Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận Luận án này đã có hai đóng góp chính về mặt lý luận. Đầu tiên, bằng cách áp dụng và mở rộng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), nghiên cứu đã khám phá một số yếu tố có vai trò thu hẹp hoặc gia tăng khoảng cách ý định – hành vi trong khởi sự kinh doanh. Hầu hết các nghiên cứu trong lĩnh vực khởi sự kinh doanh từ trước đến nay đều tập trung vào nghiên cứu ý định khởi sự kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng tới ý định này (Schlaegel và Koenig, 2014). Tuy nhiên, những nghiên cứu như vậy làm hạn chế hiểu biết về hành vi khởi sự kinh doanh thực tế. Theo đó, luận án nghiên cứu mối quan hệ ý định – hành vi và các yếu tố (cá nhân và bối cảnh) tác động tới mối quan hệ này. Đóng góp thứ hai của luận án là kiểm định tác động của cảm nhận khả năng kiểm soát hành vi tới hành vi khởi sự kinh doanh thực tế và mối quan hệ tương quan giữa ba tiền tố trong lý thuyết hành vi có kế hoạch. Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án Thứ nhất: Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như kinh nghiệm kinh doanh, sự hối tiếc đoán định, giáo dụcđào tạo khởi sự kinh doanh, môi trường nhận thức về kinh doanh có vai trò thúc đẩy ý định khởi sự kinh doanh chuyển hoá thành hành vi khởi sự kinh doanh thực tế, thu hẹp khoảng cách ý định – hành vi khởi sự kinh doanh. Trong khi đó, các yếu tố khác như lo sợ thất bại, tính cách chủ động và môi trường văn hoá xã hội về kinh doanh lại cản trở quá trình thực hiện những ý định khởi sự kinh doanh này, hay nói cách khác, gia tăng khoảng cách ý định – hành vi trong khởi sự kinh doanh. Thứ hai: Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ngoài ý định khởi sự kinh doanh, cảm nhận khả năng kiểm soát hành vi là một yếu tố khác có tác động tích cực và trực tiếp tới hành vi khởi sự kinh doanh thực tế. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho ngoài vai trò là yếu tố hình thành nên ý định khởi sự kinh doanh, chuẩn chủ quan và cảm nhận khả năng kiểm soát hành vi cũng có vai trò trong việc thúc đẩy thái độ đối với hành vi khởi sự kinh doanh.
Kh i s kinh doanh, Ủ đ nh vƠ hƠnh vi kh i s kinh doanh
Kh i s kinh doanh (Entrepreneurship)
Khởi nghiệp là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng được các học giả và nhà nghiên cứu chú ý ngày càng nhiều, nhằm tìm hiểu các yếu tố dẫn tới sự phát triển của hoạt động khởi nghiệp Lĩnh vực này được đánh giá cao vì tác động của nó đối với tăng trưởng GDP của quốc gia, tạo ra hàng trăm nghìn việc làm, đồng thời ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước, doanh thu xuất khẩu và năng suất chung của nền kinh tế, như được nhấn mạnh trong các công trình của Birley (1987), Reynolds (1999) và Low và MacMillan (1988).
Kh i s kinh doanh v n đ c coi là m t khái ni m t ng đ i m i m c dù s xu t hi n c a nó có th b t ngu n t gi a th k XVII khi thu t ng này đ c nhà kinh t h c Richard Cantillon phát tri n l n đ u tiên vào n m 1755 (Mcstay, 2008) K t đó khái ni m này đã có nhi u phát tri n, tuy nhiên v n có r t nhi u tranh cãi v v n đ này Các đ nh ngh a v kh i s kinh doanh nhìn chung xu t phát t các quan đi m khác nhau bao g m các quan đi m kinh t , xã h i, nh n th c và hành vi Nh ng quan đi m này t p trung vào các đ c đi m khác nhau c n thi t đ hình thành kh i s kinh doanh
M t s h c gi đã đ nh ngh a kh i s kinh doanh là m t quá trình t o ra, đánh giá và khai thác các c h i cho hàng hóa ho c d ch v m i (Shane và c ng s , 2003)
Nh ng ng i khác l i cho r ng kh i s kinh doanh đ c thi t l p v i quy n s h u c s tài s n v n; suy ngh này v t ra ngoài khái ni m v vi c t o ra doanh nghi p m i và t p trung vào vi c t o ra tài s n v n đ t ng tr ng kinh t (Foss và c ng s , 2008; GEM, 2015; Gửksel và Aydintan, 2011) Kh i s kinh doanh c ng đ c đ nh ngh a t góc đ hành vi, vì nhi u nhà nghiên c u cho r ng kh i s kinh doanh là hành vi c a m t doanh nhân (Abouzeedan và c ng s , 2010)
Khởi sự kinh doanh (khởi nghiệp) và cơ hội kinh doanh là một chủ đề được nghiên cứu sâu để hiểu tại sao và như thế nào các doanh nhân nhận diện và khai thác các cơ hội Việc tìm kiếm một cơ hội khởi nghiệp tối ưu có thể không mang lại hiệu quả như kỳ vọng, được nhấn mạnh bởi các nghiên cứu của Gartner (1988) và Fiet (2002) Tuy nhiên, thực tế cho thấy cơ hội khởi nghiệp khác biệt đáng kể giữa các cá nhân, vì vậy cách nhận diện và phát triển cơ hội khởi nghiệp trong nghiên cứu và thực tiễn có tính liên quan và quan trọng Trong khuôn khổ bài viết này, Shane và Venkataraman (2000) định nghĩa cơ hội khởi nghiệp là quá trình hình thành một doanh nghiệp mới, nhấn mạnh mối quan hệ giữa nhận thức và hành động của các nhà thực hành và nhà nghiên cứu Theo quan điểm của các nhà khoa học, việc tạo ra các dự án khởi nghiệp mới có tiềm năng thúc đẩy đổi mới và tăng trưởng kinh tế Ở mức độ lý thuyết và kinh tế, khái niệm cơ hội khởi nghiệp là sự hình thành một doanh nghiệp mới phù hợp với khuôn khổ nghiên cứu khởi nghiệp hiện có.
1.1.2 Ý đ nh kh i s kinh doanh (Entrepreneurial intention) ụ đ nh đ c đ nh ngh a là m t tr ng thái tâm lỦ h ng s chú Ủ t i m t đ i t ng, m c tiêu ho c m t quá trình c th nào đó nh m đ t đ c k t qu mong mu n (Bird,
1988) Lý thuyết hành vi có ý định nhấn mạnh các yếu tố quyết định hành vi và được xem là công cụ đáng tin cậy để đánh giá mức độ sẵn sàng và khả năng thực hiện hành vi của một người Vì vậy, lý thuyết này được coi là khuôn khổ giúp đo lường ý định hành vi và dự báo hành vi của cá nhân trong các trường hợp có mục đích, có kế hoạch và hướng tới một mục tiêu cụ thể (Ajzen, 1991; Bagozzi và cộng sự, 1989).
Trong nghiên cứu khởi nghiệp, khái niệm ủ đ nh khởi nghiệp đóng vai trò làm rõ động lực thúc đẩy một người tham gia vào việc hình thành doanh nghiệp mới khi họ nhận thấy cơ hội kinh doanh Bird (1988) mô tả ủ đ nh khởi s chính là một trạng thái tâm lý của người thực thi các hành vi nhằm phát triển các nội dung kinh doanh mới Krueger và cộng sự (1993) nhấn mạnh định nghĩa ủ đ nh khởi s là sự cam kết của một cá nhân với việc bắt đầu một hoạt động kinh doanh mới Doan, Winkel và cộng sự (2011) cho rằng ủ đ nh khởi s nảy sinh từ mong muốn và sự tập trung của cá nhân tham gia vào việc thành lập doanh nghiệp mới Khái niệm này hình thành dựa trên niềm tin của cá nhân về khả năng hành động và sự sẵn sàng triển khai ý tưởng kinh doanh mới; từ đó ủ đ nh khởi nghiệp được xem như quá trình hình thành một doanh nghiệp mới (Shane & Venkataraman, 2000) Thompson (2009) bổ sung rằng ủ đ nh khởi nghiệp là trạng thái tâm lý của một người nhằm quyết định và có ý định lên kế hoạch cho việc thành lập doanh nghiệp mới vào một thời điểm trong tương lai Đây được xem là định nghĩa thực tiễn và phù hợp nhất theo Ernst (2011).
Tóm l i, trong lu n án này, ý đnh kh i s kinh doanh là s t th a nh n c a m t ng i v vi c h d đnh thi t l p m t doanh nghi p m i và có ý th c lên k ho ch làm nh v y vào th i đi m nào đó trong t ng lai
1.1.3 Hành vi kh i s kinh doanh (Entrepreneurial behaviour)
Khởi nghiệp là một quá trình được xem như chuỗi các hoạt động bắt đầu từ khi một cá nhân nhận diện và phát triển cơ hội kinh doanh, đồng thời được định hình bởi sự tham gia vào các hoạt động kinh doanh và kết thúc khi người đó thành lập và vận hành một doanh nghiệp Doanh nghiệp này có thể tồn tại dưới nhiều hình thức, từ kinh doanh độc lập cho tới thiết lập mối quan hệ đối tác hoặc trở thành một đơn vị được thành lập trong một doanh nghiệp đã có sẵn Nói ngắn gọn, hành vi khởi nghiệp là hành vi tự mình bắt đầu một hoạt động kinh doanh thay vì làm việc cho người khác (Kolvereid, 1996a) Tuy nhiên, hành vi này rất khó quan sát và đo lường (Auteri, 2003; Brown và cộng sự, 2001) và thường được coi là hành vi có mục đích hướng tới đạt được một kết quả dài hạn trong bối cảnh khởi nghiệp Đến nay vẫn thiếu một định nghĩa chung được công nhận về hành vi khởi nghiệp.
Th t v y, Gieure và c ng s (2020, trang 542) đã đ nh ngh a hành vi kh i s kinh doanh là kh n ng, n ng l c và ki n th c v các y u t c u thành nên m t doanh nghi p
Khởi sự kinh doanh tập trung vào hành vi và kiến thức, bí quyết kinh doanh giúp người tham gia có thể thực hiện một hoạt động khởi sự Theo Kautonen và cộng sự (2015a), hành vi khởi sự kinh doanh cho thấy các kỹ năng, khả năng và năng lực giúp một doanh nhân trẻ thành lập và quản lý một công ty Việc một cá nhân phát hiện bản thân có khả năng thực hiện các hành vi khởi sự như quan tâm, tìm tòi và tham gia vào các hoạt động khởi sự phản ánh một khuôn mẫu hành vi và sự tham gia vào quá trình này trước khi thành lập một doanh nghiệp mới (Gieure và cộng sự, 2020) Tuy nhiên, đánh giá về định nghĩa và cách đo lường hành vi khởi sự kinh doanh không luôn nhận được sự đồng thuận từ các nghiên cứu gần đây (ví dụ Duong và cộng sự, 2022; Calza và cộng sự, 2020; Le và cộng sự, 2021) Meoli và cộng sự (2020) cho thấy dù có nhiều cách tiếp cận và thang đo khác nhau, khái niệm này vẫn có các định nghĩa khác nhau nhưng phản ánh đúng hành vi liên quan tới việc hình thành một doanh nghiệp mới, như ví dụ nghiên cứu thị trường hoặc chuẩn bị một kế hoạch kinh doanh.
Theo Mair (2002, trang 1), hành vi c a doanh nhân trong các t ch c hi n t i là
Một tập hợp các hoạt động và thực hành được thực hiện bởi các cá nhân ở nhiều cấp độ khác nhau, họ tham gia và thể hiện sự sáng tạo để xác định và theo đuổi các cơ hội kinh doanh, đồng thời học hỏi và phối hợp nguồn lực sáng tạo nhằm xây dựng và quản lý doanh nghiệp Gartner và cộng sự (1992) định nghĩa hành vi khởi nghiệp là nhiều hình thức hoạt động khác nhau mà các cá nhân tham gia khi bắt đầu và phát triển một doanh nghiệp.
Hành vi kh i s kinh doanh (Entrepreneurial behaviour)
Kh i s kinh doanh là m t quá trình (Kessler và Frank, 2009) Quá trình này b t đ u khi m t cá nhân phát tri n và đ c đ nh h ng b i Ủ đ nh tham gia vào các ho t đ ng kinh doanh (Lee và Wong, 2004; Shook và c ng s , 2003; Wurthmann, 2014) và k t thúc khi cá nhân đó t o ra và b t đ u đi u hành m t doanh nghi p Doanh nghi p này có th có vô s hình th c, bao g m c vi c t kinh doanh ho c tr thành đ i tác trong m t doanh nghi p đã thành l p tr c đó Nói m t cách ng n g n, hành vi kinh doanh đ c p đ n vi c b t đ u m t công vi c kinh doanh thay vì làm vi c cho nh ng ng i khác (Kolvereid, 1996a) Hành vi c a doanh nhân r t khó khám phá và đo l ng (Auteri, 2003; Brown và c ng s , 2001) và nó th ng đ c coi là hành vi có ch đích h ng t i m t s ki n c th áng chú Ủ, cho đ n nay v n thi u m t đ nh ngh a chung v hành vi kh i s kinh doanh
Th t v y, Gieure và c ng s (2020, trang 542) đã đ nh ngh a hành vi kh i s kinh doanh là kh n ng, n ng l c và ki n th c v các y u t c u thành nên m t doanh nghi p
Hành vi kh i s kinh doanh ph n ánh ki n th c và bí quy t kinh doanh giúp m t ng i th c hi n m t ho t đ ng kh i s kinh doanh Do đó, hành vi kh i s kinh doanh cho th y nh ng k n ng, kh n ng và n ng l c có đ c s thúc đ y m t doanh nhân non tr thành l p và qu n lỦ m t công ty (Kautonen và c ng s , 2015a) Vi c m t ng i phát hi n ra b n thân có kh n ng th c hi n các hành vi kh i s kinh doanh nh t đ nh ho c th m chí quan tâm đ n các ho t đ ng kh i s kinh doanh ph n ánh kh n ng h s hành đ ng theo Ủ đ nh ban đ u và tham gia vào hành vi kh i s kinh doanh Nh ng hành vi này di n ra tr c khi thành l p m t doanh nghi p m i (Gieure và c ng s , 2020) Tuy nhiên, đ nh ngh a này không hoàn toàn nh n đ c s đ ng tình t các nghiên c u g n đây (ví d : Duong và c ng s , 2022; Calza và c ng s , 2020; Le và c ng s , 2021) Meoli và c ng s (2020) c ng ch ra r ng m c dù có nh ng cách ti p c n và đo l ng khác nhau thang đo “hành vi kh i s kinh doanh” c ng nh có nh ng đ nh ngh a khác nhau v bi n ph thu c này, song nó c n ph n ánh chính xác h n hành vi liên quan t i vi c t o l p m t doanh nghi p m i, ví d nh đã nghiên c u th tr ng ho c đã vi t m t b n k ho ch kinh doanh
Theo Mair (2002, trang 1), hành vi c a doanh nhân trong các t ch c hi n t i là
Mô hình hành vi khởi sự kinh doanh thể hiện một tập hợp các hành động và thực hành mà cá nhân tham gia khi thành lập một doanh nghiệp mới, và nhiều hành động này có thể trái ngược với việc làm thuê cho người khác Theo Gartner và cộng sự (1992), hành vi khởi sự kinh doanh không phải là một hình thức đồng nhất mà các cá nhân tham gia để hình thành một doanh nghiệp mới, mà là một chuỗi hoạt động đa dạng nhằm nhận diện và theo đuổi các cơ hội kinh doanh Hơn nữa, hành vi khởi sự kinh doanh được xem như một quá trình bao gồm các hành động phát hiện, đánh giá và khám phá các cơ hội kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000).
Theo Shirokova và cộng sự (2016), hành vi khởi sự kinh doanh được hình thành từ khả năng của cá nhân biến ý tưởng thành hành động và dẫn đến việc thành lập doanh nghiệp mới Bất kỳ hoạt động khởi sự nào cũng bao gồm một chuỗi hành động do các cá nhân thực hiện, chịu ảnh hưởng của sở thích cá nhân và các điều kiện bên ngoài Các nhà nghiên cứu cho rằng sự xuất hiện của hành vi khởi sự kinh doanh là kết quả của quá trình hình thành ý định kinh doanh và các hoạt động khởi sự nhằm biến ý tưởng thành một doanh nghiệp mới.
2004) Càng nhi u ho t đ ng đ c th c hi n, m t doanh nhân càng ti n g n đ n vi c t o l p m t doanh nghi p m i (Alsos và Kolvereid, 1998; Carter và c ng s , 1996) Trong lu n án này, tác gi k th a đ nh ngh a c a Shirokova và c ng s (2016), hành vi kh i s kinh doanh là m t lo t các ho t đ ng kh i s kinh doanh mà m t ng i đã th c hi n trên con đ ng t o l p doanh nghi p m i S l ng các ho t đ ng kh i s mà m t cá nhân tham gia xác đ nh m c đ ti n g n c a ng i đó đ i v i vi c b t đ u m t công vi c kinh doanh m i.
T ng quan nghiên c u v kh i s kinh doanh
Cách ti p c n theo đ c đi m, tính cách doanh nhân
M t thách th c trong l nh v c kh i s kinh doanh là xác đ nh nh ng ng i có kh n ng tr thành doanh nhân trong toàn b dân s chung Các h c gi đã nh n m nh vai trò c a đ c đi m, tính cách và s nh h ng c a nó đ i v i hành vi c a doanh nhân (Espíritu và Sastre, 2015) Theo cách ti p c n này, các đ c đi m tính cách là y u t quy t đ nh c a hành vi, khi n m t ng i th c hi n hành vi m t cách t ng đ i nh t quán trong các hoàn c nh khác nhau Cách ti p c n đ c đi m tính cách cá nhân gi đ nh doanh nhân là m t nhân cách, m t tr ng thái t n t i c đ nh, m t t p h p các đ c đi m nh t đ nh mô t th c th - doanh nhân (Gartner, 1988)
Một số nghiên cứu về đặc điểm tính cách đã xác định sự khác biệt giữa doanh nhân và những người không phải là doanh nhân, đặc biệt ở các đặc điểm như khả năng kiểm soát cao, động lực thành tựu lớn, mức độ chấp nhận rủi ro cao và nhu cầu tự lập; những đặc điểm này được cho là có liên hệ với hiệu quả và thành công trong kinh doanh (Lau và Busenitz, 2001; Espíritu và Sastre, 2015) Từ năm 1985, mô hình đặc điểm tính cách phổ biến, hay Five Factor Model, nổi lên và cung cấp một khuôn khổ lý thuyết đầy đủ cho cách tiếp cận nghiên cứu tính cách trong khởi nghiệp, với năm yếu tố: extraversion (hướng ngoại), agreeableness (dễ chịu/hoà đồng), conscientiousness (tận tâm/chú ý đến chi tiết), openness to experience (cởi mở với trải nghiệm) và neuroticism (khả năng bất ổn cảm xúc) Các nhà nghiên cứu theo hướng này cho rằng tính cách thể hiện như một cấu trúc mang tính đặc thù, thay vì chỉ là tập hợp các đặc điểm riêng lẻ, và cấu trúc này có thể áp dụng cho nghiên cứu khởi nghiệp kinh doanh (Schmitt-Rodermund, 2004, 2007).
M c dù đ c tính cá nhân là m t cách ti p c n thu hút nhi u nhà nghiên c u và là m t b c phát tri n đáng k trong l nh v c kh i s kinh doanh, nh ng k t qu c a nh ng nghiên c u này không th c s thành công, không gi i thích đ c s không đ ng nh t c a đa s doanh nhân, c ng nh không đ t đ c giá tr d đoán cao (Brockhaus, 1982; Begley và Boyd, 1987; Low và MacMillan, 1988) Cách ti p c n này th ng xuyên b ch trích n ng n (Fayolle, 2007; Stokes và c ng s , 2010) Ph n l n s ch trích t p trung vào b n ch t t nh c a cách ti p c n này vì không quan tâm đ n quá trình phát tri n, h c h i và thay đ i c a doanh nhân khi h th c hi n các ho t đ ng kinh doanh c a mình (Stokes và c ng s , 2010) M t v n đ l n khác cách ti p c n này là tính xác đ nh Chúng ta có th c s mong đ i m i liên h ch t ch gi a các đ c đi m tính cách, nhân kh u h c và hành vi kh i s kinh doanh không? Theo Ủ ngh a tiêu c c, đi u này có ngh a là doanh nhân là nh ng ng i máy đ c l p trình s n t nh ng đ c đi m nh t đ nh và không có s l a ch n riêng (Autio và c ng s , 2001) Th c t , hành vi đ c xác đ nh b i các ph n ng c th đ i v i hoàn c nh ch không ph i b i m t t p h p các đ c đi m nh t đ nh (Katz, 1992).
Cách ti p c n hành vi
Các cách tiếp cận dựa trên tính cách cá nhân đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về động lực và năng lực khởi nghiệp Cách nhìn dựa vào hành vi, gắn với quan điểm của Schumpeter (1934) về khởi nghiệp, nhấn mạnh việc doanh nhân thực hiện các hành động để hình thành các doanh nghiệp mới thay vì chỉ phác thảo ai là chủ thể của quá trình đó Quan điểm này tập trung vào những hoạt động và quyết định của doanh nhân hơn là danh tính của họ Gartner (1988) cho rằng mục tiêu chính của hướng tiếp cận này là giải thích các chức năng, hoạt động và hành động gắn với việc nhận thức các cơ hội và xây dựng tổ chức để theo đuổi chúng Bygrave và Hofer (1991) bổ sung rằng mục tiêu là làm rõ các khả năng, hành vi và quá trình nhận thức cơ hội nhằm hình thành và phát triển các tổ chức doanh nghiệp.
Tiếp cận hành vi nhận diện và khai thác cơ hội kinh doanh tập trung vào nhận diện cơ hội và khai thác chúng (Venkataraman, 1997) Khởi nghiệp được xem như một tập hợp giả định về cơ hội và cách hình thành hàng hóa và dịch vụ trong tương lai, đặc biệt khi thị trường chưa có sẵn loại sản phẩm/dịch vụ này (Sarasvathy và cộng sự, 2003) Việc thành lập một doanh nghiệp mới là một quá trình năng động liên quan đến một cá nhân (doanh nhân) tham gia mua nguyên vật liệu, thành lập pháp nhân, xây dựng quy trình sản xuất và huy động nguồn lực phù hợp (Shane, 2007) Vì vậy, lập kế hoạch là một phần không thể thiếu trong quá trình thành lập doanh nghiệp mới.
Các cách tiếp cận về hành vi và tính cách cá nhân đã hình thành cách hiểu về khởi nghiệp từ nhiều ngành nghiên cứu khác nhau, khiến cho khởi nghiệp trở thành đối tượng của nhiều luồng nghiên cứu và câu hỏi về cách thức khởi nghiệp diễn ra Gartner (1988) ghi nhận rằng các cách tiếp cận này tạo ra sự đa dạng về câu hỏi nghiên cứu và công cụ phân tích nhằm hiểu hành vi và cơ hội khởi nghiệp Audretsch (2012) cho rằng các tiếp cận này nhìn chung không đo lường đầy đủ các cấu trúc liên quan đến khởi nghiệp, như động lực, nguồn lực và bối cảnh tổ chức, nên kết quả có thể bị lệ thuộc vào dữ liệu và bối cảnh cụ thể Amit (1993) cũng nhấn mạnh rằng cách tiếp cận hành vi có giới hạn rõ ràng và tình trạng khởi nghiệp không phải lúc nào cũng được phân biệt rõ giữa doanh nhân và quản trị viên Venkataraman (1997) mô tả ngắn gọn hai cách tiếp cận chính để hiểu khởi nghiệp thông qua nhận thức và hành vi, cho rằng hai hướng này làm sáng tỏ các khía cạnh của cơ hội khởi nghiệp mà không bị gò bó bởi một khuôn khổ cạnh tranh cố định; đồng thời, các phương pháp này đã mở rộng ngoài các yếu tố như trình độ học vấn, mức độ nhận thức và ảnh hưởng của gia đình và xã hội trong quá trình hình thành và phát triển cơ hội kinh doanh.
Cách ti p c n nh n th c
Vấn đề ai là doanh nhân thường được nhìn nhận qua lens tính cách, nhưng quan điểm này đang bị tranh luận Gartner (1988) cho rằng các nghiên cứu nên đi theo hướng “doanh nhân làm gì”, tức là tập trung vào hành động, quyết định và kết quả của người khởi nghiệp thay vì mô tả chi tiết tính cách cá nhân Do đó, một bài viết SEO hiệu quả nên nhấn mạnh khái niệm “doanh nhân làm gì” và vai trò của hành vi khởi nghiệp trong sự thành công của doanh nghiệp, thay vì chỉ liệt kê đặc điểm tâm lý Các yếu tố cần phân tích bao gồm cách doanh nhân nhận diện cơ hội, cách họ ra quyết định trong bối cảnh rủi ro, sự thích nghi với thị trường và mạng lưới liên kết hỗ trợ, nhằm tạo nên một hình ảnh khái quát về doanh nhân dựa trên hành động thực tiễn thay vì một mẫu tính cách cố định.
Vì vậy, nghiên cứu khởi nghiệp dần chuyển trọng tâm từ con người sang quá trình và cách tiếp cận dựa trên hành vi Theo Shaver và Scott (1991), con người là yếu tố quan trọng trong khởi sự kinh doanh và vai trò của họ không thể bỏ qua, vì người đóng vai trò là người tích hợp toàn bộ các nguồn lực để tiến hành thành lập một doanh nghiệp mới Tuy nhiên, hạn chế của các cách tiếp cận trước là mang tính cố định và thiếu động lực, nên các nhà nghiên cứu dần chuyển sang tiếp cận dựa trên nhận thức, tập trung vào các yếu tố của hành vi khởi sự kinh doanh và các khái niệm liên quan đến nhận thức và hành vi (Sivarajah và Achchuthan, 2013) Cách tiếp cận này khác với trước ở chỗ coi trọng con người ở mức độ cá nhân và hành vi, chứ không chỉ các đặc điểm tính cách cố hữu; tức là đối tượng nghiên cứu là con người, không phải tính cách cố định Mitchell và đồng sự (2002) đã giải thích vai trò kép của tâm lý học nhận thức trong việc giúp hiểu hành vi doanh nhân, đồng thời nhấn mạnh các quá trình tâm lý liên quan đến sự tương tác của doanh nhân với môi trường và các tác nhân khác.
Trong khuôn khổ các tiếp cận nhận thức, các nhà nghiên cứu cho rằng ý định là yếu tố tiên đoán quan trọng nhất đối với hành vi (Bagozzi và cộng sự, 1989), vì ý định liên quan đến những hành vi khó quan sát và chịu ảnh hưởng bởi thời gian trước khi hành vi được thực hiện (Katz và Gartner, 1988; Krueger và Brazeal, 1994) Khởi sự kinh doanh là một trong những hành vi khó quan sát, do đó ý định kinh doanh được xem như một quá trình tiền đề trong khởi sự kinh doanh, vì nó là bước đầu tiên trong chuỗi các hành động hình thành doanh nghiệp (Bird, 1988) Lập luận này đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và trở thành một chủ đề nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực khởi sự kinh doanh.
Cho đ n nay, nghiên c u v Ủ đ nh kh i s kinh doanh r t đa d ng Nh ng nhìn chung, các nghiên c u v Ủ đ nh kh i s kinh doanh có th nhóm thành 3 h ng ti p c n chính, c th nh sau:
1.2.3.1 Ki m đ nh và phát tri n các mô hình v ý đ nh kh i s kinh doanh h ng ti p c n này, các nhà nghiên c u c g ng ki m đ nh các mô hình g c ho c m r ng mô hình v Ủ đ nh kh i s kinh doanh xoay quanh các lỦ thuy t n n t ng
Ba lý thuyết chủ đạo được dùng để nghiên cứu khởi nghiệp gồm Lý thuyết Sự kiện Khởi nghiệp (EEM) của Shapero và Sokol (1982); Lý thuyết Ý định Khởi nghiệp (EIM) của Bird (1988); và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) Đến nay đã có nhiều nghiên cứu nghiệm chứng mô hình của Shapero và TPB trong lĩnh vực khởi nghiệp, tuy nhiên vẫn chưa có nhiều nghiên cứu kiểm định đầy đủ mô hình Ý định khởi nghiệp của Bird EEM cho rằng các yếu tố để khởi nghiệp gồm ba thành tố: mức độ mong muốn (perceived desirability), tiềm năng hành động (potential to act) và khả năng thực hiện được nhận thức (perceived feasibility) (Shapero & Sokol, 1982) Trong khi TPB cho thấy các yếu tố dẫn tới hành vi khởi nghiệp gồm thái độ đối với hành vi (attitude toward behaviour), chuẩn xã hội (subjective norms) và kiểm soát hành vi được nhận thức (perceived behavioural control) Hai mô hình EEM và TPB có điểm chung là đều cho rằng mong muốn và khả năng kiểm soát hành vi là các yếu tố dự báo hành vi khởi nghiệp, nhưng khác ở chỗ EEM tập trung vào động lực nội tại và sự sẵn sàng hành động, còn TPB nhấn mạnh vai trò của thái độ xã hội và kiểm soát hành vi Mặc dù có những điểm đồng thuận, TPB được áp dụng rộng rãi và được cho là có mức độ tin cậy cao trong dự đoán hành vi ở nhiều lĩnh vực, bao gồm khởi nghiệp; Autio và cộng sự (2001) nhấn mạnh mối liên hệ giữa mong muốn và khả năng kiểm soát hành vi trong nhiều bối cảnh.
Ngoài vi c ki m đ nh mô hình g c, các nghiên c u theo h ng ti p c n này c ng m r ng mô hình b ng vi c b sung thêm các bi n s m i đ gi i thích Ủ đ nh kh i s kinh doanh t t h n H n n a, các nhà nghiên c u cho r ng m t s bi n đ ng l c có th không nh h ng tr c ti p t i Ủ đ nh kh i s kinh doanh nh ng tác đ ng gián ti p thông qua các ti n t c a các lỦ thuy t n n t ng trên ch ng minh l p lu n này, m t s bi n nh s sáng t o (Bellò và c ng s 2018); ki n th c kinh doanh (Roy và c ng s , 2017); các rào c n môi tr ng n i sinh, môi tr ng ngo i sinh (Trivedi, 2017); và môi tr ng d đoán xung quanh (Zapkau và c ng s 2015) đã đ c gi i thi u đ m r ng mô hình nghiên c u
M t ph ng pháp hi n t i th ng đ c các nhà nghiên c u s d ng là ki m tra các tác đ ng trung gian và đi u ti t c a các ti n t trong các lỦ thuy t n n t ng trên K t qu nghiên c u đã cho th y nhi u đi u thú v , ví d nh thái đ v i hành vi kh i s kinh doanh và c m nh n kh n ng ki m soát có vai trò đi u ti t trong m i quan h gi a s t tin vào n ng l c kh i s và Ủ đ nh kh i s kinh doanh (Tsai và c ng s , 2016); s t tin vào n ng l c kh i s là trung gian trong m i liên h gi a nh n th c c h i kinh doanh và Ủ đ nh kh i s kinh doanh (Loan và c ng s , 2021); trình đ h c v n đi u ti t m i quan h gi a đ nh h ng và Ủ đ nh kh i s kinh doanh (Botha và Bignotti, 2017) T t c đ u đóng góp thêm nhi u ki n th c m i cho l nh v c kh i s kinh doanh Vi c b sung bi n và đi u ch nh mô hình đã làm t ng kh n ng d đoán m t cách rõ ràng, c i thi n mô hình đáng k d a trên nh ng lỦ thuy t n n t ng (Schlaegel và Koenig, 2014)
Tuy nhiên, mặc dù được coi là một cách quan trọng để nhận diện các mô hình và đã được áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực nghiên cứu khác như y tế và giáo dục (Kellar và Hankins, 2013), phương pháp này vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ trong nghiên cứu khởi nghiệp và kinh doanh (Donaldson, 2019) Điều này gợi ý rằng còn nhiều thách thức về đánh giá hiệu quả và khả năng áp dụng rộng rãi của phương pháp trong các bối cảnh doanh nghiệp.
1.2.3.2 Khám phá các y u t nh h ng t i ý đ nh kh i s kinh doanh
Bên cạnh nghiên cứu kiểm định và phát triển các mô hình khởi nghiệp và khai thác thị trường, các nhà nghiên cứu còn tìm hiểu và khám phá thêm các yếu tố khác có ảnh hưởng tới quá trình khởi nghiệp Nhìn chung, các nghiên cứu theo hướng tiếp cận này chủ yếu khám phá hai nhóm yếu tố sau: yếu tố nội tại liên quan đến năng lực cá nhân, động lực và nguồn lực của người sáng lập; và yếu tố bên ngoài như môi trường kinh doanh, hệ sinh thái khởi nghiệp và điều kiện tiếp cận vốn.
Th nh t, nhóm y u t thu c v cá nhân
Phân tích các nghiên cứu về nhóm đặc điểm cá nhân liên quan trực tiếp đến việc xác định những đặc điểm và tính cách định hình một người để trở thành doanh nhân Từ những năm gần đây, các nghiên cứu về đặc điểm cá nhân của doanh nhân nhằm trả lời hai câu hỏi cơ bản: Doanh nhân là ai và một doanh nhân thường có những đặc điểm tâm lý nào? Cho đến hiện tại, một số đặc điểm tính cách nổi bật đã thu hút sự chú ý của giới học giả, đặc biệt là mô hình Big-5 (tính cách năm yếu tố) được cho là có liên hệ mạnh với khởi nghiệp và hoạt động kinh doanh, với các yếu tố như mở trải nghiệm, tính kỷ luật, hướng ngoại, dễ chịu và nhạy cảm với căng thẳng được nhắc đến trong các công trình của Antoncic và cộng sự.
2015), trong khi kh n ng t ki m soát đ c xác nh n là không có nh h ng và thiên h ng ch p nh n r i ro có nh h ng tích c c t i Ủ đ nh kh i s kinh doanh (Nasip và c ng s , 2017) Ngoài ra, nhi u nhà nghiên c u c ng cho r ng bi n s nhân kh u h c bao g m tu i, gi i tính, kinh nghi m kinh doanh và n n t ng gia đình có tác đ ng t i Ủ đ nh kh i s kinh doanh c a m t ng i (ví d Prodan và Drnovsek, 2010; Karlsson và Wigren, 2012; D’Este và Patel, 2007; Tartari và Breschi, 2012) H u h t các nghiên c u ch ra r ng nam gi i có Ủ đ nh kh i s kinh doanh cao h n so v i n gi i (Zhao và c ng s , 2005; Hendieh và c ng s , 2019), nh ng ng i có đ tu i cao th ng có Ủ đ nh kh i s kinh doanh ít h n do h ít s n sàng đ u t vào các ho t đ ng m t nhi u th i gian v i th i gian hoàn v n không ch c ch n (Fung và c ng s , 2001; Hatak và c ng s , 2015) và nh ng ng i có n n t ng gia đình kinh doanh s có Ủ đ nh kh i s kinh doanh cao h n (Wang và Wong, 2004; Carr và Sequeria, 2007) Ngoài ra, nhi u nghiên c u c ng ch ng minh r ng kinh nghi m kinh doanh c ng là y u t quan trong nh h ng t i Ủ đ nh kh i s kinh doanh (Barral và c ng s , 2018; Hsu và c ng s , 2018; Liguori và c ng s , 2018; Miranda và c ng s , 2017; Peng và c ng s , 2015) Tuy nhiên, g n đây l nh v c kh i s kinh doanh đang ch ng ki n s n i lên c a các y u t thay th m i nh b n s c kh i s kinh doanh (entrepreneurial identity) (Newbery và c ng s , 2018) và các quan ni m đ i ng u v các đ c đi m tích c c nh l c quan và nh ng đ c đi m tiêu c c nh “B ba đen t i - Dark Trial” (Hmieleski và Lerner 2016) M t h ng nghiên c u m i l khác là nghiên c u v các tri u ch ng r i lo n t ng đ ng gi m chú Ủ (ADHD), nh ng phát hi n ban đ u cho th y nh ng cá nhân có tri u ch ng r i lo n này có xu h ng kh i s kinh doanh nhi u h n (Verheul và c ng s , 2015; Doanh và c ng s , 2021)
Ryan và Deci (2000) cho rằng khởi nghiệp là kết quả của động lực nội tại và động lực bên ngoài mà cá nhân mong muốn đạt được Cách tiếp cận này mở ra hiểu biết sâu sắc về động lực khởi nghiệp và các kết quả mong đợi liên quan đến hiệu quả kinh doanh và lợi ích cá nhân, như lợi nhuận và tăng trưởng (Baumol, 1968; Carland và cộng sự, 1984; Dutta và Radner, 1999; Simons và Åstebro, 2010); các kết quả phi tài chính như độc lập/tự chủ và hạnh phúc (Gelderen, 2016; Shir và cộng sự, 2019; Haynie và Shepherd, 2011; Uy và cộng sự, 2013; Wiklund và cộng sự, 2019); và gần đây là các kết quả mang lợi ích xã hội (Austin và cộng sự, 2006; Bacq và Alt, 2018; Grant và Berry, 2011; Mair và Marti, 2006; Miller và cộng sự, 2012) Ngoài ra, đã được công nhận từ lâu là một yếu tố thúc đẩy cá nhân thực hiện khởi sự kinh doanh (Drucker, 1985; Schumpeter, 1934; Nambisan và cộng sự, 2019; Douglas và Prentice, 2019; Lasso và cộng sự, 2018; Yi và Duval-Couetil, 2018).
Th hai, nhóm y u t thu c v môi tr ng (enviromental characterictics)
Bên cạnh yếu tố cá nhân, các yếu tố thuộc môi trường được cho là có tác động đến ý định khởi nghiệp của một người, thông qua nhận thức về cơ hội cũng như những khó khăn và lợi ích khi thực hiện kinh doanh Nghiên cứu của Franke và Lüthje nhấn mạnh rằng cách nhìn nhận và bối cảnh xã hội xung quanh có thể thúc đẩy hoặc cản trở quyết định khởi nghiệp Vì vậy, để dự báo và tăng khả năng thành công của các dự án khởi nghiệp, cần cân nhắc đồng thời các yếu tố cá nhân và môi trường, kể cả mạng lưới hỗ trợ, nguồn lực sẵn có và các thách thức thực thi.
2004), t đó hình thành s ng n c n ho c thúc đ y các quá trình kh i s kinh doanh
Đánh giá môi trường khởi nghiệp cho thấy sự thành công của một doanh nghiệp mới phụ thuộc vào một hệ thống các yếu tố đồng thời: khả năng tiếp cận kiến thức và mạng lưới liên kết giữa các bên, nguồn vốn và tài trợ có sẵn, cùng khung pháp lý và thể chế ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp; yếu tố giáo dục và đào tạo khởi nghiệp cũng đóng vai trò then chốt, giúp người sáng lập nâng cao kỹ năng và nhận diện cơ hội Nhiều nghiên cứu nhấn mạnh sự đa dạng của các khía cạnh môi trường – cả yếu tố chính thức như chính sách công và cơ sở hạ tầng, và yếu tố phi chính thức như văn hóa khởi nghiệp, thái độ xã hội và mạng lưới hỗ trợ – tác động đến hành vi khởi nghiệp và kết quả kinh doanh Để phát triển bền vững, hệ sinh thái khởi nghiệp cần có nguồn lực tài chính ổn định, quy định hợp lý của nhà nước và các dịch vụ hỗ trợ doanh nhân như tư vấn, giáo dục, và mạng lưới mentor, đồng thời chú ý tới các yếu tố dịch vụ và công cụ hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
2005) và các c ch h tr tr ng đ i h c c th , ch ng h n nh v n phòng chuy n giao công ngh và v n m đ i h c (Mian, 1997) đã đ c ch ng minh là r t quan tr ng trong vi c thúc đ y quá trình kh i s kinh doanh
LỦ thuy t hƠnh vi có k ho ch (TPB) vƠ ng d ng trong kh i s kinh doanh 19 1 N i dung lỦ thuy t hành vi có k ho ch
Kho ng tr ng nghiên c u
Sau quá trình t ng quan nghiên c u, tác gi nh n th y t n t i kho ng tr ng nghiên c u ch a đ c làm rõ
Ý định và hành vi khởi nghiệp được giải thích qua mô hình hành vi có ý định (TPB), theo đó ý định là nhân tố dự báo hành vi và được hình thành từ các yếu tố nhận thức như thái độ, chuẩn mực cá nhân và kiểm soát hành động; tuy nhiên, nhiều nghiên cứu tập trung vào việc khám phá các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp mà ít giải thích đầy đủ mối quan hệ giữa ý định và hành vi thực thi Các nghiên cứu hiện tại cho thấy liên kết giữa ý định và hành vi khởi nghiệp vẫn chưa hoàn hảo, với một khoảng cách giữa hai yếu tố này có thể lên tới trên 30% và sai số riêng khoảng ~10% (Shirokova et al., 2016); khởi nghiệp được xem là một quá trình phức tạp, chứa nhiều rủi ro và độ không chắc chắn cao, kéo dài và ảnh hưởng đến hành vi cũng như kết quả hành vi Do đó, mối liên hệ giữa ý định và hành vi khởi nghiệp có thể khác với các trường hợp khởi nghiệp thông thường (Van Gelderen et al., 2015), cho thấy ý định khởi nghiệp không phải là yếu tố duy nhất để dự báo hành vi khởi nghiệp Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ doanh nhân cho thấy họ không thực hiện các hoạt động liên quan đến khởi nghiệp dù đã có ý định, với ví dụ lên tới khoảng 69% theo Meoli et al (2020), đặt câu hỏi vì sao ý định – hành vi của doanh nhân lại không đồng nhất Fayolle và Liñón (2014) cũng nhấn mạnh rằng hiệu quả của các cơ chế tác động và chu trình giữa ý định và hành vi khởi nghiệp vẫn còn hạn chế.
Th hai, m c dù m i liên h gi a ba y u t thúc đ y trong TPB, bao g m thái đ đ i v i kh i s kinh doanh, chu n ch quan, c m nh n kh n ng ki m soát và Ủ đ nh kh i s kinh doanh, đã đ c ki m tra th c nghi m trong m t nhóm các nghiên c u tr c đây (ví d : Otache và c ng s , 2019), tuy nhiên, m i t ng quan gi a y u t chu n ch quan và Ủ đ nh kh i s kinh doanh v n không đ t đ c s nh t quán M t s nghiên c u tr c đây cho r ng chu n ch quan có t ng quan đáng k v i Ủ đ nh kinh doanh (ví d : Ahmed và c ng s , 2020; Maresch và c ng s , 2016), trong khi các nghiên c u khác l i cho r ng m i t ng quan này không có Ủ ngh a th ng kê (ví d : Otache và c ng s , 2019; Tung và c ng s , 2020; Dao và c ng s , 2021) Vì v y, c n có thêm các nghiên c u v cách th c tác đ ng c a chu n ch quan đ n Ủ đ nh kh i s kinh doanh (Dao và c ng s , 2021; Otache và c ng s , 2019) Bên c nh đó, m c dù đ c xác đ nh là m t y u t quan tr ng trong vi c d đoán hành vi th c t , tuy nhiên, các nghiên c u tr c đây m i ch t p trung đ n Ủ đ nh kh i s kinh doanh, m i quan h gi a c m nh n kh n ng ki m soát hành vi và hành vi kh i s kinh doanh th c t h u nh ch a đ c xem xét (Gieure và c ng s , 2020)
Tổng quan nghiên cứu cho thấy còn nhiều khoảng trống về hiểu biết và hành vi liên quan đến lĩnh vực này Luận án mong muốn áp dụng mô hình TPB (Theory of Planned Behavior) và kết hợp với các phát hiện trước đó theo một hướng tiếp cận mới nhằm làm rõ động lực hành vi và các yếu tố tác động đến quyết định của người tham gia Việc tích hợp các yếu tố thái độ, chuẩn mực xã hội và kiểm soát hành vi nhận thức với các kết quả từ các nghiên cứu trước sẽ tạo ra một khung phân tích thống nhất, đồng thời nâng cao độ tin cậy của các giả thuyết và gợi ý các can thiệp hiệu quả Nội dung này mang lại giá trị thực tiễn và đóng góp vào kho tàng kiến thức hiện có, mở đường cho các đề xuất triển khai trong tương lai.
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy ý định khởi nghiệp có thể giải thích tới khoảng 30% sự khác biệt trong hành vi của doanh nhân, cho thấy ý định và hành vi khởi nghiệp có liên hệ chặt chẽ nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi các rào cản và điều kiện môi trường Theo mô hình hành vi có ý định của Fishbein và Ajzen (2010), ý định được hình thành từ các yếu tố cá nhân như thái độ đối với khởi nghiệp và kiểm soát hành vi, nhưng việc thực hiện hành vi khởi nghiệp còn bị chi phối bởi năng lực và nguồn lực có sẵn, cũng như các yếu tố bên ngoài Khi ý định càng mạnh thì khả năng thực hiện hành vi khởi nghiệp càng cao, tuy nhiên các kỹ năng, vốn, kinh nghiệm và môi trường xung quanh có thể tạo ra trở ngại hoặc thúc đẩy quá trình này Do đó để dự đoán và hiểu hành vi khởi nghiệp, cần đánh giá đồng thời ý định và các yếu tố tác động khác như kỹ năng, nguồn lực, rào cản và các điều kiện thúc đẩy hành động, đồng thời xem xét vai trò của kinh nghiệm cá nhân như kinh nghiệm kinh doanh, kinh nghiệm gia đình, mức độ chấp nhận rủi ro, tính cách và sự giáo dục/đào tạo khởi nghiệp như các yếu tố ảnh hưởng lên ý định – hành vi khởi nghiệp (Shirokova et al., 2016; Ajzen, 1991; Fishbein & Ajzen, 2010).
Ba yếu tố chính của lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior) là thái độ, chuẩn mực chủ quan và sự kiểm soát hành vi nhận thức được xem là các nhân tố tác động tới ý định hành vi và từ đó quyết định hành vi của con người Trong phân tích mối quan hệ giữa các biến, Baron và Kenny (1986) nhấn mạnh khái niệm biến trung gian có thể làm cầu nối giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, giúp làm sáng tỏ cơ chế tác động Theo Ajzen và Fishbein, các yếu tố này có thể tác động qua lại và gắn với cùng một tập thông tin, từ đó ảnh hưởng đến ý định và hành vi thông qua cơ chế kiểm soát hành vi và sự đồng thuận của chuẩn mực.
2005) i u này có ngh a, ba y u t thúc đ y trong TPB không đ c l p mà có m i liên h t ng tác v i nhau M t s nghiên c u cho th y chu n ch quan có th đóng m t vai trò quan tr ng trong vi c d đoán thái đ đ i v i kh i s kinh doanh và c m nh n kh n ng ki m soát hành vi (Dao và c ng s , 2021; Usman và Yennita, 2019), trong khi c m nh n kh n ng ki m soát hành vi có th làm t ng thái đ đ i v i kh i s kinh doanh (Tsai và c ng s , 2016) Do đó, ngoài ki m đ nh tác đ ng tr c ti p c a ba y u t thúc đ y trong mô hình TPB t i Ủ đ nh kh i s kinh doanh, lu n án còn xem xét m i quan h t ng quan gi a ba y u t này C th là m i quan h gi a chu n ch quan, c m nh n kh n ng ki m soát hành vi và thái đ đ i v i kh i s kinh doanh Bên c nh đó, lu n án c ng khám phá thêm m i quan h gi a c m nh n kh n ng ki m soát hành vi và hành vi kh i s kinh doanh th c t nh m cung c p thêm nh ng b ng ch ng th c nghi m và hi u bi t v m i quan h này
Trong chương 1, tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu liên quan đến khởi nghiệp và khởi sự kinh doanh, cho thấy ba hướng tiếp cận chính: tiếp cận theo đặc điểm và tính cách doanh nhân, tiếp cận theo hành vi, và tiếp cận theo nhận thức Bên cạnh đó, tác giả giới thiệu nội dung của Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và ứng dụng của nó trong nghiên cứu về khởi nghiệp kinh doanh TPB được xem là một lý thuyết hữu ích có thể áp dụng để nghiên cứu hành vi và quyết định khởi nghiệp Cuối cùng, tác giả trình bày kết quả và hạn chế của TPB, đồng thời nêu ra các khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại trong lĩnh vực khởi nghiệp kinh doanh và đề xuất các hướng nghiên cứu nhằm giải quyết các khoảng trống này.
C S XỂY D NG GI THUY T VÀ MỌ HỊNH NGHIểN C U
Các y u t nh h ng t i m i quan h Ủ đ nh ậ hƠnh vi kh i s kinh doanh 28 1 Kinh nghi m kinh doanh (Prior business experience)
N n t ng kinh doanh gia đình (Family business background)
N n t ng kinh doanh gia đình đ c p đ n nh ng ng i có cha m ho c các thành viên trong gia đình tham gia vào ho t đ ng kinh doanh t do (Bae và c ng s , 2014)
Lớn lên trong một gia đình có nhiều người tham gia kinh doanh là đặc điểm nổi bật của bối cảnh gia đình hình thành ý định khởi nghiệp; tuy nhiên, những trải nghiệm trong các gia đình này cũng đưa trẻ đối mặt với những thách thức và áp lực liên quan đến hoạt động kinh doanh (Chua và cộng sự, 1999) Bằng chứng cho thấy môi trường gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành niềm tin, thái độ, tính cách và sự tự tin vào khả năng của bản thân (Bronfenbrenner, 1986) Khi cha mẹ đóng vai trò là hình mẫu tích cực, con cái từ các gia đình kinh doanh có xu hướng phát triển động lực khởi nghiệp và thành lập doanh nghiệp riêng nhiều hơn so với những người từ gia đình không kinh doanh (Kolvereid, 1996b) Bên cạnh đó, nếp sống gia đình kinh doanh còn liên quan đến cấu trúc xã hội và nguồn lực, giúp họ tiếp xúc với các cơ hội và thách thức để nâng cao nhận thức và kiến thức về khởi nghiệp, từ đó tăng cường khả năng tự kiểm soát hành vi kinh doanh (Carsrud và cộng sự, 2007).
Trong các nghiên cứu được đề cập trước đó, nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy trẻ em và sinh viên từ gia đình có truyền thống kinh doanh có xu hướng phát triển tư duy kinh doanh và tham gia vào các hoạt động của doanh nghiệp gia đình, thậm chí có khả năng kế thừa và mở rộng doanh nghiệp hiện có (Laspita và cộng sự, 2012; Zellweger và cộng sự, 2011) Các nghiên cứu khác cũng xác nhận tác động đáng kể của kinh nghiệm kinh doanh của cha mẹ đối với định hướng khởi nghiệp và hành vi kinh doanh của con cái, từ việc hình thành thái độ tích cực đến nâng cao năng lực quản lý và kỹ năng khởi nghiệp (Bowen và cộng sự).
Hirsch, 1986; Carr và Sequeira, 2007; Dubini, 1989; Scott và Twomey, 1988; Van và c ng s , 2006)
Tổng quan về kinh nghiệm kinh doanh cho thấy, ngoài tác động đến quá trình khởi nghiệp, sự tham gia của gia đình cũng ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi từ ý tưởng kinh doanh sang hành vi khởi nghiệp Do đó, cần xem xét và ứng dụng một mô hình nhận thức – hành vi khởi nghiệp để mô tả mối quan hệ giữa nhận thức và hành động khởi nghiệp Mô hình này làm rõ vai trò của gia đình đối với quá trình khởi nghiệp và được trình bày chi tiết trong phần 2.2 của bài viết.
Lo s th t b i (Fear of Failure)
Vấn đề tại sao nhiều doanh nhân non trẻ rút lui khỏi kế hoạch thành lập doanh nghiệp liên quan chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn Cho đến nay, các bài nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được một lời giải thích thỏa đáng cho hiện tượng này (Khan và cộng sự, 2014; Hsu và cộng sự, 2016; Davidsson và Gordon, 2016) Luận án này cho rằng các rào cản và rủi ro trong quá trình khởi nghiệp là chìa khóa giải thích việc rút lui khỏi hoạt động khởi nghiệp của các doanh nhân.
M t s h c gi cho r ng lo s th t b i là lỦ do c b n khi n m i ng i tránh vi c b t đ u m t công vi c kinh doanh (ví d , Arenius và Minniti, 2005; Minniti và Nardone,
2007) Bên c nh đó, nh ng h c gi khác l i coi nó nh m t tr ng thái c m xúc tiêu c c khi n các doanh nhân có cái nhìn kém tích c c h n v các c h i kinh doanh (ví d : Li, 2011; Welpe và c ng s , 2012) ho c xem nó nh kinh nghi m c a các doanh nhân (ví d , Cacciotti và c ng s , 2016; Mitchell và Shepherd, 2011) Trong tài li u tâm lỦ h c, lo s th t b i đ c đ nh ngh a nh là đ ng l c đ tránh th t b i thay vì đ ng l c đ đ t đ c thành công (Cacciotti và c ng s , 2016) Atkinson (1966, tr.13) l n đ u tiên đ nh ngh a lo s th t b i là “kh n ng tránh th t b i và/ho c kh n ng tr i qua s x u h và s nh c do h u qu c a th t b i”, sau đó Atkinson và Litwin (1973, trang 146) đ nh ngh a l i lo s th t b i là “vi c m t ng i tr nên lo l ng v th t b i d i áp l c v thành tích” Trong lu n án này, tác gi k th a đ nh ngh a c a Cacciotti và c ng s (2020), đ nh ngh a này cho r ng lo s th t b i là m t ph n ng tình c m tiêu c c d a trên c m nh n đánh giá v kh n ng th t b i trong b i c nh ho t đ ng không ch c ch n và m h c a kh i s kinh doanh nh ngh a này tách bi t ph n ng c m xúc tiêu c c c a lo s th t b i v i các khuynh h ng c m nh n hành vi và cho r ng lo s th t b i có th thúc đ y c ng nh c ch hành vi
Lo s th t b i là m t ph n v n có c a tr i nghi m kh i s kinh doanh (Cacciotti và c ng s , 2016; Mitchell và Shepherd, 2011; Weber, 2012) vì nó liên quan m t thi t đ n s không ch c ch n và ng i r i ro Lipshitz và Strauss (1997) cho r ng s không ch c ch n là m t d ng nghi ng c m tính có th c n tr ho c trì hoãn s xu t hi n c a hành vi Do đó, nh ng b t n trong quá trình kh i s kinh doanh có th d n đ n s do d và trì hoãn, đi u này r t b t l i cho hành vi kh i s kinh doanh c a doanh nhân Trong n l c b t đ u và phát tri n các doanh nghi p m i, m t ng i ph i đ i m t v i n i s hãi và ph n khích khi đ ng tr c m t lo t nhi m v có th d n đ n th t b i, bao g m tung ra các s n ph m và d ch v m i, làm vi c đ có v n, n l c phát tri n và duy trì các m i quan h v i các khách hàng, c g ng đ t đ c t su t l i nhu n c n thi t cho s b n v ng kinh t , v.v (Baron và c ng s , 2013; Cacciotti và Hayton, 2015) Do v y, trong nh ng n m g n đây, các nhà nghiên c u ngày càng quan tâm đ n vi c tìm hi u vai trò c a lo s th t b i trong kh i s kinh doanh (Arenius và Minniti, 2005; Cacciotti và Hayton, 2015; Langowitz và Minniti, 2007; Minniti và Nardone, 2007; Mitchell và Shepherd, 2011; Wood và c ng s , 2014)
Trong các nghiên c u g n đây, lo s th t b i c a doanh nhân ch y u đ c xác đ nh là m t ti n đ tâm lỦ khi n các cá nhân không mu n thành l p và đi u hành m t d án kinh doanh (Cacciotti và c ng s , 2016; Kollmann và c ng s , 2017) Nó c ng là m t rào c n l n đ i v i các ho t đ ng kh i s kinh doanh nói chung c ng nh vi c chuy n đ i t Ủ t ng kinh doanh, thái đ kinh doanh và Ủ đ nh thành hành vi kh i s kinh doanh th c t (Cacciotti và c ng s , 2020; Kong và c ng s , 2020; Tsai và c ng s , 2016 ) Nhi u nghiên c u tr c đây cho r ng lo s th t b i c a doanh nhân gây ra tác đ ng tiêu c c đ n ho t đ ng kh i s kinh doanh (ví d : Dutta và Sobel, 2021; Hanif và c ng s , 2021; Tsai và c ng s , 2016) Tuy nhiên, h u h t các nghiên c u này ch t p trung vào tác đ ng tr c ti p ho c trung gian c a lo s th t b i (Cacciotti và c ng s , 2020; Kong và c ng s , 2020; Ng và Jenkins, 2018), trong khi b qua th c t là lo s th t b i có th đóng vai trò nh m t ch t xúc tác tiêu c c cho quá trình kh i s kinh doanh (Wyrwich và c ng s , 2016) i u đó có ngh a là lo s th t b i không ch nh h ng tiêu c c và tr c ti p đ n ho t đ ng kinh doanh mà còn có kh n ng làm suy y u kh n ng chuy n đ i t Ủ đ nh kh i s kinh doanh thành hành vi kh i s kinh doanh th c t Vì vây, tác gi xác đ nh m t trong nh ng m c tiêu c a lu n án này là ki m đ nh vai trò đi u ti t c a lo s th t b i trong m i quan h Ủ đ nh - hành vi kh i s kinh doanh.
S h i ti c đoán đ nh (Anticipated regret)
Hối tiếc dự đoán được xác định là một cảm xúc tiêu cực mà một người trải qua khi suy ngẫm về kết quả tương lai của một quyết định và so sánh nó với các kết quả có thể xảy ra nếu người ấy hành động khác, từ đó có thể khiến họ điều chỉnh quyết định hoặc hành động tiếp theo (Zeelenberg, 1999) Dù cảm giác hối tiếc có thể phát sinh khi xem xét một quyết định, sự dự đoán hối tiếc cho phép người ta hình dung trước cảm giác hối hận nếu chọn một hành động khác hoặc bỏ lỡ một cơ hội, và khi một cá nhân hình dung ra cảm giác hối tiếc mà anh ta có thể trải nghiệm nếu thực hiện một quyết định khác (Somasundaram và Diecidue, 2017; Wong và Kwong, 2007) Cũng có thể coi hối tiếc dự đoán là niềm tin về việc liệu một lựa chọn có gây ra hối tiếc hay không sau khi hành động, một phần của cảm xúc tiêu cực mà người ta trải qua khi so sánh kết quả đạt được với dự đoán trước về hành vi không hành động hoặc hành động, từ đó hình thành nhận thức về mức độ hối tiếc tiềm ẩn (Abraham và Sheeran, 2003) Đây là một phần của các phản ứng cảm xúc tiêu cực mà cá nhân trải qua do so sánh kết quả với kết quả dự đoán trước khi hành động, với nhận thức rằng hối tiếc có thể xuất hiện mạnh nhất khi đánh giá giá trị của việc hành động hoặc không hành động trong một tình huống cụ thể (Loewenstein và Lerner, 2003).
LỦ thuy t quy đ nh h i ti c - Regret regulation theory (Zeelenberg và Pieters,
2007) cho r ng con ng i không thích s h i ti c và luôn c g ng đi u ch nh s h i ti c c a h đ t i đa hóa k t qu trong lâu dài Theo đó, s h i ti c có th thay đ i theo th i gian: trong ng n h n, các cá nhân h i h n v hành đ ng c a mình, nh ng v lâu dài, h có th c m th y h i ti c d d i h n v vi c không hành đ ng (Zeelenberg và Pieters,
2007) Do đó, s h i ti c đoán đ nh bi u hi n nh m t c m giác mu n làm - b ng cách thúc đ y các cá nhân hành đ ng đ tránh c m th y h i ti c phát sinh t vi c không th c hi n hành đ ng (Roese và c ng s , 2007; Zeelenberg và Pieters, 2007) c bi t trong b i c nh mà k t qu không ch c ch n nh ng quan tr ng v m t xã h i, ch ng h n nh kh i s kinh doanh, s h i ti c đoán đ nh có th ho t đ ng nh m t hành vi thúc đ y (Roese, 2005) h ng t i vi c tham gia vào các ho t đ ng s khai c a kh i s kinh doanh Các cá nhân th ng tránh h i ti c x y ra b ng cách c i thi n hành vi c a h Do đó, nh ng cá nhân l ng tr c đ c s h i ti c có th x y ra khi không hành đ ng liên quan đ n nguy n v ng kinh doanh c a h s có xu h ng hành đ ng đ b t đ u m t công vi c kinh doanh m i nh m t ph ng ti n gi m thi u xác su t g p ph i s h i ti c khi không hành đ ng D a trên nh ng l p lu n này, có th cho r ng h i ti c đoán đ nh là m t y u t quan tr ng tác đ ng t i vi c th c hi n hành vi theo Ủ đ nh ban đ u c a m t ng i Vì v y, trong lu n án này, tác gi xem xét nh h ng c a h i ti c đoán đ nh t i m i quan h Ủ đ nh - hành vi kh i s kinh doanh c a h c viên cao h c Vi t Nam.
Tính ch đ ng (Proactive personality)
Tính cách ch đ ng là m t khuynh h ng n đnh mô t kh n ng c a m t cá nhân không b nh h ng b i hoàn c nh mà ch đ ng nh h ng đ n môi tr ng xung quanh h (Bateman và Crant, 1993) Các cá nhân có tính cách ch đ ng có nhi u kh n ng tìm ki m c h i và hành đ ng, kiên trì cho đ n khi h đ t đ c m c tiêu b t k g p ph i các tình hu ng không l ng tr c (Crant, 2000) Ng c l i, nh ng cá nhân không có tính cách ch đ ng th ng không xác đ nh và n m b t đ c c h i, h b đ ng và có xu h ng thích thích nghi v i hoàn c nh h n là mong mu n thay đ i chúng (Crant, 2000)
Tính cách ch đ ng là m t y u t quan tr ng quy t đ nh hành vi c a m t cá nhân vì nh ng cá nhân có m c đ ch đ ng cao không d b nh h ng b i các y u t môi tr ng (Fuller và c ng s , 2006) Ngoài ra, tính cách ch đ ng c ng đ c cho là m t đ c đi m quan tr ng giúp t ng c ng kh n ng sáng t o c a m t ng i (Seibert và c ng s , 2001) Crant (1996) cho r ng tính cách ch đ ng c a các cá nhân g n li n v i xu h ng tham gia vào ho t đ ng kh i s kinh doanh c a h Bên c nh đó, Prieto (2011) c ng xác đ nh r ng tính cách ch đ ng là m t y u t nh h ng đ n vi c thành l p doanh nghi p m i Nh ng cá nhân s h u đ c đi m này có kh n ng thay đ i môi tr ng xung quanh, tích c c phát tri n các ngu n l c và do đó tr nên thành công h n so v i nh ng cá nhân có tính cách kém ch đ ng Trong khi các nghiên c u hi n có t p trung vào m i quan h c a tính cách ch đ ng v i Ủ đ nh kh i s kinh doanh (Chipeta, 2015; Delle và Amadu, 2015; Prieto, 2011) ho c k t qu ho t đ ng c a nhân viên (Bakker và c ng s , 2012; Li và c ng s , 2010), s t ng tác c a tính cách ch đ ng v i m i liên k t gi a Ủ đ nh và hành vi kh i s kinh doanh th c t có th s cung c p nh ng hi u bi t m i Vì v y, lu n án này s xem xét nh h ng c a tính cách ch đ ng t i vi c th c hi n hành vi kh i s kinh doanh theo Ủ đ nh ban đ u.
Giáo d c/đào t o kh i s kinh doanh (Entrepreneurial education)
Các nghiên c u liên quan đ n giáo d c/đào t o kh i s kinh doanh đã t ng lên đỏng k trong nh ng n m g n đõy (Aparicio và c ng s , 2019; Liủỏn và Fayolle, 2015)
M c dù v y, đ nh ngh a v giáo d c/ đào t o kh i s kinh doanh v n ch a đ t đ c s th ng nh t (Liủỏn, 2004; Mwasalwiba, 2010; Pittaway và Cope, 2007) Fayolle và c ng s (2006, trang 702) cho r ng giáo d c/đào t o kh i s kinh doanh liên quan đ n “b t k ch ng trình s ph m ho c quá trình giáo d c nào v thái đ và k n ng kinh doanh” Giáo d c/đào t o kh i s kinh doanh c ng đ c mô t là các ch ng trình giáo d c bao g m các k n ng, ki n th c thi t y u và đ o đ c c n thi t đ c trang b cho sinh viên đ t o ra doanh nghi p c a riêng h (Adam và Fayolle, 2016) Bae và c ng s (2014, trang 219) đ n gi n hóa đ nh ngh a giáo d c/đào t o kh i s kinh doanh trong nghiên c u c a h b ng cách nói r ng “b ng giáo d c/ đào t o kh i s kinh doanh, chúng tôi đang đ c p đ n giáo d c cho thái đ và k n ng kinh doanh” Trong lu n án này, tác gi k th a và đi u ch nh t đ nh ngh a c a Alberti và c ng s (2005), đ nh ngh a giáo d c/đào t o kh i s kinh doanh là vi c truy n đ t ki n th c, k n ng và thái đ đ i v i kh i s kinh doanh mà ng i h c c n có đ chuy n các ý t ng kh i s kinh doanh thành ý đ nh và hành vi kh i s kinh doanh th c t
Ba loại hình giáo dục/đào tạo khởi nghiệp được phân thành: giáo dục/đào tạo về khởi nghiệp (education about entrepreneurship), giáo dục/đào tạo cho khởi nghiệp (education for entrepreneurship) và giáo dục/đào tạo trong khởi nghiệp (education in entrepreneurship) Giáo dục về khởi nghiệp tập trung vào trình bày lý thuyết và quản lý một doanh nghiệp thông qua các phương pháp giảng dạy truyền thống, dùng lý thuyết khởi nghiệp làm khung để truyền đạt kiến thức kinh doanh cho sinh viên và giúp hiểu kết quả của các hoạt động khởi nghiệp Giáo dục cho khởi nghiệp nhấn mạnh phương pháp tiếp cận thực tế, trải nghiệm và điều hành một doanh nghiệp, trang bị người học với kỹ năng và kiến thức thực tế để tham gia vào hoạt động kinh doanh của chính họ thông qua các hoạt động thực hành và dự án nhằm khơi dậy đam mê khởi nghiệp và khám phá thông tin thị trường Giáo dục trong khởi nghiệp liên quan đến đào tạo cho các doanh nhân đã thành danh ở một số lĩnh vực, hỗ trợ tiếp thị và bán doanh nghiệp, chiến lược cho công ty và phát triển sản phẩm mới, nhằm bảo tồn tài sản và thúc đẩy tăng trưởng doanh nghiệp, nhưng cách tiếp cận này cũng mở rộng cho những người có kinh nghiệm hơn hoặc cho những người mong muốn thành lập doanh nghiệp riêng trong tương lai, nhằm ươm mầm và tạo động lực cho các ý tưởng khởi nghiệp mới.
Mặc dù giáo dục khởi nghiệp đang thu hút nhiều sự quan tâm, vai trò của nó trong việc hình thành ý định khởi nghiệp và hành vi khởi nghiệp không có tác động trực tiếp Nghiên cứu cho thấy giáo dục khởi nghiệp ảnh hưởng gián tiếp, thông qua việc tác động tới mối quan hệ giữa ý định khởi nghiệp và hành vi khởi nghiệp Vì vậy, một mục tiêu của bài viết này là kiểm định vai trò điều tiết của yếu tố giáo dục khởi nghiệp trong liên kết giữa ý định và hành vi khởi nghiệp.
Môi tr ng kh i s kinh doanh (Entrepreneurial environment)
Trong luận án này, khái niệm môi trường khởi nghiệp được giới thiệu dựa trên lý thuyết tổ chức và lý thuyết xã hội, tham chiếu đến North (1990) và Scott (1995) Lý thuyết này tập trung vào cách các quá trình xã hội hình thành cấu trúc và hành động của tổ chức, đồng thời cho thấy các tổ chức có các đặc tính hợp pháp cần thiết để tồn tại trong hệ thống xã hội hiện hành.
Nghiên cứu năm 1995 về khởi nghiệp cho rằng quá trình này bị chi phối bởi ba khía cạnh chính: ràng buộc và hành động mang tính nhận thức, chuẩn mực xã hội và khuôn khổ pháp lý, từ đó hình thành nhận thức, hành vi và các kết quả xã hội Theo quan điểm này, Scott (1995) cho rằng ba khía cạnh này là các kích thước chính của thách thức liên quan đến điều tiết (regulatory dimension), nhận thức (cognitive dimension) và chuẩn mực (normative dimension) Từ góc nhìn ấy, Busenitz và cộng sự (2000) đã sử dụng ba khía cạnh này (nói chung là môi trường khởi nghiệp) để so sánh và làm rõ các khác biệt về khởi nghiệp giữa các quốc gia Ba khía cạnh này trong lĩnh vực khởi nghiệp được miêu tả như sau:
Môi tr ng c ch chính sách c a Chính ph (regulatory dimension)
Môi trường và các chính sách của Chính phủ đóng vai trò định hướng và quy định hoạt động kinh doanh, đồng thời cung cấp hỗ trợ cho doanh nghiệp mới và khởi nghiệp, giảm rủi ro cho các cá nhân bắt đầu thành lập doanh nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi để huy động nguồn lực cho doanh nhân có điều kiện phát triển Doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn lực sẵn có thông qua các chương trình do Chính phủ tài trợ và các ưu đãi từ các chính sách dành cho doanh nhân, qua đó nâng cao khả năng thành công và phát triển bền vững (Busenitz và cộng sự, 2000; Rondinelli và Kasarda, 1992).
Môi tr ng nh n th c xã h i v kinh doanh (cognitive dimension)
Môi tr ng nh n th c xã h i v kinh doanh bao g m ki n th c và k n ng c a ng i dân m t qu c gia liên quan đ n vi c thành l p và v n hành m t doanh nghi p m i m t s qu c gia, ki n th c và thông tin liên quan đ n kh i s kinh doanh đ c chia s r ng rãi và có s n m t s qu c gia khác, nh ng ki n th c và thông tin nh v y có th l i khan hi m (Busenitz và c ng s , 2000)
Môi tr ng v n hoá và xã h i v kinh doanh (normative dimension)
Môi tr ng v n hoá và xã h i v kinh doanh đ c p đ n m c đ mà ng i dân c a m t qu c gia ng ng m và coi tr ng t duy kinh doanh và các ho t đ ng đ i m i (Busenitz và c ng s , 2000) Môi tr ng v n hoá và xã h i v kinh doanh đóng m t vai trò quan tr ng trong vi c h ng d n và đ nh hình hành vi kh i s kinh doanh Sine và David (2003) l p lu n r ng môi tr ng v n hoá và xã h i v kinh doanh nh h ng đ n quy t đ nh tr thành m t doanh nhân, ngh a là ai s và ai s không tr thành doanh nhân
Hành vi khởi nghiệp của cá nhân được giải thích là phản ánh các điều kiện hỗ trợ chính thức và phi chính thức đồng thời những ràng buộc mà họ gặp phải khi tham gia hệ thống và hoạt động khởi sự (Contractor và cộng sự, 2007; Scott, 1995) Do đó, môi trường khởi sự kinh doanh có mối liên hệ chặt chẽ với hành vi khởi nghiệp của mỗi người Các doanh nhân thường bị chi phối bởi các điều kiện xung quanh họ; những điều kiện này ảnh hưởng đến cả quá trình khám phá cơ hội và việc thực thi hành vi khởi nghiệp Một số nhà nghiên cứu cho rằng khởi nghiệp có thể được thúc đẩy bởi sự hỗ trợ của chính phủ, cơ cấu thuế và văn hóa xã hội (O’Neill và cộng sự, 2009).
Các nghiên cứu hiện nay cho rằng hoạt động khởi nghiệp không chỉ bị chi phối bởi đặc điểm cá nhân mà còn chịu tác động của môi trường xung quanh và mối tương tác giữa doanh nhân với các yếu tố này Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hành vi khởi nghiệp thông qua khả năng tiếp cận vốn, các quy định pháp lý, nguồn lực tài chính, văn hóa khởi nghiệp và giáo dục khởi nghiệp, đồng thời các chuẩn mực xã hội và cơ hội từ môi trường tác động đến quyết định và hành vi khởi nghiệp của cá nhân Mặc dù tính cách cá nhân là một yếu tố quan trọng, nhiều nghiên cứu cho thấy môi trường xung quanh có vai trò điều tiết và thúc đẩy hành vi khởi nghiệp, do đó việc tích hợp các yếu tố môi trường vào mô hình hành vi khởi nghiệp giúp giải thích mối quan hệ giữa định hướng và hành vi khởi nghiệp một cách toàn diện Các nghiên cứu cũng nhấn mạnh sự đa dạng của môi trường ở các bối cảnh khác nhau và cần xem xét các khía cạnh như tài chính, chính sách và hệ thống giáo dục để hiểu đầy đủ cách mà môi trường thúc đẩy hoặc cản trở quá trình khởi nghiệp.
Gi thuy t vƠ mô hình nghiên c u
Vai trò c a các y u t cá nhân
Vai trò đ i u ti t c a kinh nghi m kinh doanh
Kinh nghi m kinh doanh đóng m t vai trò quan tr ng trong quá trình kh i s kinh doanh c a m t ng i (Singer, 1995) Nhi u nghiên c u đã ch ra r ng kinh nghi m kinh doanh có nh h ng tích c c đ n vi c hình thành nh n th c c a các doanh nhân ti m n ng v kh n ng và tính kh thi c a kh i s kinh doanh (Krueger và Carsrud, 1993; Krueger và Brazeal, 1994; Zhang và c ng s , 2014) Tác gi cho r ng kinh nghi m kinh doanh c a m t ng i có th đi u ti t m i quan h Ủ đ nh - hành vi kh i s kinh doanh t hai khía c nh
Th nh t, các s ki n không l ng tr c là m t trong nh ng y u t c n tr m t ng i hành đ ng theo Ủ đ nh ban đ u c a mình (Ajzen, 2020) Do đó, nh ng b t n trong quá trình kh i s kinh doanh có th d n đ n s do d và trì hoãn Ủ đ nh, đi u này r t có h i cho hành vi c a doanh nhân Nh ng khó kh n này (t c là s không ch c ch n, ph c t p, khó l ng tr c) c a quá trình kh i s kinh doanh s nh h ng tiêu c c đ n quá trình th c hi n Ủ đ nh hành vi c a m t ng i Kinh nghi m kinh doanh s cung c p cho các cá nhân thông tin và ki n th c th c t đ giúp h làm quen t t h n v i nh ng khó kh n th ng x y ra trong quá trình kh i s kinh doanh T đó nâng cao s t tin c a h trong vi c gi i quy t nh ng v n đ này trong các doanh nghi p t ng lai c a h
(Barringer và c ng s , 2005; Farmer và c ng s , 2011) Vì v y, kh n ng th c hi n Ủ đ nh kh i s kinh doanh c a h s cao h n
Kinh nghiệm và kỹ năng kinh doanh cung cấp cho cá nhân niềm tin và năng lực thực thi các hoạt động kinh doanh trong tương lai, đồng thời hỗ trợ họ tìm kiếm nguồn tài chính, phát triển sản phẩm/dịch vụ và thiết lập hoạt động kinh doanh một cách có hệ thống Dựa trên các nghiên cứu của Carr và Sequeira (2007); Farmer và cộng sự (2011); Eesley và Roberts (2012), các cá nhân có thể nhận thức rõ cơ hội kinh doanh và trí tuệ cần thiết để bắt đầu một doanh nghiệp mới Với nền tảng này, họ có thể tự tin hoàn thành các nhiệm vụ kinh doanh thực tế; khi tham gia các khóa học khởi sự kinh doanh, họ có thể kiểm soát tốt hơn các hành vi kinh doanh trong tương lai và nhận thấy mục tiêu khởi nghiệp thực tế đang đến gần hơn.
T nh ng l p lu n trên, gi thuy t sau đ c đ a ra:
Kinh nghiệm kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định khởi sự kinh doanh và biến ý định đó thành hành vi thực tế Điều này có nghĩa là những người có nền tảng kinh nghiệm kinh doanh sẽ có khả năng thực hiện ý định khởi sự kinh doanh thành hành vi khởi sự kinh doanh cao hơn so với những người không có kinh nghiệm Mối quan hệ giữa kinh nghiệm và hành vi khởi sự kinh doanh cho thấy kinh nghiệm giúp tăng tự tin, cải thiện lập kế hoạch và giảm thiểu rủi ro, từ đó nâng xác suất chuyển hóa ý định thành hoạt động khởi nghiệp thực sự.
Vai trò đ i u ti t c a n n t ng kinh doanh gia đ ình
Vi c ti p xúc tr c v i các doanh nhân, ch ng h n nh b /m , anh/ch /em ru t t kinh doanh, đ c coi là y u t d báo chính v hành vi kh i s kinh doanh c a m t ng i (Dunn và HoltzeEakin, 2000; Hout và Harvey, 2000; Krueger, 1993) Ví d , b m , v i t cách là ch doanh nghi p, có th nh h ng đ n s l a ch n ngh nghi p kinh doanh c a con cái h b ng cách cung c p m ng l i quan h xã h i (bao g m các nhà cung c p, đ i tác kinh doanh, khách hàng, v.v.); nói cách khác, các cá nhân có tham v ng tr thành doanh nhân có th h ng l i t m ng l i c a cha m khi c g ng thành l p m t doanh nghi p m i (Laspita và c ng s , 2012; Sứrensen, 2007) i u này giỳp h có m t kh i đ u thu n l i trong vi c chuy n Ủ đ nh thành hành vi so v i nh ng ng i c ng mong mu n tr thành doanh nhân nh ng không đ c h ng l i t nhi u ngu n l c khác nhau xu t phát t n n t ng kinh doanh c a gia đình H n n a, n n t ng kinh doanh gia đình c ng cung c p nh ng hi u bi t sâu s c v ho t đ ng kinh doanh và quá trình ra quy t đ nh (Mueller, 2006), giúp quá trình chuy n t Ủ đ nh sang hành vi kh i s kinh doanh d dàng h n vì nh ng cá nhân có ki n th c nh v y s ít s th t b i h n Thông th ng, cha m h tr con cái b ng cách chuy n v n tài chính (Dunn và HoltzeEakin, 2000) và t o c h i đ có đ c v n nhân l c (Lentz và Laband, 1990) K t qu là, có thêm ngu n l c do gia đình cung c p, các doanh nhân ti m n ng có th c m th y t tin h n v kh n ng ki m soát hành vi c a h vì các ngu n l c và c h i có s n m t m c đ nh t đ nh xác đ nh xác su t thành công c a hành vi c ng nh nh n th c c a cá nhân v c h i thành công c a h (Ajzen, 2002)
Bên c nh đó, l n lên trong môi tr ng kinh doanh mang đ n c h i h c h i t các b c cha m t kinh doanh, nh ng ng i đóng vai trò là hình m u (Aldrich và c ng s , 1998; Chlosta và c ng s , 2012) i u này t o ra ni m tin tích c c v kh i s kinh doanh và hình thành thái đ thu n l i khi tham gia vào các ho t đ ng kinh doanh, do đó có th khi n các cá nhân không ch mu n tr thành doanh nhân mà còn thúc đ y h không b d các sáng ki n kh i s kinh doanh c a mình m t cách vô th i h n Ngoài s h tr các ngu n l c c n thi t cho kh i s kinh doanh, các gia đình có n n t ng kinh doanh còn có kh n ng h tr v m t tinh th n cho các sáng ki n kinh doanh c a con cái, t c là ch p thu n l a ch n ngh nghi p kinh doanh c a con h B ng ch ng cho th y r ng các cá nhân nh n đ c s h tr t ng i thân và các m i quan h xã h i c a h có nhi u kh n ng chuy n đ i Ủ đ nh kinh doanh thành các ho t đ ng kh i s kinh doanh (Zanakis và c ng s , 2012) N n t ng kinh doanh c a gia đình có th giúp m t cá nhân có m ng l i quan h h tr và s t tin vào n ng l c kinh doanh cao, do đó có th làm t ng Ủ đ nh và hành vi kh i s kinh doanh c a h (Sequeira và c ng s , 2007)
T nh ng l p lu n trên, gi thuy t sau đ c đ a ra:
Những người có nhu cầu kinh doanh gia đình có xu hướng tích cực đầu tư vào các mối quan hệ và chuẩn bị nguồn lực để chuyển đổi ý định khởi sự kinh doanh thành hành vi khởi sự kinh doanh thực tế Điều này cho thấy ở nhóm người có nhu cầu kinh doanh gia đình, khả năng thực hiện ý định khởi sự kinh doanh thành hành vi khởi sự kinh doanh thực tế cao hơn so với những người không có nhu cầu kinh doanh gia đình.
Vì quá trình kh i s kinh doanh d a trên vi c ch p nh n r i ro và s không ch c ch n, nên Caliendo và c ng s (2009) cho ra r ng nh n th c c a m i cá nhân v lo s th t b i đ c coi là m t y u t m nh m ng n c n các cá nhân th c hi n hành vi kh i s kinh doanh Liu và c ng s (2011) c ng l p lu n r ng m t s doanh nhân ti m n ng s không th c hi n hành vi kh i s kinh doanh vì h s nh ng r i ro khác nhau do th t b i trong kinh doanh Kh i s kinh doanh không ch c n huy đ ng v n, nhân l c và trang thi t b trong giai đo n chu n b mà còn ph i đ i m t v i nhi u thách th c và kh ng ho ng b t c lúc nào Sau khi xem xét kh n ng và nguy c th t b i có th x y ra, s ng i th c s kh i s kinh doanh có th s gi m đi r t nhi u M c đ chuy n đ i t Ủ đ nh kh i s kinh doanh thành hành vi th c t đ c cho là khác nhau tùy thu c vào m c đ lo s th t b i c a doanh nhân là cao hay th p S s hãi th t b i c a các doanh nhân t ng ng v i s ng i r i ro (Cacciotti và c ng s , 2016) Van Gelderen và c ng s (2015) cho r ng các doanh nhân đ y tham v ng có th g p khó kh n khi th c hi n các hành vi c n thi t đ t o ra m t doanh nghi p m i n u h nh n th y h không thích r i ro khi th c hi n nh ng hành vi này
Trở thành doanh nhân là một quá trình định hình nghề nghiệp phù hợp với tiềm năng của mỗi người và là thách thức lớn đối với ý chí cũng như tâm lý cá nhân Khi đối mặt với thất bại, nhiều người có thể mất động lực để duy trì mục tiêu ban đầu, rơi vào trạng thái chần chừ và trì hoãn, từ đó làm chậm tiến trình khởi sự kinh doanh Những yếu tố tâm lý này thường diễn ra một cách vô hình nhưng có thể ảnh hưởng đến kế hoạch và đà triển khai hoạt động khởi nghiệp của họ Nỗi sợ thất bại ở người trẻ có thể khiến họ thận trọng khi thực thi khởi sự kinh doanh, đồng thời cũng có thể kích thích họ hành động nhanh hơn để biến các ý tưởng thành hành động thực tế Các nghiên cứu của Van Gelderen và cộng sự (2015) và Wennberg và cộng sự (2013) cho thấy nỗi sợ thất bại ảnh hưởng đến khả năng thực thi kế hoạch và hành vi khởi sự, trong khi Welpe và cộng sự (2012) cho rằng sợ thất bại có thể khiến doanh nhân né tránh các hoạt động khởi sự Koellinger và cộng sự (2013) cũng nhấn mạnh rằng mức độ sợ thất bại có thể vừa giảm thiểu sự thực thi mục tiêu ban đầu vừa kích thích quá trình chuyển hóa các mục tiêu thành hành vi khởi nghiệp thực tế.
D a trên nh ng l p lu n này, tác gi cho r ng m i liên h gi a Ủ đ nh và hành vi kh i s kinh doanh có th b suy y u do lo s th t b i Nói cách khác, m i t ng quan gi a Ủ đ nh và hành vi kh i s kinh doanh s y u khi doanh nhân có m c đ lo s th t b i cao Gi thuy t sau đ c đ a ra:
H6 Lộ trình từ ý định đến hành vi khởi nghiệp cho thấy mối quan hệ giữa ý định khởi nghiệp và hành vi khởi nghiệp thực tế Có nghĩa, khi mức độ khó khăn và rào cản cao, tác động của ý định lên hành vi khởi nghiệp có thể bị giảm sút, trong khi khi rào cản được giảm thiểu và điều kiện thuận lợi được tăng lên, ý định khởi nghiệp sẽ chuyển hóa thành hành vi khởi nghiệp một cách hiệu quả hơn.
Vai trò c a s h i ti c đ oán đ nh
S h i ti c đoán đ nh có th ho t đ ng nh m t y u t thúc đ y các cá nhân tham gia vào hành vi kh i s kinh doanh (Roese, 2005) Nh ng cá nhân có Ủ đ nh kinh doanh cao đ ng th i c m th y vi c không th c hi n kh i s kinh doanh là đi u đáng ti c s tham gia vào hành vi kh i s kinh doanh th c t đ đi u ch nh và tránh g p ph i nh ng h i ti c trong t ng lai (Hatak và Snellman, 2017) M t khác, nh ng cá nhân có Ủ đ nh b t đ u kinh doanh trong t ng lai nh ng không c m th y s h i ti c n u không th c hi n đ c s ít có kh n ng bi n Ủ đ nh c a h thành hành vi th c t , ít nh t là trong ng n h n i u này có th gi i thích là do đ ng c đ h u h t các doanh nhân ti m n ng th c hi n hành vi kh i s kinh doanh là đ ng n ch n s h i ti c có th phát sinh do không hành đ ng (Hatak và Snellman, 2017), vì v y nh ng cá nhân nh v y s không có đ ng l c m nh m đ đi u ch nh hành vi c a h b ng cách th c hi n các hành đ ng c n thi t đ b t đ u kh i s kinh doanh Có th nói r ng s h i ti c vì không đ a k ho ch kh i s kinh doanh thành hi n th c là m t c m xúc tiêu c c có th thay đ i S h i ti c đoán đ nh có th làm cho các cá nhân đi u ch nh hành vi c a h L p lu n này t p trung vào ni m tin r ng các cá nhân tham gia vào ho t đ ng kinh doanh nh m t ph ng ti n đ đi u ch nh tr ng thái c m xúc c a h , đ nuôi d ng nh ng c m xúc tích c c và tránh nh ng c m xúc tiêu c c (Cardon và c ng s , 2012; Hatak và Snellman,
2017) Do đó, nghiên c u này đ a ra gi thuy t r ng s h i ti c đoán đ nh s đi u ch nh m i quan h gi a Ủ đ nh và hành vi kh i s kinh doanh
Khía cạnh dự đoán ý định và hành vi khởi nghiệp cho thấy có mối liên hệ giữa ý định bắt đầu kinh doanh và hành vi thực tế Những người có khả năng dự đoán cao có thể biến ý định khởi nghiệp thành hành vi khởi nghiệp thực tế với mức độ cao hơn so với những người có khả năng dự đoán thấp.
Vai trò c a tính cách ch đ ng
Những người có tính cách chủ động liên tục tìm kiếm cơ hội và không chỉ dựa vào thông tin có sẵn hay mong đợi sự can thiệp từ môi trường bên ngoài, mà chủ động thay đổi hoàn cảnh và đối mặt với các thách thức môi trường (Chipeta, 2015; Ng và Feldman, 2013) Họ có khả năng vượt khỏi vùng an toàn, tham gia tích cực vào quá trình tìm kiếm cơ hội, nhận diện nguồn lực và kiên trì đến khi đạt được mục tiêu khởi nghiệp (Parker và cộng sự, 2010) Thái độ chủ động được thể hiện thành hành vi thực tiễn và khởi nghiệp, vì nhiều người vẫn gặp khó khăn trong việc bắt đầu kinh doanh do các rào cản môi trường (Griffiths và cộng sự; Van Gelderen và cộng sự, 2015) Tuy nhiên, các cá nhân có tính cách chủ động có thể vượt qua rào cản bằng cách triển khai các hành động phù hợp với kế hoạch của mình và tin tưởng ở khả năng của bản thân, từ đó củng cố mối quan hệ giữa tính cách chủ động, định hướng khởi nghiệp và hành vi khởi nghiệp.
H8 Tính cách ch đ ng đi u ti t tích c c m i quan h gi a ý đnh và hành vi kh i s kinh doanh Có ngh a v i nh ng ng i có tính cách ch đ ng, kh n ng th c hi n ý đnh kh i s kinh doanh thành hành vi kh i s kinh doanh th c t cao h n so v i nh ng ng i không có tính cách ch đ ng.
Vai trò c a các y u t b i c nh
Giáo d c/ đ ào t o kh i s kinh doanh
Trong lu n án này tác gi cho r ng giáo d c/đào t o kh i s kinh doanh đóng vai trò nh y u t t o đi u ki n thu n l i cho các cá nhân hành đ ng theo Ủ đ nh kh i s kinh doanh ban đ u c a h Th nh t, d i góc nhìn nh n th c trong các nghiên c u v hành vi c a doanh nhân, các cá nhân th ng hành đ ng theo m c tiêu c a h (Ajzen và Fishbein, 2005; Krueger, 2000) Li u Ủ đ nh kh i s kinh doanh c a m t cá nhân có th chuy n thành hành vi th c t hay không có th ph thu c vào vi c h ti p thu ki n th c t các ch ng trình giáo d c v kh i s kinh doanh nh th nào (Shirokova và c ng s ,
Trong giai đoạn khởi sự kinh doanh, nhiều cá nhân hành động như doanh nhân không chỉ dựa trên mục tiêu mà còn vận dụng kiến thức và kỹ năng kinh doanh được trang bị qua các chương trình giáo dục/đào tạo khởi nghiệp; nhờ đó họ có thể thực thi những hành vi phù hợp với định hướng khởi nghiệp của mình Có người chọn con đường kinh doanh vì nhận thấy các lợi ích cá nhân và xã hội mà nó mang lại, và các chương trình giáo dục khởi nghiệp giúp hình thành niềm tin cũng như thái độ tích cực để theo đuổi con đường này Theo thuyết hành vi có ý định của Ajzen và Fishbein (2005), ý định hành vi và các yếu tố nhận thức tác động đến việc chuyển đổi ý định thành hành vi thực tế; vì vậy giáo dục/đào tạo khởi nghiệp đóng vai trò như chất xúc tác thúc đẩy quá trình này, giúp cá nhân biến ý định khởi sự thành hành động cụ thể phù hợp với mục tiêu kinh doanh của họ.
T nh ng l p lu n trên, tác gi đ a ra gi thuy t sau:
H9 Giáo d c/đào t o kh i s kinh doanh đi u ti t tích c c m i quan h ý đnh - hành vi kh i s kinh doanh
Khởi nghiệp và hành vi khởi nghiệp chịu ảnh hưởng của một hệ thống yếu tố phức tạp Môi trường khởi nghiệp có thể tác động đến hành vi của người khởi nghiệp; tuy nhiên sự thay đổi này phần lớn do các yếu tố khác ngoài yếu tố thời gian (Kuhl và Beckmann, 1985) Có vô số sự kiện không lường trước và đôi khi không thể dự đoán trước được có thể làm phức tạp mối quan hệ giữa mục tiêu và hành vi, hoặc thúc đẩy quá trình chuyển từ ý định sang hành vi khởi nghiệp Quá trình chuyển đổi từ đích (mục tiêu) sang hành vi có thể phụ thuộc vào đặc thù của môi trường và các yếu tố văn hóa Việc thành lập doanh nghiệp mới xuất phát từ cá nhân, tuy nhiên mức độ khắt khe của quyết định thành lập doanh nghiệp đòi hỏi nhận thức cá nhân và sự tác động của môi trường xung quanh Baumol (1990) cho rằng môi trường khởi nghiệp và các yếu tố văn hóa xung quanh có tác động đến hành vi khởi nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến sự hình thành và thực thi các quyết định khởi nghiệp trong thực tế.
Trong bối cảnh khởi nghiệp, môi trường chính sách là động lực thiết yếu, bao gồm các quy định, cơ chế và chương trình hỗ trợ nhằm giảm rủi ro và hạ thấp rào cản cho doanh nghiệp mới, đồng thời tạo điều kiện cho cá nhân thành lập công ty và tiếp cận nguồn lực, vốn và cơ hội tài chính Nhiều nghiên cứu cho thấy môi trường chính sách có tác động trực tiếp tới ý định và hành vi khởi nghiệp, từ việc thúc đẩy quá trình thành lập đến việc hình thành và duy trì doanh nghiệp mới Tuy nhiên, nếu thiết kế chính sách không nhất quán hoặc thiếu sự cân đối giữa mục tiêu của Ủ đnh và hành vi của doanh nhân, hiệu quả kích hoạt khởi nghiệp có thể bị hạn chế; ngược lại, các chính sách thân thiện với doanh nhân có thể làm giảm rào cản, tăng niềm tin và khả năng thực hiện các nhiệm vụ khởi nghiệp Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp được coi là yếu tố kích hoạt ý định và hành vi khởi nghiệp; khi cá nhân nhận được sự hỗ trợ như tiếp cận dễ dàng nguồn vốn, thủ tục hành chính gọn nhẹ và các dự án thúc đẩy, họ có nhiều khả năng biến ý định thành hành động khởi nghiệp thực tế Ngược lại, khó khăn như xin giấy phép kinh doanh, tiếp cận vốn khó khăn và các trở ngại hành chính có thể khiến người tiềm năng nản chí hoặc trì hoãn bước đi khởi nghiệp.
Môi trường văn hóa và xã hội kinh doanh là yếu tố then chốt của môi trường khởi nghiệp, ảnh hưởng đến mục tiêu, động lực và hành vi của người dân khi bắt đầu kinh doanh và sáng tạo Ở mỗi quốc gia, nhận thức về nghề nghiệp doanh nhân khác nhau và không phải nước nào cũng công nhận doanh nhân như một nghề nghiệp hợp pháp và đáng kính trọng Môi trường này phản ánh chuẩn mực xã hội và các nguồn lực hỗ trợ hay trói buộc doanh nhân, từ đó hình thành giá trị và kỳ vọng về khởi nghiệp Khi xã hội coi khởi nghiệp là một hoạt động được đánh giá tích cực, doanh nhân ít bị chỉ trích và được khuyến khích tham gia sáng tạo; ngược lại, nếu xã hội đánh giá thấp khởi nghiệp, họ có thể bị xem như người tiêu cực và bị hạn chế quyền tiếp cận nguồn lực Do đó, dù có ý định khởi nghiệp cao, các cá nhân vẫn phải đối mặt với áp lực xã hội và điều chỉnh hành vi cho phù hợp; đồng thời một môi trường xã hội tôn trọng và thúc đẩy sáng tạo sẽ nâng cao giá trị của khởi nghiệp và khiến khởi nghiệp trở thành lựa chọn nghề nghiệp hợp pháp và có ý nghĩa.
Nhận thức và niềm tin của cá nhân là yếu tố cốt lõi hình thành và thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp, bởi nhận thức về kiến thức và kỹ năng cùng với điều kiện của một quốc gia liên quan đến việc thành lập và vận hành một doanh nghiệp mới (Busenitz và cộng sự, 2000); nhận thức và niềm tin của mỗi cá nhân ảnh hưởng đến động lực và hành vi khởi nghiệp, ví dụ nhận thức về kiến thức và kỹ năng giúp nhận diện và khai thác cơ hội kinh doanh (Kirzner, 1973; Shane, 2000); kỹ năng và kinh nghiệm kinh doanh được tích lũy sẽ hỗ trợ cá nhân chuyển đổi ý tưởng thành hành động và quản lý một doanh nghiệp mới (Davidsson, 1991; Gnyawali và Fogel, 1994); do đó, những người có xu hướng khởi nghiệp thường sở hữu các kỹ năng cần thiết (Arenius và Minniti, 2005; Davidsson và Honig, 2003); môi trường nhận thức kinh doanh ở mỗi quốc gia có thể khác nhau, với một số nước có môi trường nhận thức thấp khiến công dân khó nhận ra và tận dụng cơ hội hoặc thiếu điều kiện để bắt đầu và vận hành doanh nghiệp mới (Manolova và cộng sự, 2008); ngược lại, các quốc gia có môi trường nhận thức kinh doanh cao đi kèm với các yếu tố hỗ trợ và niềm tin, giúp tăng khả năng thành lập và phát triển doanh nghiệp mới cũng như kiểm soát hành vi khởi sự kinh doanh.
Vì nh ng l p lu n trên, tác gi đ a ra các gi thuy t sau:
Môi trường kinh doanh có sự can thiệp của chính phủ qua các chính sách tích cực ảnh hưởng đến ý định và hành vi khởi nghiệp Khi môi trường được hỗ trợ bởi các chính sách này, khả năng chuyển đổi ý định khởi nghiệp thành hành vi khởi nghiệp thực tế sẽ cao hơn.
H10b Môi tr ng v n hoá xã h i v kinh doanh đi u ti t tích c c m i quan h ý đnh - hành vi kh i s kinh doanh Có ngh a, khi môi tr ng v n hoá xã h i v kinh doanh là tích c c, kh n ng chuy n đ i ý đnh kh i s kinh doanh thành hành vi kh i s kinh doanh th c t c a m t ng i s cao h n
H10c Môi tr ng nh n th c v kinh doanh đi u ti t tích c c m i quan h ý đnh
Hành vi khởi sự kinh doanh phản ánh quá trình chuyển từ ý định khởi nghiệp sang hành động cụ thể Khi môi trường nhận thức về kinh doanh tích cực và các yếu tố kích thích như nhận thức cơ hội, động lực cá nhân, cùng khả năng quản trị rủi ro được cải thiện, khả năng chuyển đổi ý định khởi nghiệp thành hành vi khởi sự kinh doanh thực tế sẽ cao hơn Nói cách khác, môi trường nhận thức tích cực về kinh doanh thúc đẩy người có ý định khởi nghiệp tiến tới thực hiện các bước khởi sự kinh doanh, từ đó nâng cao mức độ thực thi và hiệu quả của hành vi khởi sự kinh doanh.
Phần này trình bày cơ sở lý thuyết xây dựng và mô hình nghiên cứu của luận án Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), xem xét vai trò của các yếu tố cá nhân và các yếu tố liên quan đến gia đình trong mối quan hệ giữa ý định và hành vi Việc đề xuất mô hình nghiên cứu cho thấy sự phát triển của mô hình dựa trên TPB bằng cách bổ sung thêm các yếu tố mới vào mô hình này, bao gồm: (1) kinh nghiệm kinh doanh, (2) năng lực hoặc động lực kinh doanh của gia đình, (3) mức độ chấp nhận rủi ro, (4) khả năng dự đoán và nhận định trong kinh doanh.
(5) tính cách ch đ ng, (6) c m nh n giáo d c/đào t o kh i s kinh doanh và (7) môi tr ng kh i s kinh doanh N i dung các y u t và m i liên h gi a các y u t đ u đ c trình bày c th trong ch ng này.