1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trở lại giả thiết về chữ viết trong văn hóa đông sơn thời hùng vương ở việt nam

6 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 778,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những ý tưởngchorằng ở giai đoạnvăn hóaĐông Sơn của Việt Nam ngôn ngừ của cư dđn sử dụng ờ đđy lă ngôn ngữ đê có chữ viết còn đa dạng hơn khinhă sửhọc khâc, ông Lí Trọng Khânh, gắn giả t

Trang 1

So2(322)-2022 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 3

Ịngônngừhọcvăviệtngữhọc]

TRỞ LẠI GIẢ THIẾT VỀ CHỮ VIẾT TRONG VẢN HÓA ĐÔNG SƠN THÒI HÙNG VƯƠNG Ở VIỆT NAM

TRẦN TRÍ DÕI *

* GS TS; Trường Đại học Khoa học Xê hội vă Nhđn văn, Đại học Quôc gia Hă Nội;

Email: ttdoihanh@gmail.com

TÓM TÊT: Ở Việt Namgiả thiết văn hóa Đông Sơnđêcó “chữviết” từng được Hă Văn Tấnníu

ra văonhững năm 80 củathe kitrước; nhưng chứngcứcũng như lậpluận mẵng trình băyvẫnchưa

đủ cơ sởđể có thểchứng minh cho hiện tượng ngôn ngữđó Tuy nhiín về sauvẫn có thím một văi

nhă nghiín cứu khâc lạicho răng chữ viít của những tộc người nóinhóm tiíng Thâi (Taic) theo kiíu Sanxkrit“bătnguôntừchữviít Đông Sơn” thờiHùng Vương Băi viếtnăy, trín cơsởkết quă nghiín

cứucủa ngôn ngữ lịch sử, cung cấp chứng cứ vă phđn tích để thấy rằng chưa thể chứng minh được văo giai đoạn văn hóa Đông Sơn, ngôn ngữ của cưdđn văn hóa đê có chữ viết Vì thếđiều đó cũng

có nghĩa ýkiếncho rằng chữ viết cúatộc người Thâi theo kiểu Sanxkrit ở ViệtNamhiện diện văo giai đoạn vặn hóa Đông Sơn cũng lă một giả thiết không cócơ sở khoa học

TƯKHOA: chữviít;kiíu Sanxcrit; văn hóa Đông Sơn; tộcngười Thâi

NHẬN BĂI:27/12/2021 BIÍNTẬP-CHĨNH SỬA-DUYỆTĐĂNG: 15/1/2022

Theo kít quả khảo cứu của Nguyễn Quang Hồng thì từ năm 1942 học giả Nguyễn Đổng Chi đê

từng đưa ra vấn đề cho rằng“thời đại tối cổ, người ViệtNam đê có một thể văn tựriíng” [Nguyễn

QuangHông, 2008, tr.76] Ong cho biít,câch thứcmă nhă nghiín cứu năy đưa ra giảđịnh nóitrín lă

dựa văosự hiện diện những dạng thức văn tự cổ hiínnay ở một văi dđn tộc thiểu so của Việt Nam để

minh chứng Tuy nhiín đỉn năm 1955, chúngtabiít răng chính Nguyễn Đổng Chi, saukhi phđn tích vấn đề “chữ viết” thời đạitối cổ do mình níu ra trướcđđy,đê lạitựphủnhậngiả thiết đó khi ôngviết

“ chúng ta có thể kết luận rằng trước thời Bắc thuộc', chúng ta chưa có chữ viết Trín câc trống

đồng lă những vật mă cha ông taghi đời songsinhhoạt vật chat tinh thầnbuổi ấymăcũngkhôngcó lấy một nĩt chữ”[Nguyễn Đong Chi, 1955,tr.26] Như vậy, qua kếtluận mă Nguyễn ĐổngChi thể

hiện ở trín, cóthí thđy người tavđn chưa xâc định được “dđu vít văn tự” củangười Việt trước thời Bắc thuộc ởnhữngdi vật khảo cô thời Đông Sơn vă ý kiến đó có thíđược coi như lă sự phản ânh

nhữngkết quả nghiín cứu trước năm 1955 về văn tự của người Việtcổ trước thờiBắcthuộc

Sau kết luận của NguyễnĐông Chi, trong cuộc thảo luận về thời kì “Hùng Vương dựng nước” thuộc giai đoạn văn hóa Đông Sơn văo thập niín 70 cùa thí ki trước,có không ít nhă nghiíncứu lịch

sử vă vănhóa hăng đầu ViệtNam đê lại tiếp tục níu ra vấn đề “chữ viết của người Việt cổ” [Viện Khảo cổ học, 1970; 1972; 1973; 1974] Tuy nhiín, khi đânh giâ về kết quả nghiín cứu của vẩn đề được níu ra đy, nhă khảo cô học hăng đđu Việt Nam Hă Văn Tđn có một nhận xĩt rđt đâng chú ý Theo như câch nhận xĩt của ông thì những ý kiến thăo luậnấy đíu “chưa đủsứcthuyítphục” [Hă

Văn Tấn, 1982, tr.31 ], tức lă chưa đủ cơsởđể cho rằng vânhóa Đông Sơn đêcó chữ viết hay chưa

Thế nhưng, mặc dù đânh giâ những thảo luận liín quan đến “vấn đe chữ viết của người Việt cổ” trongcuộc thảo luận ví thời kì HùngVương lă “chưađù sức thuyít phục” nhưthí, Hă Văn Tđn lạiđê

bổ sung thímmộtý kiến khâc Ý kiếnđó lă “theo tôi, giảthiết cho rằngcư dđn Đông Sơn lă người sâng tạo ra hệ thống chữ viếtđê tìm thăytrín câc qua đồngvă că trín lưỡi căy đông vẫn giữ nguyín ý nghĩa ” [HăVăn Tđn, 1982, tr.45] Kít luận như thếđược Hă Văn Tđnníu ra dựa trín cơ sởông khảosât 20 hình vẽ (mă ông xâc định lă những ki tự) được tìmthấy ở5di vậtkhêo cổ trong khu vực

vă chúng được cho lă đíu thuộc thời văn hóa Đông Sơn Những di vật khảo cô đy gôm “lười căy

đồngĐông Sơn” tìm thđy ở Thanh Hóa, chiíc “qua đông”cũng được cho lăở Thanh Hóa; ba“chiỉc qua trong mộ Sởở Hă Nam” trín lênh thôTrung Quôc Saukhi phđntích giâ trị thíhiện “kí tự” cùa

những kí hiệucótrín câcdi vật khảo cô vă dựavăo “địnhnghĩa ví chữ viết”đê cócủagiới văn tự học,ôngđê khẳng định “giả thiết cho rằng cư dđn ĐôngSơn lă người sâng tạorahệ thống chữ viết,

vđn giữnguyínýnghĩa” Tuy nhiín, cũng chính ông đêviítthím lă “Nhưng giảthiỉtthì vđn lă giả

Trang 2

4 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 2(322)-2022

thiết, muốn chứngminh hay bâc bở, đều cần có nhiều tăi liệu hơn nữa” [Hă Văn Tấn, 1982, tr.45]

Mặc dù Hă Văn Tấn đê giới hạn ý kiến cùa mình lă “giả thiết thì vẫn lă giảthiết” cần phải được tiếp

tục chứngminhnhưng nhiíu năm sau, Trđn Ngọc Thím đê coi đđy như lă mộttrong những “cơ sở”

hay“cứliệu” để tiếp tục cho rằngđê có thể nói đến“chữviết của lớp vănhóa bănđịa trướcHân vă khâc Hân” khi ông thảo luận về nội hăm “bản sắc vănhóa Việt Nam” trong sâch mă ông xuất bản

[Trần NgọcThím, 2001, tr.85-87]

Những ý tưởngchorằng ở giai đoạnvăn hóaĐông Sơn của Việt Nam ngôn ngừ của cư dđn sử

dụng ờ đđy lă ngôn ngữ đê có chữ viết còn đa dạng hơn khinhă sửhọc khâc, ông Lí Trọng Khânh,

gắn giả thiết chữ viết đỏ vớinhữngtộc người nói nhóm tiếng Thâi Theo đó,tâc giả năy đêviết “Chữ

Thâi cổ bắt nguồn từ chữ viết Đông Sơn” [Lí TrọngKhânh, 1986,tr.33J Giả thiểt chữ viết theo kiểu Sanskrit của tộc người nói tiếng Thâi (Taic) đê xuất hiện hay có nguồn gốc từ giai đoạn văn hóa Đông Sơn thời Hùng Vương lă giả thiếthình như vần “đọng lại” ở một văi nhă nghiíncứu nhđn học

vănhóa ờ Việt Namtrong mấychục nămgần đđy Chẳng hạn, đó lădiễngiải tiếp theo của Lí Trọng

Khânhkhi sau gần25 năm, văonăm 2010, ôngđê tiếp tục bảo vệluậnđiểmtrước đđy củaminh bằng câch nhắclại rằng“chữKhoa đẩu 2 w H) ” đang có ở Việt Nam hiện nay lăđược bắt nguồn từ một loại vên tự cô của người Việt cô Trong công trinh mới xuất bản năy, Lí Trọng Khânh đê cố gắng

chúng minh loại văn tựcôcủangườiViệt mẵng nói đến đê có từthời “vănhóaĐông Sơn" Vì the, ngirời ta cũng có thể thấy rằng đối với nhă nghiín cứu lịch sử năy, “Chữ Thâi cổ” hay “chữ Khoa

đâi”củangười Thâi lă một dạng văn tự bắt nguồntừ chữ Việtcổthời vănhóa Đông Sơn [Lí Trọng

Khânh, 2010] vă được lưugiữ cho đếnngăy nay

Trong những nămgầnđđy, Trịnh Sinh khi băn về “Người Thâi vă văn hóa Đông Sơn” đê lại đưa

ra mộtlập luậncó liín quan đỉn nộidung năy Cụ thíkiín giải của ông lănhưsau:

Đđutiín, theoông "Yeutố Tăy Thâicô đê ảnh hưởngnhiều đếnngôn ngữ Việt lă điềukhôngthể

phunhậnđược Vđnđí được đặtra lă: Yíu tô TăyThâi cô “nhảy”văo tiíng Việt từ khi năo? Tuy nhiín, vđn đềkhi năo thì yếu tốTăy Thâi mớitrởthănh yếu tố quan trọng trong sự hìnhthănh tiếng

Việt thì câc nhă ngôn ngữ họckhông thí trả lời được, vì họkhông phđn lập được niínđại tuyệtđối của quâ trình hình thănh năy”[Trịnh Sinh, 2015, tr 107] Từlogicđó, ông viếttiếp rằng“Người Thâi

có chữ viít riíng Chữ viết năy không ảnh hưởng đến người Việtở đồng bằngtrong thời Bắc thuộc

Khi đó, người Việt đê "mượn” chữ của người Hânđể diễn tả trong thơ vên, thư tịch của người Việt Người Thâi, người Tăy khi đó cũng đê có sự cư trú ở vùng núi Tđy Băc vă Việt Bắc rồi Sự ảnh

hưởng cúa của ngôn ngữ Tăy Thâi hđu như không có ở miền xuôi nữa” [Trịnh Sinh, 2015, tr 108] Sau đó,từtrinh tự thời gian vă trạng thâi ngôn ngữ cũng như trạng thâi định cư nhưvừađược diễn

giải của người Tăy Thâi, ông tiíp tục lập luận thím lă “Vậy thi tại sao trong tiếng Việt lại in đậm ngôn ngữ Tăy Thâi? Theo chủng tôi, ngôn ngữ Tăy Thâi phâi "xđm nhập " văo ngôn ngữ Việt văo

thời gian trước Băc thuộc (TTD nhấn mạnh). Mă trước Bắc thuộc chính lăthời kì văn hóa Đông Sơn Haynói một câch khâc: Yeu tố ngôn ngữ Tăy Thâi phải có mặttrong thời Đông Sơn hoặc trước thời Đông Sơn đí mới có thí kít hợp với câc yíu tô ngôn ngừ Môn-Khơ me tạo nín tiếng Việt" [Trịnh

Sinh, 2015,tr 109],

Theo dõi trình tự lập luận của Trịnh Sinh, chúng ta nhận thấy hai điều Thứ nhất đối với ông

“ngônngữTăyThâi phảicó mặt trong thời Đông Sơn hoặctrước thời Đông Sơn"; thứ haido “Người

Thâi có chữ viít riíng Chữ viết năy không ảnhhướng đến người Việt ở đồng bằng trong thời Bắc thuộc" mă sẽ ảnh hưởng ở một vùng địa lí khâc trước thời ki Bấc thuộc Rõ răng, với logic lập như thế, Trịnh Sinh buộc ngườiđọc phải tựđưa ra kết luận cho riíng minh Mă kết luận ấy thì, với hình thức lập luận mă ông diễn giải, không thí năo khâc lă “trong thời Đông Sơn hoặc trước thời Đông Sợn"đê hiện diện ngôn ngữcứangười TăyThâi; đông thời ngôn ngừđólămộtngônngừđê "có chữ viỉt riíng”

Như vậy.khi níura giă thiết ởthời kì văn hóa Đông Sơn cư dđn ớ đđy cóthí có chữviết, rõ răng

lă có hai câch lí giải khâc nhau ĐÔI với Hă Văn Tăn, ôngđê không xâc định rò“cư dđn Dông Sơn năo lă người sâng tạo ra hệ thông chữ viết" khi ônglưỡng lự răng "có thí một phầnlớncư dđn Đông Sơnnói ngônngừ Việt Mường Chung' Điíu năy không loạitrừ một bộ phận cư dđn cùa vên hóa năy

nói ngôn ngữ Thâi " [Hă Vên Tấn 1997 tr.760] Trong khi đó, Lí Trọng Khânh vă rõrăng về sau

Trang 3

So 2(322)-2022 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 5

có thể gồm cả TrịnhSinh (chodùôngkhôngkhẳngđịnhmột câch trực diện)đê cho rằngchữviếtcủa

cộng đông người nói tiíng Thâi bătnguôn(hoặcđê có) từ giai đoạn văn hóa Đông Sơn

2 Thảo luận vấn đề

Có lẽ, vấnđềđầu tiín lăchúng ta kiểm tra lại sau khiHă Văn Tấn đưa ra giảthiết “cư dđn Đông Sơn lăngười sâng tạo ra hệ thống chừ viết vẫngiữ nguyínýnghĩa” thìđêcó thím cứ liệu mới năo

khả dĩ ủng hộ cho giả thiít năy chưa Theo hiíu biít của chúng tôi, chođín hiện nay (năm 2021) hđu

như giới văn tựhọc ở ĐôngNam  vẫn chưa có thím chứng cứ đểcó thể chứngminh cho giả thiết

mă ông níu ra Vì thế, giả thiết năy, như câchnói củaông, nó vẫn chỉ “lă giả thiết” măchưa thể có

thím được chứng cứ đí minh chứng

Tuy nhiín, nếuchúng ta chỉđơn thuần căncứ văo logic lập luận mă Hă Văn Tẩn đê trình băy khi ông đưara giả thiít thì người tacũngcó thínhậnthđy khó có cơ sở để cho rằng “ngôn ngữ của cư

dđn Đông Sơn đêcó chừ viít” Lí dolă,tiíng nói của“cư dđn Đông Sơn”đê đượcnhận diệnlă ngôn

ngữ ngườiViệt thuộc giai đoạn tiền Việt(proto Vietic) [Trần Trí Dõi, 2020; 2020a]; nhưng giả thiết cùa Hă Vên Tấn về mặt cơ sở khoahọc đê chưathể hiện được chữviết mẵng nói đến lăchữ viết của ngôn ngữ cưdđn nói nhóm tiếng Việt(Vietic) hay của ngôn ngữ cưdđnkhâc mă trong đó cóthể

nhóm tiếng Thâi(Taic) Rõ răng, khi nói đến một hệ thống văn tự thì không thể không xâc định

nólă hệ thốngvăntự dùngđế ghi lại kiểu tiếng nói năo của cộng đồng cư dđn Thứ nữa lăgiâ trị của

20 kíhiệuở những divật khảo cốmẵng cho lă những“kí tự” đê chưa được xâc nhận“giâ trị địa lí” thuộc về vùngvăn hóaĐông Sơn Điều đó có nghĩa lă,trong số 20 kí hiệu đượccho lă “kí tự” mă ông dẫn ra, hầu nhưchúngtachưađủ dữliệu đế có thể chứng minh chủ nhđn 13 kíhiệuthuộc những

di vậtkhảocổ “trong mộ Sở ờ Hă Nam”TrungQuốc mẵng mô tả“lăsởhữu” củacư dđn Đông Sơn

ở Việt Nam.Mặt khâc, nếu 13 kíhiệu thuộc những di vật khảo cố ở miềnNam Trung Quốc ấy lă “kí

tự” thì chúng lă những kí tự thuộc loại hình chừ viítnăo (ghi đm hay ghi ý) theo câch “phđn loại

truyền thống”? Có thíthấy,những miíu tảcủa Hă VănTấn vềnhững kí hiệu mẵngtìmthấyđó còn

vẫn “mơ hồ” chưa đủ cơsởđể có thí trâ lời cho nhữngcđu hỏivừađược níu raởtrín Sự thiếu nhất

quan đó thể hiện khi thì ônggiảđịnh “câckí hiệunăy cũng lă câckí hiệu-khâi niệm của chữ viết ghi

ý”, khi thìông lạiviết “nhữngkí hiệu cấu tạo bằngnhững đoạn cong vă đoạn thẳng đê lămcho chữ viít có tính chất hình tuyến (linĩaire) thường haygặptrong câc chữviít ghi đm” [HăVănTđn 1982,

tr.42] Đồng thời, sự thiếu nhất quan ấy cũng lộ ra khichínhông cho biết có mộtkhảnăngkhâc rằng

"theo câch phđn loại của Istrin, hệ thống chữ viết vừa phât hiện4 có khả năng thuộc loại hình

Logogramme, tức chữ viết ghi từ Vì , câc kí hiệu trong câc dòng chừtrín câc quacó thí lă biíu đạt

câc từ Tuy vậy, vẫn không loại bo hoăntoănkhả năngSylỉabogramme, chữ viếtghi đm tiết của hệ thống văntự năy” [Hă Văn Tấn, 1982, tr.42] Rõ răng, khi mă có sự lưỡng lự nước đôi nhưthí thì lăm sao cóthể trả lời cho cđu hỏi răng những kí hiệuđược ông tìmthấy đó thực chất lă “thuộc loại

hình chữ viết năo?”, Chonín, theo suy nghĩ của chúng tôi,những bất cập nhưvừa đượcníura lăđê

gđnnhư đủ đí nói lín răng 13 kí hiệuthuộc những di vậtkhảo cô ở miín NamTrung Quôc đy chưa

thể lă những kí hiệu thuộcmột hệ thống văn tự cụ thể năo đó Vă nếu thế, với07kíhiệu cònlại trín những di vật thật sự của văn hóa Đông Sơn thì không đủ dừ liệu đế nói vềmột “hệ thống chữviết” năo đó

Chính vì những băn khoăn đó, giă thiếtcho rằng “cư dđn ĐôngSơnlă người sâng tạo rahệ thống

chừ viết” lă một giả thiếtcòn chưa đứng vừngngay ởchính logic lập luận mătâc giả đê níura Rõ

răng, trong một khả năng nhưthí, cùngvới tình trạng lăcho đỉn hiện nay người ta vđncòn chưathí

có thím đượctư liệu mới đíủng hộ cho giâ thiít, nín chăng bđy giờ chúng tachì cóthí chđp nhận

răng ngônngữ người Việt ở giai đoạn tiền Việt, với tư câch ngôn ngữcủacộng đồng cư dđnchủ thí

vănhóa Đông Sơn, vđn lă mộtngôn ngữcòn chưa thí chứng minh được đê có hệ thông chữ viít với nghĩa đầy đủ cua nó Nói một câch đơn giản hơn, cho đến hiện nay, người ta chưa the chứng minh

tiếng nói của“cư dđnchú thíthờikì vănhóa Đông Sơn”lăngôn ngữ đêcó chừ viết

Còn về giả thiết hệ thống chữ viết của cư dđn chủ thí vănhóa Đông Sơn lă cơ sở chữ viết của nhữngngôn ngữnhóm tiếng Thâi ớ Việt Nam thỉ có thíthảoluận nhưsau.Chúngta biếtrăng kết quă nghiín cứu văn tự học vímột sôngôn ngữ thuộc ngữ hệ Thâi-Kadai ớkhuvựcĐông Nam A đê cho thấy khănăng“cư dđnĐông Sơn lă ngườisâng tạorahệ thốngchữviết”thuộc cộng đồng nói ngôn

Trang 4

6 NGÔN NGŨ & ĐỜI SÓNG Số 2(322)-2022

ngữ hệ Thái-Kadai là không hiện thực [Ferlus M., 1988, 1999], Dựa vào kết quả nghiên cứu về

nguồn gốc chữ Thái cổđã được M Ferlustrình bày rõràng trong nhiều nghiên cứucủa ông về văn tự Tháiở khuvực Đông Nam A và Việt Namthì chúngtasẽ nhận thây rõ điêuđó Cụ thê, nghiên cứu cùa M Ferlus cho biếtở khu vực Campuchia-Việt Nam - Lào - Thái Lan cóchữviết theo mộttiếu

loại thuộc kiêuchữ Khmer, và một tiêu loại thuộctruyền thốngchữ viết Môn.Cả hai tiêuloại này đều

có nguồn gốc Àn Độ hiện diện quanh vùng vịnh Thái Lan vào quãng thời gian thế kithứ VI - VII Đây mới chinh là cộinguồn của vàn tựThái theo dạng thức Sanskrit (haykiểu chữ mà tiếng Hángọi

khoa đẩu) Kiểu văn tự theo truyền thốngvăn tựMôn là nguồn gốc cho các kiêu chữcùa những

ngôn ngữ nhómtiếng Thái sau này ởMyanma (như tiêng Thái Shan, tiếng TháiMau, tiếng TháiNua) cho đến vùng TháiAssam(haytiếng Thái Ahom) [Ferlus M.,1999] Còn kiểuchữ viết theo tiểu loại

Khmer được hình thànhvào quãngthêkìthứ III(thời Phù Nam) ở vùng lãnh thôCampuchia hiện nay

khi văn hoá Ân Độ tiếpxúc vàgiao lưu với vàn hoá của cư dânbàn địa vàothời kì đó Từ chữviêt Khmer cổ gốc Ản Độ ấy, người Thái tiếp nhận và xây dựng nên các kiếu chữ Thái ở vùng Sụ Khô

Thai thuộc miền Trung vương quốc Thái Lan hiện nay Sự kiện này còn được ghi lại trên văn bia

“vua Ramgamhaeng” có niên đại chính xác là năm 1283 (tức thêkỉ XIII) Tiêpsauđó, từ kiêuchữ

“Ramgamhaeng” ban đầu ấy cùa người Thái, kiểu chữThái (còn gọi là kiểuchữ Xiêm) hiện đang

được người Thái Lan sửdụngđã xuất hiện Và tinh trạng này cũngđã được ghi lại trongmột văn bia

có niênđại vào năm 1357 (tức vào thế ki XIV) Cũng bắtnguồntừ chữ viết “Ramgamhaeng”, những kiêu chừ như chữ Thái sửdụng ởvùng băc Thái Lan, dạngchữ Fakkham sửdụng ở Lào hiện nay

cũngnhư cáckiểu chữcủanhững nhóm cư dânThái ở vùngbắcLào vàmiềnBắc Việt Nam lần lượt xuất hiện Những kiểu chữthuộc nhóm sau này, như vậy, được xác nhận lần đầu tiên với thời gian chính xáclà năm 1411 (tức thếkỉ XV) vàđược dùng phô biên từ thêkiXVIIvề sau như những dạng

thức đang được dùng hiện nay [FerlusM., 1988, tr.4-6] Nói một cáchkhác, dường như cáckiêu chữ viếtcủa những nhóm tiếng Tháiở Đông Nam Á đều cónguồn gốc từ Án Độ mà chữviết tiếng Môn

và tiếng Khmer là kiểu trung gian

Ket quả nghiên cứucủa các nhà văn tự học Đông NamÁ cho chúng tabiết rằng những kiểuchữ

viết của các nhóm cư dân nói tiếngThái ở Việt Namnhư chữ của tiếng Thái Đen,tiếng Thái Trắng,

tiếngThái Đèng (hay Thái Thanh), tiếng Thái Do (Yo)và tiếng Thái Lai Pao cũng làkiểu chữ theo truyền thống Sanxkrit Ởbình diện ngôn ngữ học,những dạng chữ viết đó đềuđược xác nhận làchữ

ghi âm theo truyền thống Sanxkrit ở Ấn Độ Học giả M Ferlus, khi so sánh một cách chi tiết hệ thống “kí tự chữ viết (graphique)” vàhệ thốngngữ âmcủa mỗi mộttiếngThái cụ thể trong vùng, đã khăng định răng“John F Hartmann đãđặtcơsở, vàtôicũngđông ý với ông,cho một giả thuyêt răng chữ viết của người Thái đen và Tháitrắng bắtnguồn từ kiều chữFakkham” (Feri US M„ 1988, ư.6]

Có lẽ, theo chúng tôi,khi mà chúng ta chưa có được chứng cứ hay tư liệu để chứng minhrằng giả thuyêt được John F Hartmann và M Ferlus đưa ra là chưađủcơsở,thì có nghĩalàchữviết của các

nhómngười nói tiêng Tháiở ViệtNam chỉ có thêđượcxác nhận xuấthiện từ khoảng trước năm 1411

(tức từthế kì thứ XV) trở lại đây mà thôi.Điều đó cũng có nghĩa,cái gọi là“chữ Thái cổ” hay “chữ

Khoa đâuđang có ở Việt Nam hiện nay được Lê Trọng Khánh cho băt nguôn một loại văn tự của

người Việt cổ thời Đông Sơn” là một giả thiết chưa có cơsở khoahọc về văn tự học đề minh chứng

Và vìthế màcách nói “Người Thái cóchữ viết riêng Chừ viết nàykhôngảnhhưởng đến người Việt

ở đồng bằng trong thời Bắc thuộc” là cách nói cũng không có cơ sở khoa học về nguồn gổcvăn tự kiểu ÁnĐộcủa cư dân nói nhóm tiếng Thái ở ViệtNam

Hơn nữa, nếu chúng tachú ý thêm vào cách liên hệgiữađịa lí phân bổ những di chi khảo cổthể hiện đặc trưng củamôi văn hóa với địa lícư trú hiện nay của cư dân nói các ngôn ngữ nhóm tiêng

Thái vànhóm tiêng Việt cũng phân nào có thê thây vào thời kìvăn hóa Đông Sơn cư dângiữa hai

nhóm ngôn ngữ chì là những cộng đồng cư dân láng giềng Theo như kết quà nghiên cứu của L Sagart [Sagart L., 2004], ở thời kì tiênsử những người nói những ngôn ngữnhóm tiêng Thái thuộc

họ Thái-Kadai chỉ có thể làcư dân “lánggiềng” cùa cư dân Đông Sơnờ ve phíabẳc sôngHồng,về

sau, do “Trong hàngngàn năm người Thái và người Việtdêu đãsôngdưới sự thông trị của Trung

Hoa”[HaudricourtA G., 1953,tr 19] ngôn ngữ cùahai nhóm cư dân đã vay mượn lânnhau Nóimột

cách khácđi, giữa tiếng Việtnói riêng haycác ngôn ngữnhóm tiếng Việt nói chung vớitiếng Thái

Trang 5

số 2(322)-2022 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 7

hay những ngôn ngữ nhómtiếngThái khác dường nhưchỉ chứng minhlà sự tiếp xúc ngôn ngữkhi

cư dân nói nhóm tiếng Thái “thiên di”từphía nam Trung Quốc đen vùng Đông Nam Á nhưhiệnnay, một thực tếmàchúngtôiđãtừngcó dịp thảo luận [Trần Tri' Dõi,2017],

3 Kết luận

Như vậy, có thê điđếnmột kếtluậnlà trong tiếntrình lịch sử ngôn ngữ người Việt,chođến hiện

nay kêt quả nghiên cứu ngôn ngữ học chưa đủ cơ sở khoa học để khẳng định ở giai đoạn tiền Việt (proto Vietic, giai đoạnngônngữ nhưlàtiêng mẹ đẻ của cưdânvăn hóa Đông Sơn) tiếngnói đã có chữ viêt Khi xã hội người Việt bị phongkiênphương băcđô hộ vàngônngữngười Việt chuyểnsang giai đoạn Việt-Mường co (Archaic Vietmuong), cộng đồng cư dân sử dụng ngôn ngữ ngườiViệt đã phải dùng chữ Hán của nhữngngười cai trị trong đời sống xã hội Ở giai đoạn Việt-Mường chung

(Vietmuong common) ngôn ngữngười Việtđãcóchữ Nôm vàđâychínhlàchữviếtđầutiên trong xã

hội người Việt được dùng để ghi lại tiếng nói củangônngừngười Việt.Với sự ra đời của chữ Nôm, ngôn ngữ văn học của tiêng Việt đãcó một một bước tiênvượtbậc góp phân quan trọng vàosự hoàn thiện ngôn ngữ người Việt Khi ngôn ngữ người Việt chuyển sang giai đoạn tiếng Việt cổ (Old Vietnamese) vàsau đó là tiếng Việt trung đại(Middle Vietnamese),ngônngừ người Việtlại cóthêm một kiểu chữ viết nữa,kiểu chữ viết Latinmà ngày nay người Việt đang sử dụng và gọi làchữ Quắc ngữ.

Chữ viết theo truyền thống Án Độ (còn gọi là chữkhoa đẩu) của những cư dânnóinhữngngôn ngữ haythổ ngữnhóm tiếng Thái ở ViệtNamđượcbia kí khắcbằng chữ Thái xác nhận xuấthiện lần

đầu tiên vào thếkỉ XV(với thời gian chính xác là năm 1411)vàđược dùng phổ biến từ thế kỉ XVII

về sau nhưdạng thức đangđược dùng hiện nay tùy theo từng kiểuchữ tương ứng cho mỗi mộttiếng

hay mỗi một thổ ngữ Những ý kiến chorằng kiểu chữviết cùa ngườiThái “có nguồn gốc từchữ viết Đông Sơn” hay “trước thời băc thuộc” hiện đêuchưahoặc không đủ cơsở khoahọc đê chứng minh

1 Theo chúng tôi, khi Nguyễn Đổng Chi dùng cách nói “trước thời Bắc thuộc”, chúng ta có thể nghĩ rằng trước hết đó sẽ là thời kì “văn hóa Đông Sơn”

2 Nghĩa tiếng Việt của từ Hán-Việt “khoa đẩu” là “con nòng nọc” hay “đôi chuột” Đây là từ Hán - Việt dùng

để chỉ loại văn tự của một số tộc người ở Đông Nam Á có hệ thống văn tự theo tự dạng Sanscrit kiểu như văn

tự cô của người Thái ở Việt Nam có đường nét tương ứng như “đuôi chuột” hay “con nòng nọc”

3 Xin lưu ý thuật ngữ Việt Mường Chung mà Hà Văn Tân sử dụng ờ đây có nội hàm khác với thuật ngữ Việt - Mương chung (Vietmuong common) mà chủng tôi sử dụng khi thảo luận về các giai đoạn phát triển của lịch sử người Việt [Tran Trí Dõi, 2011],

4 Theo tác già là hệ thống chữ viết của “cư dân Đông Sơn”với 20 “kí tự” mà ông trình bày

Tiếng Việt

1 Nguyễn Đổng Chi (1955), Vấn đề chữ viết trong văn học sử Việt Nam, Tập san VănSừĐịa,

so 9, tháng 8-1955, tr.22-38

2 Trần Trí Dõi (2011), Giảo trình lịch sử tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam HàNội

3 Trần Trí Dõi (2017), Trao đổi về vị tri của cư dân nói ngôn ngữ Thái - Kadai trong lịch sử

Việt Nam thời tiền sử. Trong “Phát huy vai trò, bàn sắc cộng đồng cácdân tộc Thái - Kadai

trong hội nhậpvàphát triển bền vững” (Hộinghị QG về Thái học lần thứVIII năm2017), Nxb Thề giới, tr.46-62

4 Trần Trí Dõi (2020),"Vấn đề ngôn ngữcủacư dân văn hóa Đông Sơn".TạpchíNgôn ngữ & đời sống, số 2 (294), tr.3-15

5 Trần Trí Dõi (2020a), Nguồngốc ban đầu của họ ngôn ngữ Nam Á và vấn đề ngôn ngữ cư dân văn hóa Đông Sam ở Việt Nam, Trong “Ki yêu hội thảo khoa họcQuôc tê khu vực học -Việt Nam học: Địnhhướngnghiên cứu và đào tạo”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020,

tr 162-176

Trang 6

8 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 2(322)-2022

6 Haudricourt A.G (1953), "Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á", Tạp chí Ngôn

ngữ, số 1,tr.19-22

7 Nguyễn Quang Hồng (2008), Khái luận văn tự học chữ Nôm, Nxb Giáo dục

8 Lê TrọngKhánh (1986), Sự hình thành và phát triên chữ Việt cô,Viện Văn hóa xuâtbản, Hà Nội

9 Lê Trọng Khánh (2010), Phát hiện chữ Việt cố Thuộc loại hình Khoa đấu, Nxb Từ điên Bách

Khoa Hà Nội

10 Trịnh Sinh (2015), Người Thái và văn hóa Đông Sơn, trong “Cộng đồng Thái - Kadai Việt Nam những vấn đề phát triển bền vững”, Nxb Thế giới, tr 105-113

11 Hà VănTấn(1982), "Dấu vết một hệ thông chừ viêt trướcHán và khác Hán ở Việt Nam và nam Trung Quốc", Tạp chíKhảo cố học số 1, tr.31-46

12 Hà VănTấn(1997), Theo dấu các văn hóa cổ, Nxb Khoa họcXã hội, 851 tr

13 Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bàn sắc văn hóa Việt Nam, NxbThành phố Hồ Chí Minh,

690 tr

14 Viện Khảo cổ học (1970),Hùng Vương dựng nước,tập I(1970); tập II (1972); tập III (1973); tập IV (1974), Nxb Khoa học Xã hội

15 Ferlus M (1988), Langues et ecritures en Asie du Sud- Est, The 21sl ICSTLL, University of Lund, Sweden, Oct 7-9, 1988,3Ip

16 Ferlus M (1999), Les dialeces et les écrìtures des Tai (Thai) du Nghệ An (Vietnam),

Treiziemes joumees de linguistique d’asie orientale, CRLAO, Paris 10-11 juin 1999, 21pp

17 Sagart L (2004), The higher phylogeny of austronesian and the positio of Tai - Kadai,

Workshop “ Les premiers austronésians: langue, gènes, systèmes deparenté”, CNRS Paris, May

05,2004,43pp

Abstract:In Vietnam, the hypothesis that a “writing system” existed in Dong Son culture was

initiated by Ha VanTanin the 1980s, yetthe evidenceandarguments he provided were insufficient

to prove it Later, anumber of researchers posited that the writing system(s) of Taic speaking tribes

with similar features to Sanskrit was/were originated from “Dong Son writing system” during the Hung Kings period On the basis of historical linguistics studies, this paper presents evidence and analyses to prove the impossibleexistenceof such a writing system in Dong Son culture This also means the hypothesis that Taic Sanskrit-like writing system(s) occurred in Dong Son culture in Vietnam is groundless

Ngày đăng: 02/11/2022, 16:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w