1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tương quan giữa nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý và phát triển văn hóa ở nước ta hiện nay

16 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc xử lý môi quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quản

Trang 1

154 Mối QUAN HỆ GIỮA NIỈÀ Nước; THỊ TRƯỜNG VÀ XÃ IÍỘI

BÙI HOÀI SON * - NGUYỄN THỊ THANH HOA **

* PGS, TS, Viện trưởng Viện Văn hóa

Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

** TS, Viện Văn hóa Nghệ thuật quóc

gia Việt Nam

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực quan trọng cho sự

phát triển bền vững đất nước Hiện nay, trong bối cảnh đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc xử lý môi quan hệ giữa

Nhà nước, thị trường và xã hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quản

lý và phát triển văn hóa với nhiều đặc thù, qua đó phát triển thị trường

các sản phẩm và dịch vụ văn hóa, góp phần nâng cao phúc lợi, bảo đảm

quyền văn hóa của nhân dân và củng cố “ sức mạnh mem" quốc gia.

V

ãn hóa luôn giữ vị trí rất

quan trọng trong tiến

trình phát triển của đất

nước Trong thời kỳ đổi mới, văn

hóa được khẳng định vừa là mục

tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự

phát triển kinh tế - xãhội Dođó,

dù tồntạivớitưcách một phân hệ

-lĩnh vực độc lập hoặc một cấuphần

trong cáclĩnh vựckhác, pháttriển

văn hóa luôn là một nhiệm vụ quan

trọng trong chiến lược phát triển

tổng thể của đất nước

Vì ý nghĩa quan trọng này,

đểbảo đảmtính hiệu quảcủasự

nghiệp phát triển văn hóa, việc

nhận thức đầyđủ các cơ chế bao

trùm vàchi phối tiến trìnhnày là một nhiệm vụ thiết yếu Trên cả

phương diện lýluậnvà thực tiễn, các mối quan hệ lớn đã được Đảng từng bước nhận diện, trong đó,

mối quan hệ giữaNhà nước - thị trường - xã hội được chính thức

khẳng định gần đây tại Hội nghị

Trung ương 5 khóa XII Từ xuất

phátđiểm mang tính căn bảnnày,

những nghiên cứuchuyên sâu về mối quan hệ Nhà nước - thị trường

- xã hội cũng như tác động của

mối quan hệ này đối với sự phát

triển văn hóa cần được triển khai nhằm tạo dựng cơ sởkhoa học cho việc nhận diệnvà xử lý một trong

những vấn đề then chốt trong tiến

trìnhpháttriển đất nướchiệnnay

Thêm vào đó, khi đặt trong bối cảnh củamộtlĩnh vực cụ thể, mối quan hệgiữa Nhà nước - thịtrường

- xã hội cần được điều chỉnh sao

cho phù hợpvới những đặc thù

riêng của lĩnh vực đó Việc phân

tích, lý giải cảcơ chế phổquát lẫn

những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ Nhà nước- thị trường - xã

SÓ 01 2021 I TẠP CHÍ CỘNG SẢN - CHUYÊN ĐỂ

Trang 2

TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIEN kinh te - XÃ HỘI ở NƯỚC TA HIỆN NAY 155

hội, do vậy, sẽ góp phần xáclậpcơ

sở khoahọccho nhữnggiảipháp

nhằm xử lý hài hòa mối quan hệ

giữa ba thành tố này, góp phần

nâng cao hiệu quảphát triển văn

hóa ở nước ta thời gian tới

1 Nhận thức chung về mối

quan hệ Nhà nước, thị

trường và xã hội trong quản

lý và phát triển văn hóa

Văn hóa là một phạm trù rất

rộng và được diễngiải theo nhiều

cách khác nhau, ơnước ta, Nghị

quyết Trung ương 5 khóa VIII

(7-1998) - văn kiện có ý nghĩa

chiến lược, đặt nền móng cho sự

nghiệp văn hóa Việt Nam trong

thời kỳ đổimới- đã cụ thểhóavăn

hóa thành 8 lĩnhvực lán, bao gồm:

Tư tưởng, đạo đức,lối sống; disản

vănhóa; giáo dục và đào tạo; khoa

học và công nghệ; vãn học, nghệ

thuật; thông tin đại chúng; giao

lưu vănhóa với thếgiới;thể chế và

thiết chế vănhóa(1)

(1) l/ởn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, t 57, tr 293-301

(2) Xem: Mexico City Declaration on

Cultural Policies (Tuyên bố thành phổ Mexico về Chính sách văn hóa), https:// bit.ly/3rV5ZHP

(3)Văn kiện Đảng toàn tập,Nxb Chính trị

quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, t 57, tr 304

(4) Xem https://tulieuvankien.dan- gcongsan.vn/he-thong-van-ban/

van-ban-cua-dang/nghi-quyet-hoi-ng-

hi-lan-thu-chin-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-xay-dung-va-

phat-trien-van-hoa-con-nguoi-2500

(5) Xem https://tulieuvankien.dan-

gcongsan.vn/he-thong-van-ban/

van-ban-cua-dang/nghi-quyet-hoi-ng-

hi-lan-thu-chin-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-xay-dung-va- phat-trien-van-hoa-con-nguoi-2500

Quan điểm về văn hóa của

Đảng có nhiều điểm tương đồng

với khái niệm phổ biến ở phạm

vi quốc tế do Tổ chức Giáodục,

Khoa học và Văn hóa của Liên

hợpquốc (UNESCO)đề xướng

Theo đó, văn hóa được định

nghĩa là “toàn bộ các đặc trưng

tiêu biểu về tinh thần, vật chất,

tri thức và xúc cảm của xã hội

hoặc một nhóm người trong xã

hội.Văn hóa không chỉ baogồm

văn học và nghệthuật, màcòn cả

phong cách sống, phương thức

chung sống, các hệ giá trị, truyền

thốngvà niềm tin”1(2)

Không dừng lại ở đây, trong

quá trình lãnh đạo đất nước, những mục tiêu cụ thể của việc

phát triểnvăn hóa nói chung và văn hóa cùng với thành tố nòng

cốt - nghệthuật -đã được Đảng

đề ra trong các văn kiện quan trọng Nghị quyết Hội nghịTrung

ương 5 khóa VIII khẳng định,

“văn hóa là nền tảng tinh thần

của xã hội”, “văn hóa là kết quả củakinhtế đồng thờilà động lực của sự phát triển kinh tế Các nhân tốvăn hóa phải gắn kếtchặt

chẽvới đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính

trị, kinh tế,xã hội, pháp luật, kỷ cương, biến thành nguồn lực

nộisinh quan trọngnhấtcủa phát

triển”(3) Tiếp đó, Nghị quyết

Trung ương 9 khóa XI (6-2014) nhấn mạnh, văn hóa phải được đặt ngang hàngvới kinh tế,chính

trị, xã hội vì chỉ có nhưvậy văn

hóa mới “thực sự trờ thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan

trọng bảo đảm sự phát triển bền

vững và bảo vệvữngchắcTổ quốc

vì mụctiêu dân giàu, nước mạnh,

dân chủ, công bằng, vănminh”(4)

Sự điều chỉnh trên đây trong mục tiêu phát triển văn hóa ở

Việt Nam một lần nữa cho thấy những tương đồng vớixu thế phát

triểnchung ở tầm quốc tế Cụ thể

ở đâychínhlà việc lồng ghép vãn hóa vào các mục tiêu và chiến lược phát triển bền vững cũng như sự chuyển hướng từ phát triển dựa vào tăng trưởng kinh

tế sang phát triển bền vững với

trọng tâm làphát triển con người

Việc hiện thực hóa mục tiêu

phát triểnvănhóa đòi hỏi quá trình nhậnthức,lý giải và giải quyết hiệu quảcácnhân tố chính tácđộng đến tiến trìnhnày.Trên thựctế, mặc dù chưa trực tiếpđềcậpđến mối quan

hệ Nhà nước - thị trường - xã hội cũngnhư tác động của “bộ ba”này tới việc phát triển văn hóa ở nưốc

ta, nhưng hệ thốngcác văn kiện

củaĐảngvà các chính sách được triển khai trong thực tiễn thời gian qua chứa đựng những nội dung

quan trọng về vấn đề này Từ việc

khẳng định “xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân

do Đảng lãnh đạo,Nhà nước quản

lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo,

đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng”(5)cho đến chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa, phát triển thị trường các sản phẩm, dịch

SỔ 01 2021 I TẠP CHÍ CỘNG SẢN - CHUYÊN ĐỂ

Trang 3

156 MỎI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC, THỊ TRƯỜNG VÀ XẰ HỘĨ

vụ văn hóa và phát triển các ngành

côngnghiệp văn hóa, chúng tacó

thể phần nàonhận thấykhuôn khổ

tư duy mới về mối quan hệ giữa

Nhà nước-thị trường -xã hội trong

việcquản lý vàphát triển văn hóa

đangdần được xáclập

Ớ đây, Nhà nước được hiểu

một cách cơ bản là một hệ thống

gồm các cơ quan quyền lực nhà

nước từ trung ương đến địa

phương để thực hiện các quyền

hành pháp, tư pháp và lập pháp

Trong lĩnhvực văn hóa ởnước ta

hiện nay, Nhà nước được khẳng

định là chủ thể nắm giữ các vai

trò, như hoạch định chiến lược

và xâydựng cáckế hoạch, khuôn

khổ phát triển văn hóa; tổ chức

bộmáy, xác lậpcơchế quản lývà

phát triển văn hóa; phân bổ và

huyđộng nguồnlực vật chất cho

pháttriểnvăn hóa;cungcấp sản

phẩm và dịch vụ văn hóa thông

qua hệ thống các thiết chế văn

hóa, các đơn vị sự nghiệp công

lập và doanh nghiệp thuộc sở hữu

của Nhànước; giám sát cáchoạt

động quản lý và phát triển văn

hóa; tạo ra sự đồng thuận xã hội,

nâng cao trách nhiệm xã hội của

côngdân để thực hiện các nhiệm

vụ phát triển văn hóa

Trong khi đó, thị trường là nơi

diễn ra các hoạt động trao đổi

hànghóavà dịch vụ dựa trên các

quy luật về giá cả, quy luật cung

- cầu và quy luật cạnh tranh Sự

tương tác giữa thành tố của thị

trường (bao gồm nhà sản xuất,

nhà phân phối và ngườitiêu dùng)

giúp cho dòng chảy vật chất và

phi vật chất liên tục dịch chuyển

Thị trường, dođó, tồn tại tất yếu như một động lực “có khả năng

tạo ra những dàn xếp nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của cá nhân và phân phối các nguồn lực một cách hiệu quảnhất”<6) Đặcbiệt, trong

bốicảnh chung củatiến trình xây

dựng nền kinh tếthị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt

Nam,việc xây dựngthịtrường các

sảnphẩmvàdịch vụ vãn hóa được

kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam “đổi mớimô hình tăng trưởng”, tạora nhữngsảnphẩm - dịch vụ văn hóa

có tính cạnh tranh cao, tạo thêm việc làm ổn định, đóng góp tích

cực chonềnkinh tế”6(7)

(6) Marion Fourcade & Kieran Healy:

Moral Views of Market (Quan điểm đạo đức về thị trường). Annual Reviews of Sociology, Vol 33, 2007, tr 286

(7) Xem http://www.tuyengiao

vn/van-hoa-xa-hoi/phat-trien-cong-

nghiep-van-hoa-di-doi-voi-xay-dung-hoan-thien-thi-truong-van-hoa-1 26721 (8) Benedict J Tria Kerkvliet:

An Approach for Analysing State-Society Relations in Vietnam (Một tiếp cận nhằm phân tích mối quan hệ nhà nước - xã hội ở Việt Nam), Sojourn: Journal of Social Issues

in Southeast Asia, Vol 16, No 2, Negotiating the state in Vietnam (Thương thảo vể Nhà nước ỞViệt Nam) 10-2001, tr 240

Cuối cùng, xã hội được hiểu

“toàn bộ cư dân sống và chia sẻ các điều kiện tự nhiên, kinh tế

và xã hội trong một lãnh thổ”(8)

Theocách hiểu này, Nhà nước là

một trongcác thành phần tạo nên

xã hội và các quan hệ thị trường củngcó thổ được coi là các hình

thái đặc biệt của quanhệ xã hội

Chính vì vậy, để thể hiện rõ các

đặc trưng của xã hội, nhất là

trongmối quan hệvớiNhà nước (bộ máy thực thiquyềnlực chính trị)và thịtrường (lực lượng hoạt

động vì mục tiêu lợinhuận), khái niệm này thường được hiểu theo

nghĩa hẹp,tức là một khu vựcbao gồm các giai tầng, nhóm xã hội,

cộng đồng và các hình thức liên

hợp dựa trên sự tự nguyện của các côngdân Tronglĩnh vực văn

hóa, xã hội chính là nơi tập hợp

và huy độngnguồn lực (tài chính, tri thức, nhân lực ) quan trọng cho việc đầu tư phát triển văn hóa Các nghệ sĩ, giới trí thức,

lànhững người giữ vị trí thenchốt

trong việc sáng tạocác tácphẩm

vănhóa, trong khi đó, côngchúng

là lực lượngtiêu dùng quan trọng

đốivới các sản phẩm và dịch vụ

văn hóa được làm ra Nhậnthức

về vai trò của xã hội đối với sự nghiệpvănhóa được khẳng định

trong Hiến pháp qua phương

châm “văn hóa là sự nghiệp của toàn dân” Thêm vào đó, với

việc triển khai và đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa từ cuối thập niên 1990, tiềm năng của xã hội

trong việcphát triển vănhóa ngày

càng được đề cao

Như vậy, có thể thấy, thay

vì phủ nhận hoàn toàn yếu tố thị trường, hạn chế sự tham gia của xã hội và tuyệt đối hóa vai trò của Nhà nước, coi đây là thành tố duy nhất nắm giữ vai trò chỉ huy, bao cấp, độc quyền

cung cấp dịch vụ và sản phẩm văn hóa như trong giai đoạn

SỐ 01 -2021 I TẠP CHÍ CỘNG SẢN - CHUYÊN ĐÉ

Trang 4

TRONG OUẢN LÝ PHÁT TRIEN kinh tẾ - XẰ HỘI ở NƯỚC TA HIỆN NAY 157

trước đổi mới, nhận thức chung

hiện nay thể hiện một cơ cấu và

động năng mới trongmối quan

hệ giữa ba thành tố quan trọng

này Mỗi thành tố trong “bộ ba”

Nhà nưóc - thị trường - xã hội

đều nắm giữ vai trò nhất định

trong quản lý và phát triển văn

hóa, đồng thời, mỗi bên lại có

những hạn chế riêng, đòi hòi sự

bổ khuyếtvà hỗ trợ từphíacòn

lại Chẳng hạn, trong điều kiện

nguồn lực công chovăn hóacòn

hạnchế, Nhà nước cần huy động

sự đóng góp của xã hội và phát

triển thị trường nhằm tạo ra lợi

nhuận, từ đó cóthể phân bổ lại

nguồn tài chínhcho các mục tiêu

phát triển văn hóa Cùng lúc đó,

xu hướng tối đa hóa lợi nhuận

tồn tại như một hạn chếphổ biến

của cơchếthị trườngcũng có thể

dẫn tới những bất cập trong quá

trình phát triển vãn hóa Trên

thực tế, các sản phẩm, dịch vụ

văn hóa chứa đựng tri thức vàsự

sángtạo của cá nhân, tập thể, có

sức lan tỏa và tính biểu tượng,

và do đó, giá trị của chúng khó

cóthể được đo lường vàđịnh giá

bằng các côngthức giá cả thõng

thường(9) Do vậy, phát triển thị

trường phải đi cùng với sự điều

tiết và quản lý của Nhà nước

cũng như sự giámsát của xãhội

(9) Đỗ Thị Quyên:"Thị trường văn hóa: khái niệm và đặc trưng", Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 400, 2017, tr 89

(10) Xemhttps://www.tapchicongsan org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/820491

/view_content

về cơ bản, mốiquan hệ giữa

Nhà nước - thị trường - xã hội

trong quản lý và phát triển vãn

hóa ờnước ta hiệnnay được nhận

địnhlà một mối quan hệ bất đối

xứng(l0) Trong hìnhtháiquan hệ

này, Nhà nước luôn đóng vai trò

chủ chốt, vừa là nhà quản lývừa

lànhàbảotrợ văn hóa, trong khi

đó, thị trườngvàxã hội đónggóp

vào quá trình tăng trưởng về giá

trị vật chất, huy động các nguồn

lực và khơi dậy các tiềm năng chophát triển Bản chấtcủa mối quan hệnày phản ánh xu thếlớn, bao trùm tiến trình phát triển

hiện nay của nước ta, trong đó

xây dựng Nhà nước pháp quyền

xãhội chủ nghĩacủa dân, dodân

và vì dân là mộttrong những mục

tiêu chủ chốt Trong mối quan

hệ này,vai trò chủ thể của người dân - bao gồm cả sáng tạo, tiếp

cận vàhưởng thụ vãn hóa -được khẳng định vàhiện thựchóanhờ

vào khuôn khổ và môi trường pháp lý do Nhà nước ban hành

và giám sát Thêm vào đó, với việc thừa nhận cơ chế thị trường

là cơ chếchủ đạo,bao trùmtoàn

bộ đời sống kinh tế -xã hội, quan

hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội vừa chứa đựng tính đối tác -hợp tác, vừa chứa đựng tính cạnh tranh - chế ước lẫn nhau. Chính điều này sẽ thúc đẩy mỗi bên

trong “bộ ba” này không ngừng đổi mới và cải cách nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của mình, từ đó đóng góp tích cực vào tổng thể phát triển

văn hóa đấtnước

2 Thực trạng quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý và phát triển văn hóa ở nước ta hiện nay

về cơ bản, những định hướng trên phương diệnlý luận đãtừng bước xác lập một khuôn khổ nhận thức để định hình mốiquan

hệ giữa Nhà nước- thị trường -xã hội củng như tác động của mối

quanhệ này trongviệc quản lý và

phát triển vãn hóa nước ta Việc xây dựng các định hướng lý luận

này luôn đi cùng vớiviệc tổngkết, đánh giá thực tiễn về vấn đề có

liên quan Theo đó, có thế thấy nhữngxuhướngnổibậtsau:

- về tổng thể, mối quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội dược điều chinh theo hướng giảm sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước và mở rộng sự tham gia của thị trường và

xã hội Sự kết hợp giữa quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và các giá trị xã hội được hiện thực hóa

về cơ bản.

Trước hết, sự chuyển đổi vai trò của Nhà nước từ quản lý

hành chính mệnh lệnh và bao cấp sang quản lý bằng pháp luật và bảo trợ, đi cùngvới việc xây dựng thể chế và khuôn khổ pháp lý cho sự vận hành của thị

trường và sự tham giacủa xãhội vào việc quản lý và phát triển

văn hóa là xu thế mang tính tất yếu, phù hợp với những mục tiêu phát triển của quốc gia và quy chuẩn phổ quát ở phạm vi

quốc tế Biểu hiệncủasựchuyển dịch này chính là việc Nhà nước tăng cường kiện toàn hệ thống

các công cụ quản lý hiện đại

SỐ 01-2021 I TẠP CHÍ CỘNG SẢN - CHUYÊN ĐỂ

Trang 5

MOI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC, THỊ TRƯỜNG VÀ XÀ HỘI

nhằm thaythế sựcan thiệptrực

tiếp bằng biện pháp hành chính

mệnhlệnh.Theo đó, các bộluật

nhằm điều chỉnh những quan

hệ xãhội trong từng lĩnhvực cụ

thể của ngànhvăn hóa đã được

ban hành* 11’ Thông qua công

cụ quản lý là hệ thống văn bản

pháp luật, Nhà nước xác định rõ

ràng phạm vi vàhình thức hoạt

động văn hóa, cũng như quyền

lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của

Nhà nước và các chủ thể tham

gia Bên cạnh đó, Nhà nước tác

động vào quá trình phát triển

vãn hóa thôngqua công cụ định

hướng như các quy hoạch và kế 11

(11) Hệ thống văn bản pháp luật chính trong lĩnh vực văn hóa bao gồm: Luật Di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi và bổ sung năm 2009; Luật Điện ảnh Việt Nam năm 2006, sửa đổi và bổ sung năm 2009, năm 2012; Luật Xuất bản năm 2004, sửa đổi và bổ sung năm 2008); Luật Du lịch Việt Nam (ban hành năm 2005); Luật Quàng cáo Việt Nam (ban hành năm 2012; Luật Thư viện năm

2019; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi năm 2009 và 2019; Nghị định số 32/201 2/NĐ-CP, ngày 7-11-2012 của Chính phù về

quản lý xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh; Nghị định số 113/201 3/NĐ-CP, ngày 2-10-2013 của Chính phủ về hoạt động mỹ thuật; Nghị định số 72/2016/NĐ-CP, ngày 1-7-2016 của Chính phủ về hoạt động nhiếp ảnh; Nghị định số 89/2014/NĐ-CP, ngày 29-9-2014 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu "nghệ sĩ nhân dân", "nghệ sĩ ưu

tú"; Nghị định số 21/201 5/NĐ-CP, ngày 14-2-2015 của Chính phủ, quy định về nhuận bút, thù lao đói với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác; Nghị định số 79/2012/NĐ-CP, ngày 5-10-2012 của Chính

phù, quy định vé biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi

hình ca múa nhạc, sân khấu và Nghị định số 15/2016/NĐ-CP, ngày 15-3-2016 của Chính phù vể sửa đổi, bổ sung một số điểu của

Nghị định số 79/201 2/NĐ-CP, ngày 5-10-2012 của Chính phù quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu; Nghị định số 23/2019/NĐ-CP, ngày

26-2-2019 của Chính phủ về hoạt động triển lâm

(12) Ngày 6-5-2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 581/QĐ-TTg vể việc phê duyệt Chiến lược phát triển vởn

hóa đến năm 2020 Chiến lược này là căn cứ để từng lĩnh vực và từng địa phương xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển phù hợp với đặc thù của ngành và địa phương mình Cho đến nay, một số chiến lược và quy hoạch quan trọng

đã được ban hành và triển khai, nhưChiến lược phát triền các ngành công nghiệp ván hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

(Quyết định số 1755/QĐ-TTg, ngày 8-9-2016 của Thủ tướng Chính phủ), Chiến lược phát triển điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn

đến năm 2030(Quyết định số 2156/QĐ-TTg, ngày 11-11-2013 của Thủ tướng Chính phủ), Quy hoạch tổng thề phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thề thao cơ sở giai đoạn 2013-2020, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 2164/QĐ-TTg, ngày 11-11-2013 của Thủ tướng Chính phủ), Quy hoạch phát triển xuất bán, in, phát hành xuất bản phẩm đến năm 2020, tâm nhìn đến năm 2030

(Quyết định số 115/QĐ-TTg, ngày 16-1 -2014 của Thủ tướng Chính phủ),Quy hoạch tổng thể phát triển nghệ thuật biểu diễn đến

năm 2020, định hướng đến năm 2030(Quyết định 1456/QĐ-TTg, ngày 19-8-2014 của Thủ tướng Chính phủ)

hoạchmang tính dài hạn(12’ Đặc biệt,sựchuyển đổi rõ nét nhất từ phương diện Nhà nước chính là

những đổi mới cả trong cơ chế vận hành của bộ máy quản lý nhà nước về văn hóalẫn trong cơ

chế phối hợp giữa cơquan quản

lýnhà nước vớicác cơ quan khác trong và ngoài ngành văn hóa

Theo đó, cơ quan quản lý trung ương, cụ thể là Chính phủ và Bộ

Vănhóa, Thể thao và Du lịch,chi tập trung vào các vấn đề vĩ mô,

như hoạch định chính sách, ban

hành các quyết định, kiểm travà giám sát chế tàivi phạm, còn lại

việcracác quyết địnhcụ thể liên

quan đến đời sống văn hóa tại

từng địa phương hay trong từng

lĩnh vực được giao cho các cơ

quan tại địa phương và lĩnh vực

đó chịu trách nhiệm Quá trình phân cấp, phân quyền ở Việt

Nam diễn ra tương đồng với xu

thếhiệnnay trên thế giới vàđược

thực hiện dựa trên nguyên tắc thống nhất của nền hành chính quốc gia, bảo đảm tính chất của một nhà nước đơn nhất nhưng

vẫn đề cao tính tự chủ của địa phương trên nền tảng lợi thế so sánh, năng lực cạnh tranh của cácđịa phương Việc phâncấp về

thẩmquyền đi cùng với mở rộng

SỐ 01 -2021 TẠP CHÍ CỘNG SẢN - CHUYÊN ĐẼ

Trang 6

TRONG QUẢN LÝ PIIÁT TRIEN kinh tế - XÃ IIỘI ở Nước: TA HIỆN NAY 159

quyền tự chủ vê nhân sự và ngân

sách Việcphâncấp, phânquyền

nêu trên giúp bộ máy quản lý

nhà nước hoạt động hiệu quả

hơn, các quyết định được đưa ra

sát với thực tế của địa phương,

khôngtrùng lặp và nâng caotinh

thần trách nhiệm của cơ quan có

thẩm quyền trực tiếp

Đi cùng với những cải tổ

trong bộ máy nhà nướcvà cơ chế

quản lýcủanền hành chính công

hiệnđạilàquá trình thể chếhóa

cơ chế thị trường và mở rộng

khuôn khổ cho sự tham gia của

xã hội vào việc quản lý và phát

triển văn hóa Cho đến nay, ở

nước ta, Nhà nước vẫn giữ vai

trò bảo trợ chính cho các hoạt

động văn hóa, có thẩm quyền

cao nhất trong việc huy động

và phân bổ nguồn lực tài chính

cho phát triển văn hóa Tuy

nhiên, khác với việc đầu tư dàn

trải, thiếu cân nhắcvề hiệu quả

thực tiễn như trước, Nhà nước

đã có một số điều chỉnh nhất

định trong cơ chế đầu tư công

cho mụctiêu pháttriển văn hóa

Theo đó, Nhànước xây dựngkế

hoạch cụ thểvà lựachọn đầu tư

vào các lĩnh vực, cácngànhtrọng

điểm, ưu tiên các vùng miền núi,

biên giới, hải đảo, vùng đồng bào

dân tộc thiểu số và một số loại

hình nghệ thuật truyền thống

cầnbảotồn, phát huy Mặtkhác,

Nhà nước dần xóa sựđộc quyền

trong việc kiểm soát từ nguồn

lực cho đến quá trình sản xuất

và phân phối sản phẩm, dịchvụ

văn hóa thông qua việc cơ cấu

lạicác đơn vị sựnghiệpcônglập

mà Nhà nước là chủ sở hữu Từ việcphụ thuộc toànbộvào ngân sách Nhà nước, các đơn vị sự

nghiệp công trong lĩnh vực văn

hóa chuyểnsang vận hành theo

cơ chế thị trường, tự chủ trong việc xác lập các quan hệ đối tác với các chủthểkhác trongxãhội

và huy động nguồnlực từ nhiều

phía khác nhau Thêm vào đó, với việc nhận thức rõ đời sống văn hóa đang bị chi phối mạnh

mẽcủa cơ chế thị trường, sự bảo trợ của Nhànước, bên cạnh việc phục vụ nhu cầu chính trị, đang dần được mở rộng sangviệcbảo trợ cho sự phát triển của những khuynh hướng sáng tạo, những

cá tính sáng tạo nhằm gia tăng tính thực tiễn và hiệu quả của các khoản đầu tư Bên cạnhđó,

thông qua việc xây dựng cơ chế,

chính sách ưu đãi (về thuế, phí, tín dụng, quyền sử dụng đất ), Nhà nước đẩy mạnh xã hội hóa

nhằm huy động các nguồn đầu

tư, tài trợ, hiến tặng cho phát triển vãn hóa Nhà nước cũng

khuyến khích hình thànhcácquỹ đào tạo, khuyến học, phát triển nhân tài,quảngbá văn học, nghệ thuật,phát triển điện ảnh, hỗtrợ xuấtbản

Để bảo đảm tính chất công

ích, giá trị phúc lợi xã hội của

lĩnh vực văn hóa, Nhà nước vẫn nắm giữ vaitrò cung cấp một số

loại hình sản phẩm và dịch vụ văn hóa phục vụ nhu cầu chung của cả cộng đồng nhưng không

có sẵn hoặc ít được các doanh

nghiệp cung cấp trênthị trường

vì khả năng sinh lời hạnchế hay

một số sản phẩmvàdịchvụvăn hóa không thể do tư nhân cung

ứng vì đòi hỏi những điều kiện nhất định mà chỉ có Nhà nước mới đủ tiềm lực để thực hiện

Tuy vậy, xu thế chủ đạo hiện naychính là đa dạng hóa nguồn

cung thông qua việc phát triến

thị trường các sản phẩm vàdịch

vụ văn hóa Các doanh nghiệp

hoạtđộng trong lĩnh vựcvăn hóa

với nhiều hình thức sở hữukhác nhau được khuyến khích thành

lập và trở thành những khách hàng, đối tác quan trọng của các cơ quan, doanh nghiệp Nhà

nước Xu thế đa dạng hóanguồn

cung ứngtừcác khu vực kinh tế,

thành phần xã hội cònđược mở

rộng sangmột số lĩnhvực hành

chính công, như cấp phép, đãng

kýgiấyphép

Cuối cùng, thông qua việc

thừa nhậnvà xác lập khuôn khổ pháp lý nhằm khuyến khích các

hình thức hợp tác xã hội dựa trên các nguyên tắc tựnguyện, tự quản , Nhà nước tạo dựng các kênh hiệu quả đểvận động, tuyên truyềnvàtổ chức các hoạt động

văn hóa, nghệ thuật Đồng thời, chínhcác tổ chức xãhội này đã và đang đóng vaitròlà những đối tác quan trọng của các cơ quan Nhà

nước trong việc hợp tác tư vấn, phản biện và hoàn thiện chính sách, tham gia phốihợp thực hiện

các chủ trương, chính sách của Nhà nước; tổ chức các diễn đàn

và không gian đối thoại nhằm tăng cường kết nối và thúc đẩy

trao đổi, thảo luận; huy động lực lượng chuyên giacủa các tổ chức

SỐ 01 -2021 I TẠP CHÍ CỘNG SẢN - CHUYÊN ĐỂ

Trang 7

160 MÕI Ql w HỆ GIỮA NHÀ Nước, THỊ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

xã hội trong công tác đào tạo,

nângcaonăng lực về sáng tạo và

cáckỹ năng, kiếnthức phát triển

vãn hóa, nghệ thuật

Có thể thấy, đặc điểm chung

củamối quan hệgiữa Nhà nước

-thị trường - xã hội trong lĩnh vực

văn hóa cho thấy quá trình dân

chủ hóa về văn hóa đang đượcmở

rộng ở nướcta Mục đích củaquá

trình chính này là hướng tới việc

tạocơ hội và bảo đảmcho người

dân thuộc mọithành phần xã hội

đều có thể thamgia vào quá trình

sáng tạo, phân phối, hưởng thụ

cácsảnphẩm vàdịch vụ văn hóa

Gắn bó chặt chẽ với xu hướng

dân chủ hóa văn hóa chính là

việc củng cố và đề cao ý nghĩa của

đa dạng văn hóa Theo đó, thay

vì chỉ chú trọng các hoạt động

vãn hóa và các giá trị được Nhà

nướclựa chọnnhư trước đây, cơ

chế quản lý và định hướng phát

triển văn hóatrongbối cảnh hiện

nay coi trọng sự đa dạng, cả về

hình thức, nội dungvà giá trị, là

những nhân tố cốt lõitrongviệc

định hình mối quan hệvà tương

tác giữa cácthành tố của hệ thống

văn hóa

- Trong từng lĩnh vực văn hóa

cụ thể, mối quan hệ giữa Nhà nước

- thị trường - xã hội thể hiện những

cơ cấu và tác động khác nhau.

Trong thực tiễn, vãn hóa là

một lĩnh vực rất rộng lớn và

không ngừngbiếnđổi Đặc điểm

này khiến cho việc nhận diện và

lý giải mối quan hệ Nhà nước

-thị trường - xã hội trongquản lý

và pháttriển vãn hóa trở nên hết

sức phức tạp Trong khi xu thếvà

nguyên tắc chung có thể được rút

ra như phần trên đã trình bày,

chúng ta phải thừa nhận rằng,

trong từng hợp phần cụ thể của lĩnh vực văn hóa, từng thành

tố trong “bộ ba” nhà nước - thị trường - xã hội lại nắm giữ các vị trí khác nhau, và do đó thể hiện

những cơ cấu quyền lực không

đồng nhất

Chẳng hạn,khi bàn về vai trò của thị trường, rõ ràng mức độ tác động của thành tố này đối với lĩnh vực điện ảnh không hề giống với những gì nó thê hiện ở lĩnh vực di sản văn hóa. Trong khi việc sản xuất, phânphối và tiêu dùngcác

sảnphẩmđiện ảnh có thể dễ dàng

thích ứngvới cơ chế thị trườngvà

khả năng tạora lợi nhuậntừ lĩnh vựcnàythu hút mộtnguồnđầutư

khá lớn từ xã hội, thì di sản văn hóa với những đặc trưng riêngvề giá trị và quyền sở hữu lại đòi hỏi

những cân nhắc cẩn trọng hơn

khi giao phó vào “bàn tay” của

thị trường Ngược lại, lĩnh vực di

sản văn hóa là nơi mà các thành

tố xã hội, như các cộng đồng địa

phương, giađình, nhóm xã hộivà

các tổ chức xã hội quần chúng thể hiệnvai trò chủ đạo

Ngay trong cùng mộtlĩnh vực

như nghệ thuật biểu diễn, việc

phân bổ quyền lực giữa nhà nước, thị trường, xã hội trong quản lý

và phát triển các loại hình nghệ

thuật đương đại và nghệ thuật

truyền thống không giống nhau

Trong thựctiễn, quátrìnhcơ cấu lại các đơn vị nghệ thuật biểu

diễn được chứng minh là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn

xuất phát từ những đòihỏimang

tính tất yếu Cơ chế mới, về cơ

bản, sẽ thúc đẩy các đơn vị này trờ nên năng động hơn, khuyến

khích quá trình sáng tạo nhằm

đa dạng hóa và nâng cao chất

lượng sản phẩm, dịch vụ văn hóa trong bối cảnh thị trường mang tính cạnh tranh Tuy vậy, trong

khi các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật đương đại,

như Nhà hát Giao hưởng, Nhạc,

Vũ kịchThành phố Hồ Chí Minh

và Trung tâm Tổ chức biểu diễn

và Điện ảnh Thành phố Hồ Chí

Minh nhanhchóng thíchứng với

cơ chế mới và đạt được những thành công nhất định, thì các

đoàn nghệ thuật truyền thống, như cải lương, tuồng, chèo, lại

gặp rất nhiều khó khăn khi hoạt động theo cơchế thị trường, bởilẽ sản phẩm của các loại hình nghệ thuật truyền thống vốn không

phảilà những mặt hàng cólợithế cạnh tranh cao Chính trong bối

cảnh này, việc duy trì một phần bảo trợcủa Nhà nước đối vớicác

đơn vị nghệ thuật truyền thống

thay vì phó mặc toàn bộ chocác lực lượng thị trường là việc làm

cầnthiết

Tương tự, trong các hoạt động

sángtạo,phânphối vàhưởng thụ hay trong các nhiệmvụ cụ thể của

quản lý vàpháttriển vãn hóa, như đào tạo, phát triển nguồn nhân

lực hay hợp tác quốc tế về văn

hóa , cơ cấuquyền lực giữa nhà

nước, thị trường và xã hội không

đồng nhất, cho dù vẫn tuân thủ nguyên tắc cơ bản nêu trên Chính vì vậy, việc nghiên cứu

SỐ 01 -2021 I TẠP CHÍ CỘNG SẢN - CHUYÊN ĐỂ

Trang 8

TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIEN kinhtế - XÃ HỘI ở NƯỚC TA HIỆN NAY 161

chuyên sâu về mối quan hệ Nhà

nước - thị trường - xã hội trong

từnglĩnh vực củng như vấn đề cụ

thecủa quản lý vàphát triển vãn

hóalàrất cần thiết trong bốicảnh

hiện nay Việc thực hiện nhiệm

vụ nàysẽ giúp nhận diện và lý giải

chính xáccả cơchế phổ quát lẫn

thực tiên sinh động và đa dạng

củamối quanhệ lớnnày

3 Một số vấn đe đặt và các

giải pháp nhằm bảo đảm

hài hòa mối quan hệ Nhà

nước - thị trường - xã hội

trong quản lý và phát triển

văn hóa giai đoạn hiện nay

Từ những phân tích trên đây

có thể khẳng địnhrằng, mối quan

hệ giữa Nhà nước- thị trường -xã

hội trong quản lý và phát triểnvăn

hóa đã từng bước được nhận diện

và điều chỉnh trong những thập

niên vừa qua Sự thay đổi này

cùng với những tác động tích cực

mà nó tạo ra trong lĩnh vực vãn

hóa là kết quả của nhiều thành

tố khác nhau Trước hết và quan

trọngnhất phải kể đếnsự đổi mới

về nhậnthức và tưduycủaĐảng,

Nhà nước và toàn xã hội về cơ

chế, phương thức phát triển đất

nước Từ việc tổngkết, đánh giá

lại vàthay đổi quan niệm về vai

trò và vị trí của văn hóa,về định

hướng phát triển kinh tế gắn với

phát triển con người và mô hình

Nhà nước dựa trên nguyên tắc

pháp quyền, những phương cách

hành động mớivànguồn sinhlực

mới đã được huy động và triển

khai trong thực tiễn Bên cạnh

độnglựcthúc đẩy từ cácyêu cầu

nội tại của đất nước,những nỗ lực

nhằm nhận diện, lý giải và điều

chỉnh mốiquan hệNhà nước - thị

trường - xã hội trong quản lý và pháttriển văn hóa cũng xuất phát

từ những đòi hỏi khách quancủa

quá trìnhhội nhập quốc tế Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, bảo đảm ổn định chính

trị-xã hội, luôn đi cùng với mục

tiêu tăngcường“sức mạnh mềm”

và tính cạnh tranh của hình ảnh quốc gia trên trườngquốctế.Mặt khác, chính quá trình giao lưu

vãn hóa với các nước ngày càng được mở rộng, thể hiện ởxu thế

đa phương hóa, đa dạnghóa các

mối quan hệ quốc tế của Nhà nước ta, cũng mang đến những cơ

hội tiếp thu những kinh nghiệm nước ngoài về việc xửlýmốiquan

hệgiữa Nhà nước- thị trường -xã hội trong quản lý và phát triển vănhóa

Tuy vậy, phải thừa nhận

rằng, mối quan hệ Nhà nước

-thị trường - xã hội nói chung và

sự vận hành, tác động của mối quan hệ này trong bối cảnh cụ thể của lĩnh vựcvãn hóa còn rất mớimẻ Bên cạnh những thay đoi

theo chiều hướng tích cực như

trên,việc giải quyết mối quan hệ

của “bộ ba” này ở nước ta vẫn

còn nhiều hạn chế, từ đó,gây ra

những bất cậptrong việc quản lý

và phát triển văn hóa:

3.1.Ba thànhtốnhà nước, thị

trường và xã hội vẫn hoạt động

tương đối tách biệt thay vì hình thành một phức thể vừa chứa đựng tính đối tác - hợp tác, vừa

chứa đựng tính cạnh tranh - chế

ước nhau trong quản lý và phát

triển văn hóa

3.2. Vai trò,chức năng củaba thành tố này đôi khi còn chồng chéonhau Ví dụ,Nhà nước thay

vì chi đảm nhận vai trò quản lý

nhànước vẫn tiếptụcnắm giữ vai tròquản trị và canthiệp vào quá

trình sản xuất kinhdoanhcủa các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp

cônglập

J.3 Tình trạng bất cân xứng quan hệ giữa ba thành tố vẫn

diễn ra Việc thừa nhận mối quan hệ bất cân xứng giữa nhà

nước, thị trường và xã hội là cơ

sở cho việc tìm ra giải pháp xử

lý hiệu quả.Nhànước luôn đảm

nhậnvaitrò và vịtrí chủ chốt mà

thị trường và xã hội khó có thể

đặt ngang bằng Tuy vậy, việc

kiểm soát quyền lực nhà nước

thiếu hiệu quả (trong đó có nội dung giới hạn quyền lực nhà nước) khiếncho vai tròcủa Nhà

nướcchưa được pháthuyđầy đủ,

đểthị trường và xã hội có lúc,có nơi vận động tự phát, tạo ràocản

lớn cho phát triển bền vững đất nước Trên thực tế, thay vì đảm nhận vai trò kiến tạo phát triển

và dẫn dắt thị trường, Nhànước

có trường hợpvẫn can thiệpchủ

quan mà chưa sử dụng đầy đủ cách tiếp cận phát triểndựavào thị trường Hệ thốngchính sách

và pháp luật của Nhà nước vẫn thể hiện sự thiên vị vàbất bình đẳng giữa khu vực công và khu

vực tư, thậm chí có cả biểu hiện

“nhóm lợi ích” - nguồn gốchình thành nên độc quyền ởbộ phận

này haybộ phận khác, kể cả độc

SỐ 01-2021 I TẠP CHÍ CỘNG SẢN-CHUYÊN ĐÉ

Trang 9

162 Ql \.\ HẸ (.11 \ NHÃ Nl()(TI IỊ TRI ()N( \ \ \ \ HỘI

quyền tư nhân Trong khi đó, cơ

chế cho xãhộitham gia vàoviệc

hoạch định, triển khai và đánh

giá chính sách của Nhà nước và

giám sát hoạt động của doanh

nghiệp chưa được quy định rõ

ràng

Những vấnđề đặt ra trên đây

về mối quan hệ Nhà nước - thị

trường - xã hội trong quản lý và

phát triển văn hóa chỉ được giải

quyết triệt để thông qua một hệ

thống giải pháp căn cơ, dựa trên cơ

sở khoa học xác đáng Dưới đâylà

một số giải pháp ban đầu nhằm

hướng tới mụctiêu đó:

- Nâng cao nhận thức về vai trò

của Nhà nước, thị trường và xã hội

trong phát triển văn hóa cũng như

tầm quan trọng của việc giải quyết

hài hòa mối quan hệ giữa “bộ ba ”

này:

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu

phát triển vãn hóa vì sựphát triển

bềnvữngcủa đất nước, trước hết,

cần phải loại bỏ trong tư duy và

trong hoạt động thực tiễn việc xem

trọng hay xem nhẹ, hoặc buông

lỏng, hoặc tách rời nhà nước, thị

trường và xã hội. Chỉ khi phát

huy tốt cả vai trò nhà nước, thị

trường và xã hội mới có thể tạo

cơ sở cho sựphát triển bền vững,

làm chovăn hóa thật sự trở thành

nền tảng tinh thần của xã hội, trở

thành nguồn lựcđể phát triển thị

trường các sản phẩm và dịch vụ

vãn hóa, tăng cường “sức mạnh

mềm” của đất nước trong quá

trình hộinhậpquốc tế

- Đổi mới tổ chức, cơ chế vận

hành bộ máy và năng cao năng lực

quản trị của Nhà nước:

Trong mối quan hệ giữa Nhà

nước - thị trường - xã hội theo

mô hìnhquản trị hiện đại và định hướng xây dựng Nhà nước kiến

tạo, xu hướng chung là giảm sự can thiệp trựctiếp của Nhà nước

vào thị trường và xã hội Thay

vào đó, Nhà nước chỉ can thiệp

gián tiếp thôngqua việc tạo môi

trường và điều tiết các quan hệ bằng chính sách và pháp luật.Đối

vớivăn hóa, một lĩnh vực với các

đặc trưng vừa mang tính truyền thống vừahướng tới sự sáng tạo,

đổi mới và tiên phong, năng lực kiến tạo của Nhà nướccàng đóng

vai trò quan trọng Để đảm nhận vai trò này một cách hiệu quả, Nhà nước cần:

(i) Đổi mới công táckế hoạch

và quy hoạch: chuyển từ tính

chất pháp lệnh sang tính chất

dự báo các chi tiêu phát triển;

xác định rõ định hướng chung

ở cấp quốc gia và áp dụng phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng cấp, từng địaphương; tính toán

sự cân đôi các nguôn lực, xác định các chính sách, biện pháp,

giải pháp bảo đảm cácmục tiêu

đã đề ra về các chỉ tiêu phát triển vãn hóa, cần tậptrung vào

các chỉ tiêu phát triển bền vững

(nhưcác tiêu chí về đa dạng văn hóa,bình đẳng giới, bảo vệ môi trường, hòa nhập xã hội, tự do sáng tạo ) và các vấn đề thị trường các sản phẩmvà dịch vụ vãn hóa (như kinh tế sáng tạo, kinh tế tri thức, quyền sở hữu trí tuệ,bảnquyền tác giả,chuỗi

giá trị sản phẩm và dịch vụ văn

hóa )

(ii)Nhànước cần tiếp tục kiện

toàn vàđẩymạnhđổimới tổ chức

bộ máy Nhà nước theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, năng động,

chú trọng hiệu quả vận hành,

giảm bớt cácbộ phận không cần thiết Cần tách hoạt động cung ứng dịch vụ công ra khỏi hoạt

động quản lý nhà nước, chuyển

giao cho thịtrường và chiasẻ cho

xã hội những lĩnh vực mà họ có

thể làm tốt hơn Nhà nước Những

thay đổi này cần được thực hiện cùng với việc đổi mới và hoàn

thiệnhệ thốngthông tin về chính sách, phápluật trong lĩnh vực văn hóa Nhanh chóng áp dụng các

thành tựu khoahọc và công nghệ trong tổ chức công việc của các

cơquan Nhà nước, trọng tâm là xây dựng chính quyền số, tạo điều

kiện chongười dân, doanh nghiệp nhanhchóng tiếp cậnthông tin và

dịchvụ của Nhà nướctheo hướng

côngkhai, minh bạch và nâng cao tráchnhiệm giảitrình

(iii) Nâng cao năng lực thể chếhóa củaNhà nước Theođó,

hệ thống pháp luật, các quy định

và quy chế phải được xây dựng

hướng tới mục tiêu điều tiết, tạo môitrườngthuận lợi vàhành lang

an toàn cho sựphối hợp của các

cơ quan liên ngành cùng với sự

tham gia củacấp cơsở Việcxây dựng hệ thống pháp luật, chính sách phải bảo đảm tính thống

nhất và đồng bộ,loại bỏsự chồng

chéo, tránh tình trạng văn bản

quy phạm pháp luật có hiệu lực

pháp lý thấp hơn lại trái với văn bảncóhiệu lực pháplýcaohơn

Đặc biệt, đối vớiđội ngũ sáng

SỐ 01-2021 TẠP CHÍ CỘNG SẢN - CHUYÊN ĐÉ

Trang 10

TRONG QUẢN ĩýPIIÁTTRlỂN kinh tẾ - KỸ IIỘI ở NƯỚC TA IIIỆN NAY 163

tạo văn hóa - nghệ thuật, thể

chế Nhà nước cần tập trung vào

việc phát huy năng lực sáng tạo

và tiềm năng trí tuệ của họ Cơ

chế kiểm duyệt văn hóa cần được

xây dựng theo chiều hướng cởi

mởhơn nhằmtạo điều kiệncho

tự do sáng tạo, xác lập nền tảng

pháplý cho sựphát triểnđa dạng

của các sản phẩm văn hóa cần

thayviệc kiểm duyệtchung chung

bằng các tiêu chí kiểm duyệt cụ

thể, phânloại các sản phẩm văn

hóa theo nhu cầu của các đối

tượng công chúng khác nhau (ví

dụ như phân loại phim dành cho

trẻ em và người lớn ) Đi cùng

với khuôn khổ pháp luật nhằm

khuyến khích sáng tạo, việc bảo

đảm quyền lợi vật chấtcủanhững

người sáng tạo và kinh doanh các

sản phẩm, dịch vụ văn hóa cũng

cần được chú trọng Việc ban

hành đầy đủ và thực thi nghiêm

hệ thống văn bản pháp luậtvề sở

hữu trí tuệđóng vaitrò then chốt

trong việc giải phóng năng lực

sáng tạo, bảo đảm sự phát triển

lànhmạnhcủa thịtrường cácsản

phẩm vàdịch vụ văn hóa

(iv) Đi cùng với việc cải tố

bộ máy và năng cao năng lực

thể chế hóa, Nhà nước cần xây

dựng các cơ chế cụ thể trong

việc phân bổ nguồn lực quốcgia

cho phát triển văn hóa: ngoài

một số khu vực ưu tiên, như

vùng miền núi, vùng sâu, vùng

xa, vùng đồng bào các dân tộc

thiểu số có nhiều khó khăn hay

các lĩnh vực quan trọngcầnbảo

tồn cấp bách như nghệ thuật

truyền thống, việc đầu tư của

Nhà nước cho các hoạt động vãn hóa nên chuyển sang phân

bổ theo cơ chế thị trường Nhà

nướctrở thành khách hàng trên thị trường cácsản phẩm và dịch

vụ vănhóa, hỗtrợcác tổ chức và

nghệ sĩ thông quaviệc mua các

sản phẩm, dịch vụ Nguyên tắc

căn bản trong phân bổ nguồn lực quốc gia chính là “đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, tức là,

đầu tư từ ngân sách Nhà nước

chỉ đóng vai trò “làm mồi” (ở

các hạng mục như kết cấu hạ

tầng, quảng bá thương hiệu, đào tạo nhân lực ) để thu hút

nguồn đầu tư từ doanh nghiệp

và xã hội vàocáclĩnhvực có giá trị gia tăng cao

Nhànướccầnđầutư tài chính

gián tiếp để hỗ trợ cho các hoạt

động văn hóa thông qua chính sách ưu đãi về thuế (khấu trừ

thuế, miễn thuế) nhằm thúc

đẩy những tổ chức xã hội, nghề nghiệp, doanh nghiệp, cá nhân đóng góp tài chính, nhân lực, vật

lực cho các hoạt độngvăn hóa

Nhà nước cần bảo đảm sự công bằng trongphân phốinguồn

lực; xây dựng tiêu chí cụ thế và hướng dẫn đầy đủ, rõ ràng vềthủ tục xin tài trợ; bảo đảm quyền

bình đẳng trong tiếp cận nguồn tài trợcông giữa các đơn vịcông lập và tư nhân, giữa các nghệ sĩ làm việc cho các tổ chức và các nghệ sĩ tự do Tăng cường các

biện pháp quảnlý đúng thuế thu nhập cá nhân nhằm tránh thất

thoátnguồn tài chính và bảo đảm phân phối nguồn lực phùhợp với đóng góp

(v) Cuốicùng, để thực sựđổi

mới và nâng cao năng lực quản trị của Nhà nước,yến tố con người cần được đặt ở vị trí trung tâm.

Với thực tiễn rộng và phức tạp của lĩnh vực văn hóa, cùng với những đòihỏimớicủa xu thế phổ

biến, nhưphát triển công nghiệp

văn hóa, kinh tế sáng tạogắnvới

hội nhập quốc tế , đội ngũ cán

bộ quản lý văn hóa cần được

trang bị cả kiến thức về nghiệp

vụ quản lý hành chính nhà nước lẫn các kỹ năng chuyên biệtvề thị trường, gâyquỹ văn hóa,quanhệ

công chúng, quản lý dự án Để

bảo đảm chất lượngđội ngũ cán

bộ quản lý nhà nước, thời gian tới cần có sự thay đổi căn bản

trongcông tác đào tạo, từ đổimới khung chương trình giáo trình,

nângcaonăng lực giảng viêncho tới thay đổiphươngthức học tập

và đánh giáchấtlượng

- Phát huy vai trò chủ yếu của thị trường trong huy động, phân bổ nguồn lực đê phát triển thị trường các sản phẩm và dịch vụ văn hóa được tiến hành đồng bộ với các thị trường khác và phát triển công nghiệp văn hóa:

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thịtrườngđịnhhướng xã hội chủ nghĩa được khẳng định

là mô hình kinh tế tổng quát, cơ

chế thị trường sẽđóngvaitròchủ

yếu trong việc phân bổ nguồn lực,

điềuchỉnhmối quanhệ giữa các chủ thể trênthị trường Việcxây dựng và phát triểnthị trườngcác

sản phẩm vàdịchvụvăn hóa đồng

bộ với các thị trường khác, cũng

như phát triển tổng thểcácthành

SỐ 01 2021 I TẠP CHÍ CỘNG SẢN - CHUYÊN ĐỄ

Ngày đăng: 02/11/2022, 10:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w