TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu VỀ NGUỜI NHẬP Cư LÀM VIỆC TRONG KHU vực PHI CHÍNH THỨC GẮN VỚI KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM Lương Thùy Dương Viện Nghiên cứu Phứt triển bển vữ
Trang 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu
VỀ NGUỜI NHẬP Cư LÀM VIỆC
TRONG KHU vực PHI CHÍNH THỨC
GẮN VỚI KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG
ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM
Lương Thùy Dương
Viện Nghiên cứu Phứt triển bển vững Vùng.
Nguyễn Tuấn Mình
Viện Xã hội học.
TÓM TẮT
Khu VỊpc phi chính thức tint hit! lượng lớn lao động di dân nông thôn - thành thị bới tính linh hoạt và khủng đòi hôi vê hăng cáp chuyên màn \ĩột bộ phận trong
so họ lựa chọn các không gian câng cộng ớ thành pho như là dịa diêm làm việc, chú yêu là kinh doanh cò định, hàn hàng rong Tuy vậy quy dịnh vê quán lý không gian công cộng ờ đô thị là tro' ngại đôi với người kinh doanh, hỉtón hàn găn vái khàng gian công cộng Nghiên cứu liên ngành vê việc sú dụng không gian cóng cộng cua người nhập CU'làm việc trong khu vực phi chính thức hiện ít dược quan tam.
Từ khóa:Di cư; Nhập cư; Khu vực phi chinh thức.
Ngày nhận hài: 13/10/2020; Ngày duvệt đũng bài: 25/10/2020.
Dần nhập
Trong $uôt tiên trình Hch sir, Việt Nam luôn là đất nước cùa các dòng đi
cư Quá trình đô thịhóa, sự tăngtrương kinh tế và sự gia răng bất binhđăng giữa nòng thôn và thành thị là nguyên nhân chính của dùngdi cư này Mặc dù nhũng đóng góp tích cực cũa di cư nông thôn - thành thị đã dược nhìn nhạn như tnộl nhân tó thiểt yếu giúp giảm nghèo và phát trièn, nhưngnhững tác động tiêu cực củadòng di cư này trong quá trình phát triên kinh te - xã hội ờ dô thị, nhất là những đò thị lớn như Hà Nội vã thảnh phổ Hồ Chí Minh vãn là vấn dề được Chínhphú và xà hội quan ngại
Phần lớn người di cư nòng thôn - đò thị vì lý do kinh tó, họtham gia vào khu vực kinhtếphi chính thức vả nhiêu người trong số họ sử dụng các không gian công cộng ở thành phô như là địa diêm cho các hoạt độngthưong mại cùa mình
Trang 2Các hoạt động nàylà một bộ phận không nhôcủa nên “kinh lê vía hè”<n tại các đô thị ở Việt Nam Đó có thê là những người buôn bán lưu động (hàng rong) hay nhừng người mua, bán, cungcấp dịch vụ nhó trèn vía hè, tại các không gian trống gân công viên, vườn hoa ngõ, sân chung ở khu dân cư, v.v Việcsừ dụng không gian côngcộng cho mục đích thươngmại, một một,giúpngười bántiél kiệm dược nhiều chì phí thuê địa diêm, chú dộng hơn trong việc tiếp cận khách hảng, còn người mua thi thuận tiện trong việc tiẽp cận sản phẩm dịch vụ vả nhiều khi cònlà giá rẻ Mặt khác, việc sử dụng không gian côngcộng cứa họ cùng gây ra nhừng mặt tiêu cực chođời sống đô thị như lấn chiêmkhông gian công cộng, ảnh hưởng đến giao thông và cánh quan đô thị Dây chính lả lý do mà chính quyền nhiều thành phò lớn ờ Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp mạnh tay nhảm giành lại via hè cho người đi bộ, thiết lập trật tự đò thị Tuy nhiên, điều này dã tác động không nhỏ dến các dối tượng thương mại (bao gồm những người di cư) đê lại nhiêu nỏ lo lăngcho những người nghèoờ đô thị mà với hụ “vía hò” lả cuộc sông mưusinh (LâmVù 2011; Nguyễn Quang Thiêu, 2008)
Phạm Sỹ Dùng ( 2017) cho răng, trongmỏi quan hệ với đô thị,thươngmại chiêm một vị trí quan trọng trong lịch sử, kinh tô, văn hóa - xà hội cũng như là một yểu tô không thể thiếu trong sự hình thành cấu tróc của đô thị hay vùng đồ thị Tuy nhiên, ờ Việt Nam hiện nay, mối quan hệ này chưa được nghiên cứu chuyên sâu Hướng tiêp cận thương mại hiện nay chu yêu ve yếu tố kinh tế, trong khi đó bên cạnh ý nghĩa kinh tê thương mại (hàng hóa) cũng là một hoạt dộng vãn hóa - xã hội, nơi những trao dôi và các mối quan hệ xã hội diền ra trong không gian và thời gian Do vậy, đế giải quyết những bất cặp trên, cách tiếp cận không chi đơn thuân lừnhùng mệnh lệnh hành chinh hay kêu gọi sự "hy sinh” từ người dân, mà cân có những tiếp cận đa chiều và khoa học hơn Đã den lúc cần có những nghiên cứu vê "thương mại đô thị" và thương mại cần được coi nhưmột yếu tố quan trọng cấu thành nen đô thị Hiện nay, ở Việt Nam, việc quy hoạch, quản lý nhằm duy tri sự cân bằng giừa các không gian thương mại và đô thịchưa được hiỳuqua Mồi đó thị, mồi vùng đắt có những dặc trưng riêng vê văn hóa-xã hội, kinh tè câu trúc dô thị, vi vậy cần có cái nhìn tòng thê Và thương mại được xem như một trong những hưởng tiếp cậnquan trụng chonghiêncứu mối quan hệ giữa các yếu tôcùa thương mạivới yếu lố không gian, tìr đó cho thấy một cáinhìn tông thè về thành phố, cho phép tìm ra những giãi pháp phù hụp cho các vấn đề đặt ra
Như vậy, không chi thực tiền đang đặt ra nhưng van đe hên quan đên việc
sử dụng không gian còng cộngcho hoạt dộng thương mại mà cá trên bình diện lý luận, những nghiên cứu về chú de nàycùng còn rât hạn chế ở Việt Nam nhất là dưới góc độ tiếp cận nghiên cứu lièn ngảnh dặc biệt giừa các ngành kinh tế, xã hội học, dịa lý hay quy hoạch đó thị khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa thương mại và không gian công cộng dô thị Nghiên cứu này tiến hành tông quan các nghiên cứu liên quan den việc sứ dụng khồng gian còng cộng cho hoạt động
Trang 3thương mại cùa người di cư nông thôn - đô thị hoạt động trong khu vực phi chính thức,đây là một hiện tượng rất phổ biến ờcác đô thịViệt Nam
ỉ Di cư nông thốn - đô thị, khu vực phi chính thức
Có mối liên hệgiữacácyếu Tốdìcư, khuvực phi chinh thức và không gian công cộng lại các đó thị Dó là việc những người di cư từ nông thôn ra thành thị thường làm việctrong khu vực phi chính thứcvà một bộ phận không nhô trong sô
họ lựa chọncác không gian côngcộngởthànhphố như là địa điểm chohoạt động nghề nghiệp cua mình
1 ỉ Di cư nông thôn - đô thị
Trong số 4 dòng di cư nội địa xét theo tiêu chí lãnh thô và trình độ phát triển kiíiTi tế xã hội từđiểm đi đến điếm đến là: nông thôn - đô thị nông thôn - nông thôn, đô thị - nòng thôn, đô thị - đô thị, thì dòng di cư nòng thôn - đô thị Là điên hình và phổ biến nhất ớViệt Nam (Jensen Rolf, Peppard J.R Donald M., Vu Thi Minh Thang, 2009; Veronniquc Marx, Katherine Fleischer, 2010; Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm,2011; Nguyền Hả Đông 2011; Nguyễn Hữu Chí 2013) Hầu hếtcác nghiên cứu vê nguycn nhân di dân nông thôn - đó thị hay di dân nói chung đều đưa rahai nguyên nhân chu ycu dó là lực hút cùa nơi đến và lực đâycùa nơidi Một quyêt định dì dânkhông chỉ là một quyêl định đơn thuần theo ý thích cá nhân mộtcách ngầu hứng, mà còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác, vào kỳ vọng ờ nơi dến và càđộng lực thúc đây tạo ra quyếtđịnh di chuyển (Đặng Nguyên Anh, 1997; Bùi Việt Thành, 2011; ĐặngThanhNhàn,2008, 2009;
Lê Thị Thiều Hoa, 2015) Ngoài cách tiếp cận lực hút và lực đây thi liêp cận theo quan điềm kinh tế và phi kitih tế cũng được sư dụng khá phô biến trong nghiên cứu về di cư Nhừng nguyên nhân kinh tể bao gôm không chi bởi lực đáy quen thuộc từ nơi xuât cư như: thiếu đat canh tác, thiêu việc làm, thu nhập thấp mà còn bởi lực hút từ những nơi nhập cư; cơ hội việc làm cao, việc làm có tính ôn dịnh, tiềnlương, thu nhập cao hơn so với nơiơ cũ (Nga Mỵ, 1997; GSO, 2005; Jensen Rolf, Peppard J.R Donald M., Vu Thi Minh Thang, 2009; Đặng Thanh Nhàn 2009; Lưu Bích Ngọc, Nguyền Thị Thiềng, 2010, 2011 2012; Lê Rạch Dương và Nguyền Thanh Liêm, 2011; Lê Thị Thiều Hoa, 2015; Nguyễn Anh Tuân, 2017; Ngtiỵên Đoàn ĩỉoàn 2017) Còn đôi với túiCrtig nguyên nhản phỉ kinh
tế, các vẩn đồ được đề cập thường liên quan đèn chất lượng cuộc sông: Dố thị là nơi có các điều kiện lốt hơn nông thôn về giao thông, thông tin dại chúng, hệ thống y tế, giáo dục (Lê Thị Thanh Bình, 2014) Theo kết quả nghiêncứu cưa tác giá Lè Văn Toàn (2001); “ Có 48.9'C người di dân kháng định có thêm được nhiên
kỳ nâng nghê nghiệp và trớ nên thành thạo, có tay nghè vững vàng: 20% người di dàn học được nghề mới: 10% có thêm được kinh nghiệm về thị trường giá ca".
Ngoài ra, các vân đề đoàn tụ gia dinh hay muốn thoát khói những ràng buộc truyền thống, những phong tục tập quán cô hú, lạc hậu ờ nòng thôn cùng là những
lý do thu hút dòng di cư lừ nông thôn ra đó thị (LêThị Thiều Hoa, 2015)
Trang 4Lien quan đèn vân đê an sinhxà hội và chăm sóc sức khóecủa người di cư, các nghiên cứu của Đỗ Mình Khuê (2007), Dương Chi Thiện (2013), Bùi Đăc Thành Nam (2013) cho thây sự thiêu hụt cùa bào hièni V tế và báo hièni xã hội (mạng lưới an sinh xã hội cơ bàn và cần thiềt cho người lao động) của nhùng người di cư làmviệc trong khu vựcphi chính thức Bởithiểu hụt về bào hiểm y te nên người nhập cư gặp khó khãn trong việc tióp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong khi điêu kiện sông và làm việc của họ vòn gặp nhiêu rùi ro về sức khóc (Dưong Chí Thiện, 2013) Tại thành phố iỉồ Chí Minh, da sô người di cư nhấtlà người làm việc trongkhu vực phị chính thức không cỏ baohiểmy tế do đó họ gặp nhiều khó khăn khi mác bệnh, họchấp nhận rủi ro về sức khoe khi tựchừa bệnh hoặc không chừa bệnh Thông thường, họ tự ra hiệu thuốc mua thuốc mà không có chi định của bác SVbăng việc hoi tư vấn cùa hiệu thuốc hoặc theo kinh nghiệm bán thân Kèt quà 'long điều tra dân số nãni2009 cho thấy, 52.6% nữ và 68,5% nam giới dì cư không có thẻ báo hiếm y tế (dẫn theo Bùi Việt Thành,
201ii Haynhư nghiên círu cúa Bùi Minh NhưQuỳnh (2007) lại quan tàm về vấn
đê chăm sóc sửc khóe sinh sân và bệnh xã hội/truyén nhiễm cùa thanh nién nhập
cư và chi ra răng nhóm đối tượng này không nhùng thiếu hiếu biết mà cùn hiểu biếtlệch lạc về những vấn đề liên quanđếnbệnh lật
Một trong số các chủ đề kháđược quan tâm khi nói dén di cưnông (hỏn -
đô thị Ịà mạng lưới xà hội Với tiếpcận Kinh tế và Xã hội học, Abrami (1997) đã cho thây vai tròrátquan trọng cuacácquan hộ xã hội trong hoạt động kinh le cua người bán hàng rong vá thợ xây nhập cưtại Hà Nội Đối với thợ xây, mạng lưới
xã hội dưực phân lích dề lìm hiẻu chúngđược vận dụngđe tìm kiểm công việc, tìm người lao dộng có lay nghê cao và đâm bao các thỏa thuận miệng hoặc hợp dông công việc dưực thực hiện dứng cam kêl Mạng lưới xà hội cùa họ khá phức tạp bới được hình thành từ nhiêu bên liên quan: chù đầu tư, nhà thầu, người quán
lý lao động trực tiếpvà nhỏm thợxây Mạng lưới xã hội cua nhóm bánhàngrong tựơng đôiitphírc tạp chù yến là quan hệ giừa ngườibán hàng rong và người cung câp hàng hóa Đối vớingười bán hàng rong, yếu tố quyết định đối vởi hình thức giao dịch tín dụng với người cung câp hảnghóa chính là sự tin cậy bời khi họ đạt được sự tin cậycao họ có thê mua chịu Và sự tin cậy cao chi có thề xâydựng dựa trên thời gian giaodịch lâu dài
Nhiều công trĩnh nghiên cứu khác chi ra rằng, các quan hộ xã hội mạng lưới xà hội cua người di cư như họ hàng, đông hương đóngvai trò rất quan trọng không chi cungcâp thòng tin vèviệc lảm, chồớ mà còn đóng vai trò kiêm sơãl xà hội (Dặng Nguyên Anh, 1998; Bùi ViệtThảnh, 2011; Nguyền Thị Thiềng,2012) Mạng lưới xà hộinhững người dồng hương không chi định hướngcho người di cư
lừ nông thôn - dô thị mà dó còn là sợi dâỵ gắn kềt họ với quêhương(HoàngThiên Trang 2012) Trong các qựan hệ giaotiêp hàng ngày, hoạt động giải trí hay trong hòa nhập với môi trường sông mời, khi gặpkhó khăn họ cũng chi nhám tới những mạng lười xà hôi truyền thống hơn là các cơ quan chính quyền, đoàn thế địa
Trang 5phương nơi sinh sống Điểu này cho thấy, lao động nhập cư nghèo còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong quả trình hòa nhập, ônđịnh cuộc sống tại cảc đô thị lớn
Cuối cùng, liên quanđến vấn đề hòa nhậpcộng đồng của người di cư nông thôn -đô thị, '■"hộ khâu” là một vấn dềđược nhiều học giả quan tâm Nguyền Thị Thiêng (2011), Bùi Việt Thành (2012 ), Bùi Sỳ Lợi (2013) đã chi rarằng việc áp đụng chính sách quàn lýdân cư theo hộ khấu vàáp dụng chỉnh sách an sinh xã hội theo hộ khâu làưào cản, trở ngại dẻ ngườidi cư nói chungvà người di cư ởcác đô thị nói riêng hốa nhập xã hội ở nơi đên và dược đôi xừ bình dăng như những người dân địa phương
Ị 2 Khu vực phi chính thức
Ở Việt Nam, từ đầu những năm 90 của thế kỳ XX, thuật ngừ khu vực phi chính thức haykhu vực phi chinh quy, khuvực phi kết cấu đã bâlđầu được quan tâmnghiêncửu như các nghiên cứu của Bộ Lao động, Thương Binhvà Xã hội và Viện Kinh tê thành phò Hô Chí Minh dưới góc độ lao dộng và việc làm (Lẽ Đăng Doanh, Nguyên Minh Tú, 1997) Sau đó, các nghiên cứu cúa Viện Nghiên cửu Quán lý kinh tể Trungương (1996, 1997) thực hiện tổngquan nghiên cưu về kinh nghiệm cùa các các nướcvề khu vực phi chính thức, nguyên nhân hình thảnh và phát tricn cùa khu vực nàycùngnhưcách tiếp cận cua các nước trên thế giới Rên cạnh đó các nghiên cứu nảy cùng chira những đặc trưng cùa khu vực phi chínhthức qua khảo sát300 mâu (hộ gia đình và cá nhân)tại thành phốI lồ Chí Minh, tinh ỉ là Rác (tên tinh cũ, nay là 2 tình Bắc Giang và Bắc Ninh) và thànhphố Hà Nội
Khu vực phi chính thức ở Việt Nam dược hiểu là các hộ sản xuất kinh doanh cá thê khồng đăng kýkinh doanh (LêĐăng Doanh, Nguyền Minh Tú, 1997; Clingvà đông nghiệp,2013a; Pasquier-Domervà cộng sự, 2017) Những người di
cư từ nông thôn ra đô thị thường tham giavào khu vựcphichínhthức, họ có thể là những hộ kinh doanh cá thể tự chú hoặc làm thuê chơ các hộ kinh doanh cá thể khác Họ có the làm việc ờ bên trong những không gian riêng tư như bôn trong nhà hàng, nhà xưởng, hộ gia đình, v.v hay hên ngoài không gian công cộnu (đường phô, ngõ, xóm, không gian trốngơgần còng viên, vườn hòã, )
Tại Hà Nội và thành phô Hô Chí Minh, khu vực phỉ chính thức có vị tri dân đâu trongviệc cung câp việc làm và một trong những đặc điểm cơ bản của khu vực này là điều kiện laođộng không được đàm bảo xct trên các khíacạnh về họp đônglao động, bảo hiểm xã hội, phânchia lợi nhuậnhay địa diêm kình doanh
cờđịnh (NguyễnHừuChí vâ cộng bự, 2010)
Điềutra vè hộ san xuất kinh doanhcá thê và khu vực phi chính thức (HB1S 2014/2015) là nghiên cứu cọ tính đại diện cấp quốc gia đầu tiên tại Việt Nam (thực hiện tại 12 tinh) chothấy khu vực hộ sảnxuầl kinh doanh cá thể và khu vực phi chính thứcđóng một vai trò quan trọng trong nen kưih tế Việt Nam, Vai trò này sẽ tiẻp tục duy tri trong trung hạn vàđóng vai ưò then chốt mongviệc thúc đày tăng trường bao trùm Khu vực này có tinhlinh hoạt trong hoạt động, có khá
TẬPCHÍTÂM LÝHỌC, Số 11 (260) 11 - 2020
55
Trang 6năng giãi quyết việc làm cho mộtbộ phận lớn dân cư (chiêm 1/3 tông sò việc làm
và 57%việc làm phi nông nghiệpvảo năm 2014) và thường được xem là lựa chọn tốt nhát trongsố nhữngcơ hội việc làm sẵn cô Là khu vực không có sự gẳn kct chật chè với nền kinh tế khiên cho nó có khả năng dẻo dai trước các cú sốc kinh
tế Tuy nhiên, khu vực này phụ thuộc nhiều vào mức cầu đôi với sân phảm cuối cùng vì họ chù yếusàn xuất vàcung cấp san phàm hàng hóa và dịch vụ chongười tiêu dùng cuối cùng Năng suảtlao dộng trong khuvực hộ sàn xuât kinh doanhcá the thấp, nhất là trong khu vực phi chính thức Thu nhập thấp hạn chế các biện phápdổi phóvới các cú sốc kinh doanh và bệnh tật Điều kiện làm việc còn hạn chế hầu như it được cãi thiện, khiến người lao động dề bị tôn thương (Pasquier- Doumcr L và đong nghiệp,2017)
2 Đặc điểm của ngirừi nhập cư làm việc trong khu vực phi chính thức tại đô thị
Có thể nỏi dã có khá nhiều nghiên cứu góp phần phác họa bức tranh tông thể về người di cư tại đôthị nói chung dựaưên một sô đặc diêm về lứa tuôi, hoạt động kinh lề tại đô thị và giới tính
về độ tuồi, các nghiên cứu đều chi ra rằng, nhóm người nhập cư ờ dô thị chủ yếu lập trang ớ nhỏm người trẻ luôi bới họcó sức khóe (ĐặngThanh Nhàn
2008, Bùi Việt Thành, 2011) Dộ tuòi cùa người dì cư cùng có xu hướng tre hóa (tập trungcao ơ nhóm 15 đen 29 tuôi, tuổi trang vị là 24 tuôi vá chiêm tỷ lệ chú yêu ư nữ giới)(Bùi Sỳ Lợi, 2013)
Trình độ chuyên môn chủ yểu là lao dộng phố thông, không có lay nghe (Đặng Thanh Nhàn, 2008; Hoàng Thiên Trang, 2017) Hầu het lao động di cư vào thành phố không cókỳ nảng.chi có 6%trong sốhọ có kỳ nâng nghề nghiệp Hầu hết họ có thề tim dược việc làm ờ thành phó nhưng công việc thường không ôn định và mang lính tạm thời (Nguyễn Vãn Tài, 2002), Đặc diem tâm lýxâ hội cúd người nhập cư là xa lạ với tâm lý, lối sống, văn hóa và cách ứng xử ớ đô thị, vì vậy, trongđời sồng cộng dồngcư dàn đô thị họ trờ nen dề bị tổn thương (Hoàng Thiên Trang.2017-)
Việc làm cùa người nhập cư ớ đô thị được phân loại thành một so nhóm chú yếu sau đây: nghề xây dựng và sán xuấtthù công vật liệu xây dựng; đạp xích lô; các nghề thu gom phế liệu, làm dịchvụ và các việc khác; những laodộng tập trung chừviệc ớcáctụ điêm màngười la thườnggọi là chợ lao động; sò lao đọng bán rau, hoa quá, bán gạo; những người làm cóng trong các gia đình (Nguyên Nam Phương, 2001) Theo Cao Văn Dức (2017), các nhà kinh tê học nhìn nhận buôn bán rong như một loại hình thương mại quan trọng sau khi thống ke tông giá trị hàng hóa mà họ giao dịch trong mộtngày
Lê VănThành (2008) chi ra rằng hơn 80% người di cư đến thành phố Hồ Chi Minh có thể tim việc làm trong thángđầu tiên và họ châp nhận làm việc khó khăn hon, thu nhập ít hon người dàn lại chồ Điều tra về việc làm trong khu vực
56 TẠP CHÍ TÂM LÝ HỌC sỏ' 11 (260), 11 - 2020
Trang 7không chính thức cua Viện Kinh tê thành phố Hô Chí Minh chứng minh vấn đe này khi có 44,4% lao động hoạt động băng phương tiện 2 - 3 bánh công cộng, 43% hoạt động trên vía hè và 55% buôn bán lưu độnglà người nhập cư (Lè Văn Thành, 2008) Đây là loại ngànhnghề có yêucầu tay nghề thếp, vốn thấp, dề kiếm liền nênthu hút người lao động nhậpcư
Nghiên cứu về “Việc làm cùa người di cư tự do từ nông thôn ra dò thị: khó khăn và sự thích nghi’' cửa Nguyễn HáĐòng (2011) tại Hà Nội với 700 phóng vấn báng hỏi và 24 phỏng vấn sầu đã cho thấy, phân lớn những người di cư tự do từ nông thôn ra thành thị có trình độthấp, hầu như chưa qua đào tạo, làm nghề buôn bán rong và các công việc khác trong khư vực phi chính thức như giúp việc gia đình, thợ xây, thợmộc thọ may nâu ăn, bôc vác, xe đẩy,xe ôm Các còngviệc này thường đẹm lại thu nhập Ihâp và không có bảo hiếm xã hội Phụ nừ có xu hướng làm các côngviệc kinh doanh buôn bán nhiều hon nam giới.Thu nhậpcua nam giới cao hơn nừ giời nhiều nhưng tiềngùi về cho gia đình cùa nam giới cao hơn nữ giới không dáng kê (Nguyễn Hà Đông 2011)
Nghiên cửu cua Lè Thị Thiều lỉoa (2015) bồ sung thèm đặc diêm nghề nghiệp và độ tuổi của những người di cư lừ nông thôn ra đò thị, phần lờn dó là những người iré tuổi, làm việc ờ khu vực phi chính thức Dặc điểm cùa nhưng người này là không cóchuyên môn nghề nghiệp, họ làmviệc cho cácchủ nho hoặc
là nhừng hộ sân xuất kinh doanh cá thể tự làm chù (Lê ThịThiều Hoa, 2015)
Liên qụan đến điều kiện bông (nơi ở) cua những người di cư, nghiên cửu cua VeronniqueMarx,KatherineF leischer (2010) về di cư trong nước ờViệtNam cho thảy, vấn đê nhà ở được mô tà là điêu không hài lòng nhất ờ người di cư với điềukiện sổng dưực mô tá là chật hẹp khôngan toán và mat vệ sinh Kổtquá trcti cùng tương tự như vói nghiên cứu cua Lê Thị Thiều Hoa (2015), tác gia nàyđã chơ thây nhà ở đối với nhóm người di dãn làm việc tại khu vựcphi chính thức là một vấn đê nạn giải khi mà gân 90% người dí dân diện KT4 sổng ỏ nhà trợ chử không sống trong nhà người thân, họ hàng, bạn bè hay cùng với chữ lao dộng Điều kiện nhà ứ cua người di dân lâm việc ơ khu vực phi chính thức thường rất khó khăn (ớ nhà cấp bổn chật hẹp thuê chung vời nhiều người khác ) Nhừng người có công việc không ôn định như bán hàng rong, khuân vác, tham gia chợ lao động ờ ngọài trời pháidi chuyên thường xuyên thì chi thuê chồ ngủ trọbuôi tôi, Nhìn chung, người lao động nhập cư đến làm việc trong khu vực phi chính thức cớ xu hướng sồng trong môi trướng có dău hiệu ô nhiễm nặng, khôngđảm bao vệ sinhtại khu vực hiện đang cư trú, như: bụi bặm, nhiêu tiếng ồn, ítcây xanh (Hoàng Thiên Trang, 2007; Nguyền Thị Thiêng, 2012; Dương Chí Thiện 2013;
Lê Thị Thiều Hoa, 2015)
Nhóm người di cư sứ dụng không gian công cộng cho hoạt động thương mại cùa mình có lẽ điên hình nhầt và dề dàng nhận thấy nhầt ở đô thị lá những người buôn bánrong Trong luận án tiến sỹ cua minh Nguyễn Tuấn Minh (2017)
đà phân chia khu vực phi chính thức thành hai nhóm nghề nghiệp dựa trên dặc
TẠPCHÍTÂM LÝ HỌC.Sổ' 1 ỉ (260), 11 - 2020 57
Trang 8diêm cố định/ìưu dộng cúa địa điếm làm việc/kinhdoanh: nhóm nghề nghiệp lưu dộng (mua, bán và cung cấp dịch vụ rong) và nhóm nghềnghiệp cố định Kết quá cho thày, sovới nhóm nghề nghiệp cô định, người buôn bán rong có trinh độ học vàn tháp hơn, môi cao hơn và tý- lệ nữ giới cao hơn đáng kế [loạtđộng thương mại cùa họ mang tính chât minisinh, đem lại lợi nhuận thấp và không có nhiều cư hội dê tích lũy Tuykhông đánh giá cao còng việc hiện tại nhưngđó là một lựa chọn tối im mong hoàn cânh cũa họ Nhìn chung, người lao độngbuôn bán hàng rong là những đối tượng dề bị lòn thương hay ycu the hơn so với nhóm nghe nghiệp cô định trong khuvực phi chinh thức
3 Thực trạng tiêp cận và sử dụng không gian công cộng cho hoạt động
th trưng mại cùa người di cư
Chưa có nhiều nghiên cứu đề cậpđến cách tiếp cận và sư dụng không gian còng cộng chohoạt động thương mại cứa những người di cư ơ Việt Nam, cho đen thời diêmhiện lại có thê diêm qua một sổ nghiên cứu có liênquan như sau:
Đâu lien là dưỡigóc độTâm lý học,nghiên cứu củaNguyền Thị Anh Thư (2009) về “Tâm trạng lo lắng cua người bánhàng rong” dựa trên số liệu cùa điểu tra người lao động ngoại tình bán hàng rong ở 1 là Nội với 300 bang hỏi và 10 phòng vân sâu Kẽl quã nghiên cữudã chi ra nhùng tàm trạng lo lắng thường trực
ưnhừngngười bán rong Trong đó, có những lo lắng về an toàn giao thông do đặc thù cua công việc bán rong là di chuyên ưên đường phố không chi đi trên vía hè
mà họ còn đi dưới lòng đường Vói gánh hàng công kênh nên việc đi lại cua hụ gặp không ít khó khăn, nhất làlúc tan tầm với mật dộ giao thông dông đúc Việc chàp hành pháp lệnh vê trật Lự an loàn giao thòng của Nhà nước là nỗi lo lắng líVn cùa người bán hàng rong bói pháp lệnh này quy định lòng đường và hẻ phố chi dưực dành cho mụcđích giao thông trong khi đó chính là nơi làm việc của họ Những quy định trong việc quàn lý hàng rong ớ flà Nội cua chinh quyền thành phô càng làm tăng thêm tâm trạng lolăngcua nhưng người bán rongvì sợ bị phạt tiền, bị tịch thu hànghóa, bị mất kếsinh nhai, làm chohọ nghi rằngcôngviệc cúa
họ là bất hợp pháp Một số người dâ tỏ thái dộbất bình vi hiện trạng nảy sẽ ảnh hường tới cuộc sông cùa gia đình và vì hàng rong cùngđem lại nhiều mặt líchcực chocà người dân nông thôn lẫn thành thị
Tiêp theo, luận án tiến sỳ cùa Phạm Thái Sơn (2010) trong lình vực quy hoạch đô thị đã chi ra rangnhững người bán hàng rong là hình ảnh cùa nòng thôn trong đô thị Họnâng động và biêuhiện cho một mối liên hệ giữanông thôn và đô thị trong thủ đò của Việt Nam 1lọ sứ dụng nhùng ngố nhò như một nơi lảm việc hợp phápvà cho phép họ thoát khói những sựtruyđuôi của cảnh sát khi hoạt động trẽn dường phố
Tiếp theo đó nghiên cứu cùaNguyễn Hà Đông (2011) dã chi ra rằng những khó khăn trong quá trình lao động của người di cư tự do từ nông thôn ra Hà Nội không nám ỏ' quá trình timviệc mà trong dó khókhăn lởn nhất cua họ là bịphạt, bị tịch thu hàng hóa trên đường phò (3/4 người bán hàng rong luôn lo lắng về việc
Trang 9này) và bị coi ĩhường/kỳ thị Cách thức giải quyết khó khán phổ biến nhất của người di cư là chấp nhận và nhẫn nhịn đẻ ticp tục duy trì công việc, một sốítchấp nhận bỏ tiền ramua chồ ngồi,một số khácthì cố gắngmô rộng mốiquan hệ đề tim kiêm sự giúp đờ hay tìm thèm việc khác đê làm Phần lớn họđềulàm một công việc
kẻ từkhi mới ra Hà Nội và họ không có dựđịnh thay đôi cóng việc trong tưưnii lai
vì họ khó có kỊhâ năng dè tìm kiêm những công việc tôt hon Người di cư được coi
là một nhóm yếu thế và dễ bị tồn thưong (Nguyền nà Dông, 2011),
Eidse và cộng sự (2016) có cách tiếpcận về chính sách quàn lý không gian đường phô, vía hè và ửng phó cua người bàn hàng, sinh kê gắn vói không gian này Nghiên cứu này cho răng, phàn lớn các nhà cung cấp dịch vụ di động là người di cư K.hi den thành phố, họ thuê chung phòng (rọ với đồng hương cùng bán hàng khác và vê thăm quê hàng tháng Lý do khiến người di cưlựa chọn hình thức kình doanh lưu động ờ đường phố là vì thiếu vốn xã hội và không đu tài chính đè đâm báomột diêm bán hàng có định Lệnh cấm bán hàng trên Via hè ư một số tuyển phố dược dưa ra năm 2008 góp phần phân luồng giao thông và giâm tài áp lực cho;khu vực ba sáu phô phường ớ I là Nội Cơ quan quán lý nhả nước xem không giàn vỉa hè đường phô có chức năng đảm bâo giao thông nên sự hiện diện của những người bán hàng ỡ không gian này là phản chức năng, thiếu văn minh và càntrở sự phát triên Tuy vậy nhữngngười kinh doanh này gặp khô khăn trong việc tìm kiêm nguồn sinh kê mới và bản thân họ vẫn thảy ừ khu vực trung làm, tuyến ph4 thương mại lànguồn sinhlợi hấp dần nên họ lựa chọn chiến lược ứng phóvới lệnh cấm (chiến lược này bao gồm sáu đặc điểm: dộng lực, tuyến di chuyên, tôc độ, nhịp độ, kinhnghiệm, nhừng vachạm/xích mích)
Cuối cùng, có lẽ nghiên cứu cùa Nguyền Tuấn Minh (2017) cỏ một phẩn nội dung rât phù hựp với chủ đê nghicn cứu mà chúng tôi quan tâm không chì dưới góc độ “Ịứ dụng” mà còn cá góc dộ “tiêpcận” không gian công cộng cùa người dicư Trong nghiên cứu này, ngoải việc làm sángtỏ bức tranh về hàng rong trong suốtchiổu dãi của lịch sừ kinh tè - xà hội của Hà Nội, tãc giá đã mỏ tâ khá chi tiết về việc tiếp cận vả sừ dụng không gian công cộng cùa những người bán hàng rongtheo hai giai doạn Đáu tiên, người di cư đên Hà Nội thườngnhờ một người quen giội thiệu (một người buôn bán hàng rong khác, một thành viên gia đinh hoặc một.người cùng làng đã từng làm việc tại Hà Nội) Người quen này sẽ chì cho hụ thấy khu vực làm việc đê họ làm quen cả về mặtkhùng gian địa lý lẫn những cách ứng xứ xã hội cho phù hợp Giai đoạn hai, sau một thời gian làm việc, người di cư sẽ mỡrộng lânh thổ không gian cứa minh bàng cách tăng cưởng vốn
xà hội và xây dựng tính chinh đáng xã hội trong công việc cùa mình Những người bánhàn$ rong, vê nguyên tắc,không có một nơi cổ định trênđường phố đê tiến hành hoạtiđộng thương mại Chính sự liên tục di chuyển cho phép họ thực hiện hoạt động thươngmại của mình,môi khi dừng lại để buôn bán họ sè phái đối mặt vói nhiêu nguy cơnhư xung đột với những người khác cùng sừ dụng không gian cõngcộng hoặc bị các cơ quan chức năng phạt dolồi lấn chiếm, cản trở giao
Trang 10thông Tính chínhđángxã hội cóthềgiúp họtránh được những nguy cơ này Tính chinhđángxã hội được xây dựng dựatrên cảc mối liên hệ xà hội với những người đổng nghiệp, người dân địa phương, chính quyển, giúp cho người buôn bán rong
có the dừng, đỗ tại các không gian công cộng đè buôn bán Các khu vựcdừng đỗ cùa người buôn bán rong rất đa dạng, trong đỏ phờ biến nhất là via hè, rìa đường, cáckhu vực trống gần chợ truyền thống, gân khudân cư, ngõ xóm, trường học
4 Thực tiễn quàn lý các hoạt động thương mại ô các không gian công cộng
Dà Nang lả thành phổ đầu tiên ban hành kể hoạch quản lý một sổ hoạt động thương mại tròn đường phổ, cụ thế là Quyết định sổ 43/2005/QĐ-UB ngày
19 tháng 4 năm 2005 cùa ủy ban nhân dân thành phổ Dà Nằng ban hành “Ke hoạch tricn khai mộtsố biện pháp quản lý hoạt dộng đánh giày,bán sách, báodạo
và bán hàngrongtrên địa bàn thành phò Đà Nằng” Theođó, các đòi tưựng có các hoạt động thương mại dược nêu SC phải tuân thú các quy định như không được hoạt động lại các tuyến phố câm, không đeo bám, nài ni khách,không mang theo trẻ em dưới 6 luối, người tàn tật, không dùng các phương tiện phát thanh cổ động
để bán hàng Cácđối tượngkhông tuân thủ quy dịnh, lả người khôngcó hộ khâu thườngtrú ờ Đà Năng sẽ được tập trungđưa vào Trung tầm Bào trợ xãhội Thành phố tiếp nhận, phán loại, làm thu tục và trá vềđịa phương nơi cưtrú Nhừng đối tượng tái phạm được giừ lại Trung làm Bảo trợ xã hội Thành phò để giáo dục, hướng dẫn lao động Ngoài ra, cỏn có một diem đáng lưu ý ờQuyết định này là định hưởng xây dựng các mô hình thí điổm để tô chức, sắp xếp, bố trí cho người đánh giày, bán sách, báo dạo và bán hàngrong được hoạt động tại một sốnơi cổ định nhằmnâng cao hiệu quả các hoạt động của họ đông ihờiđảm báotrật tự vãn minh đò thị
Có lẽ, thời điềm Dà Nằng ban hành Quyết định sổ 43/2005/QD-UB, các hoạt dộng thương mại nhỏ như bán hàng rong, đánh giày vẫn chưa rõ ràng về lính hợpphápcùa chúng Thật vậy, hai năm sau, Chính phù ViệtNam đã ban hành Nghị định số 39/2007/NĐ-CP Dây là cơ sờ pháp lý dầu tiên kể tìr giai đoạn đổi mới ở Việt Nam (1986) công nhận các hoạt động thương mại có hoặc không có địa điếm kinhdoanh cố định (như buồn bán rong, buôn bán vặt,đánh giày,bán vé
số, chừa khóa, trônggiữxe, rứa xe cẳttóc, bán hàng nước ) là những hoạt dộng thương mại hợp pháp và không phái đãng ký kinh doanh Trong Nghị định này, phạm vi về địa điẻm kinh doanh cùa cá nhân hơạl dộng thương mại được nêu rât
cụ thế, trong đó nghiêm cấm cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại tại các khu vực, tuyến đường, dịa diểm như: khu vực thuộc di tích lịch sử, văn hóa đâ được xếp hạng; khu vực cùa các cơ quan nhà nước, CƯ quan ngoại giao, tô chức quôc le; khu vực các trường học, bệnh viện, CƯ sờ tôn giáo, tin ngưởng; nơi tạm dừng đồcùa phương tiệngiao thông; v.v ('Điêu 6, Khoăn 1) Ngoài ra Nghị định này cùng quy định rấtrõ việc bào dam anninh, trật tự vệ sinh an toàn thực phàm,
an toàn giao thông trong hoạt động cùa cánhân huạl động thương mại lưu động tại