên chức năng phương pháp luận phổ biến nhất, địnhhướng cho việc hình thành các nguyên tắc tương ứng trong hoạt động nhận thức

và thực tiễn Đây là hình thức tư duy hiệu quả quan trọng nhất trong khoa học, vìchỉ nó mới có thể cung cấp cách giải thích quá trình phát triển, các mối quan hệchung và các bước chuyển đổi từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác trên thế giới

II NỘI DUNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Hai nguyên lý cơ bản

1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương

hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng

Trang 7

hoặc giữa các đối tượng với nhau Liên hệ là quan hệ giữa hai đối tượng nếu sựthay đổi của một trong số chúng nhất định làm đối tượng kia thay đổi.

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thừa nhận ba tính chất bao gồm: tínhkhách quan của các mối liên hệ tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau từ đó tồntại tính phổ biến và tính đa dạng phong phú được thể hiện trong vô vàn các mốiliên hệ đó

 Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức con con người cần tôntrọng quan điểm toàn diện Thứ hai, khi xem xét bất kỳ một sự vật, hiện tượng cụthể, ta cần phải đặt nó trong một tổng thể thống nhất, xem xét tất cả các mối liên

hệ chủ quan, khách quan, trực tiếp và gián tiếp, rút ra được mặt hay mối liên hệtất yếu nhất của chủ thể và xem xét trong sự thống nhất hữu cơ nội tại Từ đó,hình thành nhận thức sâu sắc, đúng đắn về chủ thể

1.2 Nguyên lý về sự phát triển

Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoànthiện hơn, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn, chỉ vận động nào theokhuynh hướng đi lên thì mới là phát triển Vận động diễn ra trong không gian vàthời gian, nếu thoát ly chúng thì không thể có phát triển

Nguyên lý về sự phát triển bao gồm các tính chất cơ bản như: tính kháchquan ở chỗ tất cả các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống luôn tồn tại vận động,phát triển độc lập với ý thức của con người; tính phổ biến quy định nguyên lýnày tồn tại và diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực, cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy;tính kể thừa, phát huy những gì đặc tính tốt đẹp của cái cũ trên cơ sở cao hơnđồng thời loại bỏ tiêu cực, lạc hậu; tính đa dạng phong phú

 Ý nghĩa phương pháp luận

Khi xem xét các sự vật, hiện tượng, cần đặt đối tượng trong sự vận động vàphát hiện xu hướng biến đổi của nó Thứ hai, cần nhận thức phát triển là quátrình trải qua nhiều giai đoạn nên cần tìm hình thức, phương pháp phù hợp đểthúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển Thứ ba, phải sớm phát hiện và ủng hộ đốitưởng mới hợp quy luật Thứ tư, phải biết kế thừa các yếu tố tích cực từ đốitượng cũ và phát triển chúng trong điều kiện mới

2 Sáu cặp phạm trù cơ bản

Phạm trù triết học là hình thức hoạt động tinh thần chung của con người và

là mô hình tư duy phản ánh những thuộc tính và mối quan hệ vốn có của mọi đốitượng hiện thực Phạm trù triết học giúp con người phản ánh những tư liệu cụ thể

có được trong quá trình nhận thức và cải tạo hiện thực

2.1 Cái riêng và cái chung

Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng nhấtđịnh Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tínhkhông những có ở một sự vật, hiện tượng nào đó, mà còn lặp lại trong nhiều sựvật, hiện tượng (nhiều cái riêng) khác

Trang 8

Trong phép duy vật biện chứng, cái riêng là cái toàn bộ, cái chung chỉ là bộphận, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sựtồn tại của mình, không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng, cáichung tồn tại thực sự, nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cáiriêng Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung.

 Ý nghĩa phương pháp luận

Trong mỗi trường hợp cụ thể, cái chung cần được cá biệt hoá trong cáctrường hợp cụ thể đồng thời chỉ nên rút ra những mặt chung, những cái thích hợpcho hoàn cảnh, điều kiện nhất định Ngoài ra phép biện chứng đích thực phải đẩy

“cái chung”, “cái riêng” lên thành cặp phạm trù đặc thù và phổ biến

2.2 Nguyên nhân và kết quả

Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tương tác lẫn nhau giữacác mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhaugây nên những biến đổi nhất định Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉnhững biến đổi xuất hiện do sự tương tác giữa các yếu tố mang tính nguyên nhângây nên

Mối liên hệ nhân-quả được tạo thành bởi 3 tính chất cốt lõi là khách quan,phổ biến và tất yếu Bên cạnh đó, phép biện chứng duy vật cho rằng, một nguyênnhân nhất định trong hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra một kết quả nhất định

Và trong quá trình vận động nguyên nhân có thể chuyển hóa thành kết quả

 Ý nghĩa phương pháp luận

Thứ nhất, mối liên hệ nhân quan tìm ra được nguyên nhân trong hiện thựckhách quan Và chính nguyên nhân đó mới có thể dẫn đến kết quả chính xác Từ

đó dẫn đến nhận thức đúng đắn ở con người Thứ hai, mối liên hệ này giúp phânbiệt chính xác các loại nguyên nhân Thứ ba, từ những mối liên hệ phức tạp giữanhân-quả, cần phải có cách nhìn toàn diện và không chỉ toàn diện mà còn phảixét trên từng giai đoạn cụ thể

2.3 Tất yếu và ngẫu nhiên

Tất nhiên (tất yếu) là phạm trù triết học dùng để chỉ mối liên hệ bản chất, donguyên nhân cơ bản bên trong sự vật, hiện tượng quy định và trong điều kiệnnhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác Ngẫu nhiên là phạm trùtriết học dùng để chỉ mối liên hệ không bản chất, do nguyên nhân, hoàn cảnh bênngoài quy định nên có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện; có thể xuất hiện thếnày hoặc có thể xuất hiện thế khác

Tất nhiên và ngẫu nhiên đều có vai trò nhất định trong quá trình vận động

và phát triển của sự vật, hiện tượng Nếu tất nhiên chi phối sự phát triển thì ngẫunhiên có tác động đến tốc độ của quá trình ấy Vì lẽ đó, mỗi sự vật, hiện tượngđều hội tụ cả tất nhiên và ngẫu nhiên Chúng không chỉ tồn tại đơn thuần mà cònchuyển hoá lẫn nhau Vì vậy không nên có quan niệm cứng nhắc

 Ý nghĩa phương pháp luận

Trang 9

Thứ nhất, tất nhiên là luôn đi theo những con đường đã vạch sẵn nên tronghoạt động thực tiễn cần phải dựa vào tất nhiên vậy nên nhiệm vụ đặt ra là cầnphải nghiên cứu về mối liên hệ tất nhiên của hiện thực khách quan Thứ hai, đểbiết về tất nhiên thường phải nghiên cứu về những ngẫu nhiên mà tất nhiên điqua Thứ ba, không được xem nhẹ ngẫu nhiên mà phải có phương án dự phòngphù hợp với ngẫu nhiên để tối ưu hoá quá trình Thứ tư, ở một điểm nút nào đó,các ngẫu nhiên phù hợp với thực tiễn có thể trở thành cái tất nhiên Và những tấtnhiên lỗi thời thành cái ngẫu nhiên Đó là những tình huống hoàn toàn có khảnăng xảy ra.

2.4 Nội dung và hình thức

Nội dung là phạm trù triết học dùng để chỉ tổng thể tất cả các mặt, yếu tố tạonên sự vật, hiện tượng Hình thức là phạm trù triết học dùng để chỉ phương thứctồn tại, biểu hiện và phát triển của sự vật, hiện tượng ấy; là hệ thống các mối liên

hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố cấu thành nội dung của sự vật, hiện tượng

và không chỉ là cái biểu hiện ra bên ngoài, mà còn là cái thể hiện cấu trúc bêntrong của sự vật, hiện tượng

Nội dung và hình thức luôn có mối liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau vàcùng tồn tại trong thống nhất trong sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, nội dung giữvai trò quyết định nhất Hình thức xuất hiện trong sự quy định của nội dung Tuynhiên, hình thức lại tồn tại độc lập và có thể tác động ngược lại nội dung Khihình thức phù hợp với nội dung thì nó sẽ trở thành động cơ thúc đẩy sự phát triển

và ngược lại

 Ý nghĩa phương pháp luận:

Thứ nhất, trước khi tác động hay biến đổi của bất kì sự vật, hiện tượng thìphải làm thay đổi nội dung của nó trước Thứ hai, trong suốt quá trình phát triểncủa sự vật, hiện tượng, cần phải theo sát tiến trình của hình thức và thay đổi kịpthời Thứ ba,cần phải loại bỏ suy nghĩ bảo thủ, trì trệ như một nội dung chỉ cầnmột hình thức hay một hình thức chỉ có một ý nghĩa Như vậy, con người sẽtránh được lối suy nghĩ chủ quan, nóng vội, duy ý chí, đi theo lối mòn

2.5 Bản chất và hiện tượng

Bản chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tổng thể các mối liên hệ kháchquan, tất nhiên, tương đối ổn định bên trong, quy định sự vận động, phát triểncủa đối tượng và thể hiện mình qua các hiện tượng tương ứng của đốitượng Hiện tượng là phạm trù triết học dùng để chỉ những biểu hiện của các mặt,mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định ở bên ngoài; là mặt dễ biến đổi hơn và làhình thức thể hiện của bản chất đối tượng Bản chất và hiện tượng đều tồn tạikhách quan trong mối liên hệ hữu cơ, cái này không thể tồn tại thiếu cái kiaBản chất và hiện tượng là mối liên hệ gắn kết chặt chẽ trong khách quan.Nói cách khác, bản chất tồn tại thông qua hiện tượng và hiện tượng là sự thể hiệncủa bản chất Vì lẽ đó, bản chất và hiện tượng lại đóng vai trò khác nhau trongcùng một chỉnh thể Nếu bản chất luôn gắn liền với những cái phổ biến, là sợi chỉ

Trang 10

đỏ xuyên suốt trong sự phát triển gọi là tính quy luật Thì hiện tượng lại phải ánhcái riêng cá biệt hay còn gọi là cái đơn nhất.

 Ý nghĩa phương pháp luận:

Thứ nhất, bản chất chỉ thể hiện mình thông qua hiện tượng và hiện tượngthường biểu hiện bản chất dưới dạng đã cải biến vì thế khi xem xét mọi sự vật,hiện tượng không nên chủ quan dựa vào biểu hiện bên ngoài mà phải soi xét bảnchất nội hàm của chúng Thứ hai, bản chất là sự thống nhất giữa các mặt, các liên

hệ Do đó, chúng thường được giải quyết trong quá trình phát triển dẫn đến sựchuyển hoá, biến đổi của bản chất

2.6 Khả năng và hiện thực

 Khái niệm:

Khả năng là phạm trù triết học phản ánh thời kỳ hình thành đối tượng, khi

nó mới chỉ tồn tại dưới dạng tiền đề hay với tư cách là xu hướng Khả năng là cáihiện chưa xảy ra, nhưng nhất định sẽ xảy ra khi có điều kiện thích hợp Hiện thực

là cái đang có, đang tồn tại, gồm tất cả các sự vật, hiện tượng vật chất đang tồntại khách quan trong thực tế và các hiện tượng chủ quan đang tồn tại trong ý thức,

là sự thống nhất biện chứng của bản chất và các hiện tượng thể hiện bản chất đó.Khả năng và hiện thực là hai mặt đối lập nhau và tồn tại trong mối quan hệchặt, không thể tách rời nhau và luôn chuyển hóa lẫn nhau Chính trong sự pháttriển của cái mới lại sinh ra khả năng, Như vậy, đây được xem như hiện thực hoá

sự liên tục của quá trình biến đổi Do đó, để có thể thành công, con người khôngchỉ xem xét hiện thực mà còn phải tính toán cả những khả năng vốn có ở hiệnthực

 Ý nghĩa phương pháp luận:

Thứ nhất, trong các hoạt động nhận thức và thực tiễn tất yếu phải dựa vàohiện thực Tuy nhiên, vì khả năng là biểu hiện định hướng cho hiện thực trongtương lai nên cần xem xét các khả năng xuất phát từ nội tại sự vật, hiện tượng

Và cũng không thể chủ quan mà phải tính toán đến các phương án dự trù cho mọikhả năng có thể xảy ra Thứ hai, cần xác định được khả năng phát triển thì mớitiến hành chọn lọc và thực hiện vào thực tiễn Thứ ba, sự vật, hiện tượng vốnmuôn hình vạn dạng,cần phải cân nhắc, tính toán các phương án dự kiến chotừng khả năng riêng lẻ để tránh bất khả kháng đồng thời xác định, chọn lọc kĩcàng mà trước hết là ưu tiên các khả năng gần, khả năng tất nhiên vì chúng sẽ dễdàng chuyển hóa thành hiện thực hơn Tuyệt đối không được chủ quan vào cácnhân tố ngẫu nhiên hay xem thường quá trình trên

3 Các quy luật cơ bản

Quy luật là mối liên hệ phổ biến, khách quan, bản chất, bền vững, tất yếugiữa các đối tượng và nhất định tác động khi có các điều kiện phù hợp

3.1 Quy luật lượng - chất

Trang 11

Quy luật lượng chất là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứngduy vật trong triết học Mác – Lênin.

Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của

sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật nó chứkhông phải là cái khác

Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật vềmặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng nhưcác thuộc tính của sự vật

Trong quy luật lượng - chất, lượng là cái biển đổi thường xuyên còn chất làcái tương đối ổn định Khi lượng biến đổi đến một mức độ nhất định (điểmnút) sẽ chuyển hóa thành chất mới thay thế cho chất cũ Ở đây, sự thay đổi vềlượng có thể biến đổi nhanh chóng hay chậm rãi, kéo theo những biến đổi có thểtuần tự hay cũng có thể là bước nhảy vọt của sự vật hiện tượng

Mỗi sự vật, hiện tượng là những chỉnh thể thống nhất giữa hai mặt lượng vàchất, không chỉ tồn tại đơn thuần mà còn tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy quan

hệ giữa lượng – chất là mối quan hệ biện chứng

 Ý nghĩa phương pháp luận:

Thứ nhất, trong nhận thức và thực tiễn cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu

về phương diện chất và lượng của sự vật Thứ hai, muốn thay đổi về chất, trướchết phải từng bước thay đổi về lượng Chỉ khi lượng thay đổi đạt tới điểm nút thìchất mới thay đổi Thứ ba, trước bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng phải, cần phảigiữ thái độ khách quan; cần phải loại bỏ, khắc phục tư tưởng tả khuynh, bảo thủhữu khuynh, chủ quan, duy ý chí trong tư duy lẫn nhận thức Cuối cùng, quy luậtnày nhắc nhở con người phải vận dụng linh hoạt phương pháp phù hợp để tácđộng vào phương thức liên kết trên cơ sở hiểu rõ bản chất

3.2 Quy luật thống nhất và đấu tranh

Thống nhất giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ giữa chúng

và được thể hiện ở việc: thứ nhất, các mặt đối lập cần đến nhau, nương tựa vào nhau, làm tiền đề cho nhau tồn tại, không có mặt này thì không có mặt kia Thứ hai, các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhau thể hiện sự đấu tranh giữa cái mới đang hình thành với cái cũ chưa mất hẳn Thứ ba, giữa các mặt đối

lập có sự tương đồng, đồng nhất do trong các mặt đối lập còn tồn tại những yếu

tố giống nhau

Thống nhất mang tính tạm thời còn đấu tranh mang tính tuyệt đối V.I.Lênin đãviết: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” Nếu như quyluật lượng – chất là cách thức của nguyên lý phát triển thì quy luật mâu thuẫn haycòn gọi là quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là cội nguồn củanguyên lý này

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập thừa nhận bất kỳ sự vật,hiện tượng nào cũng là thể thống nhất của các mặt đối lập Các mặt đối lập khôngchỉ tồn tại ở nội tại sự vật, hiện tượng mà còn tác động qua lại lẫn nhau Như vậy,chính sự tồn tại song hành giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là

Trang 12

nguyên nhân, động lực thúc đẩy sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượngngay từ bên trong.

Bên cạnh đó, quy luật này còn tồn tại khách quan, phổ biến và phong phú, đadạng Khách quan vì quy luật này thừa nhận các mặt đối lập cùng tồn tại trongmỗi sự vật, hiện tượng Phổ biến vì nó diễn ra ở khắp các lĩnh vực từ tự nhiên,đến xã hội, ở nhiều khía cạnh trong cuộc sống Ngoài ra, quy luật này còn đadạng và phong phú mà biểu hiện cụ thể là đa dạng lĩnh vực và đặc điểm Nếu căn

cứ vào mối liên hệ giữa các sự vật sẽ có mâu thuẫn bên trong và bên ngoài Căn

cứ theo vai trò quyết định sự phát triển của sự vật có mâu thuẫn cơ bản và không

cơ bản Còn căn cứ theo từng giai đoạn phát triển của sự vật có mâu thuẫn chủyếu và thứ yếu Cuối cùng, căn cứ vào quan hệ giai cấp trong xã hội có mâuthuẫn đối kháng và không đối kháng

 Ý nghĩa phương pháp luận:

Thứ nhất, ta cần phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn trong sự vật, hiệntượng, từ đó đưa ra các phương án giải quyết phù hợp với quy luật, thực tiễn Tuynhiên, không dễ để có thể phát hiện ra mâu thuẫn Vì vậy cần phải xem xét sự vật,hiện tượng trong thể thống nhất của các mặt đối lập.Thứ hai, sau khi phát hiện ramâu thuẫn chỉ là bước đầu tiên trong một quá trình Sau đó, cần phải đặt mâuthuẫn trong tương quan các mối liên hệ, vị trí, vai trò,….và phân tích chúng thật

cụ thể Từ một quá trình đầy đủ cơ sở khách quan đó mới có thể đưa ra phương

án cũng như nhận thức đúng đắn về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn Thứ ba,phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các mặt đốilập, không nóng vội chủ quan hay bảo thủ trước những mâu thuẫn mà phải dựavào điều kiện, thời cơ để tận dụng và giải quyết triệt để

3.3 Quy luật phủ định của phủ định

Phủ định biện chứng là tự phủ định, tự phát triển của sự vật, hiện tượng; là “mắtxích” trong “sợi dây chuyền” dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới, tiến

bộ hơn so với sự vật, hiện tượng cũ; làm cho sự vật, hiện tượng mới ra đời thaythế sự vật, hiện tượng cũ và là yếu tố liên hệ giữa sự vật hiện tượng cũ với sự vậthiện tượng mới

Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng (đi lên), hình thức (xoáy ốc)

và kết quả (sự vật, hiện tượng mới ra đời thay cho sự vật, hiện tượng cũ) thôngqua sự thay đổi và kế thừa, từ đó góp phần tạo nên sự vật, hiện tượng phát triển

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.Các đặc trưng cơ bản của quy luật là khách quan, phổ biến, kế thừa, đa dạng vàtính chu kỳ Trước hết, quy luật này thể hiện tính khách quan ở điểm khi các sựvật, hiện tượng có thể tự phủ định mình vì mâu thuẫn nội tại Tiếp theo, phủ địnhbiện chứng lại ủng hộ sự kế thừa và phát huy, chỉ loại bỏ các yếu tố tiêu cực,không còn phù hợp và cải tạo những thứ tốt đẹp sẵn có để góp phần hoàn thiệncái mới chuẩn bị ra đời Ngoài ra, quy luật này không chỉ đúng với một vài lĩnhvực hay khía cạnh mà còn phổ biến mọi nơi cả trong tự nhiên, xã hội lẫn tư duy.Cuối cùng là tính chu kỳ của quy luật Chu kỳ thể hiện ở hình xoáy ốc: nó cho sự

Trang 13

biến đổi mang tính kế thừa của sự phát triển, vận động Ở phủ định lần thứ nhất,

sự vật, hiện tượng trở thành cái đối lập với chính nó Tiếp theo, ở lần phủ địnhthứ hai, sự vật, hiện tượng mới ra đời mang nhiều nội dung tích cực của cái cũhoà lẫn nội dung đối lập - đây được gọi là quá trình phủ định của phủ định, tức làlặp lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, hoàn thiện hơn

 Ý nghĩa phương pháp luận:

Thứ nhất, quy luật này chỉ ra khuynh hướng tiến lên của sự vận động của sự vật,hiện tượng; sự thống nhất và tính kế thừa của sự phát triển Thứ hai, quy luật nàygiúp con người có nhận thức đúng đắn về sự phát triển Sự phát triển của bất kỳ

sự vật nào cũng quanh co, phức tạp Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng Do

đó, cần có cách tác động phù hợp với yêu cầu phát triển Thứ ba, quy luật nàycòn giúp nhận thức đầy đủ hơn về sự phát triển cũng như sự xuất hiện của các sựvật, hiện tượng mới Thứ tư, trong hoạt động con người phải biết phát hiện cáimới và ủng hộ, tạo điều kiện cho cái mới phát triển thay thế cái cũ đã lạc hậu

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ GIỚI

1 Giới là gì? Giới tính là gì?

Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ

Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ

xã hội

Giới tính do các yếu tố sinh học quyết định, mang tính bẩm sinh và đồngnhất (nam và nữ khắp nơi trên thế giới đều có chức năng/cơ quan sinh sản giốngnhau), không thể thay đổi được và cũng không nằm trong khả năng lựa chọn củacon người

Nhưng về khía cạnh giới, những đặc điểm giữa nam và nữ trong các mốiquan hệ xã hội lại có thể hoán đổi cho nhau , tùy theo nhiều yếu tố ngoại cảnh tácđộng mà chúng sẽ thay đổi theo thời gian và không gian, từ nước này sang nướckhác, từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác để thích nghi với từng đặc trưng

xã hội…Bên cạnh đó, các đặc tính xã hội cũng không mặc định dành riêng chobất kỳ giới nào Từ nghề nghiệp, tính cách đến quyền lợi, cả hai giới đều cóquyền bình đẳng chung như nhau, nếu phụ nữ có thể mạnh mẽ, có thể trở thànhphi công, thợ máy thì chuyện nam giới dịu dàng hay làm những công việc nhưtrông trẻ cũng là điều hết sức bình thường Chính vì vậy, việc hướng đến một xãhội tiến bộ không còn thực trạng bất bình đẳng giới là vô cùng quan trọng, là yêucầu tất yếu của sự phát triển để các cá nhân đều được tôn trọng và có cơ hội pháthuy tốt tiềm năng bản thân

Trang 14

2 Bình đẳng giới là gì?

Theo Quy định của Luật Bình Đẳng Giới (2007):

Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điềukiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của

gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó (Khoản 3 và Khoản 6 Điều 5)

Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới (Điều 6)

1 Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

2 Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới

3 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử vềgiới

4 Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử vềgiới

5 Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thipháp luật

6 Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình,

cá nhân

3 Bất bình đẳng giới là gì? Thước đo bất bình đẳng giới

Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và

cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đóng góp vàhưởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước

Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới vàphụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụhưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

Các dạng tồn tại bất bình đẳng giới: gánh nặng công việc, sự phân biệt đối

xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những định kiến dập khuôn và bạo lựctrên cơ sở giới tính.[13]

Chỉ số phát triển giới (GDI) là thước đo phản ánh sự bất bình đẳng giữa

nam và nữ trên cơ sở đánh giá sự phát triển chung của con người theo các yếu tốthu nhập, tri thức và tuổi thọ

GDI nhận giá trị trong khoảng 0 đến 1 Khi GDI càng tiến đến giá trị 0 thìmức độ chênh lệch giữa hai giới càng lớn và ngược lại

Chỉ số vị thế về giới (GEM) là thước đo phản ánh sự bất bình đẳng giữa

nam và nữ trong các lĩnh vực hoạt động chính trị, lãnh đạo quản lý, kỹ thuật,chuyên gia và thu nhập

Trang 15

Theo khái niệm về GEM, sự bình đẳng về vai trò của giới chỉ đạt được khicác chỉ tiêu phản ánh đề cập trong mục 2 đạt trị số 50% và người ta dùng trị số50% làm giá trị cực đại trị số GEM bằng 0% sẽ có sự bất bình đẳng tuyệt đối (giátrị tối thiểu) [5],[6]

II THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM

Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Việt Nam được đánh giá là mộttrong số các quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong 20 năm qua ởkhu vực Đông Nam Á, đặc biệt là sau 10 năm thực hiện Chiến lược bình đẳnggiới Tuy nhiên thực trạng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại dưới nhiều hìnhthức trong xã hội, để lại hậu quả khôn lường ảnh hưởng đến sự phát triển củatừng cá nhân và cả cộng đồng

1 Về tư tưởng

Theo F.Engels: “Sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện trong lịch sử là trùngvới sự phát triển đối kháng giữa chồng và vợ trong hôn nhân cá thể và sự áp bứcđầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà”, có thể thấy rằng sự

áp bức giới xảy ra từ rất sớm và người phụ nữ chính là nạn nhân đầu tiên của vấnnạn này Đến tận bây giờ khi xã hội ngày càng trở nên tiến bộ, những hệ tư tưởngbất bình đẳng giới tuy có phần giảm thiểu nhưng vẫn tồn tại như một “thế lực”gây cản trở với nhiều cá nhân trong quá trình phát triển

Cụ thể ở Việt Nam, có thể điểm qua tư tưởng “trọng nam khinh nữ” lâu đời

đã ăn sâu vào đời sống của nhiều thế hệ dẫn đến tình trạng kén chọn giới tính khisinh con, hay những đặc quyền giới vô căn cứ để tiếp cận giáo dục, nghề nghiệp

và vị thế xã hội Không chỉ vậy, một số định kiến về tính cách, ngoại hình, hoặcnghĩa vụ của từng giới tưởng chừng là khuôn mẫu chung nhưng thật ra lại mang

tính áp đặt nặng nề: con gái phải dịu dàng, thùy mị, phải làm hết việc nhà, phải đầy đủ “công, dung, ngôn, hạnh”, con trai phải mạnh mẽ, quyết đoán, phải là trụ cột gia đình đảm đương nhiều việc.

Cứ như vậy, chúng ta đã vô tình tạo cơ hội để tư tưởng phân biệt giới được

“tiếp nối” qua nhiều thế hệ, ngay cả những người từng là nạn nhân của bất bìnhđẳng giới vẫn có thể trở thành thủ phạm ngay sau đó Và không chỉ ở phụ nữ, cácvấn đề về nam giới tuy ít nhắc đến nhưng cũng cần nhận được quan tâm kịp thời

Vì hơn hết, bất bình đẳng giới là vấn nạn chung của xã hội và nạn nhân có thể làbất kỳ ai trong chúng ta, chỉ khi có sự đồng lòng từ công chúng mới có thể giảiquyết triệt để vấn đề luận theo quan điểm duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin

2 Về lao động

Có thể thấy rằng, phụ nữ thiệt thòi hơn nam giới về rất nhiều mặt trong laođộng

Đầu tiên là về cơ hội việc làm, phụ nữ có nguy cơ trở thành lao động gia

đình cao hơn gấp đôi so với nam giới trong khi lại chiếm tỉ trọng thấp hơn trong

Trang 16

tất cả các hình thức lao động còn lại Cụ thể theo Điều tra Lao động Việc làm củaTổng cục thống kê năm 2019, phụ nữ lao động gia đình ở Việt Nam chiếm19,42% so với số liệu của nam giới là 9,21%, một khoảng cách giới quá đáng kể

bị ảnh hưởng phần lớn do định kiến công việc nội trợ và người phụ nữ phải gắnliền với nhau Điều đó đồng nghĩa rằng khả năng tự làm chủ cuộc đời của họcũng bị hạn chế hơn rất nhiều, trong khi những công việc mang tính chất ổn định

về thu nhập, có nhiều chính sách bảo đảm như làm công ăn lương riêng nam giới

đã chiếm hơn nửa bảng số liệu vào năm 2019 (51,45%)

Trong lĩnh vực chính trị, sự tham gia của phụ nữ cũng là nhân tố quan trọnggiúp nâng tầm vị thế xã hội phái nữ và góp phần giảm thiểu, chấm dứt các hìnhthức phân biệt đối xử Dù đã đạt được những thành tựu nhất định như đứng thứ

51 trên thế giới về tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội sau Quốc hội khóa XV theo thống

kê của Liên minh Nghị viện Thế giới nhưng nhìn chung, tiếng nói của phụ nữvẫn chưa chưa tương xứng với khối lượng công việc và trách nhiệm mà họ gánhvác

Trong các cấp ủy đảng: Dựa vào kết quả đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ

2020-2025, tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp cơ sở đã tăng 1,62% (20,8%), cấp trên cơ

sở đạt 17,4% và số liệu này ở các đảng bộ trực thuộc Trung ương là 15,73% sovới nhiệm kỳ trước

Trong các cơ quan dân cử: Theo thống kê từ kết quả bầu cử đại biểu Quốc

hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XVlần đầu tiên vượt qua mức 30% (30,26%) Bên cạnh đó, tỷ lệ nữ đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026 đạt 29%, cấp huyện là 29,8%; cấp

xã là 28,98%

Trong bộ máy hành chính nhà nước cấp Trung ương và địa phương: Tính

đến hết tháng 7-2020, tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

có lãnh đạo nữ đạt 36,6% (11/30), trong đó có 11/16 nữ thứ trưởng các bộ, cơquan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.[24]

Đối với những ngành nghề khác, đặc biệt là nghề giáo viên, mức độ ảnhhưởng của định kiến giới vẫn còn rất rõ rệt Hệ quả là số lượng giáo viên nam ởcác cấp còn quá ít dẫn đến thiếu hụt hình mẫu tích cực để học sinh có thể noitheo và đồng thời còn hạn chế khả năng phát triển toàn diện của giáo dục Theotính toán từ Niên giám thống kê Bộ Giáo dục và Đào tạo trong năm học 2018-

2019, số lượng giáo viên nam có xu hướng giảm dần từ cân bằng ở bậc đại họctới các trường tiểu học chỉ còn chiếm 1/4 tổng số giáo viên

Thứ hai là vềthu nhập, theo Thông tin thống kê giới tại Việt Nam 2020 của

Tổng Cục thống kê, mức thu nhập bình quân của phụ nữ (4,6 triệu đồng) luônthấp hơn nam giới (5,6 triệu đồng) ở đa số ngành nghề, khoảng cách giới đặc biệtcao đối với nhóm lao động lớn tuổi hoặc khu vực kinh tế nông nghiệp.[6] Thậmchí là cùng trình độ học vấn, chênh lệch mức thu nhập giữa hai giới cũng không

có sự thay đổi nào đáng kể Theo Báo cáo Tóm tắt Chính sách số 2- 03/2018 củaEAPGIL, một trong những lý do dẫn đến tình trạng này là thay vì chọn làm việctrong những ngành nghề thu nhập cao, phụ nữ có xu hướng quan tâm đến cácphúc lợi phi tiền tệ như nghỉ phép có lương, số giờ làm việc trong tuần ít hơn,

Trang 17

bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội để đảm bảo cho cuộc sống gia đình không bịảnh hưởng.

Thứ ba làcông việc nội trợ, trong khi phụ nữ dành trung bình 20,2 giờ một

tuần cho việc nhà, số liệu ở nam giới chỉ bằng một nửa ( 10,7 giờ) và tệ hơn, cóđến gần 20% nam giới cho biết họ không hề dành bất kỳ thời gian nào làm nộitrợ

Thứ tư là sự chênh lệch giới trong trình độ chuyên môn Theo khảo sát cho

thấy, cứ 4 lao động nam có việc làm thì có 1 người đã qua đào tạo, số liệu nàynhỉnh hơn ở nữ giới nói chung một đơn vị và đặc biệt ở khu vực nông thôn, laođộng nữ được đào tạo chỉ đạt 12,3% năm 2019 Vì nhìn chung, việc phổ cập cáchoạt động sản xuất thường nhắm đến đối tượng nam hơn (chủ hộ gia đình) rồisau đó mới được truyền đạt lại, dẫn đến thực trạng phụ nữ có rất ít cơ hội để tiếpcận nguồn lực, trực tiếp tham gia tập huấn nâng cao tay nghề hay cải thiện trình

độ học vấn của mình

(Tổng Cục thống kê (2020), Thông tin thống kê giới tại Việt Nam 2020, Nxb

Thống kê, Hà Nội.)

3 Về giáo dục - đào tạo

Có thể nói rằng, đây chính là lĩnh vực đạt được nhiều thành tựu rõ nét nhấttrong nỗ lực chấm dứt bất bình đẳng giới ở Việt Nam Tỷ lệ biết chữ và tỷ lệnhập học các cấp luôn ở mức cao với cả nam (97%) và nữ (94,6%) năm 2019mặc dù những khu vực vùng sâu vùng xa nhuư Trung du miền núi Bắc Bộ hayTây Nguyên số phụ nữ không biết chữ vẫn còn tương đối nhiều.[6] Nhưng nhìnchung, các định kiến giới trong giáo dục như ‘con gái không cần học nhiều vì dù

gì sau này cũng lấy chồng’ hay ‘con trai nên nghỉ học sớm để giúp đỡ gia đình’

đã giảm thiếu đáng kể, đa phần người dân đều ý thức được tầm quan trọng củaviệc học và tích cực tạo điều kiện tiếp cận trường lớp cho trẻ em

Ngoài ra theo số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình 2019, tỷ lệ người cóbằng thạc sỹ, tiến sỹ đã đạt 0,44% trong đó số lượng nữ thạc sỹ, tiến sỹ chỉ chiếmhơn 1/3 trong tổng số người có bằng thạc sỹ, tiến sỹ tại Việt Nam

do của người đó…

Bạo lực giới xảy ra ở nhiều hình thức: từ bạo lực gia đình, hôn nhân, môitrường giáo dục, làm việc đến các hành vi lạm dụng tình dục, hoạt động mại dâm,mua bán người, , ảnh hưởng không chỉ riêng phụ nữ mà cả nam giới cũng có thểtrở thành nạn nhân của thực trạng này

Kết quả từ hai cuộc khảo sát quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ trong năm

2010 và 2019 cho thấy, tỷ lệ tất cả các hình thức bạo lực đối với phụ nữ do chồng

Trang 18

gây ra ở Việt Nam năm 2019 thấp hơn so với năm 2010, ngoại trừ bạo lực tìnhdục Cứ bốn phụ nữ thì có hơn một phụ nữ bị bạo lực thể xác do chồng hiện tạihoặc chồng cũ gây ra trong đời Cứ tám phụ nữ thì có một phụ nữ bị chồng hiệntại hoặc chồng cũ bạo lực tình dục trong đời, trong đó bị ép quan hệ tình dục tráimong muốn là hành vi phổ biến nhất Ngoài bị bạo lực từ chồng, phụ nữ còn cónguy cơ bị bạo lực do người khác Cứ mười phụ nữ thì có hơn một phụ nữ (11%)

bị người khác không phải là chồng bạo lực thể xác từ khi 15 tuổi Đáng buồn hơn,hầu hết phụ nữ (90,4%) bị bạo hành do chồng hoặc bạn tình gây ra chưa từng tìmkiếm bất kỳ sự hỗ trợ nào từ các cơ quan chính quyền mà chỉ âm thầm chịu đựng,dẫn đến hậu quả bạo lực giới ngày càng trở nên phức tạp và trầm trọng

Ngoài ra nạn tảo hôn, quấy rối tình dục, mua bán người, trên cơ sở bạo lựcgiới vẫn còn là những vấn đề vô cùng nhức nhối, đặc biệt đối với người khuyếttật, trẻ em, phụ nữ ở nông thôn, số liệu thống kê được có khoảng cách tương đốicách biệt so với tình hình chung cả nước Chính vì vậy việc quan tâm và tìm ranhững giải pháp phù hợp với nhóm đối tượng dễ tổn thương nêu trên cũng đặt ranhiều thử thách trong công cuộc xóa bỏ bất công xã hội

Đối với nam giới - những nạn nhân ít được nhắc đến hơn trong các cuộckhảo sát về bất bình đẳng giới hay vấn đề bạo hành nói riêng, nhưng trên thực tếnhiều người trong số họ vẫn đang phải đối mặt với bạo lực giới, họ cũng cầnđược cảm thông và có cơ hội lên tiếng bảo vệ chính mình Cụ thể, gánh nặnghình mẫu trên vai nam giới về một người đàn ông nam tính, mạnh mẽ, “ga-lăng”với phụ nữ và kiếm được nhiều tiền vẫn còn rất phổ biến, những định kiến vềtính cách và vai trò giới tính dựa vào thể chất, tinh thần chính là lý do khiến họphải im lặng chịu đựng thay vì tự do bày tỏ cảm xúc của mình

Hơn nữa, xu hướng tấn công tình dục trẻ em trai dạo gần đây cũng tăng lênkhông ít Theo Thống kê của Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an, 16% nạn nhân trẻ

em bị xâm hại tình dục là trẻ nam, trong khi thực tế thực tế tình trạng này phổbiến nhiều hơn chúng ta nghĩ Với quan điểm con trai “không mất gì trongchuyện đó”, chúng ta đã vô tình góp phần làm tăng nguy cơ lạm dụng đối với trẻ

em trai và quả thật, các bậc phụ huynh cũng như xã hội vẫn chưa có cái nhìn đầy

đủ đến vấn đề này nếu so với trẻ em gái - những nạn nhân quen thuộc Nắm bắtđược tâm lý chung của cộng đồng, kẻ xấu thường lợi dụng điểm chí mạng này đểquấy rối tình dục trẻ em trai nhằm giảm khả năng bị tố giác hoặc kiếm cớ đây chỉ

là hành động đùa giỡn bình thường biện minh cho việc làm sai trái Một trongnhững động thái nguy hiểm nhất là thay vì ép buộc, xâm hại nhanh như các bégái, chúng còn dụ dỗ, kích động, khuyến khích các bé trai tiếp xúc văn hóa đồitrụy để khơi dậy bản năng “tự nguyện” thực hiện các hành vi tình dục

5 Những thiếu sót trong việc thực hiện bình đẳng giới

Bên cạnh những hậu quả trực tiếp của bất bình đẳng giới, việc thực hiệnbình đẳng giới sai cách cũng có thể tiềm ẩn hệ lụy khôn lường, có khi còn trầmtrọng hơn vì ít ai nhận thấy được Bởi ta không thể dùng bất công để giải quyếtmột bất công khác, dùng định kiến để xoá bỏ một định kiến khác mà thay vào đó,một thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn theo phép biện chứng duy vật mớithực sự cần thiết để hạn chế sai lầm và hướng tới sự phát triển chung của xã hội

Trang 19

Dù đã gặt hái một số thành tựu khả quan nhất định, những thiếu sót trong quátrình thực hiện bình đẳng giới vẫn còn tồn tại, đặt ra nhiều thách thức cần đượcnhìn nhận và giải quyết kịp thời.

Vấn đề đầu tiên, luật pháp vẫn còn nhiều lỗ hổng Bên cạnh nỗ lực xây

dựng hệ thống tư pháp ngày càng hoàn chỉnh, theo một số chuyên gia, sự tồn tạinhững thiếu sót, chưa đồng bộ trong nội dung vẫn đang ít nhiều cản trở bình đẳnggiới Bà Lê Thị Thu Hằng (Đoàn Luật sư TP HN) cho biết, các quy định về hành

vi bạo lực tại Điều 2, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn chung chung,không đầy đủ, dễ dẫn đến việc bỏ sót hoặc khó xác định hành vi phạm tội; và dù

có tiến hành xử lý đi chăng nữa, các hình phạt đưa ra tương đối vẫn nhẹ nhàng,chưa đủ sức răn đe Ngoài ra theo bà Lê Thị Phương Thúy (Trưởng phòng thamvấn, Trung tâm Phụ nữ và phát triển - Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam), việctiếp cận cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về vấn đề này của các nạn nhân cònnhiều hạn chế Không chỉ thiếu thông tin từ chính quyền, nhiều địa phương còn

có xu hướng giải quyết qua loa, xem đây chỉ là vấn đề gia đình riêng tư thay vìđưa ra biện pháp triệt để Bên cạnh đó, cách vận dụng pháp luật vào thực tiễn đôilúc còn khá nặng định kiến giới, thiếu công bằng, dễ dẫn đến tình trạng cổ vũ tưtưởng sai lệch hoặc cảm thông, bao che cho quan niệm cổ hủ, có thể điểm quaquy định về tình tiết giảm nhẹ “phạm tội do lạc hậu”

Vấn đề thứ hai, nội dung truyền thông lệch chuẩn Thay vì sử dụng sức

mạnh ấy như một phương tiện để nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, khôngthể phủ nhận rằng ngày càng nhiều những bất cập xuất hiện rất cần được quantâm và xử lý kịp thời Bởi bất kỳ thông tin nào được lan truyền đều tiềm ẩn cáctác động nhất định, sự xuất hiện nhiều hơn của một giới trong lĩnh vực nào đócũng có thể dẫn đến tư tưởng mặc định: cứ đề cập nữ giới sẽ liên quan đến côngviệc nội trợ, mỹ phẩm, làm đẹp, còn đàn ông thì không thể thiếu trong các quảngcáo về bản lĩnh “phái mạnh”- làm những việc lớn hay kiếm thật nhiều tiền.Chúng ta có thể xem đây là sự phù hợp với từng giới tính nhưng ở một góc độkhác, phải chăng chính nội dung ấy đã ngày càng “đóng đinh” tư tưởng, làm hạnchế đi khả năng tiếp cận nguồn lực chung và mặc nhiên gập khuôn bình đẳnggiới bằng quan điểm chủ quan của mình Con đường tiến đến xóa bỏ bất công sẽthêm phần trắc trở nếu ngay từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất vẫn không có đủ cởi

mở với bình đẳng như vậy Thay vào đó, một thái độ tích cực từ cộng đồng cùngvới những chính sách phù hợp của nhà nước sẽ có ý nghĩa rất lớn để tạo ra môitrường truyền thông lành mạnh, ngày càng nâng cao nhận thức xã hội về bìnhđẳng giới

Vấn đề thứ ba, những quan điểm sai lầm về bình đẳng giới Dù mang

danh bình đẳng nhưng nó lại đi ngược hoàn toàn với mục đích cuối cùng của sựphát triển cũng như phủ định tất cả thành tựu chống bất công đã đạt được Sựlệch lạc trong tư tưởng đem lại rất nhiều hệ lụy cho xã hội, ngoài việc phản tácdụng còn khiến bình đẳng giới mất đi ý nghĩa tốt đẹp ban đầu Bởi cuộc đấutranh ấy không giành thắng lợi cho riêng một giới nào cả mà đó là hành trìnhcùng nhau tìm đến tự do, hạnh phúc… Bản thân đàn ông hay phụ nữ đều khôngxứng đáng phải chịu những nỗi đau, áp lực vì bị phân biệt hay không có cơ hội

Ngày đăng: 02/11/2022, 20:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2021), Giáo trình Triết học Mác – Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lênin (Dànhcho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị)
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốcgia – Sự thật
Năm: 2021
2. Cơ quan Liên Hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (2021), Tổng quan về bình đẳng giới ở Việt Nam 2021, UN Women, Hà 3. Nội. Lâm Bá Hoà (2019), Học thuyết luân lý và đạo đức Nho giáo ảnh hưởngcủa nó đến văn hóa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về bình đẳng giới ở Việt Nam 2021", UN Women, Hà"3." Nội.Lâm Bá Hoà (2019),"Học thuyết luân lý và đạo đức Nho giáo ảnh hưởng
Tác giả: Cơ quan Liên Hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (2021), Tổng quan về bình đẳng giới ở Việt Nam 2021, UN Women, Hà 3. Nội. Lâm Bá Hoà
Năm: 2019
8. Human Development Report (1995), Public for the United Nation, Development Programme, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public for the United Nation
Tác giả: Human Development Report
Năm: 1995
11. World Bank (2020), Women, Business and the Law 2020: 50 years of women's rightsWebsite Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Bank (2020), "Women, Business and the Law 2020: 50 years ofwomen's rights
Tác giả: World Bank
Năm: 2020
9. United Nations Entity for Gender Equality and the Empowerment of Women (2018), Turning promises into action: Gender equality in the 2030 agenda Khác
40660.html?fbclid=IwAR3AcbyPBtxnxiyfnEiMEllYpRowG2HcU4b1hos8n-dm3KWlxV5-HNIBPTU ngày truy cập: 18/12/2021 Khác
GT0J82R2eGqWP7amKA3xF6Vbhh8pC3zZqc6UjXuN7VRN5A8 ngày truy cập: 5/1/2021 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w