1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) phân tích quan điểm chỉ đạo của đảng về CNH hđh hiện nay hãy nêu giải pháp phát triển khoa học công nghệ trong đẩy mạnh CNH hđh

31 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 477,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại hội X của Đảng chỉ rõ: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp hóa, h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-* -BÁO CÁO TIỂU LUẬN

Đảng về CNH-HĐH hiện nay Hãy nêu giải pháp phát triển khoa học-công nghệ trong

đẩy mạnh CNH-HĐH

GVHD : ĐÀO THỊ BÍCH HỒNG

Trang 2

Đường lối cách mạng Đảng cộng sản

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 14

1 Mai Văn Xuân Hoàng 1710096

2 Nguyễn Minh Quân 1710262

3 Nguyễn Thanh Bình 1710635

4 Nguyễn Nhã Minh Phúc 1712685

5 Lê Thị Hồng Thắm 1713211

6 Trần Cao Minh 1712196

Trang 3

I/ Quan điểm chủ đạo của Đảng:

1 Quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa: 5 quan điểm

 Công nghiệp hóa gắn với hiện đại và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triểnkinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường

Từ thế kỉ XVII, XVIII, các nước Tây Âu đã tiến hành công nghiệp hóa Khi đó, công nghiệphóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Nhưngtrong thời đại ngày nay, đại hội X của Đảng nhận định: “Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiếnnhảy vọt và những đột phá lớn” Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình pháttriển lực lượng sản xuất Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tác động sâu rộng vớimọi lĩnh vực của đời sống xã hội CNH-HĐH là động lực phát triển kinh tế-xã hội, tạo điều kiệntăng cường củng cố an ninh-quốc phòng và là tiền đề cho việc xây dựng một nền kinh tế độc lập,

tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân công và hợp tác quốc tế Bên cạnh đó,

xu thế hội nhập và tác động của quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như tháchthức với đất nước Trong bối cảnh đó, nước ta cần phải và có thể tiến hành công nghiệp hóa theokiểu rút ngắn thời gian khi biết lựa chọn con đường phát triển kết hợp công nghiệp hóa với hiệnđại hóa

Nước ta thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi trên thế giới kinh tế tri thức đã pháttriển Chúng ta có thể và cần thiết không trải qua các bước phát triển tuần tự từ kinh tế nôngnghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế tri thức Trong quá trình CNH-HĐH,nước ta có thuận lợi cơ bản là nước đi sau, có thể học hỏi được kinh nghiệm thành công củanhững nước đi trước và có cơ hội rút ngắn thời gian thực hiện quá trình này.Trước đây, nướcAnh thực hiện CNH đầu tiên, phải mất 120 năm; nước Mỹ đi sau, chỉ mất 90 năm; sau nữa làNhật Bản xuống còn 70 năm; và các nước công nghiệp mới (NICs) có hơn 30 năm Đây chính là

cơ hội lịch sử hiếm hoi mà thời đại tạo ra để các nước đi sau như Việt Nam rút ngắn khoảng cách

và đuổi kịp các nước đi trước Việc chuyển nền kinh nước ta sang hướng phát triển dựa vào trithức trở thành yêu cầu cấp thiết không thể trì hoãn

Tại Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã ghi vào văn kiện luận điểm quan trọng về phát triểnKTTT ''Đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những ngành và lĩnh vực then chốt để tạo bước nhảyvọt về công nghệ và kinh tế, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những sản phẩm và dịch vụ chủlực Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn phát triển

Nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế- xã hội, từng bước phát triểnKTTT ở nước ta''

Đại hội X của Đảng chỉ rõ: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh

tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp hóa, hiệnđại hóa

Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh thêm: “thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcgắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp

lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ

Trang 4

Đường lối cách mạng Đảng cộng sản

Đại hội XII của Đảng xác định: “tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhậpquốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lựcchất lượng cao làm động lực chủ yếu”

Năm 2000, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) đưa ra định nghĩa:

''KTTT là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếunhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo ra việc làm trong tất cả các ngành kinh tế'' Khác vớinền kinh tế công nghiệp, chủ thể là công nhân với các công cụ cơ khí, cho năng suất lao độngcao; còn nền KTTT, chủ thể là công nhân trí thức với công cụ là tạo ra tri thức, quảng bá tri thức

và sử dụng tri thức Phát triển KTTT nước ta là thực thi chiến lược vận dụng tri thức mới vào tất

cả các ngành kinh tế, làm tăng nhanh giá trị của sản phẩm; giảm tiêu hao tài nguyên và lao động

Nước ta xác định, KTTT là công cụ hàng đầu để rút ngắn thời gian thực hiện quá trình HĐH

CNH-Nội dung trung tâm của thực hiện CNH-HĐH gắn với phát triển KTTT là lựa chọn để có thể

bỏ qua một số thế hệ công nghệ trung gian, đi thẳng vào công nghệ cao, công nghệ mới nhằmnhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp dịch vụ

có hàm lượng tri thức, giá trị gia tăng cao

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nước ta có được sự lựa chọn rộng rãi để tăng nhanh hàm lượngkhoa học công nghệ trong sản phẩm Chúng ta cần phải đẩy mạnh việc sử dụng những tri thứcmới của nhân loại bằng nhiều hình thức khác nhau, như nhập khẩu trực tiếp công nghệ; nhậpkhẩu công nghệ gián tiếp qua thu hút đầu tư; mua bằng sáng chế hay mời chuyên gia nước ngoàivào làm việc Nhưng điều quan trọng hơn, ngoài phần nhập khẩu công nghệ cứng như nói ở trên,cần chủ động học hỏi và nhập khẩu những công nghệ mềm như công nghệ quản lý, kinh nghiệm

sử dụng nhân tài, đổi mới thể chế kinh tế và đổi cách cải tiến để thích nghi với điểu kiện nước

ta Công nghệ và tri thức của nhân loại sau một thời gian luôn bị thay thế bởi công nghệ và trithức mới, do đó việc tiếp cận với chúng là liên tục và không có điểm dừng Đây là điều kiện đểchúng ta rút ngắn quá trình CNH-HĐH gắn với việc vận dụng tri thức mới vào tất cả các ngànhkinh tế

Sau 25 năm đổi mới, nước ta đã vượt qua ngưỡng nước nghèo vào 2010, bước vào nhómnước có thu nhập trung bình Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu vượt bậc ấy, chúng ta đangphải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về môi trường Theo thống kê của Bộ Tàinguyên và Môi trường, hiện nước ta có gần 4000 cơ sở sản xuất, hơn 1500 làng nghề gây ônhiễm, hơn 200 KCN cần được kiểm soát về khả năng gây ô nhiễm

Quá trình CNH-HĐH đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết đối với môi trường Do đó, các mối quantâm về môi trường cần được lồng ghép ngay từ quá trình ra các quyết định về phát triến kinh tế

và xã hội Có nghĩa là, cần cụ thể hóa nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiệnvới môi trường, tiếp cận mô hình tăng trưởng xanh đã được đề cập trong văn kiện của Đại hộiĐảng lần thứ XI

Nhà nước cũng cần sử dụng công cụ tài chính nhằm khuyến khích đầu tư vào các ngành sảnxuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, sử dụng công nghệ sạch; sản xuất và sử dụng nănglượng sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm và bao bì không gây hại hoặc ít gây hại đến môitrường; tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế Thực tiễn phát triển nước ta trong những nămgần đây khẳng định, chúng ta có đủ năng lực, điều kiện để chuyên đổi thành công sang mô hìnhphát triển bền vững

Trang 5

Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững là biện pháp hữu hiệu nhất có khả năng phòngngừa và hạn chế tối đa các tác động xấu đối với môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH.

 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế

Khác với công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, được tiến hành trong nền kinh tế kế hoạchhóa tập trung, lực lượng làm công nghiệp hóa chỉ có Nhà nước, theo kế hoạch đổi mới, côngnghiệp hóa, hiện đại hóa được tiến hành trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, nhiều thành phần Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tham khảo kinhnghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới, và từ thực tiễn phát triển Việt Nam, Đảng ta đã

đề ra đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là bước phát triểnmới về tư duy lý luận, một sự vận dụng độc lập, sáng tạo của Đảng ta Do đó, công nghiệp hóa,hiện đại hóa không phải chỉ là việc của Nhà nước mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thànhphần kinh tế Ở thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực để công nghiệp hóa đượcthực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước, còn ở thời kỳ đổi mới được thựchiện chủ yếu bằng cơ chế thị trường Kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thiếtlập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hộichủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường không những khai thác cóhiệu quả mọi nguồn lực trong nền kinh tế, mà còn sử dụng chúng có hiệu quả để đẩy nhanh quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bởi vì, khi đầu tư vào lĩnh vực nào, ở đâu, quy môthế nào, công nghệ gì đều đòi hỏi phải tính toán, cân nhắc kỹ càng, hạn chế đầu tư tràn lan, saimục đích, kém hiệu quả và lãng phí, thất thoát Kinh tế thị trường định hướng XHCN là kiểu tổchức kinh tế đặc biệt, vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của hệ thống kinh tế thịtrường, vừa bảo đảm tính định hướng XHCN

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế ở nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh toàn cầuhóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế,

mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệhiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới… sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạngkém phát triển Hội nhập kinh tế quốc tế còn nhằm khai thác thị trường thế giới để tiêu thụ cácsản phẩm mà nước ta có nhiều lợi thế, có sức cạnh tranh cao Nói cách khác, đó là việc kết hợpsức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nói riêng nhanh hơn, hiệu quả hơn

Đại hội VI, Đảng ta đưa ra chủ trương tranh thủ những điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế

và khoa học kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi vào việc phân công và hợp tác quốc tế trong

“Hội đồng tương trợ kinh tế và mở rộng với các nước khác" Tới Đại hội VII, Đảng ta địnhhướng

“đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với các quốc gia, các tổ chức kinh tế" Tai Đại hội VIII,thuật ngữ “hội nhập” bắt đầu được đề cập trong các văn kiện của Đảng: “Xây dựng một nền kinh

tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới” Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh việc “chủ động hộinhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tácquốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa” Ngày 10-4-2013, Bô ̣Chínhtri

đã ban hành Nghi quyết số 22-NQ/TW về hôị nhâp quốc tế Đây là văn kiên quan trong, có ý nghiachiến lươc̣ , làm rõ và thống nhất nhân thứ c trong toaǹ Đan̉ g, toaǹ dân về hôi nhâp

Trang 6

Đường lối cách mạng Đảng cộng sản

quốc tế trongtình hình mớ i Nghi ̣quyết đã xác đinh rõ hôị nhâp quốc tế sẽ đươc triên̉ khai sâu rôṇ g trên nhiều

Trang 7

linh vưc ̣ , đăc biêt, hôi nhâp kinh tế phaỉ gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và taí cơcấu nền kinh tế.

Việc thực hiện chủ trương trên đây của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu, Nước ta đã thiếtlập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước, có quan hệ kinh tế - thương mại với hơn 160 nước

và 70 vùng lãnh thổ, là thành viên của hầu hết các tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng với vịthế và vai trò ngày càng được khẳng định Quan hệ giữa nước ta với các nước trên thế giới ngàycàng đi vào chiều sâu; hợp tác về chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và các lĩnh vựckhác được mở rộng

 Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững

Trong các yếu tố tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, yếu tố con người luônđược coi là yếu tố cơ bản Để tăng trưởng kinh tế cần 5 yếu tố chủ yếu là: vốn; khoa học và côngnghệ; con người; cơ cấu kinh tế; thể chế chính trị và quản lý nhà nước, trong đó con người là yếu

tố quyết định Để phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước cần đặc biệt chú ý đến phát triển giáo dục, đào tạo

Nguồn nhân lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải đủ số lượng, cân đối về cơ cấu

và trình độ, có khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến củathể giới và có khả năng sáng tạo công nghệ mới

Bước vào đổi mới (1986) dân số nước ta là 59.872.000 người, đến năm 1997 (sau 11 năm) là76.709.000 người (tăng 16.837.000 người, bình quân một năm dân số nước ta ở thời kỳ này tănghơn 1,5 triệu người); trong đó lực lượng lao động từ 27.398.000 người (năm 1986) lên36.994.000 (năm 1997) Năm 2000, dân số nước ta là 77.658.500 người, tăng 1.080.000 người

Tốc độ tăng dân số cao và liên tục nên nguồn nhân lực nhanh chóng tăng Năm 2000, Tổng cụcThống kê đã dự báo “Sau năm 2000, tốc độ gia tăng lao động của nước ta ở mức 3%/năm Dân

số nước ta được xếp loại dân số trẻ.” Có thể thấy, trong thời kỳ tiến hành công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, nguồn lao động luôn luôn tăng đòi hỏi phải được đào tạo, sử dụng Chúng tatiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với quy mô dân số đông, lực lượng lao độngdồi dào, đó là sức mạnh, là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh Song, với điểm xuất phát thấp,nguồn vốn nhỏ bé, trình độ công nghệ vừa thiếu vừa lạc hậu, hạ tầng kém… thì một khi nguồnlao động đã dư thừa lại tăng với tốc độ nhanh sẽ gây sức ép lớn về việc làm

Về cơ cấu nguồn nhân lực, thực tế phản ánh trình độ phân công lao động thấp kém của mộtnền nông nghiệp lạc hậu Lao động trong nông nghiệp chiếm tới 73%, trong khi công nghiệp vàdịch vụ chỉ chiếm 27% (1997) Cơ cấu lao động được đào tạo giữa các ngành, các vùng và giữacác bậc có sự chênh lệch Dân số nông thôn chiếm gần 80% dân số cả nước, nhưng chỉ chiếm

Trang 8

Đường lối cách mạng Đảng cộng sản

47,38% lực

Trang 9

lượng lao động được đào tạo trong cả nước Trong 73% số lao động làm việc trong các lĩnh vựcnông, lâm, ngư nghiệp số người được đào tạo chiếm 7%(4) Số lao động có trình độ cao cũngđược phân bố không hợp lý, chủ yếu tập trung ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các thànhphố lớn khác Khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mặc dù được quan tâm đàotạo, song năm 1997, lao động trí tuệ nước ta mới chiếm 7,9%, lao động chân tay là 92,1%.

Về trình độ của lực lượng lao động, năm 1997, tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chiếm 14,3%,nhưng cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề không hợp lý Trình độ lao động qua đào tạo ở các bậclà: trên đại học 0,3%; đại học và cao đẳng là 20,1%; trung học chuyên nghiệp là 35,8%; côngnhân kỹ thuật có bằng cấp là 24,4%; công nhân kỹ thuật không có bằng cấp là 19,4% Năm 2002,nước ta có khoảng 900.000 lao động có trình độ cao đẳng trở lên (chiếm 2,43% lực lượng laođộng xã hội) Trong đó, số người có trình độ trên đại học khoảng 10.000 người (chiếm khoảng0,027% lực lượng lao động xã hội)(5) Điều này cho thấy, khi tiến hành công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước nguồn nhân lực nước ta chất lượng còn rất thấp, đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải

có chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trước khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996), tại Đại hội Đảng toàn quốclần thứ VII, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thôngqua, một lần nữa Đảng ta khẳng định: “phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm côngbằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xãhội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm

lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được Đại hội VIII của Đảng khẳng định với tính chất

là chiến lược thì vấn đề phát triển nguồn nhân lực càng được chú trọng Đại hội VIII của Đảngkhẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam

là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

Từ sau Đại hội VIII, thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng đãban hành nhiều nghị quyết về nhiều lĩnh vực liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc, bồi dưỡng vàphát huy nhân tố con người Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) về định hướng chiếnlược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đếnnăm 2000 đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực Nghị quyết nêu:

“Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bềnvững”(8) Mục tiêu và

Trang 10

Đường lối cách mạng Đảng cộng sản

nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng những thế hệ con người thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội

Đại hội XI (2011) kế thừa và phát triển quan điểm phát triển nguồn nhân lực từ các đại hội

trước, đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công

nghiệp theo hướng hiện đại” Để đạt được mục tiêu đó Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến

lược, trong đó “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” được

khẳng định là khâu đột phá thứ hai Đây được xem là khâu đột phá đúng và trúng với hoàn cảnhnguồn nhân lực nước ta hiện nay khi hội nhập quốc tế, cạnh tranh quyết liệt và đòi hỏi của thờiđại khoa học, công nghệ Khâu đột phá trúng và đúng này đã và đang tập trung nâng cao sứcmạnh nội sinh

- nguồn nhân lực, để tồn tại và phát triển trong một thế giới năng động, thế giới của khoa học vàcông nghệ

Vì thế, Đại hội XI của Đảng đồng thời cũng xác định rõ phải “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển

nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” Đây chính là nội dung quan

trọng thể hiện tính thực tế của chiến lược phát triển nhanh và bền vững của nước ta trong điềukiện hiện nay Để thực hiện chiến lược này, Đại hội XI cũng nêu rõ những giải pháp trực tiếp cho

chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đó là: “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con

người Việt Nam”; “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”; “Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam”.

 Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định đến tăng năng suất lao động, giảm chi phí sảnxuất, nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung Nước ta tiến lên chủnghĩa xã hội từ một nền kinh tế thấp, kém phát triển về tiềm lực khoa học, công nghệ còn ở trình

độ thấp Muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức thì phát triển khoa học và công nghệ là yêu cầu tất yếu Phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhậpcông nghệ, mua sáng chế kết họp với phát triển công nghệ nội sinh để nhanh chóng đổi mới vànâng cao trình độ công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vậtliệu mới

Trang 11

Từ báo cáo của đồng chí Phan Thu, Phó Chủ nhiệm Ủy ban khoa học, công nghệ và môitrường của Quốc hội đọc tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa IX, ngày 07-12-1993; có nhắc đếnnhững vấn

Trang 12

Đường lối cách mạng Đảng cộng sản

đề còn tồn tại của khoa học công nghệ tại Việt Nam năm 1993 như: “Việc đầu tư công nghệ mới,chỉ có một số ít là hiệu quả còn khá nhiều công nghệ và thiết bị cũ còn tồn tại hoặc do trình độcông nghệ của cán bộ quản lý chưa cao, nên đã để lọt lưới nhập những công nghệ thiết bị lạc hậu,thậm chí có thiết bị quá lạc hậu Điều đó đã dẫn tới không ít xí nghiệp làm ăn thua lỗ vì khôngcạnh tranh nổi và giành được thị trường Ví dụ: phần lớn công nghệ nhập cho ngành Côngnghiệp dệt trong những năm vừa qua là không còn mới hoặc đã lạc hậu; công nghệ của hơn 700

dự án đầu tư hoặc liên doanh với nước ngoài phần lớn đã ở mức quá 15 năm hoặc nhiều máymóc đã nhập của một cơ sở thì phần lớn là máy cũ, có máy sản xuất từ trước Đại chiến thế giớithứ II, thậm chí, có máy sản xuất từ năm 1905.”; “Đầu tư cho khoa học và công nghệ có tăng hơntrước, nhưng mới chỉ chiếm dưới 1% ngân sách, tuy vậy, còn dàn trải nên chưa đạt hiệu quả nhưmong muốn; còn thiếu các biện pháp và cơ chế để huy động các cơ sở sản xuất, các doanhnghiệp đầu tư cho lĩnh vực này.”

Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rất rõ, để đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh

tế, vượt qua thách thức và tạo đà phát triển đất nước thực sự nhanh và bền vững, bên cạnh việctập trung sử dụng hiệu quả nguồn lực cho phát triển KHCN và nguồn nhân lực KHCN, phát triểnkinh tế tri thức, qua đó, nâng cao hiệu quả đầu tư, thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng củanền kinh tế đất nước

 Phát triển nhanh và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiệntiến bộ và công bằng xã hội

Xây đựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta thực chất là nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Để thực hiện mục tiêu đó, trước hết kinh tế phải phát triểnnhanh, hiệu quả và bền vững Chỉ như vậy mới có khả năng xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đờisống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cáchchênh lệch giữa các vùng… Mục tiêu đó thể hiện sự phát triển vì con người, mọi con người đềuđược hưởng thành quả của phát triển

Tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội là hai tiêu chí phát triển của xã hội Chínhsách của các nhà nước nhìn chung đều nhằm thực hiện cả hai tiêu chí đó Tuy nhiên, chính sáchchú trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh có thể gây ra bất bình đẳng (về thu nhập, cơ hộihọc tập, tiếp cận dịch vụ xã hội) và làm cho nghèo đói gia tăng, thậm chí có thể làm phát sinh cácmâu thuẫn xã hội Ngược lại, chính sách chú trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội cóthể làm

Trang 13

triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế Trong bối cảnh đó, vấn đề giải quyết hài hòa mối quan

hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội càng trở nên cấp thiết

Giai đoạn 1991-1995, định hướng gắn kết tăng trưởng với tiến bộ và công bằng xã hội thểhiện trong nội dung Cương lĩnh năm 1991 Các định hướng chính sách lớn trong giai đoạn 1991-

1995 tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển các thành phần kinh tế, hình thành các thịtrường nhân tố sản xuất, xây dựng cơ cấu kinh tế thị trường Chính sách xã hội bắt đầu tập trungvào giải quyết những vấn đề cơ bản nhất, đó là cải cách và đổi mới chính sách tiền lương chophù hợp khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường, xây dựng hệ thống an sinh xã hội, trong đó cóchính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và chăm sóc sức khỏe cho cả đốitượng ngoài khu vực nhà nước Văn kiện Đại hội lần thứ VII của Đảng khẳng định: “Kết hợp hàihòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ vàcông bằng xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân Coi phát triển kinh

tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là độnglực thúc đẩy phát triển kinh tế” Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng1/1994), mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội được Đảng xác định một cách rõ ràng hơn: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ

và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”

Từ đó cho đến nay, sau nhiều kỳ Đại hội, quan điểm về phát triển nhanh và bền vững, thựchiện công bằng xã hội của Đảng liên tục được bổ sung, sửa đổi để phù hợp với thời cuộc Giaiđoạn 2011-2016,Đảng khẳng định rằng, tiến bộ xã hội và công bằng xã hội là hai mục tiêu songtrùng của sự phát triển xã hội; mục đích tối cao của tăng trưởng kinh tế là nhằm phát triển conngười; mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, xét cho cùng, là để giải phóng những giá trịvăn hóa tích cực nhất cho loài người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; mặt khác, tăngtrưởng kinh tế đồng thời giúp con người có nhiều cơ hội, khả năng tiếp nhận các giá trị văn hóa,đưa xã hội tiến lên những nấc thang mới trong lịch sử nhân loại Văn kiện Đại hội XI của Đảngnhấn mạnh: “kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiệntiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hòa đời sốngvật chất và đời sống tinh thần” Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Gắn kết chặt chẽ, hàihòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nângcao đời sống nhân dân” Như vậy, trong thời kỳ đổi mới Đảng luôn chủ trương phát triển kinh tếphải gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội; coi hai mục tiêu

Trang 14

Đường lối cách mạng Đảng cộng sản

này có mối quan

Trang 15

hệ chặt chẽ với nhau, trong đó tăng trưởng kinh tế là cơ sở, làm tiền đề và điều kiện cho nhau,ngược lại, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là điều kiện quan trọng thúc đẩy và bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao và bền vững.

2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng về vấn đề khoa học – kĩ thuật trong ngành Thủy sản:

2.1 Quan điểm phát triển

Phát triển thủy sản thành một ngành sản xuất hàng hóa, có thương hiệu uy tín, có khả năngcạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế

Phát triển thủy sản theo hướng chất lượng và bền vững, trên cơ sở giải quyết hài hòa mốiquan hệ giữa nâng cao giá trị gia tăng với đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệmôi trường, bảo vệ và phát triển nguồn lợi và an sinh xã hội; chủ đông thích ứ ng với tác độngcủa biến đổi khí hâu; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa phát triển thủy sản với góp phần bảo vệ chủquyền quốc gia và an ninh quốc phòng trên các vùng biển

2.2 Mục tiêu đến năm 2020

Ngành thủy sản cơ bản được công nghiệp hóa - hiện đại hoá và tiếp tục phát triển toàn diệntheo hướng bền vững, thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn, có cơ cấu và các hình thức tổchức sản xuất hợp lý, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có thương hiệu uy tín, có khả năngcạnh tranh cao và hội nhập vững chắc vào kinh tế thế giới

2.3 Định hướng phát triển

 Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sảnHiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển, đặc biệt sớm hoàn thiện hệ thống thông tintàu cá nhằm chủ động cảnh báo, kịp thời ứng phó với các tai nạn, rủi ro trên biển, cứ u hô ̣cứ unan

Củng cố, phát triển ngành cơ khí đóng, sửa tàu cá, có lộ trình phù hợp chuyển nhanh các tàu

cá vỏ gỗ sang vỏ thép, vật liệu mới…, phát triển công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành cơ khí tàu

cá, các ngành sản xuất lưới sợi, ngư cụ phục vụ khai thác gắn với đầu tư nâng cấp, hiện đại hóacác cảng cá, bến cá, các khu neo đậu tránh trú bão, các khu hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển vàtrên các hải đảo

Nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật trong nghề khai thác hải sản Xây dựng vàphát triển hệ thống khu bảo tồn biển và khu bảo tồn vùng nước nội địa, thực hiện việc thả cácgiống thủy sản đảm bảo chất lượng ra biển và các thủy vực nội địa theo mùa vụ để phục hồi, táitạo và phát triển nguồn lợi thủy sản

 Nuôi trồng thủy sản

Áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, công nghệ cao vào sản xuất giống,tập trung nguồn lực để tạo nguồn giống sạch bệnh, trước hết đối với tôm sú, tôm chân trắng và cátra

Tiếp tục tập trung đầu tư cho các Trung tâm quốc gia giống thủy sản, các trung tâm giống thủy sản cấp I và vùng sản xuất giống tập trung ở Nam Trung bộ

 Chế biến và tiêu thụ sản phẩm thủy sản

Ngày đăng: 02/11/2022, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w