1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Người phụ nữ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số nước trong khu vực " potx

5 651 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 151,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới nói chung và các nước trong khu vực nói riêng, dù người phụ nữ tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại hay bị can, bị cáo

Trang 1

ThS §ç ThÞ Ph−îng *

hụ nữ là một nửa của thế giới Người

đại diện cho phái đẹp Người phụ nữ

ngoài tư cách là chủ thể bình đẳng với

người đàn ông trong mọi lĩnh vực của đời

sống xã hội như: Lao động, học tập họ

còn có thiên chức làm vợ, sinh con và nuôi

con Trong thơ ca, người phụ nữ thường là

nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ,

nhà văn cũng như vậy, chúng ta thường bắt

gặp bóng dáng người phụ nữ trong các

công trình nghiên cứu của các nhà khoa

học Trong pháp luật, dù là ngành luật nào:

Dân sự, lao động, hôn nhân gia đình, hình

sự, tố tụng hình sự đều có những quy

định đặc biệt cho một số chủ thể khi họ là

người phụ nữ Họ được pháp luật bảo vệ

hoặc được một số quyền ưu đãi mà không

phải chủ thể nào khi tham gia quan hệ pháp

luật đó cũng có được Không riêng gì Việt

Nam, một đất nước đang trong giai đoạn

phát triển mà ngay cả những nước chưa

phát triển hoặc các nước tiên tiến trên thế

giới hay trong khu vực cũng có những

chính sách đãi ngộ đối với người phụ nữ,

kể cả khi họ có hành vi phạm tội Trong

pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên

thế giới nói chung và các nước trong khu

vực nói riêng, dù người phụ nữ tham gia tố

tụng với tư cách là người bị hại hay bị can,

bị cáo thì họ cũng được pháp luật bảo vệ

hoặc có một số quyền ưu đãi nhất định Trong bài viết này, chúng tôi giới thiệu quy định của pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam và một số nước trong khu vực khi người phụ nữ tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo, người bị kết án

1 Khi người phụ nữ tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo

Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định nguyên tắc “Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật”, do đó khi tham gia tố tụng, người phụ nữ cũng như những công dân khác đều

có những quyền và nghĩa vụ như nhau Pháp luật tố tụng hình sự không phân biệt

họ là nam hay nữ nếu người đó có hành vi phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án hình

sự, việc quy định thủ tục khác nhau trong bắt, giam, truy tố, xét xử hoàn toàn không mâu thuẫn với các đòi hỏi của điều luật trên, bởi vì mục đích của Bộ luật tố tụng hình sự là tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Hơn nữa, xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, luật

tố tụng hình sự, từ đặc điểm tâm - sinh lý của những người phụ nữ đang ở trong

P

* Giảng viên Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

những thời kỳ đặc biệt (là phụ nữ có thai

hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi) và

ảnh hưởng của những đặc điểm này đến

sức khoẻ, khả năng nhận thức và điều

khiển hành vi của họ cũng như hậu quả

của việc áp dụng các thủ tục tố tụng hoặc

hình phạt đối với người phụ nữ đó Chính

vì vậy, pháp luật tố tụng hình sự Việt

Nam đã có một số quy định mang tính

nhân đạo đối với một số chủ thể nhất định

khi họ là phụ nữ

Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét

xử, người phụ nữ tham gia tố tụng với tư

cách là bị can, bị cáo, họ cũng có các

quyền và nghĩa vụ như những bị can, bị

cáo khác Tuy nhiên, khi cơ quan có thẩm

quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp

ngăn chặn tạm giam đối với bị can, bị cáo

thì một số đối tượng là phụ nữ sẽ không bị

áp dụng biện pháp ngăn chặn này trừ

trường hợp đặc biệt Theo quy định tại

khoản 2 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự

Việt Nam, những bị can, bị cáo là phụ nữ

sẽ không bị tạm giam khi họ là: “Phụ nữ

có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi

sáu tháng tuổi mà áp dụng biện pháp

ngăn chặn khác, trừ trường hợp sau đây:

a, Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo

lệnh truy nã; b, Bị can, bị cáo được áp

dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp

tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm

trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; c,

Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh

quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu

không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy

hại đến an ninh quốc gia” Tạm giam là

biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn Người bị tạm giam sẽ bị hạn chế quyền tự do trong một thời gian nhất định, họ phải tuân thủ các quy định của pháp luật về chế độ tạm giam Do tính chất rất nghiêm khắc của biện pháp ngăn chặn này, nếu chúng ta áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là phụ nữ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, tâm lý của cả người mẹ và đứa trẻ Người phụ nữ đang

có thai là đối tượng được chăm sóc đặc biệt cả về thể chất và tinh thần; đứa trẻ dưới 36 tháng tuổi hơn lúc nào hết rất cần bàn tay chăm sóc của người mẹ Vì vậy, với chính sách nhân đạo của Nhà nước ta, người phụ nữ đang ở trong thời kỳ đặc biệt này sẽ không bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trừ những trường hợp kể trên Nếu chúng ta không áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong những trường hợp đó,

họ có thể sẽ bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc

cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc gây nguy hại đến nền an ninh quốc gia đối với những bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia Trước đây, những điểm này chưa được quy định trong Bộ luật tố tụng hình

sự năm 1989 Bộ luật tố tụng hình sự năm

1989 chỉ quy định: “Trừ trường hợp đặc biệt” còn những trường hợp nào là trường hợp đặc biệt thì lại không được quy định

cụ thể trong Bộ luật Điều đó đã gây không

ít khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 3

Việc bổ sung các điểm a, b, c, khoản 2

Điều 88, không những vẫn đảm bảo được

chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối

với bị can, bị cáo là phụ nữ ở các trường

hợp trên mà còn hạn chế được việc họ sẽ

tiếp tục phạm tội hay bỏ trốn đảm bảo

bất kỳ người phạm tội nào cũng bị xử lý

như nhau trước pháp luật Khác với pháp

luật hình sự và tố tụng hình sự của Việt

Nam khi đưa ra những tiêu chí về người

phụ nữ được áp dụng một số chính sách

nhân đạo khi tham gia tố tụng với tư cách

là bị can, bị cáo, Điều 157 Bộ luật tố tụng

hình sự của nước Cộng hoà nhân dân

Trung Hoa quy định: “Người phụ nữ có

thai hoặc đang cho con đẻ bú” sẽ không bị

áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam

Như vậy, trong pháp luật tố tụng hình sự

của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa,

chỉ người phụ nữ nào đang có thai hoặc

đang cho con đẻ bú mới không bị tạm

giam; quy định này là hạn chế hơn so với

Việt Nam (ở Việt Nam không quy định rõ

người phụ nữ đang nuôi con phải là con đẻ

hay con nuôi hợp pháp, miễn là đứa trẻ

được người phụ nữ đó nuôi dưỡng đang ở

độ tuổi dưới 36 tháng) Tuy nhiên, quy

định trong Bộ luật tố tụng hình sự của

nước CHND Trung Hoa là chưa rõ ràng vì

không giới hạn được độ tuổi của đứa trẻ

mà người mẹ đẻ cho bú là bao nhiêu tháng,

điều này sẽ gây khó khăn cho các cơ quan

tiến hành tố tụng khi áp dụng Bộ luật tố

tụng hình sự của Hàn Quốc lại quy định về

đối tượng không bị tạm giam khi họ là

người phụ nữ: “Có mang từ 6 tháng trở

lên; hoặc nếu người bị kết án mới sinh con chưa được quá 60 ngày; hoặc nếu con cái của người bị kết án đang còn bé và không

có ai chăm sóc” (Điều 471) So với quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và Trung Hoa về đối tượng này, các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Hàn Quốc chi tiết và cụ thể hơn

Khi tiến hành điều tra, cơ quan điều tra

có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra nhằm thu thập các chứng cứ chứng minh tội phạm và người thực hiện tội phạm Một trong những hoạt động điều tra

đó là khám xét Để tôn trọng và đảm bảo nhân phẩm, danh dự cho phụ nữ mặc dù họ

là người bị bắt giữ hay bị can, bị cáo thì khi tiến hành khám người đó phải: “nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến” (Điều 142 Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam) Khi đề cập vấn đề này, tại Điều 124 Bộ luật tố tụng hình sự

của Hàn Quốc cũng quy định: “Khi khám

xét cơ thể một phụ nữ phải có sự hiện diện của phụ nữ trưởng thành khác” Hay trong

Điều 141 của Bộ luật này quy định: “Việc

giám định cơ thể phụ nữ chỉ được thực hiện với sự có mặt của một bác sĩ hay một phụ nữ trưởng thành” Điều 82 Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà nhân dân

Trung Hoa quy định: “Việc khám người đối với phụ nữ phải do nhân viên là phụ nữ

tiến hành” Như vậy, trong rất nhiều bộ luật của các nước trong khu vực đã quy định về hoạt động khám xét của cơ quan điều tra và các quy định này dù ở các góc

độ khác nhau cũng thể hiện được sự tôn

Trang 4

trọng, bảo vệ nhân phẩm của người phụ nữ

dù họ là người bị nghi thực hiện tội phạm

hay là bị can trong các vụ án hình sự

2 Khi người phụ nữ là người bị kết án

Trong giai đoạn này, người bị kết án là

phụ nữ cũng được pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam dành cho những ưu đãi nhất

định Hình phạt tử hình là hình phạt

nghiêm khắc nhất trong tất cả các loại hình

phạt Hình phạt này được áp dụng đối với

người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng,

không còn khả năng giáo dục, cải tạo

người đó và việc loại bỏ họ vĩnh viễn ra

khỏi cộng đồng xã hội là cần thiết Dựa

vào quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự

năm 1999: “Không áp dụng hình phạt tử

hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ

đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm

tội hoặc khi bị xét xử

Không thi hành án tử hình đối với phụ

nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36

tháng tuổi Trong trường hợp này, hình

phạt tử hình chuyển thành tù chung thân”,

Bộ luật tố tụng hình sự cũng quy định chặt

chẽ về thủ tục kiểm tra việc ra quyết định

thi hành án tử hình và việc thi hành án tử

hình đối với người bị kết án là phụ nữ

Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:

“Trong trường hợp người bị kết án là phụ

nữ thì trước khi ra quyết định thi hành án,

chánh án toà án đã xét xử sơ thẩm phải tổ

chức kiểm tra các điều kiện không áp dụng

hình phạt tử hình được quy định tại Điều

35 của Bộ luật hình sự Nếu có căn cứ

người bị kết án có điều kiện quy định tại

Điều 35 của Bộ luật hình sự thì chánh án

toà án đã xét xử sơ thẩm không ra quyết

định thi hành án và báo cáo chánh án Toà

án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án

Trước khi thi hành án đối với người bị kết án là phụ nữ thì hội đồng thi hành án ngoài việc kiểm tra căn cước, phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án tử hình được quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự

Trong trường hợp hội đồng thi hành án phát hiện người bị kết án có điều kiện quy

định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự thì

hội đồng thi hành án hoãn thi hành án và báo cáo chánh án toà án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo chánh án Toà án nhân dân tối cao xem xét chuyển hình phạt

tử hình thành tù chung thân cho người bị

kết án” Quy định một cách chặt chẽ và chi tiết như vậy sẽ hạn chế được những sai phạm có thể xảy ra mà không có biện pháp nào khắc phục nổi khi chúng ta đã tước bỏ quyền sống của một con người Mặc dù cũng quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người bị kết án là phụ nữ trong trường hợp đặc biệt nhưng trong pháp luật tố tụng hình sự của Trung Hoa, đối tượng này lại hạn hẹp hơn so với Việt Nam Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định:

“Khi phát hiện được một trong những trường hợp dưới đây thì phải đình chỉ thi hành án và báo ngay lên Toà án nhân dân tối cao, chờ quyết định của Toà án nhân dân tối cao: 2, Người phạm tội đang có

Trang 5

thai Việc đình chỉ thi hành án vì lý do ghi

trong mục thứ hai của khoản trên phải

được báo lên Toà án nhân dân tối cao thay

đổi bản án theo quy định pháp luật” Còn

theo khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng hình

sự của Nhật Bản: “Nếu phụ nữ bị kết án tử

hình đang có thai thì việc thi hành án sẽ

được hoãn theo lệnh của bộ trưởng Bộ tư

khi người bị kết án là phụ nữ ở trong

những trường hợp đặc biệt như trên, Bộ

luật tố tụng hình sự của Nhật Bản quy

định: “Khi việc thi hành án tử hình đã

được hoãn theo khoản 2 trên đây thì hình

phạt tử hình sẽ không được thực hành trừ

phi có lệnh của bộ trưởng Bộ tư pháp được

ra sau khi sinh con” (khoản 3 điều 479)

Như vậy, việc thi hành tử hình đối với

người bị kết án là phụ nữ vẫn có thể được

thực hiện sau khi sinh con nếu có lệnh của

bộ trưởng Bộ tư pháp

Đối với người bị kết án phạt tù là phụ

nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36

tháng tuổi, pháp luật hình sự và tố tụng

hình sự Việt Nam cũng có những ưu đãi

đối với họ Theo quy định tại Điều 261 Bộ

luật tố tụng hình sự Việt Nam, đối với

người bị xử phạt tù đang được tại ngoại,

chánh án toà án đã ra quyết định thi hành

án có thể tự mình hoặc theo đề nghị của

viện kiểm sát, cơ quan công an cùng cấp

hoặc người bị kết án cho chấp hành hình

phạt tù Một trong những trường hợp được

hoãn chấp hành hình phạt tù là người bị kết

án đang là phụ nữ thuộc đối tượng trên

Cũng như vậy, trong trường hợp người đó

đang chấp hành hình phạt, họ có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho đến khi con của người đó đủ 36 tháng tuổi Pháp luật tố tụng hình sự của Hàn Quốc cũng có những ưu đãi đối với người phụ nữ khi họ bị kết án phạt tù, tuy nhiên quy định tại Điều 471 Bộ luật tố tụng hình sự của Hàn Quốc có một số đặc điểm khác so với Việt Nam Việc thi hành án tù giam không

có lao động khổ sai có thể bị đình chỉ khi:

“ người bị kết án có mang từ 6 tháng trở lên; hoặc nếu người bị kết án mới sinh con chưa được quá 60 ngày; hoặc nếu con cái của người bị kết án đang còn bé và không

có ai chăm sóc” Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

quy định: “Có thể thi hành án tại nơi giam

giữ đối với những người phạm tội bị xử tù chung thân, tù có thời hạn trong những trường hợp: 2, Phụ nữ có thai hoặc

đang cho con đẻ bú”

Tóm lại, mặc dù các quy định trên có thể chưa được chặt chẽ hay chưa thể hiện được hết bản chất nhân đạo của pháp luật của mỗi nước đối với người phụ nữ nói chung và người phụ nữ ở trong hoàn cảnh đặc biệt khi họ là bị can, bị cáo hay người

bị kết án nhưng những quy định này đã thể hiện được phần nào chính sách nhân đạo của các nhà nước đó đối với bị can bị cáo, người bị kết án là phụ nữ Những quy định tiến bộ này cần được tiếp tục phát triển và phát huy hơn nữa nhất là trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay của Việt Nam./

Ngày đăng: 17/03/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm