- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy chuyên đề, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng trong việc phát huy quyền làm chủ củ
Trang 1
LUẬN VĂN:
Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh - Những vấn đề đặt ra và giải pháp
Trang 2
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ không chỉ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn là động lực, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân ta xây dựng
Từ lâu, Đảng ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân, nên đã đưa cách mạng nước ta vượt qua mọi gian nan thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN, dân chủ hóa đời sống xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống
xã hội từ cơ sở
Chính vì vậy mà ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 30 CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Tiếp đó, ngày 15/5/1998, để cụ thể hóa Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 29 NĐ/CP về ban hành "Quy chế thực hiện dân chủ ở xã" nhằm phát huy sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Qua 3 năm triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; mặc dầu thời gian còn ngắn, song thực tế đã cho thấy những kết quả bước đầu là rất quan trọng Tuy vậy, vẫn còn bộc
lộ những thiếu sót, yếu kém như: quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực Tệ quan liêu, cửa quyền, mệnh lệnh, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn còn khá phổ biến và nghiêm trọng mà chưa đẩy lùi, chưa ngăn chặn được Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chậm
đi vào cuộc sống
Do vậy báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khóa VIII tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục nêu rõ: "Thực hiện tốt quy chế
Trang 3
dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng Khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức;
xây dựng luật trưng cầu ý dân" [12, 134]
Để không ngừng tăng cường hiệu quả của việc thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở và góp phần xem xét, đánh giá vấn đề một cách khách quan, khoa học, việc đi sâu nghiên cứu, tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện trên phạm vi toàn quốc hay từng địa phương cụ thể đều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn
Với tầm quan trọng trên, chúng tôi chọn vấn đề: " Thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh - Những vấn đề đặt ra và giải pháp " làm
đề tài luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa cộng sản khoa học, hy vọng
có thể góp phần nhỏ bé, thiết thực vào một vấn đề hết sức bức xúc hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đây là vấn đề mới được triển khai thực hiện ở nước ta, nhưng đã có một số công trình, bài viết liên quan
Các bài phát biểu của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở như: Lê Khả Phiếu (1998), "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở", Tạp chí Cộng sản, (3), tr 3-7 Đỗ Mười (1998), "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở", Tạp chí Cộng sản (20), tr 3 - 8
Các bài viết của các tác giả phân tích, lý giải về yêu cầu, cách thức tổ chức, con đường, biện pháp để thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, như "Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở" của Trần Quang Nhiếp, Tạp chí Cộng sản, 1998, số 13, tr
19-24; "Một số vấn đề về quy chế thực hiện dân chủ ở xã" của Vũ Anh Tuấn, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 9, 1998, tr 54-56; "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thiết chế
dân chủ ở nước ta" của Nguyễn Đình Tấn, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 10, 1998
tr 37-39; "Cải cách thủ tục hành chính ở cấp xã nhằm đảm bảo dân chủ ở cơ sở" của
Bùi Đức Kháng, Tạp chí Thanh tra, số 3, 1998, tr 32-33
Trang 4
Các bài viết của các tác giả nhằm sơ kết, đánh giá bước đầu như: "Thực hiện
dân chủ ở xã - Mấy vấn đề đặt ra" của Trần Quang Nhiếp Tạp chí Cộng sản, số 10,
1999, tr 40-44; "Nhìn lại việc thực hiện thí điểm quy chế dân chủ ở cơ sở" của Đỗ Quang Tuấn (2000), Tạp chí Dân vận, số (1+2), tr 10-11, 13; "Một số vấn đề đặt ra
sau hai năm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở" của Nguyễn Tiến Dũng, Tạp chí
Công tác tư tưởng văn hóa, số 6, 2000, tr 15-18; "Kết quả thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở, vấn đề đặt ra và một số giải pháp" của Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn Lan,
Thông tin Lý luận, số 9, 2000, tr 26-30; "Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa
bàn nông thôn - kết quả bước đầu và những vấn đề cần giải quyết" của Nguyễn Quốc
Phẩm, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10, 2000, tr 32-37
Một số bài viết góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho việc thực hiện và đánh giá
quá trình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở Như: "Củng cố các hình thức dân chủ vì
sự vững mạnh của Nhà nước ta" của Đào Trí úc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số
1, 1998, tr 3-4; "Dân chủ- một vấn đề thuộc bản chất của Nhà nước ta" của Đặng Xuân Kỳ, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 7, 1998, tr 6-9; "Cơ sở lý luận - Thực tiễn của
phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và "Mấy vấn đề xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở" của Đỗ Quang Tuấn, Tạp chí Cộng sản, số 8, 1998, tr 8-12;
"Những chỉ dẫn của Lênin về đấu tranh chống quan liệu và thực hành dân chủ" của
Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Thông tin Lý luận, số 4, 1999), tr 27-30
Các công trình đã được đăng thành sách, phân tích một cách sâu sắc, phong phú cả nội dung lý luận và thực tiễn qua khảo sát ở các vùng, các địa phương như:
"Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" do Dương Xuân Ngọc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; "Hệ thống chính trị cấp
cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội ở nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta" do Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000; "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" do Nguyễn Văn
Sáu, Hồ Văn Thông chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
Trang 5Riêng ở Thành phố Vinh có các văn bản, chỉ thị của Thành ủy, ủy ban nhân dân thành phố Vinh về triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; các báo cáo đánh giá của Ban chỉ đạo thành ủy, của Ban chỉ đạo một số phường, xã
Như vậy, thời gian qua đã có một số sách, báo, bài viết của các tác giả đề cập đến vấn đề thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Tuy nhiên, về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đề cập tới Những tài liệu vừa nêu trên sẽ giúp ích cho việc tham khảo, đối chứng trong nghiên cứu đề tài của tác giả luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Từ việc đánh giá quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh, chỉ ra những vấn đề cần giải quyết để từ đó đề ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới trên địa bàn đã nêu
- Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ:
+ Phân tích, làm rõ ý nghĩa của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là mục tiêu, động lực của quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, đẩy nhanh quá trình xây dựng thành phố giàu, mạnh
Trang 64 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
sở trên địa bàn Thành phố Vinh
- Phạm vi nghiên cứu Với điều kiện cho phép, đề tài chỉ nghiên cứu việc thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở xã, phường thuộc Thành phố Vinh trong 3 năm qua
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận về dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng và Nhà nước có liên quan đến đề tài, nhất là Chỉ thị 30CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 29 của Chính phủ Đồng thời, người viết cũng kế thừa có chọn lọc các công trình và các bài viết của các tác giả khác đã được công bố
Cơ sở thực tiễn:
Người viết đã tiến hành điều tra, nghiên cứu thực tiễn một số phường, xã thuộc Thành phố Vinh trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ 3 năm qua đối chiếu
so sánh với thực tiễn vấn đề chung trong phạm vi cả nước
Phương pháp nghiên cứu
Trang 7
Vận dụng tổng hợp các phương pháp lôgích và lịch sử, so sánh và tổng hợp, đồng thời có sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để tiến hành thực hiện luận văn
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Qua việc điều tra, nghiên cứu, phân tích quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh, luận văn khái quát một số kết quả bước đầu, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của nó; đồng thời đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm tăng cường thực hiện quy chế dân chủ phù hợp với điều kiện của địa bàn, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy chuyên đề, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh trên địa bàn một thành phố của miền Trung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 8
Chương 1
ý nghĩa của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đối với quá trình đổi mới
thành phố vinh hiện nay
1.1 Những căn cứ lý luận và thực tiễn chủ yếu của việc ban hành quy chế dân chủ ở cơ sở
1.1.1 Dân chủ - một vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN
1.1.1.1 Một số quan điểm cơ bản về dân chủ
Xung quanh quan niệm về dân chủ, cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, luận bàn ở đây chúng tôi chỉ kế thừa và nêu lên một số quan điểm
có tính chất khái quát
Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chính trị có nguồn gốc từ xã hội Hy Lạp cổ đại ở đây, "dân chủ" là một từ ghép bao gồm hai chữ: Dêmos, có nghĩa là người bình dân, là dân chúng (không phải là quý tộc, cũng không phải là nô lệ), và Kratia - có nguồn gốc từ chữ Kratos - có nghĩa là quyền lực cai trị, sức mạnh Do vậy, từ nguyên Dêmos Kratia có nghĩa là dân chủ, quyền lực, là
sự thống trị, nền cai trị của người bình dân Nó được biểu hiện theo nghĩa đối lập với chế độ độc tài Theo đó, dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân; dân chủ là sự cai trị của nhân dân Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyền lực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức, quản lý xã hội, thực hiện sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người
Từ khi xuất hiện cho đến nay nội dung của khái niệm dân chủ được chuyển hóa ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới "Dân chủ" có nghĩa chung là quyền lực của người bình dân, quyền làm chủ xã hội, và làm chủ bản thân con người, là quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội Càng ngày, khái niệm dân chủ càng được mở rộng nhiều hơn, mang nhiều nội dung mới mẻ hơn, nó được gắn với ý thức chính trị, gắn với chính quyền của nhân dân, gắn với tiến trình lịch sử của xã hội loài người Đồng
Trang 9
thời nó còn là giá trị xã hội nhân văn, đánh dấu những nấc thang tiến bộ của xã hội loài người Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, ở buổi bình minh của lịch sử nhân loại, trước sức mạnh huyền bí của thiên nhiên hoang sơ, để tồn tại và phát triển, con người buộc phải gắn bó với nhau thành cộng đồng để tạo nên sức mạnh cộng đồng
Và con người, ngay từ buổi đầu ấy đã sử dụng sức mạnh cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc Nhà nhân chủng học người Mỹ đầu thế kỷ XIX L.Moóc gan đã nhận xét: "Toàn thể các thành viên của Thị tộc đều là những người tự do, có nghĩa vụ bảo vệ tự do của nhau; họ đều có những quyền cá nhân ngang nhau - Cả tù trưởng lẫn Thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những quyền
ưu tiên nào cả, họ kết thành một tập thể thân ái, gắn bó với nhau bởi những quan hệ dòng máu Tự do, bình đẳng, bác ái tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức, nhưng vẫn là những nguyên tắc cơ bản của Thị tộc" [28, 136]
Do kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động, xã hội cộng sản nguyên thủy tan rã, chế độ chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất ra đời; cùng với nó là sự xuất hiện giai cấp và một bộ máy quyền lực đặc biệt thuộc về một số người ra đời - đó là nhà nước
Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước đã thừa nhận tham vọng đặc quyền đứng trên xã hội để giải quyết những vấn đề xã hội Giai cấp chủ nô nhân danh xã hội, chiếm đoạt nhà nước, biến nhà nước thành công cụ thực hiện quyền lực chính trị của mình Nhà nước chủ nô chính là hình thức, hình thái đầu tiên của chế độ dân chủ trong xã hội có giai cấp Dân chủ chủ nô đã đem lại cho loài người một mô hình về mặt tổ chức và cơ chế vận hành của một thể chế dân chủ
Theo quy luật phát triển của xã hội loài người, chế độ dân chủ sau phải cao hơn chế độ dân chủ trước; kiểu nhà nước sau phải tiến bộ hơn kiểu nhà nước trước
Song, trái lại, kiểu nhà nước phong kiến lại độc đoán chuyên quyền, kết hợp với thế lực của thần quyền hà hiếp nhân dân nên nhân dân hầu như bị gạt khỏi cơ chế của quyền lực, bị mất hết quyền lực C.Mác đã viết: nguyên tắc duy nhất của chế độ chuyên chế là con người bị mất hết nhân tính
Trang 10
Thiết lập nền dân chủ tư sản, dưới ngọn cờ dân chủ, giai cấp tư sản đang lên
đã nhanh chóng nắm lấy để lật đổ chế độ chuyên chế phong kiến và tuyên bố về các quyền tự do, bình đẳng, bác ái, về quyền tự do cá nhân của con người, về các quyền
tự quyết của các dân tộc Song thực tế trong xã hội tử bản, "chủ nghĩa tự do" cho toàn
xã hội đã bị thay thế bằng chủ nghĩa mất tự do cho giai cấp bị trị Do vậy, sự tha hóa quyền lực của nhân dân là tất yếu phổ biến ở các nước tư bản chủ nghĩa Đúng như nhận xét của C.Mác: Chế độ bầu cử tự do trong chủ nghĩa tư bản biến thành "tự do"
của nhân dân lựa chọn những người thống trị mình Tuyệt nhiên không phải là sự lựa chọn những người đại diện cho lợi ích của bản thân mình Lênin trong tác phẩm "Nhà nước và Cách mạng" đã nói: "Chế độ đại nghị Tư sản là chế độ kết hợp chế độ dân chủ (không phải cho nhân dân) với chế độ quan liêu (chống nhân dân)" [37, 135]
Như vậy, theo Lênin, hình thái chính trị của nhà nước tư sản chính là chế độ dân chủ
tư sản đầy giả dối và cạm bẫy Dù là hình thức "thiếu thành thực" và "gian dối", nhưng so với lịch sử nhân loại, dân chủ tư sản cũng đã đạt được bước tiến dài trên con đường giải phóng cá nhân Nhưng nó vẫn là nền dân chủ được xây dựng trên sự tước đoạt dân chủ, tước đoạt quyền tự do chính đáng của các giai cấp, các tầng lớp khác, nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của giai cấp tư sản Dân chủ tư sản vì thế, không thể
là mục đích cuối cùng mà loài người hướng tới
Chỉ có chế độ dân chủ vô sản, chế độ dân chủ được thiết lập trên cơ sở của chế độ kinh tế, mà ở đó các tư liệu sản xuất chủ yếu đã thuộc về toàn xã hội, lực lượng sản xuất không hề tăng lên, sự đối kháng giai cấp đã bị thủ tiêu thì quyền làm chủ của quần chúng nhân dân mới được thực hiện đầy đủ
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể khái quát những nét cơ bản về dân chủ như sau:
- Dân chủ là sản phẩm của xã hội loài người, gắn với giai cấp và đấu tranh giai cấp
- Dân chủ là một hình thái nhà nước, mà ở đó thừa nhận quyền ngang nhau của dân cư trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý xã hội
Trang 11- Dân chủ với tư cách là chế độ chính trị Song với nghĩa chung nhất, phổ biến nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân Do đó, thước đo trình độ dân chủ của một chế độ nhà nước được xác định bằng mức độ thực hiện nguyên tắc toàn quyền thuộc về nhân dân, nhân dân tham gia quá trình quản lý nhà nước như thế nào
Dân chủ trong xã hội có đối kháng giai cấp luôn luôn chứa đựng sự mâu thuẫn giữa bản chất giai cấp của giai cấp thống trị với tính nhân dân Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, yếu tố mang tính nhân dân tăng lên so với các xã hội trước, khiến cho mâu thuẫn giữa bản chất giai cấp của giai cấp tư sản cầm quyền với tính nhân dân (tính vô sản) của dân chủ càng trở nên gay gắt Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới cách mạng xã hội nhằm giải quyết mâu thuẫn trên bằng việc thiết lập một chế độ dân chủ mới, dân chủ XHCN - một chế độ dân chủ khác về chất so với chế độ dân chủ tư sản Đó là "Chế độ sẽ thi hành ngay lập tức những biện pháp để chặt tận gốc chế độ quan liêu và sẽ có thể thi hành những biện pháp ấy tới cùng, tới chỗ hoàn toàn phá hủy chế độ quan liêu, tới chỗ hoàn toàn xây dựng một chế độ dân chủ cho nhân dân" [37, 135]
Là một hình thức của Nhà nước đặc thù, nhà nước nửa nhà nước, chế độ dân chủ XHCN là chế độ chính trị mà ở đó, những giá trị dân chủ, quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật, thành hệ thống chính trị (trong đó nhà nước là trụ cột) thành nguyên tắc, mục tiêu của sự phát triển Các giá trị và chuẩn mực dân chủ thâm nhập và chi phối mọi hoạt động của mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội;
mọi công dân và tổ chức xã hội đều có khả năng nhận thức và vận dụng các giá trị dân chủ, và biến thành những quy tắc phổ biến trong hoạt động và các quan hệ xã hội Dân chủ XHCN phục vụ lợi ích của người lao động và nó dựa vào chế độ sở hữu
Trang 12
xã hội; dân chủ XHCN phát triển ngày càng sâu sắc cùng với việc thiết lập một nền kinh tế mới, hoàn thiện mọi mặt đời sống xã hội và cá nhân
Chế độ dân chủ XHCN là sự thay thế lịch sử đối với chế độ dân chủ tư sản,
là nấc thang mới trên chặng đường phát triển của dân chủ Chế độ dân chủ XHCN, theo C.Mác "là sự tự quy định của nhân dân", chủ quyền thuộc về nhân dân Lênin cũng viết: "Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân" [37, 107]
Lênin cũng cho rằng, dân chủ XHCN là nền dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản, là dân chủ cho nhân dân lao động; dân chủ thực sự, theo nghĩa thống nhất giữa các quyền và nghĩa vụ công dân được ghi trong hiến pháp, pháp luật với sự thực hiện trong thực tế Nhà nước có trách nhiệm tạo ra những điều kiện vật chất và tinh thần
để công dân có thể thực hiện được dân chủ như luật định Dân chủ XHCN là nền dân chủ toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng Thực chất của dân chủ XHCN là sự tham gia một cách tích cực, thực sự bình đẳng và ngày càng rộng rãi của những người lao động vào quản lý công việc của Nhà nước và xã hội
Là thành quả của quá trình hoạt động tự giác của quần chúng nhân dân, dân chủ XHCN với tư cách là quyền lực của nhân dân; đồng thời với tư cách là chế độ chính trị sẽ từng bước hoàn thiện và phát huy vai trò, động lực to lớn trong tiến trình cách mạng, dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng mác xít Lêninnít Tất nhiên trình độ chín muồi của dân chủ XHCN tùy thuộc vào trình độ trưởng thành về "tính" XHCN của các mối quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; trong đó quan hệ kinh tế có vai trò quan trọng nhất, quyết định nhất
Dân chủ XHCN là một hình thái dân chủ do nhân dân lao động chủ động thiết lập trong tiến trình đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thông qua đội tiền phong chính trị của mình là Đảng cộng sản Trong tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản", C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự mình giành lấy chính quyền, phải tự mình vươn lên thành giai cấp
Trang 13
dân tộc" [26, 623-624], phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực nhà nước (quyền lực dân chủ về chính trị) và tổ chức quyền lực đã giành được đó thành nhà nước vô sản, nhà nước dân chủ vô sản, chế độ dân chủ vô sản, một chế độ dân chủ tiến bộ, khác về chất so với chế độ dân chủ tư sản
Từ sau thắng loại của Cách mạng tháng Mười, Nhà nước Xô viết - chế độ dân chủ XHCN đầu tiên trên thế giới đã được thiết lập Theo Lênin, "Chế độ Xô viết
là chế độ dân chủ ở mức cao nhất cho công nhân và nông dân; đồng thời, nó có nghĩa
là sự đoạn tuyệt với chế độ dân chủ tư sản và sự xuất hiện trong lịch sử thế giới, một chế độ dân chủ kiểu mới, tức là chế độ dân chủ vô sản hay là chuyên chính vô sản"
[38, 184]
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: "Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ" [32, 251]
ở nước ta, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam á được thiết lập Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, chế độ ta là chế độ do nhân dân làm chủ Mỗi công dân đều có quyền và nghĩa
vụ tham gia làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, và làm chủ bản thân mình Những luận điểm cơ bản ấy đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng, trong các hiến pháp của Nhà nước, và được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật, nhiều chính sách được ban hành từ trước đến nay Những điều đó cũng khẳng định dân chủ là vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN nói chung, của Nhà nước ta nói riêng
1.1.1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam với việc nhận thức về dân chủ và dân chủ ở cơ sở
Những yếu tố dân chủ, tinh thần dân chủ, truyền thống "lấy dân làm gốc", coi trọng dân vốn đã hình thành trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, được Đảng ta kế thừa và phát huy trong điều kiện mới Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, đã có nhận thức rất sớm và sâu sắc về vấn đề dân chủ
và vai trò của việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân Theo Người, dân chủ, thứ
Trang 14
nhất là: dân là chủ: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ"
[30, 515]; thứ hai, dân chủ là dân làm chủ: "nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước
nhà do nhân dân làm chủ" [31, 452]; dân chủ là toàn bộ quyền lực, lợi ích đều thuộc
về nhân dân: "Nước ta là một nước dân chủ Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, như Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, v.v Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với chính phủ" [30, 66]
Hồ Chí Minh cũng sớm nhận thức sâu sắc về sức mạnh của quần chúng nhân dân; coi dân là gốc của nước, của cách mạng Người nói:
"Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được
Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên" [29, 293]
Bởi vậy, theo Người, dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng Dân chủ đối lập với quan liêu: "Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ"
Không những chỉ có quan điểm dân chủ đúng đắn, mà Người còn nhận thấy vai trò, tầm quan trọng của việc thực hành dân chủ Dân chủ XHCN không có mục đích tự thân; hiểu dân chủ, thực hành dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội là vì mục tiêu đem lại hạnh phúc ấm no, tự do, bình đẳng cho mọi người dân lao động trong đời sống một cách đích thực Bởi vậy, Người nói: "Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn" [33, 249]
Trước lúc "đi xa", trong bản Di chúc, với muôn vàn tình thương yêu để lại cho muôn đời con cháu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Toàn Đảng, toàn dân ta, đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới" Như vậy, dân chủ luôn là nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh Đây chính là cơ sở tư
Trang 15vốn đã hình thành trong lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân ta từ mấy ngàn năm trước cũng đã được Đảng ta kế thừa và phát huy trong điều kiện mới
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Hai mục tiêu dân tộc và dân chủ gắn bó chặt chẽ với nhau từ buổi khởi đầu sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo Nội dung dân chủ trong giai đoạn cách mạng trước chủ yếu là đem lại ruộng đất cho dân cày - Thành phần đông đảo nhất trong dân cư Sau cách mạng dân tộc dân chủ thành công, Đảng
ta lãnh đạo đất nước chuyển sang giai đoạn cách mạng mới - cách mạng XHCN Làm cách mạng XHCN chính là giải phóng xã hội, giải phóng con người, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở trình độ hoàn thiện và toàn diện hơn, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, đem lại ấm no, hạnh phúc, và những giá trị cao cả, tiến bộ cho con người
Từ Đại hội Đảng lần thứ IV, Đảng ta đã xác định việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN là một trong bốn mục tiêu cơ bản của cách mạng XHCN, và cũng
là một trong bốn đặc trưng của cách mạng XHCN ở nước ta Quan điểm đó được tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa từng bước trong nghị quyết Đại hội V của Đảng
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Đại hội mở đầu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta Quan điểm lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế nhằm giải phóng lực lượng sản xuất; đổi mới nội dung và phương pháp lãnh đạo của Đảng trên cơ sở nắm vững nguyên tắc, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
Trang 16
tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những thành tựu văn minh nhân loại, bảo đảm quá trình đổi mới diễn ra đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Bởi vậy, trên thực tế, quyền làm chủ của nhân dân đã từng bước được khơi dậy và phát huy
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng với việc thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã nhấn mạnh: "Xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ", và "Toàn bộ tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng
và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân"
[7, 19], "Thực hiện dân chủ XHCN là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới" [6, 90]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996), tiếp tục khẳng định "Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm
"dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và các hình thức tự quản tại cơ sở" [8, 43] Việc ban hành Chỉ thị 30 CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 29 NĐ/CP (năm 1998) là sự cụ thể hóa quan điểm đó của Đảng và Nhà nước ta
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IXcủa Đảng (4/2001), được xem là đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới Tại Đại hội này, nội dung dân chủ lại càng được coi trọng Dân chủ đã được đặt trong những mục tiêu của con đường đi lên CNXH ở nước ta, đó là: "độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" [12, 22]
Như vậy, nội dung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân luôn là nội dung quan trọng và nhất quán trong toàn bộ đường lối cách mạng của Đảng ta từ trước tới nay, và được phát triển, nâng cao thêm qua các giai đoạn cách mạng Dân
Trang 17Vì vậy, chỉ có mở rộng dân chủ XHCN, phát huy sức mạnh quyền làm chủ của nhân dân, chống tiêu cực, chống suy thoái, chống tham nhũng, củng cố Đảng, làm trong sạch bộ máy nhà nước, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội mới có thể tạo động lực to lớn xây dựng và phát triển đất nước
Nhận thức được những vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của các tổ chức chính trị xã hội Việc thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được tiến hành dưới nhiều cấp độ, nhiều hình thức Trong đó, thực hiện dân chủ ở cơ sở nói chung, ở phường, xã nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng; có ý nghĩa vừa cấp bách, vừa lâu dài
Trang 18
1.1.2 Thực hiện dân chủ ở xã, phường - nội dung quan trọng của dân chủ XHCN ở nước ta
1.1.2.1 Vị trí, vai trò của xã, phường
Xã, phường là đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước, là cấp trực tiếp nhất, gần dân nhất
Ngày nay, hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
"Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương - Tỉnh chia thành huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã Thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã Huyện chia thành xã, thị trấn Thành phố trực thuộc tỉnh, thị
xã chia thành phường và xã Quận chia thành phường" [20, 184]
Trong bốn cấp chính quyền của bộ máy nhà nước, chính quyền phường, xã là cấp cơ sở; là nền tảng của xã hội, là nơi đông đảo nhân dân sinh sống; là nơi nhân dân thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư, bảo đảm đoàn kết, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và
vệ sinh môi trường; là nơi nhân dân sản xuất, kinh doanh, lao động, học tập; xã, phường cũng là nơi nảy sinh nhiều yêu cầu bức xúc hàng ngày của các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, xã hội; cũng là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Do vậy, cũng là nơi nhân dân đang có nhiều đòi hỏi về quyền làm chủ; nơi diễn ra sự tiếp xúc và thể hiện các mối liên hệ đan chéo nhau như: Đảng với dân, dân với dân, các tổ chức, các đơn vị kinh tế, xã hội với dân Các phong trào hành động cách mạng của quần chúng, cũng như các vấn đề dân sinh, dân chủ, dân
an đều thể hiện rõ nhất ở xã, phường Hồ Chí Minh khẳng định: "Nền tảng của mọi công tác là cấp xã" và "Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp
xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi" [29, tr 317]
Vai trò của xã, phường là rất quan trọng Do vậy yêu cầu là phải thấy được điểm giống và khác nhau của hai loại hình xã và phường, có như vậy, việc chỉ đạo,
Tổ chức thực hiện mới có hiệu quả
Trang 19
Điểm giống nhau cơ bản là: Xã, phường đều là đơn vị hành chính cấp cơ sở,
là nền tảng xã hội Cơ cấu tổ chức, thiết chế xã hội của hệ thống chính trị xã, phường đều giống nhau Vị trí, vai trò xã, phường đều quan trọng đối với sự hưng vọng của quốc gia dân tộc
Điểm khác nhau cũng rất nhiều, song chủ yếu trên các lĩnh vực sau:
Về dân cư: Dân cư trên địa bàn xã chủ yếu là nông dân, họ sống gắn bó với
nhau qua nhiều đời, nhiều thế hệ Quan hệ chủ yếu là dòng họ, huyết thống, tình làng nghĩa xóm Do vậy, dân cư ở đây thuần hơn Còn cư dân trên địa bàn phường chủ yếu được tạo lập do quan hệ công tác, do nhu cầu vể nhà ở, nơi cư trú Ngoài cư dân sống ổn định, thì một số lượng lớn tạm trú, hoặc sống tạm bợ không đăng ký Hơn nữa, ở phường, do cơ cấu nghề nghiệp đa dạng nên cơ cấu dân cư cũng đa dạng và phức tạp hơn Nếu như ở địa bàn xã, nông dân là chủ yếu; thì ở phường vừa có công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức, có cả bộ phận tư sản, tiểu tư sản; có cả sinh viên,
bộ đội, có cả các nhà quản lý, lãnh đạo của nhiều cấp, nhiều ngành
Về tâm lý: Địa bàn xã chủ yếu là nông dân nên tâm lý tiểu nông nhỏ mọn, dễ
dao động, ngả nghiêng Họ nhìn nhận lợi ích một cách sát thực, cụ thể, đặc biệt là lợi ích kinh tế trước mắt Hơn nữa, ở địa bàn xã, tâm lý bảo thủ, cục bộ, nể nang, xuôi chiều là phổ biến Còn ở địa bàn phường, do cư dân phức tạp, nên diễn biến tâm lý cũng phức tạp hơn Con người thường phải "gượng gạo" chấp nhận nhau theo kiểu
"bán anh em xa, mua láng giềng gần"
Về đội ngũ cán bộ: Trên địa bàn xã, cán bộ còn nhiều bất cập Những người
có trình độ cao đẳng, đại học chưa nhiều, tính bảo thủ, trì trệ còn nặng Yếu tố dòng
họ, làng xóm chi phối lớn Thậm chí có lúc vai trò "già làng", "trưởng tộc" lấn át chính quyền Ngược lại, ở phường đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị cao hơn; sự giao lưu của họ cũng rộng hơn Nhưng vai trò của họ có sự khác hơn so với ở xã Nếu như ở xã, đội ngũ cán bộ chịu trách nhiệm quản lý điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội - như là Nhà nước thu nhỏ, thì ở phường cũng vậy, song vai trò quản lý hành chính, quản lý cư dân nổi bật hơn
Trang 20Thực hiện dân chủ ở xã, phường cũng sẽ góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, sửa đổi những cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính sao cho sát thực, phù hợp với thực tiễn cuộc sống hàng ngày Thực hiện dân chủ ở xã, phường cũng là biện pháp phát huy và mở rộng dân chủ, đưa nội dung "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" vào cuộc sống có hiệu quả cao hơn
Nắm bắt được yêu cầu của thực tiễn; trải qua quá trình nghiên cứu, tìm tòi, thử nghiệm Ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị ra chỉ thị số 30-CT/TW về "Xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở" Trên cơ sở đó ngày 11/5/1998 Chính phủ ra nghị định số 29/1998 NĐ/CP "Về việc thực hiện QCDC ở xã", cùng với Chỉ thị số 22/1998 CT-TTg ngày 15/5/1998 "Về triển khai quy chế thực hiện dân chủ ở xã", Chỉ thị số 24 CT-TTg ngày 19/6/1998 "Về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng bản, thôn ấp, cụm dân cư" của Thủ tướng Chính phủ Đây là những văn bản quan trọng do Đảng, Nhà nước ban hành Tinh thần, cơ bản của chỉ thị và nghị định này là làm sao dân chủ XHCN được mở rộng, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy Đó cũng chính là mục tiêu, động lực bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới
1.1.2.2 Dân chủ ở xã, phường - nội dung quan trọng của quá trình dân chủ hóa
Dân chủ XHCN là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân, nền dân chủ rộng rãi nhất cho đại đa số nhân dân lao động; là nền dân chủ phát huy tính
tự giác, sáng tạo của mỗi cá nhân Nền dân chủ này dựa trên chế độ sở hữu mới -Sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu, nên nó được đảm bảo một cách vững chắc
Trang 21
Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân là vấn đề thuộc bản chất của chế
độ XHCN; là chủ trương của Đảng, Nhà nước ta; là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới Trong bốn bản hiến pháp của nước ta, trước sau vẫn khẳng định quyền lực Nhà nước là thuộc về nhân dân Nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực Nhà nước Điều này không chỉ làm sáng tỏ về mặt lý luận, mà còn thể hiện
ở cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước trên thực tiễn sao cho mục đích về một Nhà nước của dân, do dân, vì dân trở nên hiện thực và hiệu quả
Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị đã khẳng định: "Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở" Thực hiện dân chủ phường, xã là thực hiện những nội dung về dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi, đến với từng người dân nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân trong đời sống chính trị, kinh tế, quản lý xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự công cộng
Dân chủ ở phường, xã diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội một cách trực tiếp và sinh động, liên tục đối với mọi người, nó được thực hiện thông qua các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở và liên quan đến trình độ nhận thức, đến khả năng của mỗi người Nhưng dù thế nào thì dân chủ ở phường, xã cũng phải dựa trên cơ sở của hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, và theo đúng đường lối của Đảng - mà trực tiếp là Chỉ thị số 30 - CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 29 - NĐ/CP của Chính phủ kèm theo quy chế thực hiện dân chủ ở xã Quy chế gồm: Lời nói đầu, 7 chương và 25 điều Về nội dung, quy chế quy định những quyền của nhân dân ở cơ sở được biết, và hình thức biết những thông tin liên quan đến pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước; đặc biệt là những thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh Quy chế cũng quy định những việc để nhân dân làm và quyết định, cũng như những hình thức thực hiện; quy định những việc nhân dân ở cấp xã có quyền giám sát, kiểm tra và những phương thức để thực hiện giám sát, kiểm tra Việc xây dựng cộng đồng dân cư thôn, làng, bản, ấp và những hình thức tổ chức Đặc biệt,
để thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", quy chế quy định cơ chế thực hiện dưới hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện; trong
đó, ở cấp cơ sở, dân chủ trực tiếp là quan trọng hơn cả Quy trình "biết, bàn, làm,
Trang 22
kiểm tra" là quy trình phản ánh quá trình từ nhận thức đến hành động; qua kiểm tra, đánh giá lại kết quả hành động, rồi tiếp tục nhận thức và hành động với kết quả cao hơn Đó cũng là sự thể hiện của quy trình lãnh đạo, quản lý của chế độ do nhân dân làm chủ, từ khâu thu thập thông tin, hình thành chủ trương, chính sách đến kiểm tra, rồi tiếp tục thu thập thông tin mới cho một chu trình quản lý mới
Khác với DCTS, tính ưu việt của nền dân chủ XHCN thể hiện cao ở cả bốn nội dung của phương châm đều lấy "dân" làm "gốc", dân làm chủ thể Khái niệm
"dân" ở đây, cần được nhận thức trong mối quan hệ được quy định bởi cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ: Mặt khác, "nhân dân làm chủ" là mục tiêu của sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đều hướng tới mục tiêu phát huy quyền làm chủ, sáng tạo của nhân dân một cách rộng rãi Cơ chế đó cũng có nghĩa là: Đảng lãnh đạo nhưng dân phải được biết, được bàn, được tham gia ý kiến
và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng; phải cùng tham gia kiểm tra cán bộ, đảng viên Đây là đối tượng quản lý của cơ quan Nhà nước nhưng dân phải được biết, được bàn, được tham gia quản lý và phải cùng tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan và cán bộ Nhà nước
"Biết", "bàn", "làm", "kiểm tra" ở đây đặt trong mối quan hệ với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Biết trong ý nghĩa này, không phải là vấn đề nhận thức một cách chung chung; không phải là toàn bộ vấn đề dân trí "Biết" ở đây là quyền được thông tin một cách đầy đủ và trung thực Qua sự nhận biết từ thông tin, dân biết được quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó mới hiểu, mới có cơ sở để bàn, để làm và để kiểm tra
Dovậy, trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và hệ thống chính trị cơ sở là phải thông báo thường xuyên, đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; những vấn đề kinh tế, xã hội của địa phương một cách sâu rộng trong nhân dân Quy chế quy định những điều dân được biết là một bước cụ thể hóa quyền được thông tin của công dân quy định tại Diều 59, Hiến pháp 1992
Trang 23
"Dân bàn" - là một khái niệm để chỉ quyền tham gia ý kiến của nhân dân - bàn để đi đến những quyết định trực tiếp; bàn để thực hiện; bàn để tham gia ý kiến,
để từ đó, cơ quan đại diện quyết định
"Dân làm" dân không chỉ là đối tượng được biết, được bàn; mà dân còn là chủ thể trực tiếp của quá trình thực hiện - Khi được biết, được bàn, được tham gia ý kiến, thì việc thực hiện sẽ thuận lợi Tư tưởng là cái gốc của hành động; tư tưởng thông, hành động cách mạng của nhân dân sẽ được đẩy lên mức cao; dân hồ hởi, phấn khởi thì đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ trở thành phong trào thi đua sâu rộng và có hiệu quả trong nhân dân
"Dân kiểm tra" - Đây là vấn đề thuộc bản chất của nền dân chủ XHCN, nhân dân có quyền kiểm tra, thanh tra hoạt động của các tổ chức, cơ quan Nhà nước trong khuôn khổ pháp luật; từ công tác kiểm tra để có kiến nghị chấn chỉnh, bổ sung với mục đích là làm cho hoạt động của các cơ quan này lành mạnh hơn, dân chủ và hiệu quả hơn Nội dung "dân kiểm tra" là nội dung khó nhất trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân hiện nay
Cả bốn khâu "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" là một quy trình
"kín", có mối liên hệ chặt chẽ, rồi tác động, thúc đẩy lẫn nhau nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở Phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra được thực hiện dưới hai hình thức: Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Để phát huy chế độ dân chủ đại diện, phải nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của quốc hội, chính phủ, Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, đồng thời và thực hiện từng bước vững chắc chế độ dân chủ trực tiếp
Nghị quyết Hội nghị Trung ương ba (khóa VIII) đã nhấn mạnh: "Điều quan trọng hàng đầu là nâng chất lượng dân chủ trực tiếp một cách thiết thực, đúng hướng
và có hiệu quả" [9, 43]
Tại Hội nghị này, Đảng ta đã nhấn mạnh tính bức thiết của chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở là: Nghiên cứu thực hiện từng bước chế độ dân chủ trực tiếp, trước hết ở cơ sở", đây là những việc làm cấp bách để mở rộng nền dân chủ XHCN ở mọi
Trang 24
ngành, mọi cấp trong giai đoạn hiện nay Bởivì: Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể quyền lực về những vấn đề cơ bản, chính yếu của một tập thể, một cộng đồng Cơ quan quản lý có trách nhiệm ghi nhận ý chí đó và bảo đảm đưa nó vào thực thi trong cuộc sống Dân chủ trực tiếp khó tổ chức một cách tập trung, khái quát nhưng lại bao quát được mọi khía cạnh của thực tiễn đời sống, cũng như ý chí chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Do vậy, Đảng ta khẳng định phải: "Nghiên cứu thực hiện từng bước chế độ dân chủ trực tiếp, trước hết là ở cơ sở"
[9, 47] Vị trí, vai trò của dân chủ trực tiếp thể hiện trên những điểm chính sau đây:
- Dân chủ trực tiếp bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân trong quá trình xây dựng nhà nước và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn từ quốc kế dân sinh đến những việc của đời sống cộng đồng, đời sống dân cư Thông qua hình thức dân chủ trực tiếp, nhân dân có điều kiện tham gia ý kiến, có điều kiện để tập dượt, trưởng thành, trở thành người chủ đích thực hiện
- Dân chủ trực tiếp tạo nên cơ chế đối trọng, kiểm tra, giám sát đối với hình thức dân chủ đại diện, với bộ máy nhà nước, giảm bớt được sự tùy tiện, lộng quyền, phát huy được tính tự giác, tích cực của mỗi thành viên trong tập thể, khắc phục thói trì trệ, ỷ lại; phát huy truyền thống tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân Vì mục tiêu: "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Dân chủ trực tiếp là "hệ thống báo động" nhạy cảm nhất, những thông tin phản hồi nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước để kịp thời sửa chữa, bổ sung
Dân chủ nói chung, dân chủ ở cơ sở nói riêng là nội dung quan trọng của nền dân chủ XHCN Lênin nói: "CNXH sẽ không có nếu không có dân chủ với hai nghĩa:
1) Giai cấp vô sản không thể hoàn thành cách mạng XHCN nếu nó không tự chuẩn bị dân chủ cho mình thông qua cuộc đấu tranh vì dân chủ 2) CNXH chiến thắng sẽ không thể giữ được thắng lợi và không dẫn đến sự tiêu vong của nhà nước nếu thiếu thực hiện dân chủ một cách trọn vẹn" [36, 28]
Trang 25
Lênin cũng khẳng định: "Toàn thể công dân, không trừ một ai đều phải tham gia vào việc xét xử và quản lý đất nước, và điều quan trọng đối với chúng ta là thu hút toàn thể những người lao động, không trừ một ai tham gia việc quản lý đất nước" [36, 128]
Thấm nhuần tư tưởng Lênin, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta Đảng ta chủ trương xây dựng thiết chế dân chủ ở cơ sở nói chung và ở phường, xã nói riêng, nhằm không ngừng phát huy dân chủ XHCN, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việc bảo đảm và phát huy dân chủ trong xã hội, cùng với vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở có nhu cầu rất lớn và có vai trò cực kỳ quan trọng, phản ánh quy mô tác động của nền dân chủ và khả năng hiện thực hóa mục tiêu dân chủ của chế độ xã hội trong điều kiện hiện nay Do vậy, thực hiện dân chủ phường, xã là nội dung quan trọng, thiết yếu của dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay Đây là sự tìm tòi sáng tạo, sự bổ sung quý báu vào kho tàng lý luận CNXH khoa học của Đảng ta
1.2 thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với quá trình đổi mới thành phố vinh hiện nay
1.2.1 Những điều kiện cơ bản về kinh tế - xã hội tác động đến quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Vinh
Vinh - Thành phố lớn của các tỉnh phía Bắc miền Trung có tọa độ địa lý từ
18038'50" đến 18043'36" vĩ độ Bắc, và từ 105056'30" đến 105049'50" kinh độ Đông;
cách Hà Nội (ở phía Bắc) 291km, và cách Huế (ở phía Nam) 363km
Thành phố Vinh có diện tích 62 km2; về hình thể, Vinh có dạng gần giống một bàn tay mở, phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên, phía Bắc và Đông giáp huyện Nghị Lộc; phía Nam giới hạn bởi dòng sông Lam, giáp huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh)
Vinh là vùng đất văn hóa từ ngàn xưa của cư dân người Việt sinh sống
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, vinh luôn là vị trí chiến lược hết sức quan trọng Năm 1788, sau khi đánh dẹp xong chúa Nguyễn ở đằng Trong, và chúa Trịnh ở đằng Ngoài, vua Quang Trung đã cho xây dựng kinh đô
Trang 26Vinh là thành phố mà trải qua quá trình lịch sử, sự phát triển không được liên tục Một thành phố bị chiến tranh tàn phá nặng nề, có thời kỳ hầu như đã trở thành
"vùng trắng" Nhưng nhân dân thành phố Vinh đã thể hiện khí phách anh dũng, ngoan cường trong chiến đấu; cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất
Qua 15 năm đổi mới, xây dựng, thành phố Vinh đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Với sự nỗ lực phấn đấu của mình, năm 1993, Vinh được Chính phủ công nhận là thành phố loại II, và đang tiếp tục mở rộng, phát triển Đến nay, Thành phố Vinh có 18 đơn vị Phường, xã trực thuộc Trong đó, có 13 phường và 5 xã Dân số (theo số liệu điều tra tháng 4/1999) có 216.000 người, ngoài ra, còn khoảng 20.000 người sống tạm trú, không đăng ký
Thành phố Vinh ngày nay là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế không chỉ của Nghệ An, mà còn là của khu vực Bắc Trung Bộ; là đầu mối giao lưu bằng đường
bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không quan trọng với các địa phương khác trong cả nước và bầu bạn quốc tế; Vinh cũng là thành phố có vị trí địa lý chiến lược quan trọng, là yết hầu trên con đường xuyên Việt; là đô thị trẻ, có tiềm năng phát triển to lớn Trên địa bàn thành phố, các cơ sở kinh tế, xã hội đã và đang được đầu tư xây dựng, và phát huy hiệu quả Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1996
- 2000 là 10,3% Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng: Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 32,9% năm 1995 lên 34,9% năm 2000, tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 4,8% năm 1995 xuống 3,4% năm 2000; xây dựng cơ bản đạt kết quả tốt, nhiều công trình đã hoàn thành bàn giao và đưa vào sử dụng Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên Thành phố đã phổ cập xong chương trình trung học cơ sở
Trang 27
Đào tạo nghề có bước phát triển khá Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao
có nhiều tiến bộ Thực hiện tốt các chính sách xã hội, nhất là chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với nước Phong trào giúp nhau xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng được triển khai đồng bộ trong cả hệ thống chính trị,
và bước đầu có hiệu quả Công tác đấu tranh chống các tội phạm tệ nạn xã hội được chú trọng; xử lý những việc gay cấn hợp lòng dân, đúng luật An ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội được giữ vững, góp phần quan trọng bảo đảm sự bình yên và phát triển lành mạnh của thành phố
Tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phố Vinh nhìn chung là tốt, tuyệt đại bộ phận kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ từng bước được củng cố và nâng lên Ban chấp hành Đảng bộ thành phố đã quan tâm chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra do điều lệ và các nghị quyết của Đảng, của tỉnh ủy quy định ủy ban kiểm tra các cấp hoạt động tích cực và có hiệu quả, phối hợp với các cấp, các ngành giải quyết cơ bản các đơn thư, vụ việc
Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng thể hiện rõ hơn là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương Chất lượng hoạt động của HĐND, các ban của HĐND, và các đại biểu ngày càng tốt hơn
Các tổ chức, đoàn thể (ủy ban MTTQ, Công đoàn, đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, hội cựu Chiến binh, Hội nông dân ) hoạt động ngày càng đi vào chiều sâu, và có hiệu quả hơn
Những đặc điểm trên, là điều kiện thuận lợi cho thành phố Vinh bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung cho thực hiện QCDC ở cơ sở nói riêng Song, cũng còn một số khó khăn, trở ngại đáng kể:
Nhìn chung, so với các thành phố khác cùng loại, thì thành phố Vinh vẫn còn nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chưa ngang bằng - đặc biệt là xây dựng, phát triển kinh tế
Theo báo cáo của Thành ủy, "tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vinh còn thấp, nghiêm
Trang 28
trọng là có xu hướng giảm Cụ thể tăng trưởng năm 1998 là 11%, bước sang năm
1999 còn 8,5%; tốc độ đô thị hóa có tiến bộ, song, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ;
công tác quản lý quy hoạch đô thị còn nhiều bất cập; một số công trình xây dựng cơ bản chất lượng không đảm bảo; việc huy động các nguồn lực, nhất là từ nguồn đóng góp của nhân dân để xây dựng hạ tầng chưa mạnh "Đáng nghiêm trọng là tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại chậm được khắc phục, đảng viên có tư tưởng trung bình, không phát huy tác dụng chậm được sàng lọc ý thức học tập, nghiên cứu nghị quyết của một bộ phận đảng viên còn yếu Hiểu và vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ chưa đầy đủ, thậm chí còn bị vi phạm ở một số cấp ủy Đảng
Tình trạng mất dân chủ, mất đoàn kết ở một số đơn vị chậm được khắc phục
và xử lý dứt điểm Tính chiến đấu trong công tác tư tưởng chưa cao, thiếu sắc bén
Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ trì, nhất là ở phường, xã còn nhiều bất cập Một bộ phận cán bộ các cấp thoái hóa, biến chất, tham nhũng chưa được xử lý nghiêm minh, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Bộ máy kiểm tra, thanh tra các cấp còn bất cập Xử lý một số vụ việc còn biểu hiện hữu khuynh, né tránh, đùn đẩy, giải quyết và xử lý chưa kiên quyết, thiếu dứt điểm Chưa chú trọng kiểm tra đảng viên chấp hành nghị quyết, điều lệ Đảng Công tác cải cách hành chính chưa được quan tâm đúng mức Vai trò quản lý, điều hành của chính quyền các cấp trong việc cụ thể hóa nghị quyết của Đảng, tổ chức chỉ đạo thực hiện ở một số khâu còn hạn chế; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có biểu hiện quan liêu, thiếu kiểm tra dẫn đến để xảy ra vụ việc nghiêm trọng, gây bất bình trong Đảng bộ và nhân dân
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở chưa được triển khai rộng rãi Đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại hiệu quả không cao Một số tổ chức quần chúng bị hành chính hóa, ít đi vào cuộc sống các tầng lớp nhân dân, khả năng nắm bắt tình hình, vận động thuyết phục, cảm hóa còn hạn chế" [63, 11]
Ngoài ra, thành phố Vinh còn có một số khó khăn khác như điều kiện tự nhiên, khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là gió Lào Lực lượng lao động dồi dào nhưng tỷ
Trang 29
lệ được đào tạo còn ít, tay nghề còn thấp Tình trạng thiếu việc làm chiếm tỷ lệ cao
"Tệ nạn xã hội và các loại tội phạm diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng"
[63, 12]
Như vậy, những thuận lợi và khó khăn trên đây về kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội, sẽ là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thành phố Vinh nói chung; đến việc thực hiện QCDC ở cơ sở nói riêng Do vậy, việc nắm bắt một cách đầy đủ, đúng đắn vấn đề này, sẽ giúp cho chúng ta nghiên cứu một cách đúng đắn quá trình xây dựng và thực hiện QCDC cơ sở ở thành phố Vinh
1.2.2 Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở - mục tiêu và động lực của quá trình đổi mới ở thành phố Vinh hiện nay
Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ thành phố Vinh khóa XIX trình Đại hội lần thứ XX khẳng định tư tưởng chỉ đạo là: Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn bình quân chung của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ Phát huy lợi thế so sánh, khai thác có hiệu quả các nguồn lực tại chỗ
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ nông nghiệp
Đưa công nghiệp, dịch vụ trở thành ngành kinh tế chủ yếu, quyết định sự tăng trưởng của thành phố Tạo môi trường thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu
tư vào sản xuất kinh doanh Phát triển mạnh các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa
và nhỏ, kinh tế hộ và tiểu chủ Từng bước hình thành và đưa vào hoạt động các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, tạo nguồn thu lớn có tích lũy ngang tầm vị trí của đô thị loại II
Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, từng bước hiện đại và đồng bộ kết cấu cơ sở hạ tầng Gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện các chính sách xã hội Tăng cường công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng lao động, giải quyết việc làm, bài trừ các
tệ nạn xã hội Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, ổn định chính trị, giữ vững trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển đúng hướng
Trang 30
Từ tư tưởng và quan điểm chỉ đạo trên; mục tiêu tổng quát là: "Xây dựng thành phố Vinh thực sự là đô thị loại II phát triển kinh tế nhanh và bền vững, nằm trong khu vực tăng trưởng của cả nước; xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học công nghệ góp phần quyết định sự tăng trưởng của tỉnh và khu vực Bắc Trung Bộ Hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường đồng bộ; cơ cấu kinh tế hợp lý; phát triển đô thị đi đôi với bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội
Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân được cải thiện; truyền thống, bản sắc của Thành phố Đỏ anh hùng được bảo
vệ và phát huy" [63, 15]
Để thực hiện được mục tiêu trên, Thành phố Vinh phải phát huy cả nội lực, ngoại lực, cả vật chất và tinh thần Đặc biệt là phát huy nguồn lực con người (nguồn nhân lực) trên địa bàn Thành phố
Một trong những yếu tố nhằm phát huy cao độ của nguồn nhân lực, đó là phát huy tính chủ động, sáng tạo của con người Muốn vậy, phải xóa bỏ chế độ quan liêu, cửa quyền, hách dịch , thực hiện dân chủ rộng rãi trong nhân dân
Việc thực hiện dân chủ được tiến hành dưới nhiều hình thức, nhiều cấp độ khác nhau; trong đó, thực hiện dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng vừa cấp bách, vừa cơ bản và lâu dài Nó không chỉ thực hiện những nội dung về dân chủ một cách nói chung, trực tiếp, và rộng rãi, mà nó còn phát huy nguồn nhân lực một cách mạnh
mẽ, đặc biệt là từ nhân dân
Dân chủ cơ sở, trong đó có dân chủ phường, xã đóng vai trò hết sức quan trọng; bởi vậy mà quy chế dân chủ cơ sở ra đời rất đúng lúc, được quần chúng nhân dân đồng tình, ủng hộ Mục đích của Quy chế là phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân nhằm phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, tăng cường đoàn kết, ngăn chặn tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng; góp phần vào sự nghiệp "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" theo định hướng XHCN
Trang 31
Quy chế cũng quy định những việc mà chính quyền địa phương cần phải thông báo để nhân dân được biết: như chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương về thủ tục hành chính giải quyết các công việc liên quan đến dân; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của phường, xã; Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai; dự toán và quyết toán ngân sách phường, xã hàng năm; chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ phường, xã
Nhân dân cũng phải biết đến công tác văn hóa, xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội của phường, xã
Dân cũng được biết về những thông tin khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, và tình hình thị trường; biết về chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức Đảng, của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; biết được trách nhiệm, quyền hạn của nhân viên nhà nước, và của chính mình
Như vậy, việc ban hành, xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tạo điều kiện cho nhân dân mở mang tri thức trên nhiều lĩnh vực Khắc phục được tình trạng dân "mù luật", "mù" thông tin, "mù" về quyền và nghĩa vụ của cá nhân - điều
mà từ trước là một trong những nguyên nhân của tệ quan liêu, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu dân; đồng thời, nó cũng khắc phục được tình trạng yếu kém trong chính bản thân mỗi người; "cái biết" sẽ tạo điều kiện cho nhân dân chủ động, sáng tạo, tự giác phấn đấu cho cá nhân, gia đình, thành phố và xã hội
Ngoài vấn đề được "biết", được "hiểu", QCDC ở cơ sở còn quy định những việc nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp Đây thực sự là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng để phát huy tiềm năng, sức mạnh của nhân dân Dân được bàn, được trao đổi một cách dân chủ về các mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng; lập thu chi các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật; xây dựng hương ước, quy ước, làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự,
an toàn xã hội, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội; tổ chức bảo vệ
Trang 32
sản xuất, kinh doanh Với những nội dung quan trọng như vậy, để nhân dân có điều kiện được bàn bạc một cách dân chủ, công khai, Thành ủy, ủy ban nhân dân thành phố Vinh đã chỉ đạo tổ chức thông qua các hình thức: họp nhân dân ở khối phố, từng thôn, làng, xóm; hoặc tùy điều kiện mà có thể họp các chủ hộ, thảo luận và biểu quyết công khai hoặc phiếu kín, lập biên bản gửi ủy ban nhân dân phường, xã Việc dân bàn và được quyết định là yếu tố cốt lõi của phát huy dân chủ trực tiếp Khi thực hiện nội dung này, dân nhận thấy việc chung như chính việc của gia đình, bản thân mình Mọi người ý thức mình là chủ thể của các quá trình, do vậy, họ tự tin hơn, chủ động hơn; từ đó mà phát huy được sức mạnh toàn dân, tạo nên động lực to lớn cho quá trình xây dựng và phát triển thành phố - Điều mà từ trước tới nay, chưa khi nào chúng ta làm được
Quy chế cũng quy định những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân phường, xã quyết định Trước đây, thường có rất nhiều quyết định liên quan đến đời sống hàng ngày của dân, dân chỉ biết phục tùng Nay, dân được biết, được bàn, được quyết định, và cả người đại diện mình quyết định những vấn đề trong cuộc sống Việc dân bàn, dân tham gia ý kiến trước khi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định là quy định có vai trò rất quan trọng trong việc giúp các cơ quan nhà nước cấp trên, hoặc cấp phường, xã thành phố ra quyết định một cách đúng đắn, hợp lòng dân hơn; đó cũng là một trong những giải pháp nhằm khắc phục tình trạng quan liêu gò ép, bỏ qua ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; khắc phục sự độc đoán, chuyên quyền, thiếu dân chủ đang còn nặng nề, khá phổ biến trên các phường, xã ở thành phố Vinh; đồng thời góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, của ủy ban nhân dân thành phố, các phường, xã theo hướng gần gũi, sát dân hơn, chịu khó lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân trong việc xây dựng các đề án, các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội- ở địa phương
Về quy định những việc nhân dân giám sát, kiểm tra các hoạt động của chính quyền, tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở phường, xã cũng có ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với sự đổi mới, phát triển ở Thành phố Vinh
Trang 33
Đặc trưng cơ bản của các cán bộ lãnh đạo, quản lý, của các Tổ chức, đoàn thể là "không muốn ai biết" được việc mình làm, "không muốn ai biết" được mình làm như thế nào - nếu công việc của họ "có vấn đề", hoặc chưa được tốt
Quy chế quy định những việc nhân dân ở xã giám sát, kiểm tra hoạt động của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xã; giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;
dự toán và quyết toán ngân sách xã; kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình do nhân dân đóng góp xây dựng, và các chương trình, dự án do Nhà nước, các tổ chức
và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã; việc quản lý và sử dụng đất đai; thu chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của Nhà nước, các khoản đóng góp của nhân dân; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ tiêu cực, tham nhũng liên quan đến cán bộ xã; việc thực hiện chế độ, chính sách ưu đãi, chăm sóc, giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước, chính sách bảo hiểm
xã hội, cứu tế xã hội Với những quy định này, nhân dân được giám sát, kiểm tra nhưng trong khuôn khổ của pháp luật; với tinh thần xây dựng Kiểm tra, giám sát để phát hiện những sai trái, lệch lạc, từ đó mà có kiến nghị uốn nắn, chấn chỉnh, thậm chí kỷ luật những cá nhân, tổ chức làm sai trái, nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, của các cán bộ quản lý lành mạnh hơn, dân chủ hơn; ngăn chặn được tình trạng quan liêu, tham nhũng, thoái hóa, biến chất; kịp thời sửa đổi, bổ sung những quyết định sai trái, kém hiệu quả Việc kiểm tra, giám sát rõ ràng, minh bạch sẽ tạo điều kiện khen thưởng, kỷ luật đúng người, đúng tội Nhờ những quy định này, mà các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở Thành phố Vinh hoạt động năng động hơn, hiệu quả hơn, dân chủ hơn; những sai phạm giảm rõ rệt;
gây được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước nói chung, với các cấp ủy Đảng, chính quyền ở Thành phố Vinh nói riêng
Để xây dựng Thành phố Vinh ngày càng giàu đẹp; việc xây dựng cộng đồng dân cư khối phố, thôn, làng vững mạnh là điều có ý nghĩa quyết định, là hết sức đúng đắn Đây là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhất ở đây, nhân dân đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, sinh hoạt; giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp, thuần phong, mỹ tục; thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật
Trang 34
Nhà nước Cũng ở cơ sở này, nhân dân thảo luận, quyết định công việc nội bộ của cộng đồng; bàn biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, và các quyết định của ủy ban nhân dân xã Bầu, cho thôi chức trưởng thôn, xây dựng hương ước, quy ước về công việc thuộc nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật; bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, xây dựng khóm văn hóa, làng văn hóa, xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, văn minh, tiến bộ
Việc thực hiện QCDC ở cơ sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vừa cấp bách, vừa lâu dài đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Vinh, nhanh chóng đưa Thành phố Vinh trở thành thành phố công nghiệp - dịch vụ, thành Trung tâm văn hóa chính trị lớn ở khu vực Bắc Trung Bộ; góp phần cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực của hệ thống chính trị các cấp, đặc biệt là phường, xã
Như vậy, có thể nói rằng, thực hiện QCDC ở cơ sở vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình đổi mới Thành phố Vinh hiện nay
Trang 35TW của Bộ Chính trị; Công văn số 433/CV-TC ngày 16/11/1998 của Ban Tổ chức chính quyền tỉnh về việc triển khai thực hiện QCDC
Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Thành phố Vinh đã nhận thức sâu sắc rằng: Đây là những nội dung quan trọng để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng hệ thống chính trị; đặc biệt là xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh Do vậy, việc triển khai thực hiện QCDC là hết sức quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài Thành phố Vinh là đơn vị điểm của tỉnh Nghệ An trong việc thực hiện QCDC; đây vừa là niềm tự hào, vừa là vinh dự và trách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Ban Thường vụ Thành ủy đã tích cực chuẩn bị, và ngày 8/3/1999 ra quyết định số 472/QĐ-Th.U thành lập Ban chỉ đạo thực hiện QCDC của Thành phố Ban chỉ đạo gồm 16 thành viên, cơ cấu gồm các Trưởng, Phó ban, ngành, đoàn thể của Thành phố Ban chỉ đạo đã tiến hành nghiên cứu, thảo luận, xây dựng nội quy, quy chế hoạt động và kế hoạch thực hiện số 7/BCĐ ngày 15/4/1999 Sau đó, do thực hiện đồng bộ
Trang 36ấn văn bản, tài liệu cần thiết cấp phát đầy đủ cho cơ sở; tổ chức đội tuyên truyền lưu động về nội dung QCDC do Trung tâm văn hóa Thành phố đảm nhận Phân công Thành viên Ban chỉ đạo phụ trách các đơn vị cơ sở phường, xã, đôn đốc các phường
xã thực hiện triển khai QCDC theo đúng kế hoạch, với phương châm là không nóng vội, không làm lướt, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm; tổ chức làm điểm rồi từ đó nhân rộng ra Trước hết Thành phố chọn 3 đơn vị cơ sở chỉ đạo điểm Đólà phường Trường Thi, phường Cửa Nam, và xã Hưng Hòa Nhìn chung, các đơn vị được chọn làm điểm đều có phong trào tốt; Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, cán bộ và nhân dân
có ý thức chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương
2.1.2 Tổ chức triển khai QCDC ở xã, phường
Cuối năm 1998, đầu năm 1999, BCĐ thực hiện QCDC cơ sở thành phố đã tiến hành sơ kết, đánh giá các đơn vị chỉ đạo điểm, khẳng định những kết quả bước đầu, những yếu kém, hạn chế trong quá trình thực hiện, từ đó rút ra những nguyên nhân, bài học kinh nghiệm để kịp thời bổ sung, sửa chữa, nhằm chỉ đạo thực hiện tốt trên diện rộng
Để thực hiện có hiệu quả, các phường, xã thành lập Ban chỉ đạo triển khai, thực hiện QCDC cơ sở, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chỉ đạo Thành phố và Đảng
ủy, ủy ban nhân dân các phường, xã; thành phần gồm Đảng ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc, các ngành, đoàn thể, bí thư các chi bộ, khối trưởng
Trang 37
Để bảo đảm cho việc triển khai quy chế đúng với chỉ thị của Bộ Chính trị, của Thủ tướng chính phủ; đồng thời, phù hợp với tình hình địa phương Thành ủy đã giao nhiệm vụ cho các phường, xã ban hành kế hoạch triển khai Do vậy, các phường, xã khối xóm đã tiến hành các bước như in ấn hàng ngàn bộ tài liệu để cung cấp cho cán bộ chủ chốt, cán bộ các ban ngành, đoàn thể từ xã đến khối, xóm Tiếp
đó, in nội dung QCDC cơ sở phát cho cán bộ và nhân dân, trước hết là theo gia đình
Khi có tài liệu, Ban chỉ đạo phường, xã phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; hướng dẫn, chỉ đạo xây dựng kế hoạch, lập đề án, phương án, giúp các điểm kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc, và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình triển khai quy chế Nhiều Ban chỉ đạo đã làm tốt chức năng vừa là tham mưu cho cấp ủy, vừa trực tiếp chỉ đạo cụ thể, đã mang lại hiệu quả cao trong quá trình tổ chức, triển khai
Để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhanh chóng tiếp cận với quy chế, hiểu quy chế, tạo nên sự thống nhất, đồng tình cao trong nhận thức và hành động, ban chỉ đạo đã tiến hành phổ biến, tuyên truyền, giải thích nội dung chỉ thị 30/CT-TW của
Bộ Chính trị và nội dung QCDC theo nghị định 29/NĐ-CP Hình thức phổ biến, tuyên truyền được tiến hành đa dạng và phong phú như: Tổ chức học tập tập trung tại hội trường; qua mạng lưới truyền thanh của địa phương, qua việc hướng dẫn tự nghiên cứu Đặc biệt là Thành phố Vinh đã chỉ đạo đội văn nghệ lưu động do Nhà văn hóa thành phố đảm nhận, sáng tác, chuyển thể thành kịch thơ, văn để tuyên truyền có hiệu quả
Tính đến tháng 6/2000, đã có 100% đơn vị phường, xã tổ chức triển khai học tập, thực hiện QCDC, đã tiến hành sơ kết, đánh giá rút ra được những kết quả, hạn chế và bài học kinh nghiệm
2.2 Những kết quả và kinh nghiệm bước đầu 2.2.1 Kết quả bước đầu và n guyên nhân của nó
2.2.1.1 Những kết quả bước đầu
Trang 38
Thành phố Vinh là đơn vị sớm nhất ở Nghệ An tổ chức triển khai thực hiện QCDC cơ sở, trước hết là dân chủ phường, xã Ba năm qua, với sự nỗ lực, cố gắng của các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ban ngành đoàn thể và nhân dân, nên quy chế đã nhanh chóng đi vào cuộc sống Đánh giá một cách khách quan, việc thực hiện QCDC cơ sở ở Thành phố Vinh đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ
Trên lĩnh vực chính trị: Việc triển khai, thực hiện QCDC đã bước đầu nâng cao nhận thức văn hóa chính trị, tư tưởng trong nhân dân; trước hết là ý thức dân chủ
Từ quy định nhân dân có quyền được biết, được thông tin các vấn đề về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân địa phương Thì ý thức trách nhiệm công dân trong đời sống được nâng cao Nhân dân biết rõ được quyền và nghĩa vụ của mình trước pháp luật, trước cộng đồng dân cư Do vậy, họ chủ động, tự giác trong các hành vi của mình một cách đúng đắn Thực tế đã ghi nhận, trước đây, không phải bất cứ lúc nào, không phải bất kỳ cán bộ, đảng viên, người dân nào cũng nhận thức đúng về các vấn đề chính trị, xã hội, về vấn đề dân chủ, về các hành vi của mình; nên có nơi, có người vi phạm dân chủ, thiếu trật tự, kỷ cương, dân chủ quá trớn, ảnh hưởng đến cá nhân, gia đình, xã hội mà không biết; hơn nữa, có nhiều người không biết mình có những quyền gì về dân chủ, nên khi những quyền đó bị vi phạm, cũng không biết đấu tranh để đòi lại một cách chính đáng Ngược lại, khi bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng, dẫn đến những hành động quá khích, vi phạm pháp luật mà cũng không hay
Quá trình thực hiện QCDC bước đầu đã tạo ra sự chuyển biến tích cực, mạnh
mẽ trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện QCDC ở cơ sở với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân Sinh hoạt chính trị của nhân dân đã bình đẳng hơn trước; nhân dân nhiệt tình hăng say tham gia sinh hoạt chính trị, hưởng ứng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Họ cũng sôi nổi, hăng hái, tự giác bàn và quyết định nhiều công việc quan trọng, thiết thực Được tự do phát biểu ý kiến xây dựng; được quyền gia nhập, sinh hoạt các tổ chức xã hội phù hợp với lợi ích thiết thực của bản thân; được tham gia
Trang 39
đóng góp ý kiến vào các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước khi còn là dự thảo; được yêu cầu bãi miễn cán bộ dân cử có sai phạm; được chất vấn các đại biểu
do mình bầu ra; được khiếu nại, tố cáo với các cơ quan có thẩm quyền về những vấn
đề vi phạm đến quyền lợi, nghĩa vụ công dân, ảnh hưởng đến sự phát triển, an toàn xã hội ở địa phương; được biết, được bàn ở mức độ khác nhau về những vấn đề quốc kế dân sinh Quyền làm chủ trên lĩnh vực chính trị của nhân dân ở cơ sở còn được phát huy; trước hết là các quyền bầu cử và ứng cử để lựa chọn những người đại diện cho lợi ích và quyền lợi của mình Trong quá trình thực hiện QCDC, toàn thành phố có
283 khối, xóm đã được kiện toàn Trong đó, số khối, xóm trưởng được bầu mới là 109/283 = 39%, khối, xóm trưởng tái cử: 174/283 = 61% (Số liệu báo cáo của BCĐ thực hiện QCDC cơ sở thành phố Vinh tháng 7/2001)
Việc dân bầu trực tiếp trưởng thôn, khối, xóm là rất phù hợp với lòng dân, được nhân dân quan tâm, đồng tình và hưởng ứng với trách nhiệm cao
Để có thêm tư liệu đánh giá về quá trình triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh Mặc dầu thời gian và điều kiện hạn chế, nhưng người viết luận văn này cũng đã cố gắng thực hiện điều tra bằng phiếu hỏi trên địa bàn một
số xã, phường ở Thành phố Vinh, với nhiều đối tượng khác nhau như: Đảng viên, Đoàn viên, công nhân, nông dân, sinh viên, giáo viên
Bước đầu xử lý 300 mẫu phiếu điều tra về thực hiện QCDC cơ sở trên địa bàn thành phố Vinh (tháng 8/2001) càng cho thấy rõ thêm việc thực hiện QCDC ở cơ
sở
Trả lời câu hỏi: "Thái độ của ông (bà) trước việc triển khai thực hiện QCDC
cơ sở như thế nào?" thì nhận được câu trả lời:
"phấn khởi": 188/300 phiếu chiếm tỷ lệ = 63%
"Bình thường": 81/300 phiếu chiếm tỷ lệ = 27%
"Khó trả lời": 31/300 phiếu chiếm tỷ lệ = 10%
Trang 40
Thực hiện QCDC cơ sở có tác động tích cực đến xây dựng Đảng, củng cố chính quyền, xây dựng mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở phường, xã Đặc biệt là cải cách hành chính Nhiều cấp chính quyền địa phương đã chú ý rà soát, loại
bỏ các văn bản, quy định không phù hợp, cản trở việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, và công tác quản lý của chính quyền, của các đoàn thể Biểu hiện đáng kể nhất là sự đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý của Đảng ủy, chính quyền địa phương; sửa đổi lề lối làm việc theo hướng dân chủ hóa và công khai hóa; sát dân và tôn trọng dân Nếu như trước đây, chính quyền thường xử lý công việc thiên lệch, cứng nhắc, nặng nề, bằng phương pháp hành chính, mệnh lệnh, thậm chí áp đặt Các vấn đề, kể cả những vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhân dân, nằm trong cơ chế "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" cũng bị gò ép, quyết định dội từ trên xuống Nay chuyển sang phương pháp dân chủ và công khai hóa; nhiều phường, xã
đã thực hiện tốt việc niêm yết các thủ tục, hồ sơ hành chính: như hồ sơ đăng ký hộ khẩu, mua bán nhà, đất, cấp giấy phép kinh doanh Nhiều nghị quyết của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân được đưa ra nhân dân thảo luận, góp ý trước khi chính quyền quyết định, ban hành Nội dung, chương trình kỳ họp hội đồng nhân dân được thông báo để nhân dân biết, thậm chí còn cho nhân dân góp ý, đề xuất một số nội dung, chương trình Do vậy, từ việc dân biết, dân bàn đến việc quyết định của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân đều có tỷ lệ thống nhất cao
Trả lời câu hỏi: "Những việc dân bàn, tham gia ý kiến, Hội đồng nhân dân,
ủy ban nhân dân xã quyết định có tỷ lệ thống nhất cao không?" Trong 300 mẫu phiếu điều tra tháng 8/2001 được trả lời như sau: