1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) một số giải pháp nâng cao năng lực, phẩm chất người học qua giờ đọc hiểu văn bản văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của nguyễn đình chiểu (chương trình ngữ văn 11)

52 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao năng lực, phẩm chất người học qua giờ đọc hiểu văn bản văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hanoi
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Nghiên cứu khoa học ứng dụng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Lí do chọn đề tài (4)
  • II. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu (5)
  • III. Cấu trúc của đề tài (5)
  • IV. Thời gian thực hiện đề tài (6)
  • B. NỘI DUNG (6)
    • I. CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀ (6)
      • 1. Cơ sở lí luận (6)
        • 1.1. Một số khái niệm liên quan (6)
        • 1.2. Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trong đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn ở trường phổ thông (7)
      • 2. Thực trạng (8)
    • II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT NGƯỜI HỌC QUA GIỜ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (9)
      • 1. Giải pháp 1: Xác định rõ những phẩm chất, năng lực cần hình thành cho HS (9)
      • 2. Giải pháp 2: Xác định rõ các biện pháp về hình thức tổ chức, kĩ thuật dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất học sinh (11)
        • 2.1. Một số biện pháp về hình thức tổ chức dạy học (11)
        • 2.2. Một số biện pháp về kĩ thuật dạy học (15)
      • 3. Giải pháp 3: Xây dựng cách thức tổ chức và thiết kế giờ dạy đọc hiểu hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất học sinh (16)
  • CHƯƠNG III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM (22)
    • 1. Phạm vi, đối tượng áp dụng (5)
    • 2. Thời gian thực nghiệm (22)
    • 3. Giáo án thực nghiệm (23)
    • 5. Hiệu quả của đề tài (39)
      • 5.1. Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm (39)
      • 5.2. Kết quả về mức độ hứng thú của HS sau khi thực nghiệm (40)
    • C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (40)
      • I. Đóng góp của đề tài (41)
      • II. Khả năng mở rộng và phát triển của đề tài (41)
      • III. Một số đề xuất, kiến nghị (42)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (43)
  • PHỤ LỤC (44)

Nội dung

Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã trình bày đề tài: Một số giải pháp nâng cao năng lực, phẩm chất người học qua giờ đọc hiểu văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu C

Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Về lý luận, tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến năng lực và phẩm chất, đồng thời xem xét quá trình nâng cao năng lực phẩm chất trong môn Ngữ văn tại trường THPT Nguyễn Đức Mậu Bài viết phân tích mối quan hệ giữa năng lực ngữ văn và phẩm chất cá nhân, đồng thời đề xuất các khung lý thuyết và tiêu chí đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học môn Ngữ văn ở trường Nguyễn Đức Mậu Mục tiêu là làm rõ cơ sở lý thuyết của việc phát triển năng lực và phẩm chất, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực và phẩm chất cho học sinh và giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Ngữ văn tại trường THPT Nguyễn Đức Mậu.

- Về khảo sát thực tế và thực nghiệm, chúng tôi mới chỉ tiến hành ở trường THPT Nguyễn Đức Mậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Học sinh lớp 11 trường THPT Nguyễn Đức Mậu.

- Tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu chương trình Ngữ văn 11 - THPT.

2 Phương pháp nghiên cứu Để đạt tới mục đích nghiên cứu, trong quá trình thực hiện chúng tôi sử dụng các nhóm phương pháp sau:

Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp, so sánh - đối chiếu, suy luận

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp thống kê.

Dựa trên số liệu dự giờ các tiết đọc hiểu văn bản trên lớp, chúng tôi phân tích sâu để làm cơ sở nghiên cứu và tổ chức dạy đọc - hiểu văn bản nhằm bồi dưỡng đạo đức, phẩm chất và hoàn thiện nhân cách cho học sinh Đồng thời, chúng tôi so sánh các tài liệu và kết quả nghiên cứu để đánh giá độ tin cậy và sự biến đổi của hiện tượng giáo dục, từ đó áp dụng phương pháp tổng hợp để rút ra những nhận định, đánh giá và luận điểm phù hợp với kết quả đạt được và với thực tiễn dạy học.

Cấu trúc của đề tài

B Phần II Nội dung đề tài

Thời gian thực hiện đề tài

NỘI DUNG

CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀ

1.1 Một số khái niệm liên quan a) Năng lực

Năng lực (competency, có nguồn gốc tiếng Latinh là "competentia") được hiểu là sự thành thạo và khả năng thực hiện của một cá nhân đối với một công việc Nội hàm của khái niệm năng lực gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người ấy có thể vận dụng để hành động thành công và giải quyết thấu đáo một nhiệm vụ trong các tình huống mới.

Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê biên soạn, năng lực là khả năng và điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực còn được hiểu là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động với chất lượng cao.

Trong Chương trình giáo dục phổ thông, năng lực được xem là thuộc tính cá nhân hình thành và phát triển nhờ tố chất vốn có và quá trình học tập, rèn luyện; nó cho phép con người huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các yếu tố cá nhân như hứng thú, niềm tin, ý chí để thực hiện thành công một hoạt động nhất định và đạt được kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể Song song đó, phẩm chất là những tính tốt biểu hiện ở thái độ và hành vi ứng xử, và khi được kết hợp với năng lực thì tạo nên nhân cách của con người.

Trong tài liệu tập huấn về dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành, nội dung tập trung vào thống nhất phương pháp dạy học, thiết kế hoạt động và tiêu chí đánh giá phù hợp với năng lực người học Tài liệu nhấn mạnh việc tích hợp đánh giá quá trình và đánh giá kết quả, xây dựng môi trường lớp học khuyến khích tư duy sáng tạo và phẩm chất cá nhân Đồng thời, nó hướng dẫn sử dụng công cụ đánh giá linh hoạt, phù hợp với từng môn học và cấp độ nhằm đảm bảo mục tiêu giáo dục hiện đại là phát triển năng lực và chuẩn hóa chất lượng dạy và học Đây là nguồn tham khảo quan trọng cho giáo viên và nhà quản lý giáo dục trong triển khai chương trình giáo dục mới và nâng cao hiệu quả giáo dục theo năng lực.

Năm 2014, năng lực được coi là sự kết hợp linh hoạt và có tổ chức giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ với giá trị và động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả các yêu cầu phức tạp của hoạt động trong một bối cảnh nhất định.

Như vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất cả các yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống Phẩm chất đóng vai trò là yếu tố liên quan, thể hiện qua thái độ, trách nhiệm và cách xử lý tình huống, từ đó nâng cao hiệu quả của năng lực trong thực tế.

Để nâng cao chất lượng giáo dục, không chỉ chú trọng khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào hoạt động trí tuệ mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, gắn với các tình huống thực tế của cuộc sống và nghề nghiệp Việc kết nối hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành và thực tiễn giúp học sinh áp dụng kiến thức vào đời sống hàng ngày, phát huy tư duy phản biện, sáng tạo và tính chủ động trong học tập Nhờ đó, mục tiêu giáo dục không chỉ phát triển khả năng nhận thức mà còn chuẩn bị các em sẵn sàng đối mặt với thách thức nghề nghiệp trong tương lai.

Việc tăng cường học tập nhóm và đổi mới quan hệ GV–HS theo hướng cộng tác mang ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội của học sinh Bên cạnh việc học tập các tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn, cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển phẩm chất và tư duy toàn diện cho HS.

Theo từ điển Tiếng Việt, phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật; đây còn được hiểu là tập hợp các yếu tố đạo đức và hành vi ứng xử, cùng với niềm tin, tình cảm và các giá trị của cuộc sống, đồng thời nó hình thành ý thức pháp luật của con người thông qua quá trình giáo dục Do đó, phẩm chất vừa phản ánh sự cao quý của một cá nhân vừa là cơ sở để đánh giá, lựa chọn và hành động trong xã hội.

Trong Chương trình giáo dục phổ thông, phẩm chất được xem là những tính tốt thể hiện ở thái độ và hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực, chúng tạo nên nhân cách con người Phẩm chất không chỉ là đức tính cá nhân mà còn là nền tảng cho sự phát triển toàn diện của học sinh Khi phẩm chất và năng lực được kết hợp một cách hài hòa, chúng hình thành nên nhân cách và giúp người học ứng xử có ý thức, có trách nhiệm trong xã hội.

1.2 Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trong đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn ở trường phổ thông Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.

Phát triển phẩm chất và năng lực người học được xem như một nội dung và một phương pháp giáo dục quan trọng, gắn với các phương pháp dạy học như nêu vấn đề và dạy học phát huy tính tích cực của học sinh Điểm khác biệt căn bản giữa các phương pháp là dạy học phát triển phẩm chất và năng lực đặt ra yêu cầu cao hơn về trình độ và mức độ khó, đồng thời đòi hỏi người dạy có phẩm chất và năng lực giảng dạy ở mức cao hơn trước đây Điều quan trọng nhất là so với các quan điểm dạy học truyền thống, dạy học phát triển phẩm chất và năng lực sẽ giúp quá trình dạy và học tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người.

Các nhà lý luận và phương pháp học cho rằng dạy học phát triển phẩm chất và năng lực là một phương pháp giáo dục cốt lõi, nhằm tích lũy dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực ở người học Quá trình tích lũy này giúp chuyển hóa những yếu tố đó thành hành vi, kỹ năng và thái độ phù hợp với thực tiễn, từ đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người Nhờ đó, giáo dục không chỉ truyền kiến thức mà còn nuôi dưỡng phẩm chất và năng lực để học sinh, sinh viên có thể thích ứng và tỏa sáng trong đời sống và công việc.

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ tập trung vào việc kích thích học sinh phát triển trí tuệ mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với các tình huống thực tế của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời kết nối chặt chẽ giữa hoạt động tư duy và thực hành, thực tiễn Việc tăng cường học tập nhóm và đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực xã hội và kỹ năng làm việc nhóm Bên cạnh việc nắm vững tri thức và kỹ năng riêng của từng môn chuyên môn, cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm hình thành và nâng cao năng lực giải quyết các vấn đề phức tạp.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc không chỉ khắc họa một nghĩa quân và một anh hùng, mà còn tôn vinh một tượng đài lịch sử về những người nghĩa sĩ nông dân anh hùng Họ hợp sức thành một tập thể chiến đấu, mang sức mạnh và ý chí của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến Đây là một tác phẩm mang đậm chất Nam Bộ, khi tác giả sử dụng nhiều từ cổ và các yếu tố văn hóa Nam Bộ để tạo nên bối cảnh đặc trưng Vì vậy, khi tiếp cận tác phẩm này, giáo viên và học sinh có thể cảm thấy lúng túng và gặp khó khăn trong việc tiếp nhận.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT NGƯỜI HỌC QUA GIỜ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

1 Giải pháp 1: Xác định rõ những phẩm chất, năng lực cần hình thành cho HS. a) Các năng lực cần hình thành cho HS

Chương trình CT GDPT mới hướng tới hình thành và phát triển cho học sinh các năng lực chuyên môn, được xây dựng chủ yếu thông qua một số môn học và các hoạt động giáo dục nhất định Đó là những năng lực thiết yếu mà chương trình nhấn mạnh và phát triển thông qua quá trình học tập, thực hành và trải nghiệm trong trường học.

- Năng lực ngôn ngữ: Sử dụng Tiếng Việt; Sử dụng ngoại ngữ

Năng lực tính toán là sự hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản và khả năng vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán và ước lượng; biết sử dụng công cụ tính toán và dụng cụ đo để giải quyết các bài toán Đồng thời, năng lực này đòi hỏi đọc hiểu, diễn giải, phân tích và đánh giá các tình huống có ý nghĩa toán học, nhằm đưa ra nhận định đúng đắn và có cơ sở.

Năng lực tìm hiểu tự nhiên là khả năng hiểu biết kiến thức khoa học, tích cực tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên, từ đó vận dụng kiến thức vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong đời sống Người có năng lực này biết phân tích hiện tượng tự nhiên, đặt câu hỏi và tìm đáp án dựa trên bằng chứng khoa học, đồng thời hành động đúng đắn nhằm bảo vệ môi trường Việc ứng xử với tự nhiên theo hướng phát triển bền vững và bảo vệ môi trường không chỉ đáp ứng yêu cầu hiện tại mà còn đảm bảo tài nguyên và hệ sinh thái cho các thế hệ tương lai.

Năng lực tìm hiểu xã hội là khả năng nắm bắt những tri thức cơ bản về đối tượng của khoa học xã hội, hiểu và vận dụng các cách tiếp cận cùng phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội, đồng thời nắm được những kiến thức nền tảng về xã hội loài người và vận dụng hiệu quả các hiểu biết về xã hội và văn hóa vào đời sống hàng ngày.

- Năng lực Công nghệ: Thiết kế; Sử dụng; Giao tiếp; Đánh giá

- Năng lực Tin học: Sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ, các hệ thống tự động hóa của công nghệ thông tin và truyền thông; Hiểu biết và ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức.

Nhận biết và giải quyết vấn đề trong môi trường xã hội và nền kinh tế tri thức; Học tập, tự học với sự hỗ trợ của các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.

Giao tiếp, hòa nhập, hợp tác phù hợp với thời đại xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức

Năng lực thẩm mỹ là khả năng nhận biết và phân tích các yếu tố thẩm mỹ, gồm cái đẹp, cái bi, cái hài, cái chân, cái thiện và cái cao cả; từ đó có thể đánh giá tác động của từng yếu tố, tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ này vào thực tiễn thiết kế, nghệ thuật và đời sống.

Năng lực thể chất là khả năng sống thích ứng và hài hòa với môi trường, nhận biết và có các kỹ năng vận động cơ bản trong cuộc sống, nhận biết và hình thành các tố chất thể lực cơ bản trong cuộc sống, nhận biết và tham gia hoạt động thể dục thể thao, và đánh giá hoạt động vận động nhằm nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống.

Chương trình giáo dục phổ thông không chỉ hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi ở học sinh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và bồi dưỡng các năng lực đặc biệt (năng khiếu) Việc nhận diện năng khiếu giúp học sinh được định hướng giáo dục phù hợp, liên tục phát triển tiềm năng và nâng cao chất lượng học tập Qua đó, giáo dục phổ thông góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện của từng em và những thành công tương lai.

- Các năng lực mà môn Ngữ văn hướng đến:

+ Năng lực giải quyết vấn đề + Năng lực sáng tạo.

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, các năng lực cốt lõi được nhấn mạnh gồm Năng lực hợp tác, Năng lực tự quản bản thân, Năng lực giao tiếp Tiếng Việt và Năng lực thưởng thức văn học / cảm thụ thẩm mỹ, nhằm hình thành học sinh có thể làm việc nhóm, tự giác và phát huy sáng tạo Năng lực hợp tác giúp HS biết làm việc nhóm, tôn trọng ý kiến người khác và đóng góp tích cực vào mục tiêu chung Năng lực tự quản bản thân đòi hỏi HS có khả năng lên kế hoạch, quản lý thời gian, tự đánh giá kết quả và điều chỉnh hành vi cho phù hợp Năng lực giao tiếp Tiếng Việt giúp trình bày ý kiến rõ ràng, lắng nghe tích cực và phản hồi xây dựng, đồng thời truyền đạt thông tin một cách thuyết phục Năng lực thưởng thức văn học / cảm thụ thẩm mỹ nuôi dưỡng khả năng nhận diện giá trị văn chương, phân tích tác phẩm và diễn đạt cảm xúc Các phẩm chất cần hình thành cho HS là tinh thần học tập tích cực, ý thức trách nhiệm, trung thực và sự tôn trọng ngôn ngữ và văn hóa, được phát triển đồng thời với các năng lực trên.

Theo đó, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là:

- Nhân ái: Yêu quý mọi người; Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người

- Chăm chỉ: Ham học; Chăm làm

- Trách nhiệm: Có trách nhiệm với bản thân; Có trách nhiệm với gia đình;

Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội; Có trách nhiệm với môi trường sống.

2 Giải pháp 2: Xác định rõ các biện pháp về hình thức tổ chức, kĩ thuật dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.

2.1 Một số biện pháp về hình thức tổ chức dạy học Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là chuyển những kết quả về đổi mới phương pháp dạy học của chương trình Ngữ văn hiện hành từ “mặt bên ngoài” vào

Mặt bên trong của quá trình đổi mới phương pháp dạy học là yếu tố then chốt để phát huy hiệu quả và đáp ứng mục tiêu hình thành, phát triển năng lực của học sinh Để nâng cao phẩm chất và năng lực cho học sinh, giáo dục nên tập trung vào giờ đọc hiểu tác phẩm như một công cụ chiến lược, giúp các em rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ, phân tích và tư duy Nhờ đó, học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển năng lực tự học, tự đánh giá và ý thức học tập có trách nhiệm.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là bài học quan trọng trong chương trình Ngữ văn 11, và bài viết này đề xuất các phương pháp, hình thức tổ chức và kĩ thuật dạy học nhằm giúp học sinh tiếp cận tác phẩm một cách sâu sắc Trong đó, Đọc diễn cảm được nhấn mạnh là hoạt động đầu tiên và then chốt trong quá trình phân tích và khám phá tác phẩm văn chương, nhờ đó học sinh vượt qua lớp ngôn ngữ ban đầu để đi sâu vào những thông điệp thẩm mỹ mà tác giả gửi gắm vào nội dung và nghệ thuật của văn bản Việc vận dụng các hình thức tổ chức bài học và kỹ thuật dạy học phù hợp sẽ nâng cao khả năng phân tích, cảm thụ và diễn đạt giá trị lịch sử - tinh thần của văn tế, từ đó phát huy vốn hiểu biết và cảm nhận của học sinh về tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu. -**Sponsor**Bạn là một người sáng tạo nội dung đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình theo chuẩn SEO? Hãy thử [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/YKIZh0uz?user_id=229098989), công cụ AI quảng cáo Facebook/Meta tự động hoàn toàn đầu tiên trên thế giới Soku AI giúp bạn phân tích nội dung, tìm ra những câu quan trọng nhất thể hiện ý nghĩa của một đoạn văn mạch lạc, và hỗ trợ viết lại bài viết theo các quy tắc SEO, giúp bài viết của bạn đạt thứ hạng cao hơn trên công cụ tìm kiếm và thu hút nhiều độc giả hơn Với Soku AI, bạn không cần phải lo lắng về việc thuê người viết lại nội dung, mà vẫn có được bài viết chất lượng cao, tối ưu hóa cho SEO.

Trong quá trình đọc, cần chú ý hai cấp độ: đọc đúng và đọc diễn cảm Đọc đúng yêu cầu người đọc trung thành với tác phẩm, không sai ngữ âm, ngữ pháp, chính tả, và đọc rõ ràng, trôi chảy từng câu, từng đoạn và cả tác phẩm Đọc diễn cảm là mức độ cao hơn, đòi hỏi giọng đọc thật truyền cảm để câu chữ được hiện lên sống động, thể hiện được ý đồ nghệ thuật của tác giả qua từng chữ Để đọc diễn cảm, người đọc phải am hiểu sâu sắc tác phẩm, có cảm xúc và nhập tâm vào từng nhân vật, từ đó làm cho lời văn mềm mại, lên xuống đúng theo giọng điệu mà tác giả muốn truyền tải và tạo được sự rung động cho người nghe Để đạt được đọc diễn cảm, giáo viên có thể đọc mẫu, sau đó hướng dẫn và yêu cầu học sinh đọc lại nhằm thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả qua các nhân vật và sự kiện, mà điều kiện then chốt là học sinh phải thấu hiểu nội dung tác phẩm.

Với Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm để gợi hứng thú nhập cuộc; đoạn Lung khởi nên được đọc với giọng trang trọng để mở đầu cảm xúc, đoạn Thích thực từ sự trầm lắng khi hồi tưởng quá khứ chuyển sang hào hứng sảng khoái khi kể lại chiến công, đoạn Ai vãn mang giọng trầm buồn, sâu lắng, xót xa và đau đớn, và đoạn kết cần đọc với giọng thành kính trang nghiêm để khép lại tác phẩm.

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Phạm vi, đối tượng áp dụng

Về lý luận, nghiên cứu của tôi tập trung vào các vấn đề năng lực và phẩm chất, đồng thời đề xuất các biện pháp nâng cao năng lực phẩm chất trong môn Ngữ văn tại trường THPT Nguyễn Đức Mậu Tôi phân tích khái niệm, mối quan hệ giữa năng lực và phẩm chất và cách đánh giá để từ đó đề xuất các phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng năng lực của học sinh Việc nâng cao năng lực phẩm chất không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức Ngữ văn mà còn hình thành các giá trị đạo đức, thói quen học tập tích cực và ý thức công dân, phù hợp với mục tiêu giáo dục của trường Nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận, các yếu tố cấu thành năng lực và phẩm chất, và đưa ra khung giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Ngữ văn ở trường THPT Nguyễn Đức Mậu.

- Về khảo sát thực tế và thực nghiệm, chúng tôi mới chỉ tiến hành ở trường THPT Nguyễn Đức Mậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Học sinh lớp 11 trường THPT Nguyễn Đức Mậu.

- Tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu chương trình Ngữ văn 11 - THPT.

2 Phương pháp nghiên cứu Để đạt tới mục đích nghiên cứu, trong quá trình thực hiện chúng tôi sử dụng các nhóm phương pháp sau:

Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp, so sánh - đối chiếu, suy luận

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp thống kê.

Trên cơ sở tập hợp dữ liệu từ dự giờ các tiết đọc hiểu văn bản trên lớp, chúng tôi phân tích sâu để làm cơ sở nghiên cứu và tổ chức dạy đọc hiểu nhằm bồi dưỡng đạo đức, phẩm chất và hoàn thiện nhân cách cho học sinh; đồng thời so sánh các tài liệu và kết quả nghiên cứu để đánh giá độ tin cậy và sự biến đổi của các yếu tố liên quan; tiếp đó vận dụng phương pháp tổng hợp nhằm rút ra những nhận định, đánh giá và luận điểm có cơ sở, phù hợp với các kết quả nghiên cứu đã đạt được, từ đó đề xuất các nguyên tắc ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy.

III Cấu trúc của đề tài

B Phần II Nội dung đề tài

IV Thời gian thực hiện đề tài:

I CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Một số khái niệm liên quan a) Năng lực

Năng lực (competency, có nguồn gốc từ tiếng Latinh 'competentia') được hiểu theo nhiều nghĩa, nhưng nghĩa phổ biến nhất là sự thành thạo và khả năng thực hiện công việc của một cá nhân Nội hàm của khái niệm này gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ mà một người có thể vận dụng để hành động thành công và giải quyết thấu đáo một nhiệm vụ trong các tình huống mới Chính sự hội tụ của kiến thức, kỹ năng và thái độ giúp cá nhân ứng dụng phù hợp và tối ưu trong công việc, đáp ứng đòi hỏi của môi trường làm việc hiện đại.

Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, năng lực là khả năng và các điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó, đồng thời là phẩm chất tâm lý và sinh lý giúp con người có thể hoàn thành một loại hoạt động với chất lượng cao.

Trong Chương trình giáo dục phổ thông, năng lực được nhìn nhận như một thuộc tính cá nhân hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép người học huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin và ý chí để thực hiện thành công một hoạt động và đạt kết quả mong muốn trong các điều kiện cụ thể Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ và hành vi ứng xử, và cùng với năng lực tạo thành nhân cách của con người.

Đây là tài liệu tập huấn về dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đánh giá năng lực người học Tài liệu nhấn mạnh sự kết nối giữa thiết kế bài giảng, hoạt động học tập và hệ thống đánh giá để học sinh phát huy tối đa năng lực, thay vì chỉ tập trung vào ghi nhớ kiến thức Nó trình bày các nguyên tắc, tiêu chí đánh giá năng lực và các phương pháp đánh giá quá trình, sản phẩm, cũng như cách cung cấp phản hồi nhằm giúp học sinh tự nhận thức và cải thiện năng lực Mục tiêu của tài liệu là tăng tính công bằng, khách quan và phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục, hỗ trợ giáo viên triển khai dạy học và kiểm tra một cách hiệu quả theo định hướng năng lực.

Vào năm 2014, năng lực được định nghĩa là sự kết hợp linh hoạt và có tổ chức giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, giá trị, động lực cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả các yêu cầu phức tạp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.

Như vậy, năng lực có thể hiểu ngắn gọn là khả năng vận dụng tất cả các yếu tố chủ quan có sẵn hoặc được hình thành qua học tập để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống Năng lực không chỉ là kiến thức hay kỹ năng riêng lẻ mà còn là sự kết hợp của các phẩm chất cá nhân, thái độ và cách thức vận dụng nhằm thích nghi, sáng tạo và vượt qua thách thức ở nhiều bối cảnh.

Không chỉ chú trọng kích thích hoạt động trí tuệ của học sinh mà còn tích cực rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống thực tế của cuộc sống và nghề nghiệp Đồng thời, cần liên kết chặt chẽ giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, thực tiễn để học sinh vận dụng kiến thức vào thực tế, phát triển tư duy sáng tạo và chuẩn bị cho tương lai nghề nghiệp.

Việc tăng cường học tập nhóm và đổi mới quan hệ thầy trò theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng trong phát triển năng lực xã hội của học sinh Bên cạnh việc học tập các tri thức và kỹ năng riêng lẻ của môn học, cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển phẩm chất và năng lực tư duy của học sinh Mô hình học tập nhóm và quan hệ thầy trò hợp tác giúp tăng cường giao tiếp, tôn trọng lẫn nhau và khả năng làm việc nhóm, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục Thiết kế các chủ đề liên môn và hoạt động học tập tích hợp sẽ giúp học sinh liên hệ giữa các môn, rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề và sáng tạo Đổi mới giáo dục với mục tiêu cộng tác sẽ tạo môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tự chủ, chủ động tham gia và phát triển năng lực xã hội một cách toàn diện.

Phẩm chất là yếu tố quyết định giá trị của người hay vật, được xem như tổng hợp các giá trị đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin và tình cảm cũng như những giá trị của cuộc sống Đồng thời, ý thức pháp luật của con người được hình thành sau quá trình giáo dục và rèn luyện phẩm chất trong xã hội Vì vậy, phẩm chất không chỉ phản ánh mức độ đúng sai mà còn định hình cách chúng ta đối xử với người khác, cách tham gia vào cộng đồng và đóng góp cho sự phát triển bền vững của xã hội.

Trong chương trình giáo dục phổ thông, phẩm chất được xem là những tính tốt thể hiện qua thái độ và hành vi ứng xử của con người, là nền tảng để hình thành nhân cách Song song với phẩm chất, năng lực đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng một nhân cách toàn diện và khả năng thích nghi với cuộc sống Do đó, mục tiêu của giáo dục phổ thông là phát triển đồng thời phẩm chất tích cực và năng lực cá nhân để học sinh trở thành những công dân có trách nhiệm, ứng xử phù hợp và đóng góp tích cực cho xã hội.

1.2 Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trong đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn ở trường phổ thông Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.

Dạy học phát triển phẩm chất và năng lực người học được xem như một nội dung và phương pháp giáo dục cốt lõi, kết hợp các phương pháp như dạy học nêu vấn đề và dạy học phát huy tính tích cực của học sinh để tăng cường sự chủ động và tham gia của người học Điểm khác biệt cơ bản giữa các phương pháp là dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học đặt ra yêu cầu cao hơn về mức độ khó và đòi hỏi phẩm chất, năng lực giảng dạy của người thầy cao hơn trước đây Quan trọng nhất, so với các quan niệm dạy học trước đây, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực giúp quá trình dạy và học tiếp cận gần hơn và sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người.

Các nhà lý luận và phương pháp học cho rằng dạy học phát triển phẩm chất và năng lực là một phương pháp tích lũy dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học, nhằm chuyển hóa bản thân và góp phần hình thành, phát triển nhân cách con người.

Thời gian thực nghiệm

Tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc(Nguyễn Đình Chiểu) chương trình Ngữ văn 11(tập 1) theo giáo án đã thiết kế.

Trong năm học 2020–2021, tôi tiến hành thực nghiệm tiết học đúng với thời lượng dạy học được phân bổ cho môn Ngữ văn theo phân phối chương trình Việc thực nghiệm này vừa đảm bảo tiến trình dạy và học diễn ra bình thường, không bị xáo trộn, vừa duy trì tính khách quan của giờ dạy học thực nghiệm.

Giáo án thực nghiệm

Giáo án thiết kế theo Phân phối CT môn học, gồm có 03 tiết.

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

- Nắm được những kiến thức cơ bản về thân thế, sự nghiệp và giá trị nội dung, nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

- Cảm nhận được vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người nông dân – nghĩa sĩ hy sinh vì nghĩa lớn, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

- Cảm nhận được tiếng khóc bi tráng của Nguyễn Đình Chiểu.

- Nhận thức được những đặc sắc về nghệ thuật của bài văn tế.

- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến tác giả, tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu.

- Năng lực đọc – hiểu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về tác giả, tác phẩm.

- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành công, hạn chế, những đóng góp nổi bật của nhà văn.

- Năng lực phân tích, so sánh các đề tài trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu.

- Năng lực tạo lập văn bản nghị luận.

- Năng lực giao tiếp, hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

- Nhân ái: Yêu quý mọi người; Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người

- Chăm chỉ: Ham học; Chăm làm

- Trách nhiệm: Có trách nhiệm với bản thân; Có trách nhiệm với gia đình;

Có trách nhiệm với môi trường sống.

B Chuẩn bị của Giáo viên và Học sinh

1 Phần chuẩn bị của Giáo viên:

- Giáo án, SGK, SGV, Tài liệu tham khảo liên quan đến lịch sử, văn hóa Nam Bộ.

- Tư liệu về Nguyễn Đình Chiểu, các đoạn vi deo về trận công đồn của nghĩa sĩ Nam Bộ.

- Máy tính, máy chiếu (projector), các trang giáo án điện tử.

2 Phần chuẩn bị của Học sinh:

- SGK, vở soạn, vở ghi.

- Đọc kĩ mục Tiểu dẫn và tác phẩm, đọc kĩ phần chú thích ở SGK.

Tập trung tìm kiếm và tổng hợp các tài liệu liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, đồng thời thu thập các nguồn tài liệu và clip liên quan đến văn hóa Nam nhằm mang lại nội dung đầy đủ, đáng tin cậy và tối ưu SEO, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận thông tin về Nguyễn Đình Chiểu và nét văn hóa Nam.

Bộ để HS xem trước ở nhà.

- Tạo mâu thuẫn nhận thức và tâm thế để HS bắt đầu tiết học mới.

- Giúp HS có những cảm nhận ban đầu về Nhà văn Nguyễn Đình Chiểu cũng như trận đấu ở Cần Giuộc năm 1861.

* Sản phẩm: tâm thế hứng khởi vào bài học.

* Phẩm chất, năng lực cần hình thành:

- Năng lực thu thập thông tin

- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về tác giả, tác phẩm.

- Năng lực giao tiếp, hợp tác khi trao đổi, thảo luận

- Hình thức: Trực quan, kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận nhóm.

- Kĩ thuật: Động não, thông tin - phản hồi, mảnh ghép.

Bước 1: GV cho HS xem xem đoạn vi deo giới thiệu về Nguyễn Đình Chiểu trong trận chiến ở Cần Giuộc (trích đoạn vở Cải lương Nguyễn Đình Chiểu)

- Nhân vật xuất hiện trong đoạn phim tên là gì? Em biết gì về nhân vật này?

Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ:

- Trả lời được câu hỏi.

Bước 3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:

- Tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết nhiệm vụ.

- Có thái độ tích cực, hứng thú.

GV nhận xét, biểu dương Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ, nhà văn hóa lớn của dân tộc Khi viết về Nguyễn Đình Chiểu, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng khẳng định: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường Chúng ta phải chăm chú nhìn, càng nhìn càng thấy sáng”, minh chứng cho sự sáng ngời của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Tác phẩm này được coi là một trong những bài văn tế hay nhất, bi tráng nhất của văn học Việt Nam thời trung đại, và được đặt ngang tầm với Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi.

HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

- Tạo mâu thuẫn nhận thức và tâm thế để HS bắt đầu tiết học mới.

- Giúp HS có những cảm nhận ban đầu về Nhà văn Nguyễn Đình Chiểu cũng như trận đấu ở Cần Giuộc năm 1861.

- Cuộc đời, con người và sự nghiệp, giá trị thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu.

- Bức tượng đài về người nông dân nghĩa sĩ.

- Những nét chính về cuộc đời, nghị lực, nhân cách và giá trị thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu.

- Những nét chính về hoàn cảnh sáng tác, đặc điểm thể loại, bố cục văn tế, vẻ đẹp của người nghĩa sĩ nông dân.

- Vẻ đẹp người nông dân nghĩa sĩ.

* Phẩm chất, năng lực cần hình thành:

- Năng lực thu thập thông tin

- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về tác giả, tác phẩm.

- Năng lực giao tiếp, hợp tác khi trao đổi, thảo luận

Thao tác 1: Hướng dẫn tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu.

- Hình thức: Trực quan, kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận nhóm.

- Kĩ thuật: Động não, thông tin - phản hồi, mảnh ghép.

Bước 1: chuyển giao nhiệm vụ

+ Nhóm 1: Tóm tắt những nét chính về cuộc đời của tác giả.

Qua cuộc đời, em cảm nhận gì về nhân cách, con người của nhà thơ?

+ Nhóm 2: Nguyễn Đình Chiểu quan niệm như thế nào về văn chương?

+ Nhóm 3: Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chia làm mấy giai đoạn? Mỗi giai đoạn có những tác phẩm chính nào?

+ Nhóm 4: Nghệ thuật đặc sắc trong thơ văn NĐC thể hiện ở những điểm nào?

Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ

Các nhóm hoàn thiện nội dung được phân công.

+ Cuộc đời ông là một tấm gương sáng về nghị lực và đạo

- NĐC(1822-1888), sinh tại quê mẹ ở tỉnh Gia Định xưa trong một gia đình nhà nho.

- 1846, ông ra Huế chuẩn bị thi tiếp thì hay tin mẹ mất  bỏ thi, về quê  bị mù.

- Về Gia Định mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và làm thơ.

Thực dân Pháp nhận ra ông có tài tìm cách dụ dỗ và mua chuộc để làm lung lay lòng người và phá hoại phong trào dưới sự lãnh đạo của đất nước Tuy nhiên, trước mọi áp lực và thủ đoạn của kẻ thù, ông vẫn giữ trọn tấm lòng thủy chung son sắt với đất nước và nhân dân Sự kiên định và phẩm chất anh hùng đó đã làm nổi bật tinh thần bất khuất, trở thành nguồn cảm hứng cho mọi người trong cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc.

Bài học từ cuộc đời NĐC cho thấy ông là một tấm gương sáng về nghị lực và đạo đức, suốt đời kiên định chiến đấu cho lẽ phải và quyền lợi của nhân dân Với tinh thần không mỏi mệt, ông dành trọn đời dấn thân vì công bằng, thể hiện sự trung thành với mục tiêu phục vụ xã hội và trách nhiệm công dân Những đóng góp và nghị lực của NĐC đã trở thành nguồn cảm hứng, nhắc nhở thế hệ trẻ về tầm quan trọng của lẽ phải và sự chăm lo cho quyền lợi của cộng đồng.

II Sự nghiệp thơ văn

Nguyễn Đình Chiểu có quan niệm văn chương nhất quán.

Ông chủ chương dùng văn chương để thể hiện đạo lý và chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa Với ngòi bút sắc bén, ông chở bao nhiêu đạo thuyền vẫn không chìm trước sóng gió, và bằng chữ nghĩa ông đâm thẳng vào những kẻ gian tham, không để cho bút pháp của họ thể hiện sự giả dối Bút pháp của ông luôn trung thực; mỗi câu chữ phơi bày sự thật và đánh bật các thế lực phi đạo đức Văn chương của ông trở thành vũ khí tinh thần, lan tỏa niềm tin vào công lý và thúc đẩy sự nghiệp vì lẽ phải và tiến bộ xã hội.

- Mỗi vần thơ phải ngụ ý khen chê công bằng đức, suốt đời chiến đấu không biết mệt mỏi cho lẽ phải, cho quyền lợi nhân dân

+ Bài học về nghị lực, bản lĩnh sống vượt lên bi kịch cá nhân, tinh thần bất khuất trước kẻ thù, tấm lòng yêu nước thương dân sâu nặng.

- Dùng văn chương biểu hiện đạo lí và chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa

- Mỗi vần thơ phải ngụ ý khen chê công bằng

- Văn chương phải là những sáng tạo nghệ thuật có tính thầm mỹ, để phát huy các giá trị tinh thần.

- Trước khi thực dân Pháp xâm lược:

- Sau khi thực dân Pháp xâm lược:

+ Chạy giặc + Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

+ Văn tế Trương Định + Thơ điếu Trương Định + Thơ điếu Phan Tòng

+ Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh.

+ Ngư Tiều y thuật vấn đáp.

“Học theo ngòi bút chí công.

Trong thi cho ngụ tấm lòng Xuân thu”

(Ông Ngư, ông Tiều hỏi đáp về thuật chữa bệnh)

-Văn chương phải là những sáng tạo nghệ thuật có tính thầm mỹ, để phát huy các giá trị tinh thần:

“Văn chương ai chẳng muốn nghe

Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thần.”

(Ông Ngư, ông Tiều hỏi đáp về thuật chữa bệnh)

- Nguyễn Đình Chiểu cũng ghét lối văn cử nghiệp gò bó Ông viết

“Văn chương nào phải trường thi,

Ra đề hạn vật một khi buộc ràng, Trượng phu có chí ngang tàng.”

(Ông Ngư, ông Tiều hỏi đáp về thuật chữa bệnh)

- Trước khi thực dân Pháp xâm lược:

- Sau khi thực dân Pháp xâm lược:

+ Chạy giặc + Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

+ Văn tế Trương Định + Thơ điếu Trương Định + Thơ điếu Phan Tòng + Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh.

+ Ngư Tiều y thuật vấn đáp ( Truyện thơ dài

-> Thơ văn NĐC là lá cờ đầu của văn thơ yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX.

- Lí tưởng đạo đức nhân nghĩa

+ Mục đích truyền dạy những bài học về đạo lí làm người chân chính

Bước 3: Báo cáo, thảo luận Đại diện nhóm 1,2 báo cáo Các nhóm còn lại nhận xét chéo

Bước 4: Kết luận, nhận định

GV dẫn thêm Thời đại Nguyễn Đình Chiểu sống: Nguyễn Đình

Việt Nam trải qua một thời kỳ biến động lớn được coi là giai đoạn “khổ nhục mà vĩ đại” của dân tộc, thuộc lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc Đó là khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta từ năm 1858; đến năm 1884, cả nước đã rơi vào tay giặc Triều đình nhà Nguyễn quỳ gối làm tay sai cho kẻ thù, trong khi nhân dân dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đã đứng lên chống lại xâm lược.

+ Vừa mang tinh thần nhân nghĩa của đạo Nho nhưng lại rất đậm đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc

+ Xây dựng mẫu người lí tưởng

- Lòng yêu nước thương dân:

+ Tố cáo tội ác của giặc + Lên án những kẻ theo giặc, đầu hàng giặc + Ngợi ca những sĩ phu yêu nước.

Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời, phản ánh rõ thực trạng và sức chịu đựng của nhân dân Những tác phẩm của ông không những phản ánh hiện thực mà còn có tác dụng động viên, khích lệ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân.

Có nhiều đóng góp đáng kể, đặc biệt là ở văn chương trữ tình đạo đức; bút pháp trữ tình xuất phát từ cõi tâm trong sáng, nhiệt thành, đầy tình yêu thương và nồng đậm hơi thở của cuộc sống.

- Thơ văn Nguyên Đình Chiểu còn mang đậm chất Nam Bộ: Từ lời ăn tiếng nói mộc mạc, bình dị, đến tâm hồn nồng nhiệt, chất phác.

- Các sáng tác thiên về chất chuyện kể, mang màu sắc diễn xướng rất phổ biến trong văn học dân gian Nam Bộ.

Với hơn một thế kỷ trôi qua, tiếng thơ Nguyễn Đình Chiểu vẫn ngân vang giữa cuộc đời, khắc họa hình ảnh một nhà thơ mù yêu nước xứ Đồng Nai Tên tuổi của ông vẫn rực sáng trên bầu trời văn học dân tộc nhờ nhân cách cao đẹp và những cống hiến to lớn cho văn học nước nhà.

Thao tác 2: Hướng dẫn tìm hiểu khái quát về tác phẩm.

- Hình thức: Trực quan, kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận nhóm.

- Kĩ thuật: Đọc sáng tạo, nêu vấn đề, Thảo luận nhóm với kỹ

Ngày 16 tháng 12 năm 1861, trận đánh đồn Cần Giuộc nổ ra khi nhiều nghĩa sĩ nông dân đồng loạt tấn công và phá đồn, tiêu diệt được nhiều giặc Pháp và tay sai; trong trận chiến này, nghĩa binh đã hy sinh một số đồng đội, thể hiện tinh thần dũng cảm và lòng yêu nước của người dân trước sự xâm lược.

- Giáo viên giao nhiệm vụ:

1 Hãy nêu hoàn cảnh sáng tác bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ?

- HS làm việc cá nhân.

- GV nhận xét và chuẩn kiến thức

-GV chuyển giao nhiệm vụ Điền thông tin vào phiếu học tập sau:

Thể loại Đặc điểm thể loại

Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ.

HS hoàn thiện phiếu học tập

Bước 3: Báo cáo, thảo luận

Cá nhân báo cáo nhận xét.

Bước 4: Kết luận, nhận định

Có 20 nghĩa sĩ được tôn vinh với lòng dũng cảm phi thường Cảm kích trước sự hy sinh của họ, tuần phủ Gia Định Đỗ Quang đã giao cho cụ Đồ Chiểu viết bài văn tế để đọc tại buổi lễ truy điệu các nghĩa sĩ.

- Bài văn tế đã khích lệ tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc và ý chí chiến đấu và bảo vệ tổ quốc

2 Thể loại và bố cục a)Thể loại: Văn tế (văn nghi lễ)

- Văn tế là một loại văn thường gắn với phong tục tang lễ, nhằm bày tỏ lòng tiếc thương đối với người đã mất

+ Kể lại cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã khuất.

+ Bày tỏ nỗi đau thương của người sống trong giờ phút vĩnh biệt

- Âm hưởng chung của bài văn tế là bi thương nhưng sắc thái biểu cảm ở mỗi bài có thể khác nhau

- Giọng điệu văn tế nói chung là lâm li thống thiết, sử dụng nhiều thán từ và những từ ngữ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh.

- Được viết theo nhiều thể: văn xuôi (Văn tế

Trương Quỳnh Như – Phạm Thái), thơ song thất lục bát (Văn Chiêu hồn – Nguyễn Du), lục bát (Khóc những người bị hi sinh sau vụ Hà

Thành – Khuyết danh), phú đường luật (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu).

- Bố cục thường có 4 đoạn:

+ Đoạn mở đầu (Lung khởi): luận chung về lẽ sống chết, thường khởi xướng bằng những từ Thương ôi!,Hỡi ôi!.

+ Đoạn 2 (Thích thực): kể công đức, phẩm hạnh, cuộc đời của người đã khuất, thường bắt đầu bằng cụm từ Nhớ linh xưa.

+ Đoạn 3 (Ai vãn): nói lên niềm thương tiếc đối với người đã chết.

+ Đoạn 4 (Kết): bày tỏ lòng tiếc thương và lời cầu nguyện của người đứng tế. b) Bố cục

- Lung khởi (2 câu đầu) giới thiệu khái quát về thời cuộc và người nông dân nghĩa sĩ.

- Thích thực (câu 3-15) tái hiện chân thực hình tượng người nông dân nghĩa sĩ.

- Ai vãn (câu 16-28) lòng tiếc thương, đau xót, thái độ cảm phục của tác giả và nhân dân đối với người nghĩa sĩ.

- Kết (2 câu cuối) ca ngợi linh hồn bất tử của người nghĩa sĩ.

3 Thao tác 3: Hướng dẫn HS tìm hiểu chi tiết

- Hình thức: học sinh làm việc nhóm.

- Kĩ thuật: Đọc sáng tạo, nêu vấn đề, thảo luận nhóm với kỹ thuật, trình bày một phút.

Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ

- Nội dung: Chọn ngẫu nhiên trong những nội dung sau:

+ Tình thế, bối cảnh thời đại mà Nguyễn Đình Chiểu xây dựng hình tượng người nông dân – nghĩa sĩ; ý nghĩa cái chết của họ.

(Gợi ý: Sự đối lập được biểu hiện như thế nào?)

+ Hoàn cảnh xuất thân của người nghĩa sĩ trong bài văn tế + Những chuyển biến về tư tưởng của người nông dân khi giặc Pháp xâm lược

+ Vẻ đẹp hào hùng của người nông dân trong “trận nghĩa đánh Tây”

HS thảo luận, ghi vào bảng phụ

Nhóm 1: Trình bày nội dung 1.

Tình thế, bối cảnh thời đại mà Nguyễn Đình Chiểu xây dựng

III Đọc - hiểu văn bản:

1 Lung khởi: Bối cảnh thời đại và ý nghĩa cái chết bất tử

- Sự đối lập từ hình thức đến nội dung:

+ Đối lập bằng trắc: TTTB- BBBT + Đối lập từ loại: DDDĐ - ĐĐĐD + Đối lập ý nghĩa: súng giặc >< lòng dân; đất >< trời

- Không gian rộng lớn: trời, đất + động từ rền, hình tượng người nông dân – nghĩa sĩ; ý nghĩa cái chết của họ.

Sau khi HS trao đổi và trình bày, bổ sung GV chốt lại những kiến thức cơ bản.

Than ôi, khi tiếng súng của giặc Pháp vang rền trên đất nước, tấm lòng của người dân có trời thấu tỏ Mười năm làm ruộng nghèo nhọc đã hun đúc nên ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết của cả dân tộc, giúp đất nước đứng dậy trước giặc và đấu tranh cho độc lập tự do.

Hai câu văn ấy tạo nên một nền hoành tráng cho bài viết, mở ra không gian ngữ nghĩa để tác giả đi sâu khắc hoạ vẻ đẹp của bức chân dung người nghĩa binh Cần Giuộc Nền tảng này không chỉ là khung cảnh mà còn là động lực cảm thụ, giúp độc giả cảm nhận tinh thần kiên cường và sự hy sinh của người nghĩa binh Nhờ nhịp điệu và sắc thái chữ nghĩa, bức chân dung được thể hiện sống động, chân thực và giàu tính thuyết phục Sự kết hợp giữa nền vững chắc và nghệ thuật miêu tả đã làm nổi bật giá trị lịch sử và nhân văn của hình tượng này trong văn bản.

Nhóm 2: Trình bày nội dung 2

- Hoàn cảnh xuất thân của người nghĩa sĩ trong bài văn tế?

- Trước khi đánh giặc họ là ai?

Những người nghĩa sĩ nông dân làm nghề nông chủ yếu trồng lúa, chăm sóc đất đai và vật nuôi, vừa lao động trên đồng ruộng vừa gánh vác nghĩa vụ quân sự khi có giặc giã; đời sống hàng ngày của họ là cuộc sống lao động vất vả nhưng kiên cường, luôn sẵn sàng bảo vệ làng xóm và quê hương Từ "cui cút" diễn đạt tình cảm của tác giả đối với họ: sự đồng cảm, kính trọng và xót xa trước tấm lòng kiên gan, tằn tiện và tinh thần hy sinh vì đất nước của những người nghĩa sĩ nông dân.

Sau khi HS trao đổi và trình bày, bổ sung GV chốt lại những kiến thức cơ bản.

Nhà thơ xúc động và cảm thông trước cuộc đời nhỏ bé và thân phận “con sâu cái kiến” của người nông dân nghĩa sĩ, khắc họa hình ảnh ấy bằng tấm lòng nhân hậu và sự đồng cảm sâu sắc Có thể nói, tình cảm yêu thương của nhà thơ dành cho người nông dân đánh giặc được dồn nén và đọng lại ở hai chữ “cui cút”, như một biểu hiện mạnh mẽ của cảm xúc và sự tỏa lan của âm thanh, ánh sáng.

Hiệu quả của đề tài

Sau giờ dạy thực nghiệm, tôi có đánh giá kết quả học tập của HS bằng cách cho HS làm bài kiểm tra trong 15p ở cả 2 lớp.

Hình thức bài kiểm là trắc nghiệm, đề kiểm tra có 10 câu, thang điểm 10, mỗi câu đúng được 1 điểm.

Cách đánh giá bài kiểm tra: những bài làm khoanh đúng các câu hỏi trắc nghiệm sẽ được 1 điểm cho mỗi câu đúng; bài thi chấm theo thang điểm 10 và kết quả sẽ được công bố như sau.

Kết quả thực nghiệm Điểm giỏi

Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm.

Bảng 3.1 tổng hợp kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, dựa trên thang điểm giỏi, khá, TB và yếu Kết quả thống kê được thể hiện dưới dạng biểu đồ, cho thấy sự phân bố và mức độ nhận thức giữa hai nhóm học sinh, cũng như sự khác biệt giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng theo các mức đánh giá này.

Lớp thực nghiệm Lớp đối chứng

Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả kiểm tra sau khi dạy thực nghiệm.

Biểu đồ 3.1 cho thấy sự so sánh kết quả kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau khi dạy thực nghiệm Kết quả cho thấy lớp thực nghiệm có sự khác biệt rõ rệt về mức độ đạt kiến thức so với lớp đối chứng Tỉ lệ học sinh đạt điểm khá và giỏi ở lớp đối chứng là 45.9%, trong khi ở lớp thực nghiệm là 71%, cao hơn 25.1% so với lớp đối chứng Điểm trung bình của lớp đối chứng lên tới 40.5%, và có 13.5 học sinh đạt điểm yếu Nhờ phương pháp dạy thực nghiệm, lớp thực nghiệm đã nâng cao kết quả học tập của học sinh so với lớp đối chứng.

Kết quả đánh giá cho thấy không có học sinh nào ở mức yếu; tỷ lệ học sinh đạt điểm trung bình chiếm 29% của tổng số học sinh, cho thấy phần lớn các em ở mức khá và tốt Nhờ đó, có thể khẳng định rằng việc dạy học nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực của học sinh thông qua giờ dạy Ngữ văn đã mang lại hiệu quả rõ rệt và tính khả thi cao.

5.2 Kết quả về mức độ hứng thú của HS sau khi thực nghiệm Để khẳng định giờ học thực sự không gây nhàm chán, khó khăn cho cho HS, tôi đã khảo sát HS thông qua 3 câu hỏi

Câu hỏi đầu tiên tôi khảo sát các mức độ: rất thích; thích học; không thích học Kết quả như sau: Đối tượng khảo sát

Lớp 11A7 Trường THPT Nguyễn Đức Mậu

Bảng 3.2 Khảo sát sự yêu thích của HS sau giờ thực nghiệm

Bảng 3.2 tổng hợp kết quả khảo sát về mức độ yêu thích của học sinh khi học tác phẩm văn học sau giờ thực nghiệm Kết quả cho thấy 83,7% học sinh rất thích và thích học tác phẩm, cho thấy mức độ hứng thú cao với nội dung dạy học Ngữ văn Từ đó cho thấy việc áp dụng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực của học sinh qua giờ dạy học Ngữ văn mang lại hiệu quả cao và tính khả thi.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I Đóng góp của đề tài

Thông qua bài viết này, tôi muốn đóng góp cho các đồng nghiệp đang dạy môn Ngữ văn lớp 11 nói riêng và Ngữ văn cấp THPT nói chung về thực trạng phát huy năng lực và phẩm chất của học sinh trong tình trạng hiện nay Bài viết phân tích những thách thức và cơ hội nhằm nâng cao năng lực tư duy, khả năng diễn đạt và tinh thần trách nhiệm công dân cho học sinh Việc phát huy năng lực và phẩm chất trong môn Ngữ văn THPT không chỉ đáp ứng chuẩn kiến thức mà còn chú trọng phát triển các phẩm chất tự chủ, sáng tạo và ý thức học tập liên tục Các giải pháp gợi ý gồm tăng cường dạy học tích cực, khai thác hiệu quả các bài đọc–hiểu và viết văn, và thiết kế các hoạt động đánh giá toàn diện phát triển năng lực người học Từ đó, chúng ta có thể nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn, góp phần hình thành lớp học hiện đại và bền vững ở cấp THPT.

Trong những năm gần đây, năng lực và phẩm chất của học sinh trong các nhà trường vẫn còn nhiều hạn chế Hiện tượng học sinh ỉ lại, nhút nhát, rụt rè trong công việc khiến năng lực và sở trường của các em chưa được phát huy Trong khuôn khổ chuyên đề nâng cao phẩm chất và năng lực học sinh thông qua giảng dạy môn học mà tôi phụ trách, tôi muốn trình bày một số giải pháp đã và đang được áp dụng tại trường THPT Nguyễn Đức Mậu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Những giải pháp này tập trung vào tăng cường tính tự chủ, tinh thần trách nhiệm, khả năng tư duy phản biện và sáng tạo; từ đó giúp học sinh phát huy năng lực và phẩm chất của bản thân Tôi tin rằng với sự kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp giảng dạy và mục tiêu của ngành giáo dục, chúng ta có thể đóng góp vào mục tiêu đào tạo các em trở thành con người toàn diện.

Dự án đi từ nghiên cứu các vấn đề lí luận liên quan đến dạy học phát triển năng lực và phẩm chất cho người học, đồng thời nêu rõ thực trạng trong dạy và học môn Ngữ Văn hiện nay ở Chương 1 Ở Chương 2, tác giả đề xuất các hình thức tổ chức, phương pháp và kỹ thuật dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục Chương 3 thiết kế giáo án dạy thực nghiệm làm căn cứ để đánh giá hiệu quả của đề tài.

Việc thực hiện SKKN trong năm học đã mang lại nhiều hiệu quả rõ rệt cho quá trình giáo dục và học tập Học sinh được phát huy tư duy sáng tạo, tăng hứng thú và tích cực tham gia các hoạt động học tập SKKN giúp học sinh nắm chắc kiến thức bài học và phát triển phương pháp tự học, tự nghiên cứu một cách chủ động Việc triển khai SKKN còn nâng cao tinh thần hợp tác, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng tự đánh giá kết quả học tập Tổng thể, SKKN đóng góp vào nâng cao chất lượng giáo dục, hình thành thói quen học tập suốt đời và tạo nền tảng cho sự tiến bộ của học sinh.

Các em hình thành được năng lực và phẩm chất cần thiết trong học tập và rèn luyện, đồng thời phát triển thói quen cẩn thận và sáng tạo, biết vận dụng kiến thức để làm các dạng bài tương tự như đọc hiểu và nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học Các dạng bài nghị luận văn học như phân tích, cảm nhận, bình luận và so sánh được áp dụng trong các chuyên đề khác, giúp các em phát triển tư duy phản biện và kỹ năng trình bày mạch lạc, từ đó nâng cao kết quả học tập.

II Khả năng mở rộng và phát triển của đề tài

Với đề tài này, tác giả đã áp dụng thành công tại đơn vị và có thể nhân rộng để triển khai dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu trong các nhà trường phổ thông nói riêng, cũng như trong bộ môn Ngữ văn nói chung Mô hình giảng dạy này giúp tăng cường khả năng cảm thụ, phân tích và hiểu biết về giá trị lịch sử, nhân văn và nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời gắn kết kiến thức Ngữ văn với bối cảnh lịch sử địa phương Việc mở rộng áp dụng sẽ tích hợp dễ dàng vào chương trình giảng dạy Ngữ văn ở cấp phổ thông, nâng cao chất lượng giáo dục văn học Việt Nam và tạo động lực cho học sinh tiếp cận sâu hơn với tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu.

III Một số đề xuất, kiến nghị

Dựa trên thực tiễn nghiên cứu tại địa bàn huyện Quỳnh Lưu, nhằm tạo điều kiện thực hiện tốt các giải pháp đã đề xuất ở trên một cách có hiệu quả tối ưu, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số khuyến nghị sau đây: tăng cường huy động nguồn lực và sự tham gia của cộng đồng để đảm bảo tính bền vững; nâng cao năng lực đội ngũ thực hiện và cán bộ tham mưu thông qua đào tạo, tập huấn; tăng cường sự phối hợp liên ngành, đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong triển khai; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, dữ liệu và hệ thống giám sát để nâng cao tính khách quan và đánh giá hiệu quả; cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình và rút ngắn thời gian triển khai để tăng khả năng tiếp cận và triển khai nhanh; tăng cường hoạt động truyền thông, giáo dục và nâng cao nhận thức của người dân để tạo sự đồng thuận và tham gia tích cực; và xây dựng nguồn lực tài chính bền vững, đảm bảo kinh phí cho triển khai lâu dài và hiệu quả.

1 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo

Sở Giáo dục và Đào tạo định kỳ tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, nhằm tham gia vào các hoạt động nâng cao phẩm chất và năng lực cho học sinh Đồng thời, Sở tổ chức hội thảo và các chuyên đề với chủ đề “Nâng cao phẩm chất và năng lực cho học sinh” dành cho giáo viên của các trường THPT trên địa bàn tỉnh.

2 Đối với các trường trung học phổ thông Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho giáo viên và cho học sinh của trường mình về vấn đề Nâng cao phẩm chất, năng lực qua môn học.

Phối kết hợp và lồng ghép hữu cơ giữa dạy học trên lớp với các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, cùng sự kết nối giữa hoạt động trong và ngoài nhà trường nhằm hình thành nhân cách toàn diện và phát huy tính chủ động tích cực tham gia của học sinh THPT.

Ngày đăng: 02/11/2022, 10:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Khắc Chương, Nguyễn Thị Yến Phương (2007), Đạo đức học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Phạm Khắc Chương, Nguyễn Thị Yến Phương
Nhà XB: NXB Đạihọc sư phạm
Năm: 2007
3. Phạm Minh Hạc (2002), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
6. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên) (2007), Ngữ văn 10 (cơ bản), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10 (cơ bản)
Tác giả: Trần Đình Sử (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
7. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1998) Giáo dục học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), CT THPT, môn Ngữ văn Khác
4. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2001), tâm lý lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
5. Trần Hậu Kiểm – Đoàn Đức Hiếu (2004), Hệ thống phạm trù đạo đức cho sinh viên. NXB Chính trị Quốc gia, HN Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w