1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) nâng cao năng lực tự học cho học sinh trong dạy đọc hiểu truyện ngắn “chí phèo” của nam cao (chương trình ngữ văn 11)

48 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 775,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành côngviệc chuyển từ PPDH nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vậndụng kiến thức, đồng thời phải đổi mới hình thức K

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT KIM LIÊN

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu 2

5 Thời gian nghiên cứu 3

6 Những điểm mới của sáng kiến 3

2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN “CHÍ PHÈO” CỦA NAM CAO 4

2.1.1 Cơ sở lí luận 4

2.1.1.1 Một số khái niệm 4

2.1.1.1.1 Năng lực 4

2.1.1.1.2 Tự học 4

2.1.1.1.3 Năng lực tự học 5

2.2 Cơ sở thực tiễn 6

2.2.1 Thực trạng của vấn đề ở phía giáo viên 6

2.2.2 Thực trạng của vấn đề ở phía học sinh 7

2.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP “NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN “CHÍ PHÈO” CỦA NAM CAO 8

2.2.1 Các phương pháp dạy học tích cực nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học 8

2.2.1.1 Phương pháp hướng dẫn Đọc để Tự học 8

2.2.1.2 Phương pháp dạy học theo dự án 9

2.2.1.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá để phát triển năng lực tự học 11

2.2.2 Các kĩ thuật dạy học tích cực nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học 15

2.3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 17

2.3.1 Mục đích thực nghiệm 18

2.3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 18

2.3.3 Nội dung thực nghiệm 18

2.3.4 Phương pháp 18

Phương pháp thực nghiệm được sử dụng ở đây chủ yếu là phương pháp thực nghiệm đối chứng Phương pháp thực nghiệm đối chứng là cách thực hiện đồng thời 2 loại hoạt động: dạy học theo giáo án mới có sử dụng các biện pháp của sáng kiến này và dạy học theo giáo án bình thường 18

2.3.5 Quy trình biên soạn bài học 18

2.3.6 Hiệu quả áp dụng sáng kiến trong thực tế dạy học 32

2.3.6.1 Kết quả nghiên cứu thu được do áp dụng sáng kiến 32

2.3.6.2 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến 33

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

PHỤ LỤC 38

Trang 3

CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Lí do chọn đề tài

1.1 Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chươngtrình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa từ chỗquan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh làm đượccái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành côngviệc chuyển từ PPDH nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vậndụng kiến thức, đồng thời phải đổi mới hình thức KTĐG từ nặng về kiểm tra trínhớ sang KTĐG năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề, chú trọngđánh giá trong quá trình dạy học để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chấtlượng của các hoạt động dạy học và giáo dục

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PPDH theo hướng hiện

đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, tập trung vào dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở

để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng phát triển năng lực” Muốn

làm được điều đó thì phải đổi mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy tốt nhấtnăng lực của học sinh

Với đặc thù môn Ngữ văn, để HS có hứng thú và chủ động lĩnh hội kiếnthức GV đóng vai trò rất quan trọng Việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoáhoạt động của học sinh, có kênh chữ và kênh hình, có nhiều câu hỏi phát huy tínhtích cực và đặc biệt khả năng tự học của HS sẽ đem lại hứng thú với HS

Trong xu thế xã hội ngày càng phát triển, vấn đề tự học trong nhà trường lạicàng được quan tâm hơn bao giờ hết Tự học cần phải trở thành một trong những

kỹ năng quan trọng nhằm phát triển năng lực trong mỗi cá nhân HS Trong mỗi bàihọc, HS cần phải có thói quen với vấn đề tự học, từ đó hình thành năng lực tự học

để sau này có điều kiện học tiếp nữa hay không vẫn có thể tự học hỏi để trau dồi trithức và thích nghi với thời đại Vì vậy, vấn đề tự học của HS THPT là một vấn đềcần thiết mang tính chiến lược

1.2 “Chí Phèo” của Nam Cao là một kiệt tác của văn xuôi Việt Nam hiện

đại, có sức lôi cuốn với nhiều bạn đọc Đọc truyện ngắn này, người đọc có thể rút

ra được nhiều bài học sâu sắc, nhiều liên hệ thực tế ý nghĩa Trên thực tế dạy học

hiện nay, khi dạy tác phẩm Chí Phèo, giáo viên mới chỉ hướng dẫn học sinh tìm

hiểu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm, ít chú ý đến việc hướngdẫn học sinh ứng dụng, liên hệ vào các vấn đề thực tiễn Một số giáo viên có ứngdụng PPDH theo định hướng phát triển năng lực nhưng còn mờ nhạt, chung chung,chưa chú ý nhiều đến hình thành kĩ năng sống và phẩm chất cho người học

Vì vậy, để việc dạy và học tác phẩm Chí Phèo có hiệu quả trong việc hình

thành phẩm chất, năng lực cho học sinh thì việc nâng cao năng lực tự học cho học

Trang 5

sinh là vấn đề cần thiết, sát thực, đúng với xu thế đổi mới phương pháp, phù hợpmục tiêu giáo dục

Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã tìm tòi, suy nghĩ và đề xuất giải pháp “Nâng

cao năng lực tự học cho học sinh trong dạy đọc hiểu truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao (Chương trình Ngữ văn 11) làm đề tài cho sáng kiến của mình.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Năng lực tự học của học sinh trong quá trình dạy đọc hiểu

truyện ngắn Chí Phèo ở trường THPT năm học 2020 - 2021.

- Phạm vi: Dạy hoc đọc hiểu truyện ngắn Chí Phèo trong môn Ngữ văn

THPT

3 Mục đích nghiên cứu

Sử dụng các hình thức dạy học (đọc đóng vai, thảo luận nhóm, sử dụngphiếu học tập (PHT) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS, qua đó góp phần đổimới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học và ôn thi THPT Quốc gia ở trường phổthông theo định hướng phát triển năng lực HS, phù hợp với chương trình giáo dụcphổ thông tổng thể mới được Bộ GD&ĐT ban hành

4 Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu và chỉ ra cách phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạyhọc Văn ở trường THPT

Trong quá tŕnh thực hiện chuyên đề này, chúng tôi đã vận dụng và phối hợpnhiều phương pháp trong đó có các phương pháp cơ bản sau :

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc các tài liệu có liên quan đến phương pháp

giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực đặc biệt năng lực tự học môn Ngữ Văn

- Phương pháp điều tra, quan sát: Thông qua việc dự giờ thăm lớp, qua thực

tế dạy học

- Phương pháp tổng kết và đúc rút kinh nghiệm: Tìm hiểu thực trạng việc

dạy - học của giáo viên và học sinh qua môn Ngữ văn cấp THPT

- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với giáo viên trong nhóm Ngữ văn

Trường THPT Kim Liên về vấn đề dạy Ngữ văn nói chung và dạy theo định hướngphát triển năng lực tự học của HS nói riêng

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm tính

khả thi và xác định tác dụng của các ý kiến đóng góp về vấn đề dạy học theođịnh hướng phát triển năng lực nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học của

HS để có những điều chỉnh cho hợp lý hơn

Trang 6

5 Thời gian nghiên cứu

Năm học 2020-2021, từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 1 năm 2021 tôi đã

thực nghiệm đề tài: “Nâng cao năng lực tự học cho học sinh trong dạy đọc hiểu

truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao (Chương trình Ngữ văn 11)

6 Những điểm mới của sáng kiến

Về lý luận: Sáng kiến đóng góp với các bạn đồng nghiệp dạy bộ môn Ngữ

văn lớp 11 nói riêng và bộ môn Ngữ văn cấp THPT nói chung về thực trạng vấn đềphát triển năng lực tự học cho học sinh hiện nay

Về thực tiễn: Đi sâu vào vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh

thông qua giảng dạy bộ môn mình phụ trách, tôi muốn đưa ra một số giải pháp màbản thân tôi đã thực hiện trong quá trình giảng dạy tại trường THPT Kim Liên vớimong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc thực hiện mục tiêu củangành giáo dục: đào tạo các em học sinh trở thành con người toàn diện

Trang 7

PHẦN II NỘI DUNG

2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN “CHÍ PHÈO” CỦA NAM CAO

2.1.1 Cơ sở lí luận 2.1.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1.1 Năng lực

“Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh

nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” Năng lực không phải là một thuộc tính đơn nhất Đó là một tổng

thể của nhiều yếu tố có liên hệ tác động qua lại và hai đặc điểm phân biệt cơ bảncủa năng lực là: (1) tính vận dụng; (2) tính có thể chuyển đổi và phát triển Nănglực được hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người

Phát triển năng lực của người học chính là mục tiêu mà dạy và học tích cực muốnhướng tới Tùy theo môi trường hoạt động mà năng lực có thể đánh giá hoặc đođược, quan sát được ở những tình huống nhất định

2.1.1.1.2 Tự học

Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà

trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy

Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là

tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”.

Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998 cũng bàn về

khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức

kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn

đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”

Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và

lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế

hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”.

Trang 8

Như vậy, từ những quan điểm về tự học ở trên, chúng ta có thể xác địnhđược tự học luôn gắn liền với hoạt động tích cực, chủ động của từng chủ thể học

sinh mà chúng ta có thể gọi là “tự mình”, có nghĩa là các em phải tự mình phát

hiện kiến thức, tự mình nắm bắt kiến thức và tự mình vận dụng kiến thức Điều đókhông chỉ có giá trị đối với bản thân các em mà còn giá trị đối với xã hội, đối vớinhân loại Ngoài ra, năng lực tự học đối với học sinh THPT còn tạo ra sự biến đổi

về mặt nhận thức, đem lại một ý nghĩa lớn hơn là hình thành thói quen tự học vớinhững suy nghĩ tìm tòi để đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề Đó là những hoạt động

có tác dụng rèn luyện, phát triển tư duy logic đồng thời cũng là một dấu hiệu biểuđạt mức độ của sự phát triển trí tuệ

Năng lực tự học của HS THPT mới chỉ dừng lại ở mức độ thấp, nhưng đây

lại là cơ sở vô cùng quan trọng cho việc hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu

ở mức độ cao sau này Nhà trường sẽ là nơi tạo dựng một nền móng vững chắc chokinh nghiệm tự học, tự nghiên cứu thuần thục của một nhà khoa học sau này

- GV là người hướng dẫn, tổ chức cho HS tự nghiên cứu tìm ra kiến thức và

tự thể hiện mình trong lớp học, GV là một trọng tài hay cố vấn, kết luận trong cáccuộc tranh luận đối thoại (HS – HS – GV – GV) để khẳng định kiến thức do HStìm ra và GV là người kiểm tra đánh giá kết quả tự học của HS

- HS tự đánh giá, tự kiểm tra lại sản phẩm ban đầu sau khi đã trao đổi, hợptác với bạn bè và dựa vào kết luận của GV, tự sửa chữa, tự điều chỉnh, tự hoànthiện đồng thời tự rút kinh nghiệm về cách học, cách xử lý tình huống, cách giảiquyết vấn đề của mình

Trong quá trình tự học, HS luôn tự chủ, năng động và sáng tạo, biết học hỏi

và đánh giá, biết so sánh và đối chiếu, biết kiểm nghiệm và xử lý tình huống Quantrọng hơn là HS phải biết tự tìm cho mình một cách tự chiếm lĩnh tài liệu

Như vậy, tự học của HS THPT không đòi hỏi mức độ cao như tự học củacác nhà nghiên cứu, mà chủ yếu dựa vào bài học cụ thể trong SGK, những tài liệu

có liên quan đến bài học để đối chiếu, so sánh, mở rộng làm cho quá trình nhậnthức của HS mang tính chủ động và có tính chất nghiên cứu Mục đích tự học của

Trang 9

HS THPT giúp các em hiểu sâu sắc, trọn vẹn bài học bằng chính năng lực củamình và biết vận dụng kiến thức thành kinh nghiệm của bản thân

2.1.2 Sự cần thiết của việc rèn luyện năng lực tự học trong dạy đọc hiểu môn Ngữ văn

Sự bùng nổ của tri thức, sự phát triển của thời đại đặt ra một yêu cầu hết sứccấp bách cho nền giáo dục nước nhà là phải hiện đại hóa nội dung và phương phápdạy học, trong đó chú trọng phát triển năng lực tự học của học sinh Bộ môn Ngữvăn cũng không nằm ngoài quy luật đó Thực tế dạy đọc hiểu trong môn Ngữ văn

là nội dung rất quan trọng để giúp học sinh phát triển các kỹ năng tự chiếm lĩnh,khám phá tri thức của tác phẩm Điều này đòi hỏi người giáo viên cần phải thayđổi phương pháp dạy học tốt nhất để giúp kích thích khả năng ham học hỏi, say mênghiên cứu, hình thành ở học sinh những kỹ năng tự học nhằm rút ngắn thời gianhọc tập trên lớp mà vẫn đạt hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của giáo dục và thời đại

Kiến thức trong mỗi tác phẩm văn học vừa mang tính khái quát, vừa mangtính cụ thể Để học sinh cảm nhận tác phẩm bằng chính năng lực của mình, việcnâng cao năng lực tự học cho học sinh là một sự lựa chọn tối ưu nhất trong hànhtrình nâng cao hiệu quả dạy học mà ngýời giáo viên đang kiếm tìm

Những nội dung kiến thức trong mỗi tác phẩm là yếu tố thuận lợi cho việcrèn luyện nãng lực cho học sinh THPT, đặc biệt là năng lực tự học Dưới sự dẫndắt, điều khiển của giáo viên, học sinh sẽ được rèn luyện và phát huy những kỹnăng quan trọng như tự đọc sách, tài liệu, tự phát hiện luận điểm, tự lập dàn ý, tự tìm dữliệu cho một nhận định Từ đó, hình thành cho các em một tư duy logic, khoa học, mộtkhả năng tự học, tự nghiên cứu bài học, một năng lực độc lập suy nghĩ

2.2 Cơ sở thực tiễn 2.2.1 Thực trạng của vấn đề ở phía giáo viên

Trong những năm gần đây dạy học Ngữ văn ở trường THPT đã có nhiềuchuyển biến tích cực và đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào Tuy nhiên, trongdạy học Ngữ văn nói chung và đọc hiểu tác phẩm văn học nói riêng vẫn đang cònchú trọng truyền thụ kiến thức chứ chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng và phát triểnnăng lực tự học cho học sinh

Để có cơ sở nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát một số giáo viên ở TrườngTHPT Kim Liên Thông qua trao đổi trực tiếp, trao đổi giáo án, dự giờ trên lớp vàđiều tra qua phiếu trắc nghiệm khách quan (phụ lục 1) Qua dự giờ đồng nghiệp,phương pháp dạy học chủ yếu mà giáo viên sử dụng là truyền thụ tri thức, chưachú trọng đến thực hành; chưa chủ động sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạyhọc tích cực để phát huy tính chủ động tích cực của học sinh

Khi hỏi về những phương pháp và kỹ thuật dạy học được áp dụng trong giờdạy văn học , hầu hết giáo viên đều chọn thuyết trình, giảng giải tri thức chưa chútrọng rèn luyện năng lực này trong giờ văn học Vì thế, việc học sinh chuẩn bị bài

Trang 10

chu đáo ở nhà, giáo viên định hướng giảng giải, giải thích những thắc mắc, họcsinh chủ động nắm bắt tri thức khoa học bằng con đường tự nghiên cứu, tự học ítkhi xảy ra Chính vì thế cho nên giờ dạy học văn thường trầm lắng, tạo cảm giácmệt mỏi, không có hứng thú học tập, các em có thái độ dửng dưng, thờ ơ.

Những tồn tại, hạn chế của giáo viên tất yếu dẫn tới sản phẩm giáo dục củachúng ta chính là các em học sinh ít nhiều bị ảnh hưởng.Trong học tập nói chung

và trong các bài đọc hiểu nói riêng, nhiều em chưa biết lật đi lật lại vấn đề, pháthiện thắc mắc, suy nghĩ sâu sắc về vấn đề học tập Đa số học sinh chăm chỉ, chịukhó học song các em thiếu phương pháp học tập khoa học, thường tiếp thu tri thứcmột cách thụ động bằng cách ghi nhớ, tái hiện Do đó, phương pháp tự học văn họcchủ yếu là các em cố gắng ghi nhớ toàn bộ lời giảng của giáo viên rồi cố gắng lặplại y nguyên, ngại đào sâu suy nghĩ, tìm dấu hiệu bản chất của nội dung vấn đềnghiên cứu (học vẹt) Bên cạnh đó,việc kiểm tra đánh giá vẫn nặng về tái hiện kiếnthức mà chưa phát huy được sự sáng tạo của học sinh

2.2.2 Thực trạng của vấn đề ở phía học sinh

Cũng qua điều tra, tôi nhận thấy, các em rất ngại đọc sách giáo khoa Hầunhư các em chỉ đọc lướt tác phẩm để biết qua mà chưa có sự suy luận, ghi chép, đểhiểu được vấn đề

Việc chưa chú trọng chuẩn bị bài trước khi lên lớp đã quyết định rất lớn đếncác hoạt động tự học Hoạt động chủ yếu của các em là nghe giáo viên giảng và ghichép vào vở một cách máy móc, rập khuôn Các em ít được tham gia thảo luận,bày tỏ quan niệm, ý kiến riêng của cá nhân hoặc đề xuất các hướng giải quyết vấnđề Khi giáo viên đặt câu hỏi trong giờ học các em cũng ngại xung phong trả lờicâu hỏi, chỉ trả lời câu hỏi khi được cộng điểm hoặc bị chỉ định Những yếu tố này

đã làm triệt tiêu óc sáng tạo, suy nghĩ của người học, biến người học thành ngườiquen suy nghĩ, diễn đạt bằng ý vay mượn, lời sẵn có, thành người nô lệ của sáchvở; học sinh nắm kiến thức văn học không vững vàng, chưa có tính hệ thống, dễdàng quên ngay sau khi tiết học kết thúc Điều đó cho thấy phương pháp, hình thứcdạy văn học hiện nay chưa tạo sự hứng thú, chưa kích hoạt được tính chủ động,tích cực của học sinh cũng như chưa được hình thành và phát triển năng lực tự học

Trước tình hình thực tế trên, mỗi giáo viên cần mạnh dạn tìm tòi, đổi mớiphương pháp, hình thức dạy học để tạo hứng thú học tập cho học sinh để từ đó các

em tích cực, chủ động, sáng tạo tự mình chiếm lĩnh kiến thức Điều này đặt ra vấn

đề cần rèn luyện năng lực tự học cho học sinh trong nhà trường THPT, đặc biệtqua giờ dạy đọc hiểu tác phẩm văn học

Trang 11

2.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP “NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN “CHÍ PHÈO” CỦA NAM CAO

2.2.1 Các phương pháp dạy học tích cực nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học

2.2.1.1 Phương pháp hướng dẫn Đọc để Tự học

Có rất nhiều tài liệu, sách, báo, đặc biệt là sách giáo khoa HS cần đọc đểhọc Trong đó việc đọc trước sách giáo khoa sẽ tạo tiền đề cho việc tiếp thu kiếnthức từ việc dạy học của GV, nó giúp HS biết một cách khái quát về nội dung sắpđược học, phát hiện vấn đề từ đó có nhu cầu giải quyết vấn đề

Tuy nhiên phần lớn HS chưa biết cách đọc nên không thể đảm bảo đọc là đãhọc được Trước hết GV cần giúp HS phân biệt được các mức độ đọc:

- Mức không: nghĩa là HS chỉ thuần túy đọc và tin rằng sau đó lập tức sẽhiểu ra HS chỉ chăm chú làm sao đọc thật nhanh cho xong tài liệu này

- Mức bề mặt: HS đọc với thái độ thụ động, chỉ quan tâm đến: bao quát nộidung, các em đã đọc được bao nhiêu, tìm đúng được câu trả lời, học đúng nguyên văn

- Mức bề sâu: HS đọc với thái độ tích cực và quan tâm đến: nội dung trọngtâm, hiểu nội dung đó nói gì? Từ nội dung này rút ra đươc gì? Nó có liên quan đếncái gì? Những điểm chưa rõ cần đặt ra vấn đề?

Đọc để học phải là một quá trình tích cực, Vậy làm cách nào để tận dụng cơhội cho HS học được nhiều qua việc đọc? Câu hỏi này có thể trả lời bằng việc GVcần phải nêu yêu cầu và khuyến khích đọc bằng cách:

- Đưa ra yêu cầu tìm kiếm một thông tin cụ thể từ cuốn sách đọc

- Đa dạng yêu cầu đối với các đối tượng học sinh khác nhau: thể hiện theonhiều mức độ: biết, hiểu, thậm chí là vận dụng nội dung đã đề cập

- Có thể yêu cầu một số nhóm đọc một số tài liệu khác nhau và sẽ trình bàytrước tập thể lớp để trao đổi, bàn luận về một số vấn đề

Muốn thu được hiệu quả từ việc đọc, GV ngoài việc nêu ra yêu cầu cũng cầnphải cho phép học sinh đọc với tốc độ của các em và rèn cho các em kĩ năng đọc:

- Đọc khảo sát: đọc lướt cả tài liệu, chú ý nội dung và bố cục

- Đặt câu hỏi: trước khi đọc mỗi phần nên đặt ra các câu hỏi: Mình đang đọcgì? Cần rút ra điều gì ở phần này? Điều mới mẻ và thú vị ở đây?

- Đọc nghiền ngẫm tài liệu và cố gắng trả lời từng câu hỏi đã đặt ra ở trên

- Cuối mỗi phần cần dừng lại để nhấn mạnh, ghi lại những điểm chủ yếunhất hoặc những thắc mắc của người đọc

Trang 12

- Đọc xong cuốn sách hình dung lại toàn bộ bố cục, rút ra logic của tài liệu

và đưa ra những nhận xét của bản thân về cuốn tài liệu

Tuy nhiên ý thức đọc để học của học sinh cũng rất quan trọng Nhưng thực

tế cho thấy rằng các em không có nhu cầu đọc nên không chủ động tiếp cận kiếnthức Để kích thích việc đọc một cách hiệu quả hơn tôi thường đặt ra thang điểmtrong kiểm tra thường xuyên cụ thể là 2/10 điểm tùy theo mức đọc của học sinh từ

1 đến 1,5 điểm đạt được khi các em đọc ở mức bề mặt và 0,5 cho đọc ở mức sâu

Thang điểm này sẽ dần chuyển dịch tăng lên ở mức sâu sau thời gian rèn luyện kĩnăng đọc ở học sinh

Chẳng hạn như khi dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam cao, GV yêu cầu

học sinh đọc với mức độ sâu để gợi hứng thú nhập cuộc cho HS khi cảm thụ tácphẩm HS căn cứ vào kết cấu của tác phẩm tự tìm ra cách đọc thích hợp với từngđoạn, từng giọng điệu để có thể diễn tả được cảm xúc phong phú và đa dạng củatruyện ngắn HS cần đọc ở mức độ sâu để có thể trả lời được các câu hỏi:

Câu hỏi 1: Cách vào truyện của Nam Cao độc đáo như thế nào? Ý nghĩatiếng chửi của Chí Phèo trong đoạn mở đầu?

Câu hỏi 2: Việc gặp Thị Nở có ý nghĩa như thế nào với cuộc đời Chí Phèo?

Những gì đã diễn ra trong tâm hồn Chí Phèo sau cuộc gặp gỡ đó?

Câu hỏi 3: Phân tích diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau khi bị Thị Nở từchối chung sống? Vì sao Chí Phèo có nhành động dữ dội, bất ngờ (uống rượu, xáchdao đi giết Bá Kiến rồi tự sát)?

Câu hỏi 4: Qua hình tượng Chí Phèo, hãy làm rõ nghệ thuật điển hình hóacủa Nam Cao?

Câu hỏi 5: Ngôn ngữ kể chuyện của tác giả và ngôn ngữ trong truyện có gìđặc sắc?

Câu hỏi 6: Tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao qua truyệnngắn này?

2.2.1.2 Phương pháp dạy học theo dự án

a) Khái niệm Dạy học theo dự án

Dạy học dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn, thực hành,tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện vớitính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kếhoạch đến việc thực hiện dự án kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quảthực hiện Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của dạy học dự án

b) Các bước dạy học dự án

Trang 13

Bước 1: Lập kế hoạch: Là bước đầu tiên quan trọng, tất cả các thành viêntrong nhóm cùng tham gia xây dựng.

- Thảo luận nhóm để xử lý thông tin

- Trao đổi và xin ý kiến GV hướng dẫn

Bước 3: Tổng hợp kết quả

- Tổng hợp kết quả, xây dựng sản phẩm

- Báo cáo kết quả dự án

- Đánh giá và nhận thông tin phản hồi

- Rút ra bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện dự án

c) Dạy học dự án truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao

- Xác định chủ đề và yêu cầu của dự án

Để giúp cho HS khám phá nội dung sáng tác của Nam Cao thì GV cần xâydựng chủ đề và yêu cầu của dự án có liên quan đến nội dung bài học trên lớp Cụ

thể, GV cung cấp số đề tài liên quan đến bài học về tác giả Nam Cao, tác phẩm Chí

Phèo cho HS lựa chọn thực hiện

Dạy học truyện ngắn Chí Phèo, GV có thể cung cấp các đề tài xoay quanh

chủ đề “Người nông dân” hoặc “người trí thức tiểu tư sản” cho HS lựa chọn đểthực hiện Với những chủ đề lớn và các đề tài nhỏ được đặt ra, GV yêu cầu mỗinhóm HS tùy vào sở trường và sở thích, năng lực, năng khiếu của từng cá nhân,nhóm mà chọn lựa để thể hiện sản phẩm của mình bằng bài viết nghiên cứu, hay tờrơi, tập báo ảnh, hoặc clip, phim, Sau khi các nhóm thực hiện xong sản phẩm dự

án thì tiến hành báo cáo, công bố giới thiệu trước tổ, lớp, khối hay cả trường

- Mục đích của dự án+ Giúp HS hiểu sâu về con người và tác phẩm của Nam Cao luôn gắn liềnvới những giá trị hiện thức xã hội và giá trị nhân đạo sâu sắc

+ Phát triển kĩ năng thu thập thông tin qua sách báo, tranh ảnh, tài liệu thamkhảo, trang mạng, tham quan,… và cả ách xử lí thông tin để trình bày những hiểubiết của bản thân HS liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp Nam Cao

Trang 14

+ Nhằm giáo dục và nâng cao ý thức cho HS giữ gìn và phát huy những giátrị văn học.

+ Giúp HS phát triển kĩ năng trình bày trước đám đông cũng như tự bộc lộ, bày tỏnhững suy nghĩ, quan điểm thái độ của bản thân về cuộc đời, sự nghiệp của Nam Cao

- Cách thức thực hiệnBước 1) Xây dựng kế hoạch thực hiện

Để tổ chức thành công các chủ đề dự án trên, GV hướng dẫn HS biết cáchxây dựng kế hoạch, đảm bảo các mặt (thời gian, phân công công việc trong nhóm,phương pháp tiến hành, thiết bị cần dùng, kinh phí,…)

Bước 2) Thực hiện dự ánMỗi nhóm cần xây dựng bản kế hoạch chi tiết cho từng công việc và luônthể hiện tinh thần làm việc nhóm, khả năng tư duy sáng tạo, khả năng suy nghĩ độclập và cách giải quyết các vấn đề theo sự sáng tạo riêng Lưu ý, trong quá trìnhthực hiện, GV cần động viên, khích lệ HS nhằm phát huy được tất cả những sởtrường, năng lực cá nhân để thực hiện đề tài dự án đạt hiệu quả cao nhất

Bước 3) Thu thập kết quảKết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng bài viết nghiên cứu, báocáo, hay tờ rơi, báo tường, tập tranh ảnh, clip,… Bài viết có thể được trình bày trênphần mềm powerpoint, hay dạng văn bản viết, hoặc là các ấn phẩm (bản tin, báo,

áp phích), phim, ảnh,…

Bước 4) Công bố sản phẩmSản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm HS và được giớithiệu trong toàn trường

Bước 5) Đánh giá dự ánĐây là giai đoạn kết thúc dự án, ngoài GV kiểm tra, đánh giá thì bản thân

HS, cũng như những người tham dự đều tham gia đánh giá Từ đó giúp cho mỗi

HS tự nhận thấy được mặt ưu và mặt khuyết của mình để rút kinh nghiệm cho việcthực hiện đề án tiếp theo

Tất cả những biện pháp, kĩ thuật dạy học trên sẽ hỗ trợ rất đắc lực cho GVtrong việc dạy học chủ đề truyện hiện đại (Ngữ văn - lớp 11)

2.2.1.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá để phát triển năng lực tự học.

Như đã nêu để khuyến kích phát triển năng lực tự học thì GV cần động viênmột cách thiết thực bằng điểm số trong các khâu của quá trình lên lớp, từ kiểm trabài cũ, dạy bài mới, củng cố bài học

Bước 1: Qua việc “Kiểm tra bài cũ” Thường thì trong phần kiểm tra bài

cũ, GV đưa ra câu hỏi kiểm tra kiến thức bài trước đã học Để tạo hứng thú

Trang 15

cho HS, GV nên khuyến khích các em bằng hệ thống câu hỏi tường minh rõ ràngtránh quá rộng hoặc quá vụn vặt Đặc biệt GV đưa ra câu hỏi kiểm tra kiến thứcliên hệ với thực tế hoặc câu hỏi có nội dung liên quan đến bài mới, từ đó vừa dẫndắt HS đi vào vấn đề của bài mới vừa đánh giá lượng kiến thức HS đạt được quaviệc tự học của mình Chú ý câu hỏi cần đặt đúng đối tượng học sinh theo năng lựcchung và năng lực tự học, cần dự kiến trước phương án trả lời của HS.

Bước 2: Để thực hiện có hiệu quả phải tạo hứng thú trong khâu “Đặt vấn đề" - hoạt động khởi động.

Phần này giáo viên nên đưa ra các tình huống có vấn đề đòi hỏi học sinh tái hiệnkiến thức tự học qua việc đọc để học hoặc đọc tài liệu để hoàn thành hợp đồng Những ýkiến HS trình bày chính là nội dung mà học sinh sẽ biết được qua bài học mới

Trong hoạt động khởi động khi dạy Bài “Chí Phèo” (Nam Cao).

GV chiếu cho HS xem một trích đoạn vi deo trong bộ phim “Làng Vũ Đạingày ấy” GV đặt câu hỏi cho HS Câu hỏi: Đoạn clip em vừa xem có những nhânvật nào? Nhân vật đó gợi cho em nhớ đến tác phẩm văn học nào? Ai là tác giả?

HS trả lời câu hỏi và GV dẫn vào bài

Bước 3: Trong quá trình dạy “Bài mới” - hoạt động hình thành kiến thức

cũng có thể đánh giá được kiến thức HS có được qua việc tự học

Việc đánh giá này thể hiện qua các câu hỏi, vấn đề, tình huống mà GV đặt ratrong quá trình truyền thụ kiến thức lần lượt qua các mức độ tự học để biết, để hiểu

và vận dụng được Và để khuyến khích việc tự học này GV cần thể hiện bằng cáchcộng điểm khuyến kích cho HS Nhưng để đảm bảo kiến thức tự học là khoa học,chính xác thì nhất thiết phải dành thời gian cho học sinh hoạt động suy nghĩ, thựchành, phán đoán, thảo luận…thời gian càng nhiều càng tốt, miễn là tổ chức khoahọc Nên có phần dành riêng cho học sinh khá - giỏi, có phần phù hợp với học sinhyếu - kém Như vậy các nhóm học sinh có trình độ khác nhau đều được thử thách

và đánh giá sẽ không gây hiện tượng nhàm chán hay “ đuối sức” trong tự học nóiriêng và học tập nói chung

GV đặt ra các vấn đề, các câu hỏi, giao nhiệm vụ cho HS (cho nhóm HS), từ đó sẽhình thành năng lực tự học cho học sinh Chẳng hạn khi giao nhiệm vụ cho HS để đọchiểu truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao), GV nêu vấn đề trong từng nội dung như sau:

Nội dung 1: Hình ảnh làng Vũ Đại

Câu hỏi 1: Hình ảnh làng Vũ Đại được miêu tả như thế nào trong tác phẩm?

Trong làng tồn tại những mẫu thuẫn gì?

Câu hỏi 2: Theo em làng quê Việt Nam ngày nay có giống với làng Vũ Đạitrong truyện ngắn Chí Phèo không? Từ đó em thấy mình có trách nhiệm gì để đónggóp, xây dựng quê hương đất nước

Trang 16

Nội dung 2: Nhân vật Bá Kiến

GV chia lớp thành 2 nhóm, tổ chức trò chơi Ô chữ bí mật, cho HS lần lượt

trả lời các câu hỏi sau:

Hàng thứ 1: Từ ngữ chỉ sự độc ác và hung bạo → TÀN BẠOHàng thứ 2: Từ ngữ chỉ sự khéo léo để lừa đảo → XẢO QUYỆTHàng thứ 3: Kiểu nhà nước nào là kiểu nhà nước thứ hai trong lịch sử xã hộiloài người? → PHONG KIẾN

Hàng thứ 4: Điền từ còn thiếu trong câu thơ sau:

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong … giết người không dao.

→ NHAM HIỂMHàng ngang 5: Từ ngữ chỉ sự gian manh, lừa lọc → ĐỂU CÁNGHàng ngang 6: Từ ngữ chỉ cách hành động theo chiều hướng chuyển thiệthại của người khác thành lợi ích của mình → THỦ ĐOẠN

→ Từ ngữ ở ô chữ hàng dọc là: BÁ KIẾN

Từ việc tổ chức trò chơi Ô chữ bí mật, giáo viên hướng dẫn học sinh tự rút

ra những ý kiến then chốt về bản chất con người Bá Kiến

Nội dung 3: Nhân vật Chí Phèo

Vấn đề 1: Trước khi vào tù, Chí Phèo là một người như thế nào?

Vấn đề 2: Qúa trình tha hóa:

GV yêu HS đọc văn bản kết hợp với phần chuẩn bị phiếu học tập ở nhà trảlời theo một số câu hỏi gợi ý để tìm hiểu khái quát về quá trình tha hóa của ChíPhèo như sau:

+ Giai đoạn 1: Từ người nông dân lương thiện bị tha hóa thành lưu manh.

+ Giai đoạn 2: Từ thằng lưu manh trở thành con quỷ dữ.

Vấn đề 3: Quá trình hồi sinh

GV chia lớp thành 04 nhóm, mỗi nhóm nhận 1 nhiệm vụ

Nhóm 1: Tìm những chi tiết nói về sự tỉnh rượu của Chí Phèo

Nhóm 2: Tìm những chi tiết nói về sự tỉnh ngộ của Chí Phèo

Nhóm 3: Tìm những chi tiết nói về sự ngạc nhiên, xúc động của Chí Phèo

Nhóm 4: Tìm những chi tiết nói về những hy vọng, khao khát của Chí Phèo

Như vậy, dạy học nêu vấn đề sau khi học sinh đọc sâu tác phẩm có thể pháthuy tính chủ động, sáng tạo của mỗi học sinh nhằm chuẩn bị cho các em thích ứng

Trang 17

và hội nhập tốt đối với xã hội đang phát triển và thay đổi liên tục Việc dạy họcnêu vấn đề sẽ tạo cho học sinh sự hưng phấn, hứng thú khi lĩnh hội kiến thức tronggiờ học làm cho việc học tập sẽ sôi nổi, hào hứng và dễ dàng hơn.

Bước 4: Trong phần “củng cố, đánh giá” - hoạt động luyện tập

Khi đánh giá GV phải đưa ra một số câu hỏi trắc nghiệm gọn, dễ nhớ; hoặccâu hỏi tự luận mang tính khái quát, vận dụng, liên hệ thực tế Yêu cầu học sinhlàm trên phiếu học tập hoặc làm trên giấy, bảng cá nhân Sau đó giáo viên nêu đáp

án, biểu điểm, học sinh có thể chấm bài của bạn Khi chấm bài của bạn giúp các

em lần nữa khắc sâu kiến thức cho bản thân mình, nếu cá nhân hoặc nhóm hoạtđộng tốt - nhanh có kết quả đúng thì cũng có thể ghi điểm hoặc có thưởng (điểmcộng hay đơn giản tràng pháo tay khích lệ)

Trong hoạt động luyện tập khi dạy truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao,giáo

viên giao bài tập sau cho học sinh

Trăng nở nụ cười

Đâu Thị Nở, đâu Chí Phèo Đâu làng Vũ Đại đói nghèo Nam Cao Vẫn vườn chuối gió lao xao

Sông Châu vẫn chảy nôn nao mạn thuyền

Ả ngớ ngẩn

Gã khùng điên Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người Vườn sông trăng nở nụ cười

Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau Giữa đời vàng lẫn với thau

Lòng tin còn chút về sau để dành Tình yêu nên vị cháo hành

Đời chung bát vỡ thơm lành lứa đôi.

(Lê Đình Cánh)

Đọc bài thơ trên và thực hiện những yêu cầu sau từ câu 1 đến câu 3:

1/ Xác định thể thơ? Chép lại 2 câu thơ sử dụng nhịp lẻ trong bài thơ?

2/ Các từ ngữ Thị Nở;Chí Phèo;làng Vũ Đại đói nghèo;ngớ ngẩn;khùng

điên;Vườn sông;trăng;cháo hành;lứa đôi đạt hiệu quả nghệ thuật như thế nào

khi người đọc liên tưởng tới truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao?

Trang 18

3/ Nêu và phân tích hiệu quả nghệ thuật biện pháp tu từ về từ trong hai câu

thơ:Vườn sông trăng nở nụ cười/Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau.

Bước 5: Ở phần “hướng dẫn về nhà”-hoạt động vận dụng, mở rộng:đây là

phần hết sức quan trọng bỡi lẽ nó giúp HS được định hướng nội dung cần tự họctrước vì vậy GV nên giao các công việc cụ thể cho các em Cũng có thểcho HS sưu tầm mẫu vật hay tranh ảnh, hoặc cũng có thể cho học sinh tìm hiểumột số vấn đề có liên quan đến bài học , từ các công việc đó giúp các em khámphá, thích tìm hiểu khoa học hơn cũng như tạo thói quen tự học cho các em

Khi dạy truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao,giáo viên giao bài tập cho học

sinh làm ở nhà ,nộp sản phẩm vào tiết sau:

- Nếu được viết một kết thúc khác cho truyện Chí Phèo, em sẽ viết như thế nào?

- Tình cảm nào của nhà văn Nam Cao dành cho người nông dân trong tác phẩm khiến em cảm động nhất? Vì sao?

- Sự cảm thông và tình thương của Thị Nở đã giúp Chí Phèo mong muốn hoàn lương về cuộc sống lương thiện (Giá trị sống yêu thương) Các em đã rút ra được bài học gì cho bản thân đối với gia đình, bạn bè?

Đánh giá:

Với việc đánh giá học sinh trong quá trình dạy học qua 5 bước lên lớp này,giáo viên sẽ đánh giá được một cách tổng quát về học sinh của mình trên mọi khíacạnh, từ ý thức tự học, năng lực tự học, tiếp cận kiến thức, thế giới quan khoa học,khả năng phát hiện vấn đề, khả năng tiếp thu kiến thức đến khả năng vận dụng giảithích các vấn đề liên quan đến kiến thức đã học

Bên cạnh những phương pháp dạy học theo đặc trưng của bộ môn Ngữ văn,việc phát huy các phương pháp dạy học tích cực cũng góp phần vào việc đổi mớiphương pháp dạy học Ngữ văn đạt hiệu quả

2.2.2 Các kĩ thuật dạy học tích cực nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học.

2.2.2.1 Kĩ thuật chia nhóm

Tổ chức học sinh làm việc theo nhóm là giải pháp đảm bảo quá trình học tậpdiễn ra tích cực và hiệu quả, qua đó giờ học trở nên mềm mại, linh hoạt, không rậpkhuôn, máy móc Mặt khác, tổ chức thảo luận nhóm còn tận dụng tối đa các nguồnlực dạy học và tạo không gian hoạt động đa dạng, nâng cao khả năng hợp tác giữagiáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh

Vai trò chính của việc thảo luận nhóm là tạo môi trường học tập đa thông tincho học sinh, tạo cơ hội giúp học sinh tự nghiên cứu, tự bộc lộ để thể hiện năng lực

Trang 19

và kết quả nghiên cứu của cá nhân, tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và nghiêncứu Thông qua thảo luận nhóm học sinh không chỉ được học tri thức, kinhnghiệm, thái độ mà còn được các kỹ năng thực hành, kỹ năng hợp tác, học cáchtương tác, giúp các em phát triển ý thức làm việc tập thể, phát huy trí tuệ tập thể,phát huy tính tích cực, năng lực tự học của bản thân như năng lực tổ chức, quản lí,tạo điều kiện để học sinh trải nghiệm thành công hay thất bại của mình Từ đó,kiến thức thu được của học sinh tăng thêm tính khách quan, khoa học, sâu sắc, bềnvững, dễ nhớ Học sinh được trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe, có phêphán ý kiến của bạn từ đó học sinh dễ hòa nhập, tạo cho các em sự tự tin, hứng thútrong học tập.

- Khi tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm, GV nên sử dụng nhiều cáchchia khác nhau gây hứng thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được họchỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp

- Khi đứng trước nhiều nhiệm vụ cần giải quyết một lúc, hoặc để phát huy sự giaolưu, hợp tác, tinh thần đoàn kết giữa các học sinh chúng ta có thể sử dụng kĩ thuật này

Với truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Khi hướng dẫn HS đọc hiểu, GV

lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học và PPDH phù hợp với đặc trưng thể loại Khi tổchức Hoạt động hình thành kiến thức, GV chia nhóm và giao nhiệm vụ cụ thể:

Nhóm 1: Lai lịch, tính cách của Chí Phèo trước khi vào tù?

Nhóm 2: Sự thay đổi về nhân hình, nhân tính và ý nghĩa tiếng chửi của ChíPhèo sau khi ra tù?

Nhóm 3: Qúa trình thức tỉnh của Chí Phèo (Diễn biến khi gặp Thị Nở)Nhóm 4: Bi kịch cự tuyệt quyền làm người của Chí

Nhóm 5: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm?

Khi HS giải quyết được các nhiệm vụ GV giao cho, các em sẽ hình thànhcác năng lực: Năng lực hợp tác; Năng lực tự học, Năng lực sáng tạo; Năng lực giảiquyết vấ đề… Từ cuộc đời của Chí Phèo, học sinh sẽ nhận thức được nhiều vấn đề

2.2.2.2 Kỹ thuật bản đồ tư duy

Không phải các môn học khác mới có thể dùng kĩ thuật này mà ngay cả môn

Ngữ văn nếu chúng ta biết sử dụng hợp lý thì cũng mang lại hiệu quả rất cao

Sau khi hướng dẫn học bài “Chí Phèo” giáo viên cho HS vẽ lại sư đồ tư duy để

khái quát lại nội dung bài học Học sinh đã khái quát bài học bằng sơ đồ tư duy sau:

Trang 20

Dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học làm cho việc dạy văn

và học văn không chỉ dừng lại ở vệc thuyết trình, ghi chép đơn thuần lý thuyết, nóthực sự đưa học sinh nhập cuộc, bằng kiến thức văn và biến kiến thức đó thành sảnphẩm thực tế

Quá trình dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học cũng đemđến cho bản thân người giáo viên cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề dạy và học văntrong trường phổ thông qua cái nhìn của chính các em, từ đó có thể có những sựđiều chỉnh phù hợp, hiệu quả hơn trong việc dạy và học văn

Với đặc điểm là một môn học có vai trò quan trọng trong việc hình thànhnhân cách cho học sinh, ngoài ra môn Ngữ văn cũng liên quan đến nhiều môn học

và nhiều vấn đề thực tiễn đời sống xã hội nên tôi đã xây dựng tiết học để giúp các

Trang 21

em học sinh tự thấy được khả năng của mình, giúp các em phát huy được sở trường

và năng lực vốn có mà bấy lâu nay chưa được thể hiện Qua đề tài này, tôi chỉmong muốn hình thành ở các em thói quen tự học, tạo hứng thú cho học sinh khihọc tập, nhờ đó mà học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, tự khám phá và tìm hiểucác dung lượng bài học, từ đó sẽ góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy

bộ môn ngữ văn ở trường trung học phổ thông Tuy nhiên, với phạm vi đề tài của

cá nhân tôi chỉ dừng lại biên soạn hai tiết học dành cho học sinh lớp 11 khi đọc

hiểu tác phẩm “Chí Phèo” (Nam Cao) phần II - Tác phẩm

2.3.1 Mục đích thực nghiệm

Qúa trình thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi, tính hiệu quả khi thựchiện đề tài Kết quả thu được từ thực nghiệm sự phạm sẽ là cơ sở chứng minh tínhkhoa học, tính đúng đắn, tính khả thi của các giải pháp mà đề tài đề xuất Từ đó bồidưỡng, phát triển năng lực tự học cho HS một cách hiệu quả

2.3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm

a) Đối tượng, địa bàn: Đối tượng để chọn thực nghiệm là HS lớp

11A2,11ª4,11C2,11C4 Trường THPT Kim Liên, 100% HS có học lực từ trung

bình trở lên Lớp thực nghiệm đã sử dụng các giải pháp “Nâng cao năng lực tự học

trong dạy Đọc hiểu truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao” như đã đề xuất ở phần

nội dung

b) Thời gian thực nghiệm

Chúng tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm cho học sinh lớp 11 tác phẩm Chí

Phèo của Nam Cao theo giáo án đã thiết kế, trong năm học 2020 - 2021, theo phân

phối CT môn Ngữ văn Điều này vừa đảm bảo tiến trình dạy học diễn ra bìnhthường, không bị xáo trộn, vừa mang tính khách quan của giờ dạy học thựcnghiệm

2.3.3 Nội dung thực nghiệm

Dạy học phát triển năng lực tự học cho học sinh theo giáo án đã thiết kế và

sử dụng các biện pháp dạy học đã được đề xuất trong phần nội dung So sánh vớikết quả của việc dạy học theo giáo án bình thường

2.3.4 Phương pháp

Phương pháp thực nghiệm được sử dụng ở đây chủ yếu là phương pháp thựcnghiệm đối chứng Phương pháp thực nghiệm đối chứng là cách thực hiện đồngthời 2 loại hoạt động: dạy học theo giáo án mới có sử dụng các biện pháp của sángkiến này và dạy học theo giáo án bình thường

2.3.5 Quy trình biên soạn bài học

Bài soạn được biên soạn theo Phân phối CT môn học Tác phẩm“Chí Phèo”

của Nam Cao (Ngữ văn 11)

Trang 22

Tiết 57 - 58 Đọc văn:

+ Giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm

+ Những nét đặc sắc trong nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao như điển hìnhhoá nhân vật, miêu tả tâm lí, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ nghệ thuật,

+ Tích hợp giáo dục kỹ năng sống: Môi trường sống của con người (mốiquan hệ giữa người với người)

2 Kĩ năng:

- Rèn kỹ năng phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự

- Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

3.Thái độ: Cảm thông, trân trọng khát vọng sống của người dân nghèo khổ

bị đẩy vào bước đường cùng trước Cách mạng tháng Tám

4 Các năng lực cần hình thành cho học sinh

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo:

+ Phát hiện và làm rõ vấn đề: Phân tích được tình huống trong học tập; pháthiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập

+ Đề xuất, lựa chọn giải pháp: Xác định được và biết tìm hiểu các thông tinliên quan đến vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề

+ Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề: Thực hiện giải pháp giảiquyết vấn đề và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện

- Năng lực giao tiếp:

Trang 23

+ Sử dụng tiếng Việt: Nghe hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các đề bài, lờigiải thích, cuộc thảo luận; có thái độ tích cực trong khi nghe; có phản hồi phù hợp,

+ Xác định mục đích giao tiếp: Bước đầu biết đặt ra mục đích giao tiếp vàhiểu được vai trò quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp

- Năng lực hợp tác:

+ Xác định mục đích và phương thức hợp tác: Chủ động đề xuất mục đíchhợp tác khi được giao các nhiệm vụ; xác định được loại công việc nào có thể hoànthành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm với quy mô phù hợp

+ Đánh giá hoạt động hợp tác: Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạtđộng chung của nhóm; nêu mặt được, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm

- Năng lực thẩm mỹ:

+ Nhận ra cái đẹp: Có cảm xúc và chính kiến cá nhân trước hiện tượng trong

tự nhiên, đời sống xã hội và nghệ thuật

+ Diễn tả, giao lưu thẩm mỹ: Giới thiệu được, tiếp nhận có chọn lọc thôngtin trao đổi về biểu hiện của cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trongnghệ thuật và trong tác phẩm của mình, của người khác

II Chuẩn bị của GV và HS.

1 Chuẩn bị của GV:

- SGK, SGV Ngữ văn 11 (tập 1); Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩnăng Ngữ văn 11; Định hướng tìm hiểu nội dung bài học qua hệ thống câu hỏi bàitập; Tài liệu tham khảo; Sưu tầm tranh, ảnh về Nam Cao, phim Làng Vũ Đại ngày ấy

2 Chuẩn bị của HS:

- Tìm đọc toàn bộ tác phẩm Chí Phèo

- Trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn học bài

III Tiến trình giờ học.

1 Kiểm tra bài cũ: (kiểm tra kết hợp trong phần khởi động)

2 Bài mới:

a Hoạt động 1: Khởi động

- GV chiếu cho HS xem một trích đoạn vi deo trong bộ phim “Làng Vũ Đạingày ấy” GV đặt câu hỏi cho HS Câu hỏi: Đoạn clip em vừa xem có những nhânvật nào? Nhân vật đó gợi cho em nhớ đến tác phẩm văn học nào? Ai là tác giả?

HS trả lời câu hỏi và GV dẫn vào bài

- GV cho Hs nghe một đoạn đọc ráp (Chí Phèo- Tiến Đạt), yêu cầu học sinh

trong thời gian 2 phút thực hiện các nhiệm vụ sau:

Trang 24

+ Ghi lại các từ khái quát về cuộc đời nhân vật Tôi: lầm lỗi, bôn ba, không

cha, cái lò gạch, mồ côi….

+ Trả lời các câu hỏi:

Nhân vật chính tâm sự về nỗi khổ nào trong cuộc đời mình?

Các em có nhận ra điểm tương đồng giữa số phận nhân vật tôi với một nhân vật trong tác phẩm của nhà văn Nam Cao?

- Gv yêu cầu 2 HS trình bày, các HS khác bổ sung

- Gv đặt vấn đề:

Các em đã biết Nam Cao qua truyện ngắn Lão Hạc, sau khi đọc tác phẩmđiều gì đọng lại nhất trong em?- Tình thương con, khốn khổ vì đói…

- Gv dẫn dắt về tình thương con và nỗi khổ của Lão Hạc Thà chọn cái chết

mà giữ được nhân phẩm, tự trọng -> dẫn ý kiến của Nguyễn Tuân: “kể từ khi Chí

Phèo ngật ngưỡng bước ra từ trang sách của Nam Cao người ta mới thấu hiểu mộtcách đầy đủ về nỗi thống khổ của người nông dân trong xã hội cũ”

? Tại sao vậy Mời học sinh cùng tìm hiểu tác phẩm Chí Phèo

b Hoạt động 2: Hình thành kiến thức

Hoạt động của GV và HS Nội dung chính

1 Hướng dẫn HS tìm hiểu chung

Học sinh làm việc theo nhóm đôi, thời gian 5 phút

- Từ những hiểu biết về Nam Cao

và tác phẩm (Hoàn cảnh xuất thân, những yếu tố liên quan đến tác phẩm…) hãy tạo một tình huống giả định về cuộc trò chuyện giữa một nhà văn trẻ và Nam Cao, qua đó vừa giới thiệu được hoàn cảnh sáng tác, nhan đề tác phẩm vừa chỉ ra được mối quan hệ giữa nhà văn và thế giới nghệ thuật của ông

- Gv mời 02 Hs bất kỳ lên đóngvai

- Gv yêu cầu các học sinh khácđánh giá việc nhập vai của các bạn

và bày tỏ ý kiến của bản thân

I Tìm hiểu chung:

1 Đề tài

- Đề tài:

+ Cùng đề tài cũ: Số phận ngườinông dân nghèo ở nông thôn Việt Namtrước Cách mạng tháng Tám

VD: Tắt đèn-Ngô Tất Tố, Bước

đường cùng-Nguyễn Công Hoan…

+ Khai thác ở hướng mới: họ bị tànphá về tâm hồn, hủy diệt về nhân tínhnhưng cuối cùng thức tỉnh

-> Khái quát cao về đời sống nôngthôn đương thời, có giá trị hiện thực vànhân đạo mới mẻ, sâu sắc

2 Hoàn cảnh sáng tác và nhan đề truyện

- Hoàn cảnh sáng tác: Dựa vào bối

cảnh xã hội Việt Nam trước cách mạng

Ngày đăng: 02/11/2022, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w