I SỰ HÌNH THÀNH CỦA TRƯỜNG PHÁI JAINA Trường phái triết học Jaina cho nhiệm vụ chính của mình là chỉ ra con đường và phương tiện để giải phóng linh hồn bất tử ra khỏi sự ràng buộc của thể xác và thế giới nhục dục. Nhưng họ lại phủ nhận sự sáng tạo ra thế giới của Thượng đế, thần linh hay một lực lượng “Tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman nào đó. Chính vì thế, trường phái Jaina đã được xếp vào hệ thống triết học không chính thống.
Trang 1I/ SỰ HÌNH THÀNH CỦA TRƯỜNG PHÁI JAINA
Trường phái triết học Jaina cho nhiệm vụ chính của mình là chỉ ra con đường và phương tiện để giải phóng linh hồn bất tử ra khỏi sự ràng buộc của thể xác và thế giới nhục dục Nhưng họ lại phủ nhận sự sáng tạo ra thế giới của Thượng đế, thần linh hay một lực lượng “Tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman nào
đó Chính vì thế, trường phái Jaina đã được xếp vào hệ thống triết học không chính thống
Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Jaina là nhà hiền triết Nagantha Nataputta (gia tộc Nata), có tên riêng là Vardhamana, là con trai của vị võ tướng quý tộc Ks’atriya có nhiều quyền lực thuộc bộ lạc Lichchavi, tên là Siddhavira cùng phu nhân là Trisana Ông sinh năm 557 TCN và mất năm 485 TCN, ông nổi tiếng với danh hiệu tôn quý như Mahavira (Đại hùng) và Jina (Thắng giải) Tên gọi của trường phái triết học này, Jaina, xuất phát từ biệt hiệu Jaina ấy
Vardhamana lớn lên trong gia đình quyền quý và được tiếp nhận một nền giáo dục căn bản dành cho đẳng cấp Ks’atriya Khi đến tuổi trưởng thành, Vardhamana kết hôn và có một con gái Có lẽ đó là một đạo sĩ có thật trong lịch
sử, tương truyền xuất thân từ Benares, đám môn đồ của ông được gọi là Nigantha (Ni Kiênf Tử - Ly Hệ Phược) Ông cho rằng sự tái sinh là bất hạnh mà sự chết là một đại phúc trời ban, cho nên, ông thực hiện một phương pháp tu luyện kỳ quặc theo giáo lý khổ hạnh thật nghiêm khắc đến độ đạt tới sự thanh tịch tinh thần để tiêu trừ dục vọng, diệt trừ nghiệp quá khứ Họ giảm mức ăn uống xuống dần cho đến khi sức sống của thân thể triệt tiêu dần cho đến chết, và như thế, chết rồi không còn tái sinh được nữa Theo bước chân cha mẹ, người anh trai lớn của Vardhamana là Nandivarhana lãnh nhiệm vụ chính trị và dùng thế lực ở Vaishali
để truyền bá đạo Nigantha khổ hạnh Khi Vardhamana 31 tuổi, cha mẹ ông đã tự ý
Trang 2đau khổ về hai cái tang đó, Vardhamana không màng thế tục, danh vong, bỏ hết của cải, nhà cửa, y phục đi lang thang khắp miến Tây Bengale như một nhà tu khổ hạnh để diệt dục vọng, diệt ý chí sống, tìm huệ giác nhằm đạt tới sự tinh khiết của linh hồn Lúc đầu, ông làm du sĩ khổ hạnh, chỉ đắp một y, nhưng sau mười ba tháng ông thoát y và từ đó “mặc không khí”, tức lõa thể Vardhamana tự buộc mình vào những điều luật rất khắc nghiệt Tương truyền ông đã dựng một bức tường cao quanh mình để hành thiền bên trong Sau hai năm hai tháng hành thiền như vậy, ông bắt đầu du hành từ vùng Trung nguyên tiến vào phía Tây vịnh Bengale Sau mười ba năm hoàn toàn thoát ly xã hội, tu luyện khổ hạnh, ép xác, Vardhamana giác ngộ thành “Thắng giả” (Jina- có nghĩa là người chiến thắng hay người chinh phục), và ông được coi là bậc “toàn tri kiến”, tức một đại sứ đồ, một bậc thánh nhân, mà nhiều người cho rằng cứ cách một khoảng thời gian nhất định lại xuất hiện trên thế gian này, đem ánh sáng chân lý và đạo đức lý tưởng chỉ lối cho nhân loại đang ngụp lặn trong tội lỗi và sa đọa Các môn đệ của ông đã đổi tên ông thành Mahavira, tức là “Vị anh hùng vĩ đại”, và tự gọi là phái Jaina, theo tư tưởng triết học và tín ngưỡng đặc biệt của họ
Sau ba mươi năm hành đạo và tạo nên sự nghiệp, Mahavira từ trần tại Pava (nay là Pavapuri) gần Patna vào năm 485 TCN , do ông tự nhận đói chết Tư tưởng triết lý của đạo Jaina được ghi lại trong kinh điển Phật giáo cổ bằng tiếng Pali, nhưng lại thiếu phần chủ yếu của hệ thống triết học này Thế kỉ II sau công nguyên, các môn đồ của phái Jaina đã ghi chép lại khá đầy đủ tư tưởng của phái Jaina và được lưu truyền theo ngôn ngữ Ardhamagadhi của sư tổ Mahavira cùng với ngôn ngữ Sanskrit
Trước thời Vardhamana, người Ấn Độ đã căn cứ vào sự nghiệp tu luyện và công đức của các bậc đạo sĩ mà tôn được 23 vị đại đức lên thành bậc cứu thế (Jirthamkara) Vardhamana được tôn thành bậc cứu thế thứ 24 Sau khi ông mất, Jaina giáo cùng với Phật giáo song song phát triển Jaina được coi là một trong hai
Trang 3trường phái triết học tôn giáo lớn phát triển và ảnh hưởng rộng rãi ở miền Tây Bắc Ấn
II/ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC JAINA
1 Quan niệm về thế giới
Cơ sở triết lý của phái Jaina là học thuyết vê những bản chất, những ẩn nguyên là chất liệu ban đầu tạo dựng nên thế giới và đồng thời là chân lý cơ bản
để từ đó xây dựng nên tri thức Hai bản chất đó chính là:
- Jiva, tức linh hồn hay sinh mệnh
- Adjiva, tức tất cả nhưng gì không phải là linh hồn
Theo Mahavira, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới, dù thiên hình vạn trạng, đều do các loại thực thể đó cấu thành Trong đó, nếu linh hồn ứng hiện vào loại thực thể vật chất nào thì thực thể đó có sinh mệnh Còn lại là loại thực thể phi sinh mệnh
Bản chất linh hồn Jiva tuy vô hình, nhưng thực sự vẫn tồn tại, bởi vì, khi linh hồn đem lại sinh mệnh cho cá loại vật chất chứng tổ linh hồn tồn tại Vậy linh hồn là “sinh mệnh nằm trong thực thể” Tuy nhiên, khi nào linh hồn rút cái năng lực sinh mệnh của mình ra khỏi thực thể vật chất thì linh hồn sẽ trở lại hư vô, chứ
nó không ở lại và tiêu tan cùng với thực thể
Những thực thể phi linh hồn (adjiva) gồm có bốn loại là:
- Vận động (dharma – pháp),
- Đứng im ( adharma – bất pháp),
- Hư không (akasa),
- Vật chất (pudgala)
Như vậy, trong toàn thể vũ trụ chỉ gồm có năm loại thực thể, đó là vận động, đứng im, hư không, vật chất ( là những loại thuộc về adjiva) và linh hồn
Trang 4(jiva) Trong vũ trụ, linh hồn và phi linh hồn luôn tương nhau để tạo thành vạn vật
Thực thể có hai loại thuộc tính: thuộc tính căn bản và thuộc tính ngẫu nhiên Các thuộc tính hay các dấu hiệu căn bản tồn tại trong thực thể chừng nào thực thể
đó vẫn tồn tại Nhờ chúng nên thực thể có bản chất không thay đổi và có tính tất nhiên Ngoài các thuộc tính, các dấu hiệu căn bản, thực thể còn có những thuộc tính không căn bản, có tính ngẫu nhiên Các thuộc tính này xuất hiện rồi lại mất
đi Chính các thuộc tính không căn bản đã giải thích vì sao thực thể có tính chất thường xuyên biến đổi và luôn biến dạng Tính không biến đổi tồn tại thực tế chừng nào thực thể còn tồn tại như cũ, và sự biến đổi cùng tồn tại thực tế, khi xét
về bên ngoài, thực thể biến đổi theo các điều kiên khác nhau
Tính thực tại của thực thể được đắc trưng bằng ba yếu tố sau đây: tính biến đổi, sự sinh ra và sự tiêu tan Thế giới gồm có các thực thể thường xuyên xuất hiện, tồn tại và tiêu hủy, còn bản thân thế giới thì không có khởi đầu và kết thúc;
nó tồn tại vĩnh viễn trong hư không (akasa) Hư không là cái biển bao la vô cùng
vô tận, trong đó, bao chứa sự sinh tồn của toàn bộ các lại thực thể Các thực thể lại chia ra thành các thực thể có tính quảng tính và các thực thể không có tính quảng tính Chỉ có thời gian mới thuộc về các thực thể không có quảng tính mà thôi Các thực thể có quảng tính lại gồm hai loại: loại có có sinh mệnh và loại không có sinh mệnh Loại có sinh mệnh là loại linh hồn Jiva thể hiện ở trong đó Theo trường phái triết học Jaina, vật chất là một trong những biến thể của Adjiva Vật chất là thực thể vĩnh viễn, nó có thể mang bất kì một hình thức nào và có thể mở ra các chất lượng khác nhau Các đối tượng của tự nhiên như đất, nước, lửa, không khí
và cả thân thể, trí óc, lờ nói, hơi thở của con người Tất cả đều là sản phẩm của vật chất, chỉ từ có linh hồn và không gian Vật chất có những đặc tính như sờ mó được, âm thanh, mùi, màu sắc và vị; đồng thời, nó cũng mang các khả năng xúc giác, thính giác, vị giác, thị giác, khướu giác
Trang 5Vật chất còn được chia ra làm loại vật chất thô sơ và loại vật chất tinh tế Những cái mà cảm giác chúng ta nhận thức được, nghĩa là các vật thể thông thường đều là vật chất thô sơ; còn những cái mà ta không thể nhận thức được bằng cảm giác thì đó là loại vật chấ tinh tế Vật chát tinh tế quyết định mối liên hệ và ràng buộc linh hồn với thể xác con người
Các đối tượng vật chất mà cảm giác lĩnh hội được, gồm có các nguyên tử (anu) Có hằng hà sa số những nguyên tử Nguyên tử có các đặc tính như là những cái đầu tiên vốn có, cực kì nhỏ bé, không thể nhìn thấy, không có khởi đầu không
có kết thúc, không thể phân chia, không biến đổi và tồn tại vĩnh viễn, không do ai tạo ra mà cũng không ai có thể phân hủy được chúng Các vật thể vật chất (kể cả
cơ thể con người) xuất hiện do sự kết hợp của các nguyên tử khi chúng hấp dẫn lẫn nhau Theo trường phái Jaina, các nguyên tử không khác nhau về mặt chất lượng, chúng đồng nhất với nhau và chỉ có bằng cách kết hợp với nhau theo nhiều dạng khác nhau chúng mới tạo ra được các nguyên tố, các vật thể đa dạng, phong phú khác nhâu trong thế giới mà thôi
Bên cạnh quan điểm duy vật chất phác về thực thể, vật chất, nguyên tử, trường phái Jaina khẳng định rằng không có “linh hồn vũ trụ tối cao” Brahman, không có thượng đế tối cao sáng tạo và chi phối thế giới Trong thế giới có một số lượng rất lớn và cố định những linh hồn được thể hiện ra trong các cơ thể sống (có sinh mệnh) hoặc không được thể hiện ra Linh hồn cũng như vật chất không do ai tạo ra mà nó tồn tại ngay từ đầu và tòn tại mãi mãi Chính ở quan điểm này, trường phái triết học Jaina đã thể hiện tính chất nhị nguyên luận trong lập trường triết học của mình
Theo trường phái Jaina, tự bản chất vốn có của linh hồn, dưới dạng tiềm năng, linh hồn có một năng lực vô song, toàn năng, thanh khiết và vươn lên; nó có thể thâm nhập được tất cả, hiểu biết tất cả và chính nó truyền sinh lực, sức sống
Trang 6hay sinh mệnh cho tất cả Linh hồn tuy là một lực lượng toàn năng nhưng khả năng của nó lại bị hạn chế bởi những thân xác cụ thể mà linh hồn biểu hiện, trú ngụ trong nó Thể xác với những cảm giác, ý chí, dục vọng đã vây tỏa tính giác ngộ toàn năng làm mờ ám tính thanh khiết, trong sáng bản nhiên của linh hồn, không còn giữ được bản lai thanh tịnh tuyệt đối, hoàn thiện, toàn năng của nó nữa Adjiva bao bọc, vây hãm linh hồn trong một thân xác sinh diệt vô thường, đầy nhục dục và gắn linh hồn với một số phận nhất định, làm cho linh hồn phải sống thời gian dài trong một bốn dạng tồn tại như con người, súc sinh, trời, địa ngục Khả năng toàn năng và tính chất thanh khiết bản nhiên của linh hồn có được hiên thực hóa hay không là tùy thộc sự hạn chế bởi ý chí, dục vọng và hành động của mỗi thân xác cụ thể của chúng sinh gây ra Đó là nghiệp lực (karmma)
Muốn giải thoát linh hồn toàn năng, tuyệt đối thanh khiết ra khỏi xiềng xích của thế giới trần tục và sự lôi kéo của thể xác, nhục dục, muốn dập tắt ngọn lửa dục vọng, diệt trừ nghiệp của quá khứ và không vướng phải nghiệp căn mới, nhằm đạt tới sự thanh tịnh, an nhiên của linh hồn, theo Mahavira, con người ta phải rèn luyện đạo đức và tu luyện trí tuệ trực giác bằng phương pháp tu luyện khổ hạnh ngiêm khắc theo luật ahimsha (bất tổn sinh) không sát sinh dù đó là sinh vật nhỏ như con kiến, con trùng, không ăn cắp, không nói dối, không dâm dục, không lấy bất cứ cái gì làm của riêng (nếu như đó không phải là vật được tặng; kèm theo mộtt kỉ luật sống khắc khổ nghiêm ngặt như chỉ ăn cơm với muối mè, giảm mức
ăn hằng ngày xuống cho đến khi cơ thể yếu dần để khi chết rồi không còn tái sinh được nữa Đồng thời, phải từ bỏ mọi thú vui trong cuộc sống để chăm chú, chuyên tâm thiền tịnh, chiêm nghiệm nội tâm, để cho tinh thần, linh hồn thực sự đạt tới sự
an nhiên, thanh tịnh, vô dục Họ cho toàn bộ những cảm giác của ngũ quan là tội lỗi, và lý tưởng đạt được là phải thản nhiên với vui, khổ, hoàn toàn không bị ngoại giới chi phối Chỉ có mỗi một sinh mạng mà họ có quyền diệt là mạng sống của chính họ và ý chí tái sinh của họ Khi tận diệt được dục vọng và ý chí ham sống,
Trang 7theo trường phái Jaina, điều đó chứng tỏ rằng linh hồn, tinh thần đã hoàn toàn thắng được ý chí dục vọng, mù quáng và sự ham sống của thể xác
2 Phương pháp luận
Thời kỳ Phật giáo và Jaina giáo xuất hiện cũng là lúc phong trào tự do tư tưởng thịnh hành Không khí tranh luận giữa các trường phái triết học, tôn giáo và các triết gia khác nhau khá sôi động Will Durant nói: “Thử hỏi có dân tộc nào đã nghĩ tới việc tổ chức các buổi lễ long trọng rồi mời tôn sư các phái triết kình địch nhau tới để đấu khẩu trước công chúng xem ai thắng ai bại, y như các võ sĩ tại đấu trường La Mã”, vì “không có xứ nào người ta mê triết học nhu ở Ân Độ Người
Ấn không coi triết học là một môn để tiêu khiển hoặc để trang sức trí óc mà coi nó
là ích lợi bậc nhất, cần thết cho cuộc sống hàng ngày” Trong cuộc tranh luận ấy, Mahavira cho rằng: “ Sự vật trên hế giới hiện ra dưới muôn vàn trạng thái, nếu không xét đến tổng quát của nguyên lí cấu tạo sự vật mà chỉ nhìn vào một khía cạnh, chỉ luận về trạng thái đã thể hiện của sự vật thì dẫu có tranh biện đến suốt đời cũng không đạt đến lẽ phải” Nghĩa là, theo Mahavira phải nhìn nhận sự vật trong mối liên hệ nhiều mặt, nhiều trạng thái khác nhau, cho nên, ông nói: “ Đừng
có lấy mắt mà hạn chế tầm suy luận Mắt chỉ nhìn thấy có một điểm (shyad) gần, nhưng sự vật thì trái lại là vạn điểm ở mãi xa tít không cùng Hơn nữa, dù chỉ có một điểm ở gần trước mắt, nhưng xai điểm áy cũng bao giờ là thưc thể, nào là hình thức, trạng thái, nào là nội dung; nhưng tất cả nhũng cái đó lại không thường định mà luôn biến đổi nay thế này, mai thế khác Như vậy nếu chỉ nhìn vào một phía của điểm đẻ luận toàn điểm thi lại sai nữa Cho nên luận về sự thật, giải thích
vê thế gian nên tránh cái độc đoán mà chỉ nên ở trên lập trường tương đối, trung dung; thấy thế này nhưng phải xem thế khác, luận ở phía này rồi nhưng hãy chờ phía kia xoay đến Như thế mới là phương pháp quan sát (naya) thích đáng hơn cả” Do chủ trương “học” và “luận” như vậy nên Jaina còn được gọi là chủ nghĩ bất định (syadvada) hay chủ nghĩa tương đối
Trang 8Chính với phương pháp luận ấy, Mahavira đã cực lực phản đối tính chất một chiều, đọc đoán và thái độ tuyệt đối hoá uy tín, tri thức, lễ nghi của kinh Veda và giáo lý đạo Bàlamôn Ông chủ trương nên có ý chí phục thiện, đón nhận sự phê phán từ nhiều phía khác nhau Đối với chế độ phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt và bất công trong xã hội Ấn Độ đương thời, ông nói:” Các con thấy gì chăng? Thuần
là sinh vật lại làm khổ sinh vật; thuần là con người lại ức hiếp con người Thế gian ngập tràn những khổ bố và giết chóc… Ôi! Rồi những kẻ yếu, những người không
có quyền lực đến bị hủy diệt hết mất thôi!”
III/ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG PHÁI JAINA SAU NÀY
Xuất phát từ giới luật khổ tu, không giữ riêng, nên Mahavira không mang trên mình lấy một mảnh vải che thân Tuy nhiên đạo Jaina cũng có một tông giáo cho samôn được mặc đồ trắng, gọi là phái Bạch y (Svetambara) với ý nghĩa trong trắng, thanh khiết Còn tông phái trung thành với đường lối không y của Mahavira thì vẫn lấy trời làm nhà, đất làm giường chiếu, mưa nắng làm quần áo, của cải không có gì hơn là một mảnh bát mẻ đi khất thực, gọi là phái “Lõa hình” (Digambara) Phái này khỏa thân bốn mùa, khắc kỉ khổ tu, tuyệt thực theo từng giai đoạn, từng thời kì Họ khổ luyện đoạn thực cho đến dộ thân hình gầy đét, khẳng khiu như cành mai già, hơi thở thoi thóp như sắp tàn hơi Càng khổ luyện đoạn thực bao nhiêu càng đức hạnh bấy nhiêu Đó là phương pháp “chỉ diệt pháp” (nirjara) của Jaina giáo Nó phá tác dụng thế lực ảnh hưởng của thân nghiệp Tham dục, tội lỗi, thân xác, vật dục, thế tục không còn chi phối và làm vẫn đục sự tinh khiết của linh hồn Con người trở nên an nhiên, tự tại, không còn phân biệt thời gian, mặc dù thân xác còn ở thế gian, đó chính là cõi Niết bàn (Nirvara)
Khi chết đi linh hồn chỉ làm một nhiệm vụ cuối cùng là trả thể xác, vật chất trở về với đặc tính vốn có của nó là tiêu tan, đi xuống để linh hồn thoát lên
Dưới triều đại Maurya, cuối thế kỉ IV TCN, Jaina giáo được nhà vua giúp
đỡ, nhưng nội bộ cũng có sự phân hóa Sự phân phái bắt đầu từ thế kỉ III TCN, hình thành hai tông phái Phái thứ nhất là phái Bạch y với bộ kinh điển được tu
Trang 9sửa, bổ khuyết là kinh Anga, khoảng 12 bộ Phái thứ hai là phái không y, trung thành với phương pháp khổ tu ép xác của Mahavira,dựa vào những kinh điển gốc còn sót lại, do kinh sách gốc của đạo Jaina đã bị thất lạc Sau đó, trên cơ sở hai tông phái, đạo Jaina thâm nhập khá sâu rộng trong quần chúng Thế kỉ II TCN, phần lớn đồ từ Trung đến Đông Nam Ấn đều theo đạo Jaina và họ đã xây nhiều tháp xá lớn, tôn kính thờ cúng Mahavira, là ông tổ của trường phái này, cũng như thờ cúng các nhà hiền triết lớn khác
Sang thế kỉ VI, giáo lý của đạo Jaina được hệ thống hóa trở lại Toàn bộ kinh điển của phái Bạch y có 12 bộ, đến thế kỉ V bị thất lạc bộ thứ 12, còn 11 bộ kia đã được người ta tập hợp, san định lại Đặc biệt họ đã biên soạn bộ “Chân lý chứng đắc kinh” gồm những quyển Unasvati và Tatvarthadhigana-sutra Nội dung cuốn này giảng về những vấn đề chính kiến, chính trị và chính hành để chỉ dẫn tín
đồ đạo Jaina tu hành để giải thoát
Phái không y có Kunddkunda (khoảng cuối thế kỉ IV đầu thế kỉ V), đã trước tác nhiều kinh sách như: Pancastinkayasara, Samayssara, Pravacanasara Đồng thời, Kunddkunda đã hệ thống hóa triết lý của cả hai phái, đưa ra bảy điều hay bảy mệnh đề để giải thích, phán đoán về sự tồn tại của thế giới Bảy mệnh đề ấy gọi là
“Thất cú biểu thị pháp” (Shaptabhanginaya):
- Tồn tại (asti),
- Không tồn tại (nasti),
- Vừa tồn tại vừa không tồn tại (asti ca nasti),
- Không miêu tả được (avaktavyam),
- Tồn tại và không miêu tả được (asti ca avaktavyam ca),
- Không tồn tại và không miêu tả được (nasti ca avaktavyam ca),
- Tồn tại và không tồn tại không miêu tả được (asti ca nasti ca avaktavyam) Hiện nay, đạo Jaina chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong dân chúng Ấn Độ (khoảng 0,5%) nhưng đã có nhiều ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của Ấn Độ Jawaharlal Nehru, Mahatma Gandi, với tư tưởng “bất bạo lực” và sử dụng phương pháp đấu tranh tuyệt thực, chính là chịu ảnh hưởng tư tưởng của triết lý tôn giáo Jaina
Trang 10Nhận xét về tình hình phát triển của tôn giáo Ấn Độ thời kì cổ điển và vai trò của các trường phái triết học, tôn giáo thuộc hệ thống không chính thống trong thời kì này, Will Durant đã viết: “Triết lý cách mạng của phái Carvaka đó chấm
dứt thời đại các Veda và Upanishad Nó giảm uy thế của các Bàlamôn và gây một
khoảng trống trong xã hội Ấn Độ, cần có một tôn giáo mới để lấp khoảng trống
đó Nhưng học thuyết của phái đó đã tiếp tục và thành công đến nỗi hai tôn giáo tới sau đáng lý để thay thế đức tin trong các kinh Veda, thì lạ lùng thay, lại đều là những tôn giáo vô thần cả Cả hai đều thuộc vào phong giáo Nàstika thay hư vô chủ nghĩa, cả hai đều xuất phát không phải trong đẳng cấp tu sĩ, tăng lữ Bàlamôn
mà là trong đẳng cấp chiến sĩ Ks’atriya, để phản ánh với chủ trương thần học và với thói nghi thức câu nệ khắt khe trói buộc con người của giới tăng lữ, tu sĩ Hai tôn giáo đó, Jainisme và Buddhisme mở màn cho một thời đại mới trong lịch sử
Ấn Độ”
Như vậy trường phái triết học Jaina là một hệ thống triết học có tính chất đa nguyên thể luận Nó có công trong việc giải thích, tìm hiểu cơ cấu của thế giới một cách duy vật, với quan điểm biện chứng, sơ khai và tự phát Nhưng trong học thuyết của mình, môn phái Jaina lại có tính chất duy tâm khi giải thích về linh hồn
và đạo đức, coi linh hồn cũng là một thực thể tồn tại song song với thực thể vật chất
Học thuyết Jaina còn bao hàm việc thờ cúng Mahavira, ông tỏ của trường phái này và những nhà hiền triết khác Nó là cơ sở triết học của đạo Jaina