Đến nay vẫn chưa có những công trình đề cập một cách toàn diện và sâu sắc về sự biến đổi mức sống của nhóm cư dân sau TĐC ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Đà Nẵng nói riêng.. Đóng góp
Trang 1
LUẬN VĂN:
Biến đổi mức sống của nhóm cư dân
sau tái định cư ở Đà Nẵng
Trang 2
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là một xu hướng tất yếu của lịch sử, là cơ sở để đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, mỗi quốc gia
Trong những năm qua, việc quy hoạch dân cư nhằm chỉnh trang đô thị, nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật tạo, điều kiện cho việc mở rộng, phát triển kinh tế - xã hội
là một chính sách lớn được các cấp ủy Đảng và chính quyền nhân dân thành phố Đà Nẵng đặc biệt quan tâm Chính sách này đã và đang mang lại hiệu quả hết sức to lớn
Diện mạo của một thành phố văn minh, hiện đại với cơ sở hạ tầng kỹ thuật được nâng cấp, môi trường sống trong lành đang từng bước được xác lập Quá trình kiến tạo lại môi trường đô thị ở Đà Nẵng đã không chỉ tạo được môi trường sống, chất lượng sống tốt hơn mà còn đem lại niềm tin yêu, lòng tự hào cho người dân Đà Nẵng đối với Đảng, Nhà nước và chính quyền thành phố
Tuy nhiên, đằng sau bất kỳ một chính sách nào, dù thành công đến mấy cũng thường ẩn náu những vấn đề xã hội nhất định Điều này đòi hỏi các cấp, các ngành phải có cái nhìn toàn diện, hợp lý để tăng cường hiệu quả cho xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Để thực hiện chủ trương quy hoạch lại đô thị, trong những năm qua ở thành phố Đà Nẵng, hàng chục dự án đã triển khai giúp hàng chục nghìn hộ dân được di dời đến các khu tái định cư (TĐC) mới Trên nhiều mặt, đời sống của dân cư trong các khu vực này được cải thiện rõ rệt Cơ sở hạ tầng như: Điện, đường, hệ thống cấp thoát nước, vệ sinh môi trường đều được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đô thị bậc cao Nhưng một bộ phận dân cư vẫn còn băn khoăn về khả năng tìm việc làm, tạo thu nhập đảm bảo mức sống của dân cư thời "hậu tái định cư", đặc biệt là đối với nhóm cư dân nghèo Vì vậy, ở một số nơi, một số người chưa thích nghi được với môi trường sống mới hoặc chưa tìm được việc làm ổn định sinh tâm lý thiếu an tâm Mức sống ở một
bộ phận dân cư chưa ổn định nhất là số người làm các nghề tự do đang cần tiếp tục hỗ trợ để tìm hướng giải quyết Đây là vấn đề của không chỉ công tác truyền thông, giáo dục mà còn là một kế hoạch phát triển kinh tế, ổn định xã hội cả trước mắt lẫn lâu dài
Trang 32 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm vừa qua, do yêu cầu của cả lý luận và thực tiễn, đã có một số công trình nghiên cứu trên các phương diện khác nhau về di dời, giải tỏa và TĐC Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau:
- Thứ nhất: "Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn"
(TS Phạm Mộng Hoa - TS Lâm Mai Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000)
Với công trình này, các tác giả đã tập trung trình bày nội dung của các Nghị định, Thông tư quy định về mặt pháp lý đối với việc đền bù, giải tỏa và trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị giải tỏa; đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết và hạn chế của chính sách hiện hành trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa chính sách TĐC của Việt Nam với chính sách TĐC của các tổ chức quốc tế Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất, kiến nghị, bổ sung và điều chỉnh những chính sách hiện hành, làm cho những chính sách này phù hợp với yêu cầu thực tiễn
- Thứ hai: "Chính sách di dân châu á" (Dự án VIE/95/ 2004 Nxb Nông nghiệp
- Hà Nội, 1998).Trong công trình này đã có nhiều bài viết đề cập ở những góc độ khác nhau của việc di dời, giải toả,di dân TĐC Cụ thể trong bài viết "Chính sách tái định
cư do kết quả của sự phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam" (từ trang 180-195), tác giả Trương Thị Ngọc Lan bàn đến thực trạng công tác TĐC hiện nay ở nước ta và tập trung trình bày những nội dung chính của các văn bản pháp lý liên quan đến đền bù và TĐC
Tiếp theo, bài viết "Di dân nhập cư với vấn đề phát triển một đô thị mới như thành
phố Hồ Chí Minh", tác giả Lê Văn Thành bước đầu đề cập đến những khó khăn, thiệt thòi
về việc làm mà người dân TĐC phải đương đầu
Trang 4
- Thứ ba: "Tình hình thực hiện chính sách đền bù, TĐC và khôi phục cuộc sống
cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư phát triển tại các đô thị và khu công nghiệp" (Trần Xuân Quang, Hà Nội, 8/1997)
Đây là công trình đã khá thành công trong việc đưa ra những đánh giá có tính khái quát về tình hình thực hiện các chính sách đền bù, TĐC cho những người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển
Thứ tư: "Tái định cư bắt buộc” (Ngân hàng Phát triển châu á,1995) Trong tài
liệu này,TĐC bắt buộc được xác định là chính sách đền bù và hỗ trợ ổn định lại cuộc sống.Mục tiêu đặt ra cho việc TĐC là phải đảm bảo sau khi TĐC, những người bị ảnh hưởng bởi dự án ít nhất đạt tới mức sống như họ lẽ ra có được nếu không có dự án
- Thứ năm: “Hiện trạng và triển vọng cải thiện nhà ở, mức sống, môi trường
sống của người nghèo đô thị - trường hơp Thành phố Hồ Chí Minh” (chủ nhiệm đề
tài: GS.Tương Lai-1994).Với phương pháp điều tra Xã hội học, các tác giả đã thành công trong việc mô tả, đánh giá mức sống của nhóm người nghèo đô thị
- Thứ sáu: "Giải pháp để phát triển sản xuất cho bản Vân Kiều ở khu TĐC xã
Xuân Lộc-huyện Phú Lộc” (Trần Hữu Toàn và Mai Văn Xuân, đăng trên tap chí Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn) Từ thực trạng người dân TĐC gặp khó khăn trong phát triển sản xuất, các tác giả đã khuyến nghị các giải pháp để giải quyết vấn đề này
- Thứ bảy: “Một số vấn đề xã hội học hàng đầu của việc cải tạo- chỉnh trang đô
thị (CTĐT): giảm tổn thương cho nhóm dân cư nghèo nhất” của Nguyễn Quang Vinh
đăng trên tạp chí Xã hội học, số 1-2001 Đây là một nghiên cứu Xã hội học về sự ảnh hưởng của các dự án cải tạo - CTĐT đến việc làm và mức sống của nhóm dân cư nghèo ở
TP Hồ Chí Minh.Cách tiếp cận của tác giả đã gợi mở ra những hướng nghiên cứu rất bổ ích về đề tài biến đổi mức sống của nhóm dân cư bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hoá
- Với Đà Nẵng có bài viết "Giải quyết việc làm trong thời kỳ đẩy nhanh tốc độ
đô thị hóa ở Đà Nẵng" của Nguyễn Hoàng Long, đăng trên Tạp chí Lao động và xã
hội, số 218, 2003
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đánh giá tình hình giải quyết việc làm nói chung ở thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, trong đó có
Trang 5
đề cập đến một số "khó khăn nhất định - nhất là ở bước đầu trong vấn đề tìm việc làm
và thích nghi với địa bàn mới", của một số lao động trong diện di dời đến khu TĐC
Trong những năm gần đây còn có các dự án PMU nghiên cứu các công trình di dời, giải toả về giao thông (đường quốc lộ 1, đường 5, đường Hồ Chí Minh…) hay công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng đến các mặt kinh tế - xã hội của việc di dời, giải toả, tái đinh cư ở khu công nghiệp Dung Quất… Các nghiên cứu này chú trọng vào việc xem xét mức độ ảnh hưởng của các dự án đến các mặt kinh tế, xã hội, văn hoá, lối sống của người dân có liên quan đến dự án
Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, khái niệm TĐC chỉ mới xuất hiện trong một số năm gần đây, các nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều Các nghiên cứu về TĐC chủ yếu tiếp cận trên phương diện cơ sở pháp lý, tức là quan tâm xem xét các cơ chế chính sách hiện hành về giải tỏa đền bù, TĐC Còn việc nghiên cứu về thực trạng biến đổi mức sống của nhóm cư dân sau TĐC chỉ mới có một vài công trình đề cập tới song mới chỉ bước đầu Đến nay vẫn chưa có những công trình đề cập một cách toàn diện
và sâu sắc về sự biến đổi mức sống của nhóm cư dân sau TĐC ở Việt Nam nói chung và
ở thành phố Đà Nẵng nói riêng Do vậy, nghiên cứu, làm rõ "Biến đổi mức sống của
nhóm cư dân sau tái định cư ở Đà Nẵng" đang là điều rất cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu: Làm rõ thực trạng và nguyên nhân sự biến đổi mức
sống của nhóm dân cư sau TĐC ở Đà Nẵng để đề xuất những giải pháp nhằm góp phần ổn định và nâng cao đời sống cho cộng đồng cư dân sau TĐC
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt mục đích trên luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và những khái niệm cơ bản về sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC
- Khảo sát và đánh giá đúng thực trạng mức sống của nhóm dân cư sau TĐC
- Tìm hiểu những nguyên nhân kinh tế- xã hội làm thay đổi mức sống của cộng đồng dân cư sau TĐC
- Đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm ổn định và nâng cao chất lượng sống của nhóm dân cư sau TĐC
Trang 6
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC
4.2 Khách thể nghiên cứu: Các hộ gia đình trong diện giải toả đã di chuyển
vào khu TĐC
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sự biến đổi mức sống của nhóm dân chuyển cư vào khu TĐC trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến nay
5 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
5.1 Giả thuyết nghiên cứu
1) Di dời, TĐC trong quá trình xây dựng và chỉnh trang đô thị đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến mức sống của cộng đồng dân chuyển cư nhất là nhóm xã hội nghèo
2) Chỉ có nhóm cán bộ, công nhân viên sau chuyển cư là tương đối ổn định còn các nhóm xã hội khác, nhất là nhóm không có nghề nghiệp ổn định, đời sống đang gặp nhiều khó khăn
3) Các yếu tố cá nhân khác như trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp, tuổi, giới tính và hệ thống các chính sách do Đảng và Nhà nước ban hành đang tác động làm thay đổi nhiều đến mức sống của nhóm dân cư sau TĐC
5.2 Khung lý thuyết
Chính sách của Đảng
và Nhà nước Gia đình
- Quy mô gia đình, -Kiểu loại gia đình
- Nghề nghiệp gia đình
Cá nhân
Biến đổi mức sống
- Thu nhập
- Chi tiêu
- Tài sản, môi
Hệ quả
xã hội
Môi trường
tự nhiên,
kinh
tế –
Trang 7
a Biến phụ thuộc
Sự biến đổi mức sống được xác định thông qua các chỉ báo:
- Biến đổi về thu nhập ( thu nhập bình quân hộ và đầu người/ tháng so sánh với thời điểm trước chuyển cư)
- Biến đổi mức chi phí (ăn, ở, đi lại, học tập, chăm sóc sức khoẻ, giải trí và các dịch vụ khác so với trước chuyển cư)
- Tài sản và môi trường (quy mô, chất lượng, quyền sở hữu nhà ở, chất lượng môi trường tự nhiên xã hội)
- Sự thay đổi khả năng tiếp cận các dịch vụ đô thị cơ bản ( điện, đường, trường, trạm, chợ, thông tin liên lạc…)
+ Quy mô gia đình (đông thành viên, ít thành viên)
+ Kiểu loại gia đình (gia đình đầy đủ, gia đình khiếm khuyết)
+ Nghề nghiệp của gia đình (thuần nông, phi nông, hỗn hợp)
Trang 8- Dựa trên các quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung và chủ trương chính sách TĐC nói riêng của Đảng và Nhà nước
- Dựa trên các lý thuyết xã hội học như: Thuyết biến đổi xã hội, thuyết hệ thống và lý thuyết di dân…
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phân tích tài liệu có sẵn: đây là những tài liệu thu thập được từ các báo cáo tổng kết, các nghiên cứu đã có, các thống kê, các tài liệu khác liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Điều tra xã hội học trong đó nghiên cứu định tính với phỏng vấn sâu 20 trường hợp áp dụng đối với đại diện hộ gia đình thuộc diện giải toả đền bù hiện đang sinh sống trong khu TĐC và cán bộ lãnh đạo phường có dân TĐC; điều tra chọn mẫu bằng bảng hỏi với số lượng 210 phiếu tương ứng với 210 chủ hộ gia đình đã di chuyển vào khu TĐC; kết hợp với việc quan sát trực tiếp một số hộ gia đình điều tra về mức sống của nhóm dân cư sống trong khu TĐC
7 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Vận dụng các lý thuyết về biến đổi xã hội, lý thuyết hệ thống và lý thuyết di dân để giải thích quá trình biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC ở Đà Nẵng
- Góp phần bổ sung, hoàn chỉnh thêm cơ sở khoa học cho việc xác định và hoạch định các chính sách mà Đà Nẵng cần thực hiện cho cư dân vùng TĐC để phát triển kinh tế xã hội bền vững
8 ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Trang 9
- Kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ lãnh đạo quản lý ở Đà Nẵng và các địa phương có điều kiện tương tự trong việc hoạch định và
thực hiện chính sách đền bù giải toả và TĐC
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề có liên quan đến biến đổi đời sống xã hội trong quá trình đô thị hoá
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Chương 1
CƠ Sở Lý LUậN CủA VấN Đề NGHIÊN CứU
1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1.1 Mức sống
1.1.1.1 Khái niệm mức sống
Mức sống là một khái niệm được dùng khá phổ biến trong các nghiên cứu để đánh giá mức độ đạt được về các điều kiện sống của dân cư Tuy nhiên, mức sống là một phạm trù kinh tế - xã hội rất rộng nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì mức sống là “mức đạt được trong chi dùng, hưởng
thụ các điều kiện vật chất, tinh thần” [40 tr.1157] Như vậy với quan niệm này thì mức sống được hiểu là mức độ đạt được về các điều kiện vật chất và tinh thần của dân cư
Theo Mác thì “Mức sống dân cư không phải chỉ là sự thoả mãn nhu cầu của đời sống vật chất mà còn là sự thoả mãn nhu cầu nhất định, những nhu cầu được sản sinh bởi chính những điều kiện xã hội mà trong đó con người đang sống và trưởng thành” [23]
Nghĩa là ngoài đòi hỏi về những điều kiện vật chất, con người ta còn hướng tới những nhu cầu xã hội Những nhu cầu xã hội được sản sinh từ chính những điều kiện xã hội nên đương nhiên nó luôn thay đổi theo sự phát triển của những điều kiện xã hội Điều đó
Trang 10
cũng chứng tỏ rằng mức sống không phải là phạm trù nhất thành bất biến mà luôn biến
đổi theo thời gian và không gian nhất định
Trên những quan điểm chung đó, Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái
niệm mức sống vừa khái quát vừa cụ thể như sau:
Mức sống là phạm trù kinh tế - xã hội đặc trưng mức thoả mãn nhu cầu
về thể chất, tinh thần và xã hội của con người Được thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu số lượng và chất lượng của điều kiện sinh hoạt và lao động của con người Một mặt, mức sống được quyết định bởi số lượng và chất lượng của cải vật chất và văn hoá dùng để thoả mãn nhu cầu của đời sống; mặt khác, được quyết định bởi mức độ phát triển bản thân nhu cầu của con người Mức sống không chỉ phụ thuộc vào nền sản xuất hiện tại mà còn phụ thuộc vào quy
mô của cải quốc dân và của cải cá nhân đã được tích luỹ Mức sống và các chỉ tiêu thể hiện nó là do tính chất của hình thái kinh tế - xã hội quyết định [15, tr
973]
Như vậy, mức sống là trình độ thoả mãn nhu cầu toàn diện, thường xuyên tăng lên
của dân cư Mức sống dân cư còn cho ta biết mức độ (cái được xác nhận là nhiều hay ít trên một thang độ nào đó) về các điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhóm dân
cư đó [25]
Nếu so với khái niệm đời sống thì mức sống có ý nghĩa cụ thể hơn Phạm vi ngữ nghĩa của từ đời sống thường được sử dụng một cách khá chung chung, ý nghĩa bao hàm
rộng Mặc dù vậy, để đánh giá về đời sống thì các nhà nghiên cứu lại không thể tách rời
với việc đo lường, đánh giá mức sống
Mức sống cũng có quan hệ gần gũi với khái niệm chất lượng cuộc sống, bởi chất
lượng cuộc sống được hiểu là điều kiện sống làm cho con người thoả mãn các nhu cầu về
tinh thần và vật chất Như vậy, mức sống và chất lượng cuộc sống đều có đặc trưng liên
quan đến mức độ hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần của con người, trong đó mức sống thường thiên nhiều về mặt "lượng" của đời sống còn chất lượng cuộc sống thiên nhiều về mặt "chất" của đời sống Chất lượng sống phải đo lường bằng những chỉ báo cụ
Trang 11về mức sống phải nghiên cứu trong tính lịch sử và cụ thể của nó
Không chỉ làm rõ khái niệm "mức sống", luận văn còn phải làm rõ khái niệm
"biến đổi mức sống" (BĐMS) Song để có cơ sở nhận thức rõ hơn về khái niệm BĐMS phải bắt đầu từ khái niệm biến đổi Biến đổi là gì? Biến đổi như thế nào? Theo Từ điển tiếng Việt “Biến đổi là sự thay đổi so với cái trước đó” [37, tr.89] Sự thay đổi đó có thể tăng hoặc giảm, từ dạng này sang dạng khác, từ hình thái này sang hình thái khác
Vậy biến đổi mức sống là sự thay đổi mức độ thoả mãn các nhu cầu về thể chất,
tinh thần và xã hội của người dân Vì biến đổi mức sống là một quá trình kinh tế - xã hội nên để xác định nó, mỗi phép đo đều cần ít nhất hai thời điểm khác nhau Điểm mốc mà tác giả lựa chọn để so sánh, làm sáng tỏ sự biến đổi mức sống của người dân là sau khi đối tượng được giải toả, di dời và sinh sống ở khu TĐC so với mức sống thời gian trước
di dời Khoảng thời gian sau TĐC được lựa chọn để nghiên cứu ít nhất là từ hơn 6 tháng trở lên Những hộ gia đình mới chuyển vào khu TĐC với thời gian dưới 6 tháng chưa đủ thời gian cần thiết để đánh giá về những biến đổi mức sống của họ Đối với Thành phố
Đà Nẵng, năm 1997 là một mốc khá trọng đại vì được tách ra từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng để trở thành thành phố trực thuộc trung ương Đây cũng là thời điểm mà thành phố triển khai mạnh mẽ các chương trình, dự án quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị Vì vậy, nhóm dân cư thuộc diện TĐC trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm 2004 trở thành đối tượng nghiên cứu của luận văn
Trang 12Trước hết, là chỉ báo về thu nhập Đây là yếu tố quan trọng đầu tiên để đo lường mức sống ở đây thu nhập thực tế thường được tính theo bình quân đầu người/tháng ở Đà Nẵng, bình quân đầu người/tháng được tính theo 5 mức rất nghèo, tạm đủ, trung bình, khá giả, giàu như sau:
- Nhóm hộ nghèo :Từ 150.000đ trở xuống/đầu người/tháng
- Nhóm hộ tạm đủ :Từ trên 150.000đ - 300.000đ/đầu người/tháng
- Nhóm hộ trung bình :Từ trên 300.000đ - 600.000đ/đầu người/tháng
- Nhóm hộ khá giả :Từ trên 600.000đ-1.200.000đ/đầu người/tháng
- Nhóm hộ giàu :Từ trên 1.2000.000đ trở lên/đầu người/tháng
Sự phân chia này được dựa trên định mức chuẩn nghèo ở khu vực đô thị của Tổng cục thống kê
Thu nhập là chỉ tiêu rất quan trọng để đo lường mức sống, song nếu căn cứ thuần tuý vào mức thu nhập bình quân đầu người/tháng thì sự nhận biết về mức sống dân cư sẽ chưa thật đầy đủ và chính xác Một mặt do mức thu nhập của người dân sau TĐC có
sự dao động rất lớn, do tình trạng thu nhập không ổn định trong môi trường hoạt động kinh tế của người dân TĐC gây ra
Mặt khác, các hộ dân TĐC phải trang trải những chi phí lớn cho việc làm nhà, tạo lập những điều kiện vật chất cần thiết ở nơi cư trú mới nên phần đông đang là những con
nợ Phần chi tiêu cho đời sống gia đình họ trở nên eo hẹp khi phải dành dụm phần thu nhập để trả nợ
Vì vậy, đánh giá mức sống cần phải xem xét về một số chỉ báo khác như, chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở, đi lại) và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội (giáo dục, y tế, vui chới giải trí,…)
Trang 13
ở đây, phần chi tiêu chủ yếu tập trung cho các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Trong đó, số lượng các khoản chi và cơ cấu của chúng cũng là những yếu tố phản ánh mức sống và chất lượng sống của từng hộ dân cũng như của cả cộng đồng dân cư này
Ngoài ra, nhu cầu và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế, vui chới, giải trí cũng là những chỉ báo cần phải đo lường Mức sống của cộng đồng dân chuyển cư tăng lên hay giảm đi một phần phụ thuộc mức độ thuận tiện và khả năng tiếp cận những dịch vụ xã hội này Tỷ lệ người đánh giá mức tiếp cận của dịch vụ khá lên, như cũ hay giảm đi so với trước chuyển cư là những chỉ báo đo lường mức sống của nhóm xã hội này
1.1.2 Nhóm xã hội
Nhóm xã hội là những bộ phận cơ bản, hữu cơ cấu thành nên xã hội Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Nhóm xã hội là khái niệm xã hội học chỉ một tập hợp người liên kết với nhau bởi các dấu hiệu hình thức hoặc bản chất được điều chỉnh bởi những thiết chế có những giá trị chung và ít nhiều biệt lập với các tập hợp người khác” [15, tr.264]
Như vậy không phải bất cứ một tập hợp người nào cũng là một nhóm Theo quan niệm xã hội học thì nhóm phải là một tập hợp người mà đặc trưng quan trọng nhất là họ
cơ bản có chung hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội, nhờ đó họ có khuôn mẫu hành vi
cơ bản giống nhau Khoa học xã hội học đã dựa trên những tiêu chí này mà xem xét sự khác biệt giữa nhóm công nhân với nông dân, nông dân với trí thức hoặc nhóm phân chia theo các tiêu chí khác nhau như nghề nghiêp, tuổi tác, vùng sinh sống, giới, dân tộc,…
Nhóm là một khái niệm rất rộng và phức tạp Theo số lượng các thành viên và điều kiện tác động lẫn nhau trong nhóm, các nhóm xã hội được chia làm nhóm nhỏ và nhóm lớn
Nhóm lớn là nhóm mà các thành viên liên kết nhau bởi điều kiện khách quan chung, xác định sự tồn tại của họ một cách vững chắc như giai cấp, tầng lớp, dân tộc, đảng phái chính trị, nghề nghiệp
Trang 14
Nhóm nhỏ là nhóm người tồn tại trong khoảng không gian và thời gian xác định, được liên kết bởi các quan hệ thực tế của các thành viên của nhóm, thực hiện trên cơ sở giao tiếp như các đội sản xuất, lớp học, gia đình, nhóm bạn bè
Dựa vào tính chất, mức độ tổ chức có nhóm chính thức và nhóm không chính thức Nhóm chính thức là tập hợp người có mối liên hệ được quy chuẩn hoá thông qua những thiết chế xã hội xác định Còn nhóm không chính thức là những nhóm hình thành
tự phát trong đó các quan hệ của các thành viên nhóm không được thiết chế hoá Hiện nay, trong nhiều ngành khoa học xã hội, thuật ngữ nhóm được dùng với hai nghĩa: nhóm quy ước và nhóm thực
Nhóm quy ước là những nhóm do người ta lập ra theo những dấu hiệu nhất định
để nghiên cứu Chẳng hạn, trong phân tích kết quả những nghiên cứu xã hội học, chúng
ta có thể phân chia các đối tượng khảo sát thành những nhóm một cách có chủ định theo:
Nhóm dân cư bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, quy hoạch và chỉnh trang đô thị ở Đà Nẵng trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến nay là nhóm xã hội
mà luận văn quan tâm nghiên cứu Họ có đặc trưng chung là cùng bị ảnh hưởng bởi các
dự án phát triển của thành phố nên phải giải toả di dời và tạo lập cuộc sống mới trong các khu TĐC
Để có cái nhìn sâu hơn về cơ cấu xã hội của nhóm cư dân thuộc diện giải toả, TĐC, trong quá trình phân tích, tác giả cũng sẽ phân chia các đối tượng theo các nhóm quy ước như: giàu, nghèo, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới tính,
1.1.3 Giải toả, đền bù và tái định cư
Trang 15
1.1.3.1 Giải toả: Cũng như khái niệm đền bù, TĐC, khái niệm giải toả được sử
dụng phổ biến trong các Nghị định, Quyết định, Thông tư của Chính phủ, của các bộ ngành và địa phương nhằm quy định trách nhiệm của Nhà nước, của các chủ dự án cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong diện bị ảnh hưởng bởi các dự án an ninh, quốc phòng, kinh tế - xã hội
Theo nghĩa gốc, giải toả là sự từ bỏ, làm cho nó thoát khỏi [40, tr.726]
Khái niệm giải toả được đề cập đến trong nghiên cứu này chính là nói đến việc
phá, dỡ những kết cấu cũ đang trở thành những chướng ngại để giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện cho việc triển khai các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội nào đó
sử dụng vào các mục đích an ninh, quốc phòng hay phát triển kinh tế - xã hội nói chung
ở Đà Nẵng, trong những năm qua, chính quyền thành phố đã thường xuyên tiến hành đền bù, giải phóng mặt bằng nhằm thực hiện các dự án quy hoạch phát triển đô thị
Phương thức đền bù được thành phố Đà Nẵng vận dụng trong việc giải phóng mặt bằng
là hoàn trả bằng tiền khi người dân bị mất đất và bị hư hại các tài sản khác Người dân trong diện giải toả được đền bù bằng tiền và được quyền ưu tiên mua lại đất theo khung giá mà thành phố quy định cho các khu quy hoạch (tức là các khu dành cho TĐC)
1.1.3.3 Tái định cư
- Theo nghĩa rộng, “Tái định cư là một quá trình bao gồm đền bù các thiệt hại về đất đai và tài sản di chuyển, TĐC, ổn định và khôi phục cuộc sống cho những người bị thu hồi đất để xây dựng các dự án Tái định cư còn bao gồm các hoạt động nhằm hỗ trợ cho những người bị ảnh hưởng do việc thực hiện các dự án gây ra, khôi phục và cải thiện mức sống, tạo
Trang 16- Theo nghĩa hẹp, TĐC được dùng chỉ sự di chuyển của các hộ gia đình tới định cư
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả vừa sử dụng khái niệm TĐC theo nghĩa hẹp để xác định không gian nghiên cứu, vừa đồng thời và chủ yếu sử dụng khái niệm TĐC theo nghĩa rộng tức là quan tâm đến đối tượng TĐC là những cá nhân, hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi các dự án quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị với tất cả những yếu tố có liên quan như: đền bù, hỗ trợ di dời và điều kiện sinh sống tại các khu TĐC của thành phố
1.2 Một số lý thuyết xã hội học áp dụng trong nghiên cứu luận văn 1.2.1 Lý thuyết về biến đổi xã hội
Mọi xã hội đều tồn tại trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng Biến đổi xã hội (BĐXH) là một quá trình, một thuộc tính tất yếu của xã hội
ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau, mỗi khoa học có quan điểm khác nhau về BĐXH Theo quan điểm của xã hội học thì BĐXH là khái niệm chỉ sự khác biệt về phương diện xã hội của thời điểm hiện tại so với thời điểm trước đó của một hệ thống xã hội, trọng tâm là sự biến đổi của cơ cấu xã hội
Sự khác biệt về phương diện xã hội được nói tới ở đây là sự thay đổi của các dạng hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, các hệ thống phân tầng xã hội
Trang 17
Không phải mọi sự thay đổi nào đó diễn ra trong xã hội đều được coi là BĐXH, mà chỉ
có những thay đổi có ảnh hưởng sâu sắc tới đa số cá nhân trong xã hội, sự thay đổi các cơ cấu, tổ chức, các tầng lớp xã hội mới được coi là sự BĐXH
Sự BĐXH rất phức tạp và có thể diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau: có biến đổi phát triển tức là diễn ra theo chiều hướng tích cực, tiến bộ, phù hợp với mong muốn của xã hội Có biến đổi suy thoái, diễn ra theo chiều hướng xấu, xã hội lâm vào bế tắc với những xung đột, đổ vỡ, thay đổi xã hội [39, tr.255-256]
Theo một số nhà nghiên cứu thì sự BĐXH là tổ hợp của rất nhiều nguyên nhân chứ không phụ thuộc duy nhất vào một yếu tố đơn lẻ Sự tương tác phức tạp của nhiều yếu tố - cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài đã tạo nên sự biến đổi Các nhà lý thuyết hiện đại chú trọng các yếu tố: môi trường vật chất (biến động của thiên nhiên), công nghệ, sức ép dân số, giao lưu văn hoá để lý giải những BĐXH
Quan niệm biến đổi tổng hợp còn khẳng định sự biến đổi có thể đi lên, có thể là đi xuống, thậm chí bị huỷ diệt Sự biến đổi cũng thường mang tính chu kỳ Trên thực tế, mỗi lý thuyết đều có quan điểm luận giải khác nhau về sự biến đổi xã hội mà trong đó mỗi lý thuyết đều có hạt nhân hợp lý về nhận thức cũng như dự báo quá trình biến đổi xã hội Để nhận thức một cách đầy đủ quá trình biến đổi xã hội nói chung và biến đổi mức sống của người dân sau TĐC nói riêng không thể không chú ý tới các yếu tố hợp lý này
Luận văn sẽ cố gắng tích hợp các yếu tố hợp lý nói trên để có cái nhìn đa diện, đa chiều
về những yếu tố tác động đến mức sống và dự báo xu hướng biến đổi mức sống của người dân trong quá trình đô thị hoá
Theo lý thuyết về sự BĐXH có hai quá trình có thể xảy ra: sự biến đổi từ từ- tiến hoá và sự biến đổi nhảy vọt- cách mạng Nghiên cứu những biến đổi về mức sống của nhóm dân chuyển cư ở một thành phố như Đà Nẵng có thể xem xét sự biến đổi dưới cả hai quá trình này song sự biến đổi này có thể xem xét nhiều hơn dưới góc nhìn tiến hoá
Các nhà xã hội học đại diện tiêu biểu cho quan điểm tiến hoá là A Comte 1857) và H.Spencer (1820-1883) Các ông cho rằng, BĐXH là sự tăng trưởng và phát triển của xã hội (cả vật chất lẫn trí tuệ) cùng năng suất lao động xã hội Đó là quá trình
Trang 18sẽ bị, loại bỏ dần
Như vậy, theo quan điểm này thì BĐXH là “sự tiến hoá một chiều” [6, tr.252], tất cả các
xã hội đều tiến hoá từ hình thức đơn giản đến phức tạp, hình thức sau bao giờ cũng tiến xa hơn những hình thức trước của nó
Nhìn chung, hạt nhân hợp lý của lý thuyết này là khẳng định đặc trưng cơ bản của BĐXH, đó là tiến bộ xã hội Đô thị hoá nhằm kiến tạo lại môi trường sống dân cư là hoạt động mang tính tất yếu của sự phát triển xã hội Xem xét sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC ở Đà Nẵng phải được đặt trong quá trình vận động, phát triển chung đó mới nhận thức được bản chất vấn đề
ở đây, biến đổi mức sống, một mặt phải xem xét đầy đủ các yếu tố tạo thành về cả vật chất lẫn tinh thần và mặt khác là các chiều hướng biến đổi thuận và nghịch của quá trình này Trên cơ sở đó mà đánh giá tổng hợp sự biến đổi
1.2.2 Lý thuyết xung đột
Luận điểm gốc của thuyết xung đột cho rằng, do có sự khan hiếm các nguồn lực (đất đai, nguyên vật liệu, tiền tài, địa vị ) và do sự phân công lao động và sự bất bình đẳng trong phân bổ nguồn lực, quyền lực nên quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội luôn nằm trong tình trạng mâu thuẫn, cạnh tranh với nhau vì lợi ích [17, tr 232] Theo quan niệm của Mác và Ăngghen thì “toàn bộ sự phát triển của xã hội loài người từ ngày
Trang 19ở trình độ cao đã làm cho vai trò, động lực của con người càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Quan điểm xung đột rõ ràng cho ta một cách nhìn sâu sắc, khi xem xét và giải quyết các mâu thuẫn, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nhóm xã hội với nhau, giữa các tổ chức và cá nhân trong vấn đề phân chia lợi ích Với cộng đồng dân cư phải di dời, giải toả, lý thuyết xung đột giúp chúng ta đi sâu, xem xét những xung đột trong bản thân người dân TĐC trước những lựa chọn quyết định có liên quan đến đời sống gia đình, đồng thời còn nhằm lý giải sự chênh lệch về lợi ích giữa người dân bị thu hồi đất phải di dời với lợi ích của các chủ dự án
Chuyển đổi nơi cư trú tất yếu dẫn đến chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, thu nhập và như vậy có sự phân định mức sống giữa các nhóm xã hội khác nhau Có thể khẳng định, tính năng động của hộ gia đình phần nào ảnh hưởng đến mức sống Những hộ năng động,
có kiến thức, có năng lực, thích ứng nhanh với môi trường mới, lựa chọn được phương thức làm ăn mới thì sớm ổn định cuộc sống Điều này, một phần nào, làm phân hoá giàu nghèo tăng và cũng làm tăng sự bất bình đẳng giữa các nhóm hộ có cơ cấu nghề nghiệp khác nhau Đây là những yếu tố giúp cho việc nhìn nhận một cách sâu sắc hơn những biến đổi diễn ra trong cộng đồng dân chuyển cư đã được nghiên cứu
1.2.3 Tiếp cận theo lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống được áp dụng trong nghiên cứu xã hội đã coi xã hội là một
hệ thống với tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định
Trang 20
và tính chỉnh thể Hệ thống này có những thuộc tính và những quy luật tích hợp [5, tr.20] Nguyên lý tính chỉnh thể là nguyên lý xuất phát đồng thời là nguyên lý trung tâm của lý thuyết hệ thống Nó cho thấy đặc trưng cơ bản nhất của hệ thống là tính thống nhất chỉnh thể Tính thống nhất của hệ thống còn là sự thống nhất trong đa dạng hay gọi đó là nguyên lý tính phức thể Hệ thống là một thể phức tạp, đa cấu trúc, đa chức năng, phức tạp về các loại quan hệ Trong cấu trúc có hệ thống đóng khác với hệ thống mở; hệ thống thuần nhất khác với hệ thống không thuần nhất; Hệ thống điều khiển với hệ thống bị điều khiển Còn trong chức năng có những phạm trù thể hiện hành vi, hành động, hoạt động nhằm duy trì hệ thống; trong quan hệ có quan hệ vĩ mô khác quan
hệ vi mô, quan hệ bên trong (nội tại) khác với quan hệ bên ngoài
Lý thuyết hệ thống trong xã hội học gắn liền với tên tuổi Talcott Parsons - nhà xã hội học người Mỹ
Về mặt lý thuyết, Parsons xem xét hệ thống trong một trục toạ độ 3 chiều: cấu trúc
- chức năng - kiểm soát Tức là hệ thống nào cũng có cấu trúc của nó, hệ thống luôn nằm trong trạng thái động vừa tự biến đổi vừa trao đổi với môi trường xung quanh, hệ thống
có khả năng điều khiển và tự điều khiển [17, tr.204]
Parsons đã đưa ra sơ đồ nổi tiếng về hệ thống chức năng xã hội, viết tắt là AGIL
Trong đó gồm bốn loại yêu cầu chức năng hợp thành: (A) thích ứng với môi trường; (G) Hướng đích - huy động các nguồn lực để đạt mục tiêu; (I) Liên kết, phối hợp các hoạt động; (L) Duy trì khuôn mẫu để tạo ra sự ổn định , trật tự
Tương ứng với sơ đồ trên, trong hệ thống xã hội, người ta có tiểu hệ thống kinh tế;
tiểu hệ thống chính trị; tiểu hệ thống pháp luật và tiểu hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội được quy chuẩn thông qua các thiết chế gia đình, nhà trường, tổ chức văn hoá, tôn giáo [17, tr.204]
Tương quan và tương tác AGIL sẽ đảm bảo trật tự, ổn định của hệ thống xã hội
Với những đặc trưng, tính chất nói trên, chúng ta có thể vận dụng thuyết hệ thống vào nghiên cứu sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC
Trước hết coi mức sống như là tổng hợp của nhiều yếu tố thống nhất Tính chỉnh thể của mức sống thể hiện qua các yếu tố cấu thành như mức sống vật chất và mức sống
Trang 21
tinh thần Trong đó mức sống vật chất thể hiện ở mức ăn, ở, mặc, đi lại, học tập, chăm sóc sức khoẻ,… và mức sống tinh thần thể hiện ở mức hưởng thụ các thành quả về văn hoá, nghệ thuật, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí và các quyền tự do chính trị mà người ta được hưởng
Đến lượt nó, mức sống lại chịu tác động của tổ hợp các yếu tố kinh tế xã hội như nghề nghiệp, gia đình, địa vị xã hội, giới, học vấn và môi trường xã hội Nghiên cứu sự biến đổi về mức sống cần phải đặt trong tổng thể hệ thống những yếu tố này
Ngoài ra còn phải xem xét mức sống như một phạm trù có tính hệ thống luôn luôn biến đổi và ngày càng được nâng cao Khi xã hội phát triển, mức sống cũng chuyển động theo đúng khả năng của mỗi cá nhân và gia đình Sự hướng đích của mọi sự phát triển là tạo ra sự cân bằng, hài hoà trong hệ thống mức sống của từng nhóm xã hội và ảnh hưởng của nó đến các phương diện khác của xã hội
Tóm lại, sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC sẽ được lý giải phần nào theo các nguyên lý của hệ thống, và thông qua đó để phân tích những đặc điểm của sự biến đổi và những nhân tố tác động đến quá trình đó
1.2.4 Tiếp cận theo lý thuyết di dân
Đã có nhiều quan niệm khác nhau về di dân, tuy nhiên có thể hiểu di dân theo hai cấp độ sau đây:
Theo nghĩa rộng: Di dân là sự di chuyển của người dân trong không gian và thời gian nhất định Theo quan niệm này thì di dân là khái niệm chỉ mọi sự vận động, dịch chuyển của dân cư
Theo nghĩa hẹp: Di dân là sự di chuyển của dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này sang đơn vị lãnh thổ khác, nhằm xác lập nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định (Liên hợp quốc)
Như vậy, theo quan niệm này thì di dân được hiểu là sự di chuyển dân cư gắn với việc thiết lập nơi cư trú mới Đây cũng là quan niệm mà tác giả sử dụng để nghiên cứu quá trình người dân di chuyển để tái lập lại nơi cư trú mới trong quá trình thực hiện chủ trương di dời, giải toả nhằm chỉnh trang đô thị ở Đà Nẵng
Trang 22
Có nhiều cách phân loại các hình thức di dân khác nhau Theo độ dài thời gian cư trú, có các hình thức di dân lâu dài, tạm thời và chuyển tiếp
Theo khoảng cách người ta phân biệt di dân xa hay gần, giữa nơi đi và nơi đến
Trên bình diện chung có thể chia thành di dân quốc tế và di dân nội địa ở hình thức di dân nội địa, để phục vụ cho mục đích nghiên cứu có thể chia ra di dân nội vùng và di dân ngoại vùng
Theo tính pháp lý, người ta phân biệt di dân hợp pháp hay không hợp pháp; di dân
tự do hay có tổ chức; di dân tình nguyện hay bắt buộc Tuỳ vào mức độ can thiệp của chính quyền mà người ta phân chia di dân theo loại này hay loại khác
Di dời giải toả và TĐC đang là chủ trương lớn của thành phố Đà Nẵng nhằm thực hiện quy hoạch, chỉnh trang đô thị (CTĐT) Đây cũng là xu hướng tất yếu của quá trình
đô thị hoá theo chiều sâu nhằm hướng tới một xã hội văn minh hiện đại
Quá trình di dời giải toả, tái lập nơi cư trú mới ở các khu TĐC của một bộ phận dân cư ở Đà Nẵng từ năm 1997 đến nay là hình thức di dân lâu dài, thuộc diện di dân nội vùng có tổ chức, có kế hoạch Người dân di chuyển nơi ở trong phạm vi thành phố, theo kế hoạch giải toả di dời mà thành phố đã định sẵn
Di dân vốn mang bản chất kinh tế - xã hội sâu sắc, vì vậy để quá trình di dân và TĐC đạt hiệu quả mong muốn thì vấn đề đặt ra là phải chú trọng đến các mục tiêu kinh tế
và xã hội Do đó, động cơ di dân đến các khu tái định được luận văn đặc biệt quan tâm xem xét
Về các nguyên nhân di dân chủ yếu, trên cơ sở quan sát các hiện tượng di dân trên thế giới, nhiều lý thuyết di dân đã được khái quát, trong đó phải kể đến lý thuyết “lực hút - lực đẩy” do Ravenstein (1889) là người đầu tiên đưa ra
Theo GS.TS Tống Văn Đường thì khi phân tích các dòng di dân ở nước Anh, Raventein cho rằng các yếu tố “lực hút” quan trọng hơn các yếu tố “lực đẩy” Ông nói rằng:
“Các luật lệ tồi hoặc ngột ngạt, thuế khoá nặng nề, khí hậu không thuận hoà, môi trường xã hội xung quanh không cởi mở, thậm chí có sự cưỡng bức (trong buôn bán, vận chuyển nô lệ), tất cả những điều đó đã và đang tạo ra các hình thức di dân, tuy nhiên không có loại hình thức di dân nào có thể so sánh với khát vọng tiềm ẩn trong mỗi người đàn ông vươn lên “làm
Trang 23
tốt hơn” cuộc sống của chính họ về phương diện vật chất [10, tr.86] Nghĩa là Raventein cho rằng khát vọng vươn lên phía trước, hướng tới điều kiện sống tốt hơn, thuận lợi, đó mới chính là thực chất động cơ di dân của phần lớn dân di cư
Ngoài ra còn có các lý thuyết di dân mới lý giải các nguyên nhân di dân Chẳng hạn một vài lý thuyết điển hình như mô hình phân tích “chi phí - lợi ích” trong quyết định di dân
Người di cư sẽ cân nhắc các yếu tố lực đẩy và các yếu tố lực hút và họ sẽ di cư nếu như nhận thấy lợi ích có được nhiều hơn chi phí Chẳng hạn như anh thiếu việc làm hay thất nghiệp, mức sống thấp trong khi đó ai di dân đến nơi ở mới có việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn
thì người ta dễ dàng thực hiện quyết định di dân Có thể nói, quyết định di dân còn phụ thuộc vào một số biến số khác nữa, tuy nhiên trong đó các biến số kinh tế là chủ đạo lý giải nguyên nhân di dân, sau đó là các cơ hội, phát triển cá nhân và ý thức cộng đồng
Như vậy các lý thuyết di dân đều chỉ ra yếu tố lợi ích, đặc biệt lợi ích kinh tế là
động cơ chính yếu tạo ra “lực hút” các dòng di cư đến các khu định cư mới Đây chính là căn cứ để đi vào phân tích sự biến đổi mức sống của người dân sau TĐC, đồng thời cũng
là cơ sở khoa học để tác giả đề xuất các giải pháp nhằm ổn định và nâng cao mức sống cho người dân sau TĐC
Đời sống của người dân ở các khu TĐC sớm ổn định và được nâng cao là yếu tố quan trọng, quyết định sự ổn định chính trị - xã hội và là tiền đề để thúc đẩy nhanh tiến trình phát triển đô thị hoá theo chiều sâu của Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung trong những năm tới
1.3 Quan điểm chính sách của Đảng, Nhà nước về đô thị hoá và tái định cư 1.3.1 Quan điểm về đô thị hoá
Đô thị hoá là quá trình mở rộng đô thị, biến nông thôn thành thành thị tạo môi trường sống theo hướng văn minh, hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển của cá nhân và xã hội Do vậy, đô thị hoá vừa là xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử xã hội, vừa là thước đo trình độ phát triển của mỗi quốc gia, mỗi địa phương
Lịch sử hàng ngàn năm của nhân loại đã chứng minh rằng các đô thị thường đóng vai trò là các trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá và xã hội, là động lực của
sự tiến bộ xã hội Các đô thị luôn giữ vai trò là đầu tàu dẫn dắt các cộng đồng nông thôn
Trang 24
đi theo mình trên con đường tiến bộ và văn minh Theo dự báo của Liên hợp quốc, đến năm 2007, trên trái đất chúng ta sẽ có tỷ lệ dân số sống ở các đô thị vượt quá con số 50%, tức là phần lớn nhân loại đang và sẽ sống trong môi trường đô thị
Nhận thức sâu sắc quy luật vận động phát triển của lịch sử, đồng thời thấy được vai trò đầu tàu của đô thị trong việc phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm coi trọng đến chiến lược đô thị hoá và lấy quan điểm phát triển bền vững với mục tiêu vì con người, lấy con người làm trung tâm, xác định “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển” làm trọng
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định: “Sớm quy hoạch mạng lưới đô thị lớn, vừa và nhỏ trong toàn quốc phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển đô thị đi đôi với việc xây dựng đồng bộ và quản lý các công trình công cộng (điện, cấp thoát nước, cây xanh ) [7, tr.214] Nghĩa là không thể để quá trình đô thị hoá diễn ra một cách tự phát, xen lẫn giữa cái được, cái mất mà phải dựa trên cơ sở đã được kế hoạch hoá trong chiến lược phát triển, lâu dài của đất nước
Theo Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII), phương hướng phát triển đô thị nước
ta là: "cải tạo, mở rộng, nâng cấp đô thị hiện có Xây dựng Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ thành những trung tâm lớn song tránh tập trung quá đông dân cư Nâng cấp một số đô thị loại vừa, trước hết là các đô thị nằm trên trục đường giao thông chính, ở các cửa khẩu, các địa bàn kinh tế trọng điểm” Đô thị hoá phải gắn liền với mục tiêu là “tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân” [8, tr.90]
Trong quy hoạch phát triển mạng lưới đô thị ở Việt Nam, Đà Nẵng được xác định
là thành phố trung tâm về kinh tế, chính trị - văn hoá - xã hội của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Kể từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương từ 1997, cấp
uỷ và chính quyền thành phố đã chủ trương đẩy mạnh công tác quy hoạch, tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng một cách đồng bộ, xây dựng thành phố theo hướng văn minh hiện đại
Ngay từ năm 1997, các cơ quan chức năng đã đưa ra quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2010 với nội dung: xây dựng thành phố Đà Nẵng trở
Trang 25
thành một đô thị hiện đại, văn minh, phát triển trong thế ổn định và bền vững, có vị trí trung tâm của miền Trung và Tây Nguyên về công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, tài chính, bưu chính viễn thông, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ trong mối quan hệ với cả nước, khu vực Asean, mà trước tiên là các lãnh thổ phía tây: Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma [35, tr.35]
Ngày 16/10/2003, Bộ Chính trị ban hành nghị quyết 33/NQ-TW về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và đã xác định: Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ, là thành phố Cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính viễn thông và tài chính - ngân hàng;
một trong những trung tâm văn hoá - thể thao, giáo dục - đào tạo về khoa học công nghệ của miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của khu vực miền Trung và của cả nước
Nghị quyết nói trên của Bộ Chính trị thực sự là một sự định hướng chiến lược cho
Đà Nẵng phát triển mạnh trong tương lai không xa
1.3.2.Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về tái định cư
Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về TĐC được thể hiện qua các văn bản pháp lý liên quan đến đền bù thiệt hại và TĐC
Nghị định 151 của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 14/4/1959 quy định về thể
lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc đền
bù và TĐC bắt buộc ở Việt Nam Nghị định này đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản trong việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân cho việc xây dựng các công trình do Nhà nước quản lý
Tuy nhiên, trước năm 1992, đất đai chưa được giao cho các hộ gia đình sử dụng
ổn định và lâu dài nên khi cần Nhà nước chỉ thu hồi lại mà không nhất thiết phải đền bù hoặc chỉ đền bù cho chính quyền địa phương hay tập thể đang sử dụng đất, mức đền bù các tài sản bị thiệt hại không được quy định rõ ràng mà giải quyết theo thoả thuận
Trang 26
Sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 1993 và 2003 đã đặt cơ sở nền tảng pháp lý cho chính sách đền bù, TĐC ngày càng đi dần đến sự hoàn chỉnh hơn để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đời sống
Bản Hiến pháp sửa đổi được thông qua năm 1992 đảm bảo quyền dân chủ của công dân, quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai và tài nguyên, quyền sử dụng đất của các tổ chức và cá nhân; đặc biệt Hiến pháp 1992 còn bao gồm việc công nhận và bảo
vệ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tư nhân về tài sản và sản xuất
Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai sửa đổi năm 2003 là những văn kiện quan trọng làm cơ sở cho việc thực hiện đền bù và TĐC cho những người bị mất nơi ở một cách không tự nguyện
Các Luật Đất đai nói trên đã xác định: đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Các tổ chức và cá nhân không thể sở hữu đất đai nhưng lại được giao quyền sử dụng đất và điều này lại tạo ra cơ sở pháp lý cho quyền đền bù khi Nhà nước thu hồi đất
Các đạo luật nói trên thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc thống nhất quản lý đảm bảo lợi ích chính đáng, hài hoà giữa Nhà nước với người dân, đồng thời vừa là cơ sở để xác lập hệ chính sách đền bù, TĐC Hàng loạt các nghị định,
thông tư được ban hành như: Nghị định 60/CP (1994): Quyền sở hữu đô thị; Nghị định 87/CP (1994): Quy định về khung giá các loại đất; Nghị định 90/CP (1994): Đền bù thiệt
hại khi Nhà nước thu hồi đất; Thông tư 15/LĐ-TB-XH (1995): Trợ cấp cho các gia đình chuyển đến vùng kinh tế mới; Nghị định 22/CP (1998) về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; đặc biệt là Nghị định 197/CP (2004) về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất đã và đang bảo đảm quyền lợi thiết thực cho người dân Hệ thống các
văn bản pháp quy nói trên đang tiến dần tới một chính sách TĐC hoàn chỉnh Nếu các văn bản trước năm 1998 chủ yếu chú trọng đến việc đền bù cho các thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất thì từ Nghị định 22/1998/NĐ-CP về sau, đặc biệt là Nghị định 197/2004/NĐ-CP đã có thêm nhiều điều khoản quy định về sự hỗ trợ cũng như lập khu TĐC để tạo nơi ở mới và ổn định đời sống và sản xuất cho người dân sau TĐC Trong
Trang 27
các nghị định này, chính sách hỗ trợ và TĐC đều hướng tới mục tiêu bồi thường, hỗ trợ thoả đáng (tất nhiên là tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương) quyền lợi của người dân, từ khâu bồi thường các thiệt hại về đất đai, tài sản đến khâu hỗ trợ di chuyển,
ổn định đời sống và sản xuất ở nơi TĐC
Từ năm 1998 đến nay trong các nghị định của Chính phủ đã được bổ sung thêm 2 chương mới là “chính sách hỗ trợ” và “tái định cư”
Trên cơ sở quan điểm, chính sách chung về TĐC của Đảng và Nhà nước, UBND thành phố Đà Nẵng đã cụ thể hoá bằng những Quyết định 4503/1998; Quyết định 170/1999; Quyết định 141/2002; Quyết định 122/2003 và Quyết định 209/2004 ban hành
Trang 28
quy định tạm thời về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Các chế độ, chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC được thành phố điều chỉnh theo hướng ngày càng đảm bảo lợi ích thiết thực cho đối tượng bị ảnh hưởng bởi dự án So với các quyết định ban hành tư năm 2003 về trước, Quyết định 209/2004 đã
có những quy định đem lại lợi ích hài hoà giữa Nhà nước và nhân dân Ví dụ, trước đây giá đất trong khu TĐC nhà nước bán lại cho người dân quá cao so vơi giá mà người dân được đền bù khi giải toả thì giờ đây đã được điều chỉnh phù hợp hơn; Hay chính sách hỗ trợ TĐC (hỗ trợ di chuyển,thuê nhà ở, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp…)đã được thành phố quy định một cách rõ ràng,cụ thể Đặc biệt, trong Quyết định 209/2004, thành phố còn có chính sách phân thêm các lô đất phụ cho những hộ gia đình có diệm tích đất thu hồi lớn và đông nhân khẩu(tối đa là 5 lô)
Các quyết định nêu trên đều mang tinh thần chỉ đạo là hướng đến thực hiện “Chủ trương của thành phố là tất cả các hộ dân sau khi giải toả, TĐC phải có cuộc sống tốt hơn trước về mọi mặt, tuyệt đối không để hộ nào rơi vào cuộc sống khó khăn hơn” Đây là những cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để đi sâu phân tích thực trạng những biến đổi
về mức sống của nhóm dân phải di dời, giải toả sau TĐC ở thành phố Đà Nẵng
Trang 29
Chương 2
thực trạng BIếN ĐổI về MứC SốNG CủA NHóM DÂN CƯ
SAU TáI ĐịNH CƯ ở THàNH PHố Đà NẵNG
2.1 thành phố Đà Nẵng và quá trình di dời giải toả, tái định cư 2.1.1 Khái quát chung về thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng là thành phố biển miền Trung, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Nam và Tây giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông
Đà Nẵng là đầu mối giao thông quan trọng, với hệ thống cảng biển, sân bay quốc tế, đường sắt, đường ô tô được nâng cấp ngày càng hoàn chỉnh Bưu chính viễn thông được hiện đại hoá tiếp cận được với trình độ khu vực và thế giới Có thể nói Đà Nẵng đang hội tụ đầy đủ những nhân tố để trở thành đầu mối trung chuyển, quá cảnh, giao lưu hàng hoá dịch vụ ở trong nước và quốc tế Hiện tại, Đà Nẵng có đường bay thẳng quốc tế tới BăngKok, Taiwan, Hong Kong, Siemriep, Vientian và Singapo
Ngoài hai tuyến đường huyết mạch, quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam nối liền hai miền đất nước thì Đà Nẵng còn nằm trên con đường xuyên á (14B), con đường thông thương với các nước bạn Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma Trong tương lai gần, ngoài việc đáp ứng nhu cầu trao đổi, thông thương buôn bán giữa các vùng kinh tế trong nước thì Đà Nẵng còn là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển Đông của một số quốc gia trong khu vực và sẽ trở thành đầu mối quan trọng về vận chuyển và vận tải quốc tế của miền Trung - Tây Nguyên và các nước thuộc lưu vực sông MêKông Đây chính là lợi thế cho Đà Nẵng mở rộng quan hệ giao lưu hợp tác kinh tế
- xã hội với các nước trên thế giới và khu vực, là tiền đề quan trọng để phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt phát triển kinh tế biển, từng bước đưa Đà Nẵng trở thành động lực cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Ngoài ra, với ưu thế vừa nằm liền kề với khu kinh tế mở Chu Lai, khu kinh tế Dung Quất, lại vừa nằm giữa quần thể di sản văn hoá thế giới, gồm cố đô Huế, phố cổ Hội An và khu di tích Mỹ Sơn nên Đà Nẵng càng có nhiều lợi thế so sánh và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, con người Đà Nẵng thông minh, chất phác, cần
Trang 30
cù lao động và luôn nêu cao truyền thống cách mạng Điều này đã và đang trở thành yếu
tố quyết định sự thăng tiến của Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng hiện có diện tích đất tự nhiên: 1255,0km2; dân số: 754.500 người; thành phố có 5 quận nội thành và hai huyện (huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa)
Đà Nẵng có đủ tiềm năng và lợi thế để phát triển các ngành kinh tế, nhất là công nghiệp, cảng biển, thương mại, dịch vụ - du lịch và nông ngư nghiệp Từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc trung ương (năm 1997), thành phố Đà Nẵng đã có vị thế mới, kinh tế Đà Nẵng có nhịp độ phát triển khá liên tục GDP tăng trưởng bình quân hàng năm 10,19% Năm 2004, tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GDP) đạt hơn 5.463 tỷ đồng, tăng 13,3%; GDP bình quân đầu người ở mức 12,54 triệu đồng/người/năm [30, tr.13] Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được tăng cường cả về số lượng và chất lượng Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Thành phố đã giảm được tỷ lệ hộ nghèo từ 3,55% trên tổng số hộ dân cư tính đến cuối năm 1999 xuống còn 1,95% năm 2003 và 0,13% năm 2004 Kết quả đó là sự nỗ lực lớn của Đảng bộ, chính quyền thành phố trong việc khai thác các tiềm năng, lợi thế của thành phố
Để nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế, trong những năm qua Đà Nẵng đã đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, nâng cấp, chỉnh trang đô thị theo hướng hiện đại hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng không gian đô thị.Trong 5 năm (1997-2002), tổng số vốn đầu tư phát triển tăng 4,7 lần và chiếm 58,3%
tổng chi ngân sách Hàng loạt các công trình, dự án lớn như: cầu Sông Hàn, khu đô thị mới Bạch Đằng Đông, các khu TĐC, đã được thực hiện Đà Nẵng đã và đang tiếp tục chú trọng tập trung vào công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, phát huy tiềm năng thế mạnh của thành phố trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
2.1.2 Quá trình di dời giải toả và tái định cư ở Đà Nẵng
Một trong những thành quả rõ nét nhất ở thành phố Đà Nẵng trong những năm qua
là công tác xây dựng cơ sở hạ tầng gắn liền với quy hoạch và chỉnh trang đô thị, khai thác nguồn lực trong dân, khai thác có hiệu quả quỹ đất để phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng không gian đô thị
Trang 31
Trước 1997, mặc dù là trung tâm hành chính- kinh tế - xã hội của một tỉnh lớn là Quảng Nam - Đà Nẵng, song thành phố Đà Nẵng lúc đó chỉ có 3 quận nội thành mà trong đó chỉ có quận I (Hải Châu) là thực chất mang tính phố phường Còn các quận
II, III thì đằng sau vài dãy phố nghèo là tình trạng bán nông, bán thị với những xóm làng xen lẫn giữa những vũng đầm hoang vu
Sau 1997, “thành phố chủ trương vừa chú trọng phát triển sản xuất kinh doanh vừa tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cấp và chỉnh trang đô thị” [1] Với quyết sách đúng đắn, táo bạo của Đảng bộ cùng với chủ trương hợp lòng dân, biết phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, Đà Nẵng đã và đang thực hiện tiến trình đô thị hoá thành công trên cả quy mô và chất lượng Với việc hình thành các khu dân cư mới như Thạc Gián, Vĩnh Trung, Bạch Đằng Đông, Nam cầu Tuyên Sơn không gian đô thị thành phố không còn bó hẹp ở một số phường của quận Hải Châu và Thanh Khê như trước.Đến nay
Đà Nẵng được mở rộng thành 5 quận nội thành với quy mô rộng lớn, chất lượng cơ sở hạ tầng tương xứng với đô thị loại I Trong 8 năm qua, thành phố đã vận động gần 65.000 hộ gia đình, nghĩa là hơn một phần ba cư dân toàn thành phố chịu giải toả di dời, lấy đất xây dựng những công trình công cộng, phúc lợi [30] Theo báo cáo của lãnh đạo Phòng Quản
lý đô thị thuộc UBND thành phố thì đến cuối 2004, thành phố đã triển khai thực hiện trên
100 dự án có liên quan đến giải toả, di dời dân cư Đồng hành với quá trình giải toả là việc quy hoạch kiến tạo nơi ở mới theo tiêu chuẩn đô thị văn minh, hiện đại Đến nay đã
có hơn 100 khu TĐC, khu chung cư được xây dựng để di chuyển, ổn định chỗ trở cho hàng chục ngàn hộ dân trong diện giải toả để chỉnh trang đô thị Nhiều khu nhà chồ (nhà
ở tạm bợ của ngư dân ven sông Hàn) được xoá sạch trong một thời gian ngắn Những xóm nghèo nhếch nhác sống lay lắt bên những vùng đầm hôi thối được thay bằng những khu phố sạch, đẹp ở những khu TĐC, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được nâng cấp và xây dựng mới một cách khá đồng bộ [1] Những thành công to lớn trong công tác đô thị hoá đã tạo tiền
đề quan trọng để Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 145/2003/QĐ-TTg ngày 15/7/2003 công nhận thành phố Đà nẵng là đô thị loại I
Một trong những thành quả to lớn của thành phố trong những năm qua là việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, điều này đã làm thay đổi bộ mặt thành phố, thu hút
Trang 32
các nhà đầu tư, tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế, góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì quá trình di dời giải toả và TĐC cũng đang nảy sinh những vấn đề xã hội cần được quan tâm nghiên cứu để giải quyết
2.2 những biến đổi về mức sống của nhóm dân cư sau tái định cư ở thành phố Đà Nẵng
2.2.1 Giới thiệu về mẫu điều tra
Quá trình quy hoạch, chỉnh trang đô thị ở Đà Nẵng đã và đang diễn ra rộng khắp trên mọi quận, huyện của thành phố ở quận, huyện nào cũng có những hộ dân giải toả, di dời vào sinh sống trong các khu TĐC Do quá trình TĐC ở mỗi địa điểm được tiến hành
ở những thời điểm khác nhau và mỗi địa bàn dân cư lại có những đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau nên để mẫu khảo sát có tính đại diện cho tập hợp đối tượng trong thực tế, tác giả đã xác lập 3 quận sau đây làm địa bàn khảo sát:
- Quận Sơn Trà, một quận nằm ở phía đông thành phố, phía đông bờ sông Hàn
Trước năm 1997, nơi đây cơ sở hạ tầng đô thị còn chưa phát triển, không gian đô thị chỉ mới được xác lập sau khi thành phố đẩy mạnh chủ trương quy hoạch, chỉnh trang đô thị
- Quận Hải Châu, có vị trí nằm ở trung tâm thành phố Đây là quận có lịch sử phát triển đô thị sớm nhất của Đà Nẵng Mức sống dân cư cũng khá hơn so với các quận khác
- Quận Thanh Khê, cách đây mấy năm thuộc địa bàn vùng ven của thành phố, nay đang định hướng phát triển thành quận trung tâm của Đà Nẵng
Nhìn chung mức sống của nhóm dân cư trước khi TĐC ở cả ba địa bàn kể trên thấp hơn mức sống trung bình của thành phố vì những dự án di dời, TĐC lâu nay chủ yếu hướng vào những khu vực có cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội còn yếu kém
Trên cơ sở xác định các quận nói trên, tác giả đã xác định mỗi quận một phường đại diện để từ đó chọn ra các tổ dân phố tiêu biểu đáp ứng yêu cầu nghiên cứu ở mỗi tổ một danh sách các hộ thuộc diện di dời, giải tỏa được thành lập và áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, để chọn ra các hộ để điều tra 210 hộ đã được lựa chọn phân bổ như sau:
Trang 33
địa bàn điều tra Q.Sơn Trà Q Thanh Khê Q Hải Châu Tổng cộng
Quy mô mẫu 76 68 66 210 Thành phần xã hội của những chủ hộ được điều tra như sau:
Trang 34
+ Khuyết thiếu : 15,5%
2.2.2 Các kết quả chủ yếu thu được từ cuộc điều tra
2.2.2.1 Biến đổi về thu nhập
Mức sống của dân cư phần nào đó được thể hiện qua mức thu nhập thực tế của họ
Thu nhập là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mỗi cá nhân, gia đình và xã hội
Mức sống của mỗi người, mỗi hộ gia đình cao hay thấp, ở mức độ giàu hay nghèo chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập của các cá nhân hoặc gia đình đó Đối với xã hội, thu nhập là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên tình trạng ổn định hay không ổn định Chính vì vậy, trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung, ở từng địa phương nói riêng thì việc nâng cao thu nhập nhằm ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân luôn là mục tiêu được quan tâm hơn cả Cũng vì lẽ đó mà trong những thập kỷ qua các cuộc điều tra nghiên cứu về mức sống của dân cư đều chủ yếu dựa vào chỉ báo thu nhập và lấy thu nhập làm tiêu chuẩn để định mức sống: giàu có, khá giả, trung bình, tạm
đủ hay nghèo đói
Xử lý số liệu điều tra về tình hình thu nhập của 210 hộ gia đình sau TĐC nằm trong mẫu khảo sát ở 3 địa bàn quận Sơn Trà, quận Thanh Khê và quận Hải Châu thuộc Thành phố Đà Nẵng, bước đầu cho chúng ta nhận thấy diện mạo của sự biến đổi như sau:
Nhìn chung, mức sống của nhóm dân sau TĐC có sự biến đổi khá đa dạng Các điều kiện thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện và có nhiều ý
kiến chủ hộ đánh giá là tốt hơn so với trước TĐC Nhất là hệ thống cơ sở hạ tầng được
xây mới, khá đồng bộ tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận các dịch vụ đô thị cơ bản Tuy nhiên, ở một số mặt như việc làm, thu nhập hay chi tiêu thì lại có nhiều ý kiến đánh giá là
kém đi so với trước TĐC Có thể thấy điều này qua bảng thống kê sau:
Bảng 2.1: Đánh giá của chủ hộ về cuộc sống gia đình sau TĐC
Đơn vị tính: %
Nội dung Tốt hơn Như cũ Kém đi Khó đánh
giá
Việc làm 12,5 37,5 45,3 4,7
Trang 35
Thu nhập 4,3 38,4 48,9 8,4 Chi tiêu 14,7 16,4 59,1 9,0 Điều kiện học hành 40,9 33,3 9,1 16,7 Dịch vụ điện 68,7 25,4 1,5 4,5 Dịch vụ nước 61,2 31,3 3,0 4,5 Vui chơi giải trí 22,4 35,8 9,0 32,8 Thông tin liên lạc 39,1 31,3 1,6 28,1 Xét riêng về mặt thu nhập, ta thấy có 28,4% ý kiến của các chủ hộ cho rằng, sau
TĐC, thu nhập của gia đình họ vẫn như cũ; có 21,3% ý kiến khẳng định thu nhập của gia đình họ tốt hơn; có 48,9% ý kiến xác định mức thu nhập kém đi so với trước TĐC và 1,5% ý kiến cho rằng khó đánh giá
Như vậy, sau TĐC, đã có một bộ phận dân cư có được mức sống ngang bằng và tốt hơn trước Nhưng bên cạnh đó lại còn một bộ phận khá lớn (48,9%) dân cư có thu
nhập kém đi, chiếm tỷ lệ cao hơn gấp 11,37 lần số hộ có thu nhập tốt hơn
Để nhận biết sâu hơn về sự BĐMS theo thu nhập của cộng đồng dân cư trong diện khảo sát, dựa trên mức thu nhập bình quân đầu người thống kê được, tác giả chia dân cư thành 5 nhóm hộ, mỗi nhóm gồm 20% dân số theo tiêu chí có thu nhập từ thấp nhất đến cao nhất Kết quả cho thấy, sau TĐC, thu nhập của các nhóm cũng có sự suy giảm đáng
Nhóm trung bình
Nhóm khá giả Nhóm giàu
Trước TĐC 177.140 308.054 406.488 521.190 852.346 Sau TĐC 171.726 263.205 332.814 428.282 779.166
Trang 36
Chênh lệch 3,1% 14,6% 18,2% 17,9% 8,6%
Bảng trên cho thấy, sau TĐC mức thu nhập từ nhóm nghèo đến nhóm giàu đều ít
nhiều có sự giảm sút Trong đó, nhóm trung bình có sự giảm sút nhiều nhất, sau TĐC, thu nhập của nhóm này chỉ bằng 81,8% so với trước TĐC; tương ứng như vậy nhóm khá
giả chỉ bằng 82,1%; nhóm tạm đủ chỉ bằng 85,4%; thu nhập nhóm hộ giàu, sau TĐC có
mức suy giảm ít hơn, bằng 91,4% so với trước TĐC Riêng nhóm nghèo, có mức thu nhập sau TĐC giảm sút thấp nhất, bằng 96,9% so với trước TĐC
Rõ ràng, việc di dân, TĐC đã làm thay đổi các điều kiện làm việc cũng như các mối quan hệ kinh tế của người lao động và điều kiện này đã ảnh hưởng đến mức thu nhập của họ
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn tùy thuộc vào đặc trưng cụ thể của từng nhóm
hộ Thu nhập sau TĐC của nhóm giàu ít giảm sút hơn các nhóm hộ có mức sống khác, bởi nhóm này có những ưu thế về vốn, nghề nghiệp nên sau TĐC dù có sự thay đổi về môi trường và địa bàn sinh sống nhưng họ vẫn duy trì được thu nhập Còn đối với nhóm
hộ nghèo, thu nhập sau TĐC của họ có giảm nhưng không đáng kể vì mức sống theo thu nhập của nhóm này vốn trước TĐC đã ở mức thấp nhất nên sau TĐC không thể thấp hơn được nữa
Khi thống kê về tổng thu nhập thực tế hàng tháng của hộ gia đình và nhân khẩu ở hai thời điểm trước và sau TĐC ta càng thấy rõ hơn sự biến đổi
Bảng 2.3: Tổng thu nhập của hộ gia đình và đầu người/ tháng
Đơn vị tính: đồng
Thời gian Bình quân tổng thu nhập
của hộ gia đình/ tháng
Bình quân tổng thu nhập đầu người/tháng
Trước TĐC 1.970.144 456.543 SauTĐC 1.746.280 391.778
Trang 37
Bảng số liệu đã cho thấy có sự biến đổi rõ rệt về thu nhập sau TĐC; ở quy mô hộ gia đình, mức thu nhập bình quân/ tháng sau TĐC có sự giảm sút đáng kể, từ 1.970.144 đồng, giảm xuống còn 1.746.280 đ/một tháng, tức chỉ bằng 88,6% so với trước TĐC
ở quy mô thu nhập theo nhân khẩu chúng ta cũng nhận thấy có sự biến đổi tương ứng Thu nhập bình quân đầu người/tháng của người dân sau TĐC đã giảm từ 465.543đ xuống còn 391.778đ, nghĩa là chỉ bằng 85,8% so với thời điểm trước TĐC
Để thấy rõ hơn sự biến đổi về thu nhập của các nhóm hộ được khảo sát ở hai thời điểm trước và sau TĐC, tác giả đã xây dựng tháp phân tầng mức sống theo thu nhập dựa trên kết quả điều tra theo 5 mức nghèo, tạm đủ, trung bình, khá giả, giàu như sau:
Biểu đồ 2.1: Tháp phân tầng mức sống theo thu nhập
Mức sống theo thu nhập trước TĐC Mức sống theo thu nhập sau TĐC
ở tháp phân tầng trước TĐC ta nhận thấy đa phần dân cư có thu nhập ở mức trung bình, với tỷ lệ 49,3% thuộc nhóm này Còn hai nhóm hộ khá và tạm đủ ăn có quy mô cân bằng nhau vì mỗi nhóm đều có cùng tỷ lệ 23,2% Còn lại hai nhóm đỉnh - giàu và đáy - nghèo đều chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (nhóm giàu chỉ chiếm 1,4% và nhóm nghèo chỉ có 2,9%)
Khi đem so sánh mức sống theo thu nhập giữa hai tháp phân tầng ta thấy có một
sự biến đổi rất lớn trong cơ cấu giữa các nhóm hộ
Trước hết là có sự tăng lên của nhóm hộ giàu từ 1,4% trước TĐC lên 2,4% sau TĐC (tăng 1,7 lần) Nhóm hộ tạm đủ tăng từ 23,2% lên 35,3% (tăng 1,3 lần) và nhóm hộ nghèo cũng tăng từ 2,9% lên 4,3% (tăng 1,48 lần)
1,4%
giàu 23,2% khá 49,3% trung bình 23,2% tạm đủ
2,9%
nghèo
2,4% giàu 11,6% khá
46,4% trung bình 35,3% tạm đủ
4,3% nghèo
Trang 38
Bên cạnh sự tăng lên của 3 nhóm hộ kể trên là sự giảm sút của 2 nhóm hộ khá và trung bình Nhóm hộ khá suy giảm từ 23,2% xuống còn 11,6% (giảm 2 lần) và nhóm hộ trung bình giảm từ 49,3% trước TĐC xuống còn 46,4% sau TĐC
Như vậy, qua phân tích số liệu ta thấy, cơ cấu tháp phân tầng sau TĐC có sự biến đổi theo chiều hướng thiên về cực dưới, tức có sự tăng nhanh tỷ lệ ở 2 nhóm có mức thu nhập tạm đủ và nghèo Trước TĐC 2 nhóm này chỉ chiếm 26,1% nhưng sau TĐC lại tăng lên 39,6% (tăng 1,48 lần) Mặt khác , sau TĐC mặc dù nhóm hộ giàu có tăng lên 1,7 lần song vì do nhóm hộ khá giảm sút 2 lần nên đã làm cho 2 nhóm hộ có mức sống trên trung bình (nhóm hộ giàu và khá giả) giảm mạnh từ tỷ lệ 24,6% trước TĐC xuống còn 14% sau TĐC (giảm 1,75 lần) chính đều này đã làm cho tháp phân tầng sau TĐC có xu hướng phình to ra ở các tầng dưới, thu hẹp mạnh ở tầng trên và điều đó thể hiện sự phân hoá xã hội rõ nét hơn trong cộng đồng dân cư sau TĐC
Kết quả phân tích trên, phần nào cho thấy diễn biến đời sống của nhóm dân sau TĐC khá phức tạp Khi người dân phải rời bỏ nơi ở cũ với những điều kiện sống, làm việc và những mối quan hệ làm ăn ổn định để chuyển vào sinh sống trong các khu TĐC, không phải ai cũng dễ dàng trong việc duy trì hay tạo lập được việc làm mới cũng như các mối quan hệ làm ăn mới Đối với những hộ gia đình, những
cá nhân vốn có nghề nghiệp ổn định, có bằng cấp chuyên môn kỹ thuật, lợi thế về vị trí địa lý và có cơ may thì dễ thích ứng với môi trường sống để tạo ra lợi thế mới về thu nhập để cải thiện, nâng cao mức sống Còn những hộ gia đình, những cá nhân vốn trước đây gắn với nghề nông - ngư nghiệp, lao động phổ thông, buôn bán - dịch
vụ ở quy mô nhỏ với trình độ học vấn thấp thì nay gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm để ổn định và nâng cao mức sống
Xem xét vấn đề biến đổi thu nhập chúng ta cũng không thể tách rời với vấn đề ngành nghề, việc làm bởi cơ cấu ngành nghề, việc làm là yếu tố chính yếu qui định cơ cấu thu nhập
Theo số liệu khảo sát từ 210 hộ với 933 nhân khẩu trong đó lực lượng lao động có việc làm ở thời điểm trước TĐC gồm 491 người, sau TĐC có 489 người và được cơ cấu như sau:
Trang 39Bảng số liệu trên cho chúng ta thấy cả ở thời điểm trước và sau TĐC thì lao động hoạt động trong các ngành: Buôn bán - dịch vụ (chủ yếu có quy mô nhỏ) và lao động phổ thông đều chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu lao động Riêng hai nhóm ngành nghề này đã chiếm trên 50% tổng số lao động có việc làm (trước TĐC là 50,9% và sau TĐC là 62,1%
lao động) Số lao động còn lại được phân bố khá đều trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác.Chiếm tỷ lệ nhỉnh hơn một chút chính là ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN): chiếm tỷ lệ 19,6% lao động trước TĐC và 16,2% lao động sau TĐC
Tuy nhiên điều được thể hiện rõ nét trong bảng số liệu và đáng quan tâm ở đây chính là sự biến đổi trong cơ cấu lao động giữa các nhóm ngành nghề trước và sau TĐC,
mà chính sự di động xã hội này có tác động rất lớn đến mức thu nhập thực tế của người lao động và hộ gia đình
Chiều hướng biến đổi thứ nhất là tỷ lệ lao động trong nhóm ngành nông lâm - ngư nghiệp giảm nhanh chóng từ 15,3% trước TĐC nay chỉ còn 7,0%, tức là giảm hơn một nữa Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng giảm sút từ 19,6% trước TĐC xuống còn 16,2% sau TĐC
Ngoài ra nhóm lao động trong khu vực nhà nước cũng có sự giảm nhẹ từ 14,2%
xuống còn 12,8% Sự giảm sút quy mô lao động ở nhóm cán bộ công chức là vì có một
bộ phận đến tuổi nghỉ hưu hoặc nghỉ mất sức Số người nghỉ hưu chúng tôi xếp vào số
Trang 40
lao động khác Đây cũng là sự lý giải hợp lý cho sự tăng đột biến lên 10,6 lần của nhóm nghề khác sau TĐC
Chiều hướng biến đổi thứ hai là tỷ lệ lao động trong các ngành buôn bán - dịch vụ
và lao động phổ thông có sự tăng vọt Trong đó lao động nhóm ngành buôn bán - dịch vụ
từ 28,8% tăng lên tới 35,2% - bằng tỷ lệ lao động của cả 3 nhóm ngành nông - ngư, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và cán bộ công chức cộng lại
Chính sự biến đổi cơ cấu việc làm đã kéo theo cơ cấu thu nhập giữa các lĩnh vực nghề nghiệp cũng được phân bố lại một cách tương ứng Trên cơ sở khảo sát thực tế thông qua mẫu điều tra chúng tôi thu được các kết quả như sau:
Bảng 2 5: Cơ cấu thu nhập theo ngành nghề, việc làm
Lĩnh vực ngành nghề, việc làm Cơ cấu thu nhập %
7,20 17,19 13,16 36,03 21,39 4,94 Như vậy, bảng 2.5 cho thấy, cơ cấu thu nhập từ các lĩnh vực ngành nghề, sau TĐC cũng có sự thay đổi so với trước TĐC theo các xu hướng:
- Giảm rất mạnh tỷ lệ thu nhập từ ngành nông- ngư nghiệp và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp cũng có sự giảm nhẹ Trong đó nông- ngư nghiệp giảm từ 20,87% trước TĐC xuống còn 7,2% sau TĐC (giảm 2,9 lần) Công nghiệp - TTCN giảm nhẹ từ 14,7%
tỷ lệ thu nhập xuống còn 13,16% tỷ lệ thu nhập
- Tăng nhanh nguồn thu nhập từ các nhóm ngành buôn bán - dịch vụ và tăng nhẹ trong nhóm nghề lao động phổ thông Buôn bán - dịch vụ trước TĐC chiếm 27,24% thu nhập thì sau TĐC đã chiếm tới 36,03% trong tổng thu nhập Nguồn thu nhập từ lao động phổ thông có sự tăng nhẹ từ 21,09% lên 21,39% sau TĐC