KAWABATA TỪ LÍ THUYẾT TÂN CẢM GIÁC NGUYỄN THỊ MAI LIÊN** - TRẦN THỊ HUYỀN TRANG*"’ Tóm tắt: Truyện trong lòng tay tiếng Anh palm of the hand stories, Hán Việt chưởng chi tiểu thuyết là
Trang 1TRUYỆN TRONG LÒNG TAY CỦA Y KAWABATA
TỪ LÍ THUYẾT TÂN CẢM GIÁC
NGUYỄN THỊ MAI LIÊN**) - TRẦN THỊ HUYỀN TRANG*"’
Tóm tắt: Truyện trong lòng tay (tiếng Anh palm of the hand stories, Hán Việt chưởng chi tiểu
thuyết) là một thể loại độc đáo do Yasunari Kawabata sáng tạo nhằm hiện thực hóa lí thuyết Tân cảm giác - lí thuyết của trường phái văn học xuất hiện và thoái trào ở Nhật những năm hai mươi của Thế
kỉ XX Tân cảm giác là một trường phái phương Tây Y Kawabata đã Nhật hóa thành công bằng cách vận dụng những yếu tố hình thức biểu hiện của haiku như chấm phá hình ảnh nhân vật bằng vài đường nét, gợi những xúc cảm mong manh, ghi lại chớp nhoáng hình ảnh trong khoảnh khắc thực tại, dùng những khoảng lặng vô ngôn để biểu đạt hư không trong tâm, Sự xuất hiện của truyện trong lòng tay của Y Kawabata đã đưa công cuộc cách tân văn học Nhật Bản đạt đến đỉnh cao chín muồi.
Từ khóa: truyện trong lòng tay, Kawabata, Tân cảm giác, cách tân vãn học, hư không.
Abtract: ‘Palm of the hand stories’ (Tenohira no shôsetsu) is a unique category created by Yasunari Kawabata in order to realize the new impression theory, a literary theory that fell into decay
in the 1920s Kawabata adapted this western theory to the Japanese Haiku, and recreated characters, emotions, images and even silence to depict inner emptiness, which raised is work to admirable heights.
Keywords: Tenohira no shôsetsu, Kawabata, New impression theory, the literature renovate, the void.
Không chỉ nổi tiếng với những thiên
tiểu thuyết mang đậm màu sắc văn hóa
Nhật Bản, Y Kawabata*1 còn có công lao
to lớn trong việc tạo nên sự phong phú, đa
dạng cho thể loại văn học Nhật Bản nói
riêng, vãn học thế giới nói chung bằng
những tác phẩm tự sự cực ngắn mà ông gọi
là truyện trong lòng tay (tiếng Anh: palm
of the hand stories, Hán Việt: chưởng chi
tiểu thuyết) - một thể loại tự sự kết tinh
tài năng sáng tạo của Kawabata Điểm mới
của truyện trong lòng tay của Y Kawabata
so với các thể loại tự sự khác là gì? Các
truyện đều có dung lượng cực ngắn, có
truyện chỉ bao gồm tám dòng chữ tiếng
(,)PGS.TS - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Email: mailien.edu@gmail.com.
(,,) ThS - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Email: huyentrang.edu@gmail.com.
1 Tên người Nhật viết theo thứ tự họ trước tên sau
là “Kawabata Yasunari”, người phương Tây ghi tên
lên trước thành “Yasunari Kawabata” Trong bài
chúng tôi viết tắt là “Y Kawabata”.
Việt (Gưomg mặt khi ngủ) - có thể nằm gọn
trong lòng bàn tay đúng như tên gọi của
nó Do ngôn từ tối thiểu nên nhà văn không thể miêu tả, diễn giải dông dài Hình tượng nhân vật hầu như chỉ được hiện lên qua
và nét phác họa Thời gian trần thuật nằm trọn vẹn trong một khoảnh khắc thực tại Nhà thơ sáng tác haiku giống như nghệ sĩ nhiếp ảnh chớp lấy hình ảnh chợt hiện lên trong giây lát, thả vào hư không Phần còn lại dành cho độc giả tham gia đồng sáng tạo với tác giả Chính những đặc điểm này khiến nhiều nhà nghiên cứu gọi truyện trong lòng tay của Y Kawabata là những bài thơ haỉku văn xuôi Truyện trong lòng tay là kết quả của quá trình nỗ lực hiện thực hóa lí tưởng cách tân văn xuôi của trường phái văn học Tân cảm giác mà
Y Kawabata là một thành viên
1 Khái lược về lí thuyết Tân cảm giác
Trường phái văn học Tân cảm giác xuất hiện và tồn tại trên văn đàn Nhật Bản
Trang 294 NGHIÊN CỬU VẰN HỌC, SỐ 4-2022
trong khoảng ba năm từ 1924 đến 1927,
cùng với sự ra đời của tạp chí văn học
Văn nghệ thời đại Văn học tân cảm giác
xuất hiện “như một sự phản ứng lại dòng
văn học tự nhiên chủ nghĩa, dòng văn học
chủ lưu ở Nhật trước đó, và như là một
sự tiếp thu ảnh hưởng từ chủ nghĩa hiện
đại châu Âu đương thời, đặc biệt là chủ
nghĩa Đa đa và chủ nghĩa biểu hiện Đức”
[3, tr.58] Nó cũng không được văn giới
đánh giá như một trào lưu hay một khuynh
hướng văn học mà chỉ được xem như một
hiện tượng cách tân về thể loại và biểu đạt
trong giai đoạn hoàn tất của quá trình hiện
đại hóa văn học Nhật Bản Thành tựu của
văn học Tân cảm giác cũng không đồ sộ,
phong phú bởi thời gian tồn tại ngắn Có
thể nói bộ tiểu luận Luận giải về khuynh
hướng mới của các nhà vãn mới, nền tảng
lí luận của cách biểu đạt theo phong cách
Tân cảm giác in trên tạp chí Văn nghệ thời
đại 1925 của Kawabata Yasunari đã thể
hiện được tinh thần, lí tưởng của trường
phái được đúc kết một cách đầy đủ và dễ
hiểu nhất Kiểu truyện ngắn trong lòng tay
được ông sáng tác với mục đích hiện thực
hóa lí thuyết văn học của mình Khi văn
học Tân cảm giác đã kết thúc sứ mệnh của
nó trên văn đàn, nhà văn vẫn tiếp tục sáng
tác thể loại này Do đó, muốn hiểu đặc
trưng của trường phái Tân cảm giác cũng
như những biểu hiện của nó trong truyện
trong lòng tay của Kawabata cần phải tiếp
cận bài tiểu luận này Bài tiểu luận gồm
bốn phần chính:
Phần 1: Sự tiến triển của dòng văn
chuông mới
Phần 2: Tân cảm giác
Phần 3: Nhận thức luận của chủ nghĩa
biểu hiện
Phần 4: Phưong thức biểu hiện của
chủ nghĩa Đa đa
Qua những nội dung được trình bày, bài tiểu luận đã giúp Kawabata thể hiện được quan điểm của nhà văn về phưong thức sáng tạo cái mới trong văn học nghệ thuật Trước tiên, nhà văn cần xây dựng một “tân cảm giác” tức một cảm quan mới
về cuộc đời Thứ hai, để biểu đạt cái “tân cảm giác” ấy, người cầm bút phải sáng tạo những phương thức biểu hiện mới Có thể thấy rõ đây là những yêu cầu cách tân về thể loại Từ lí thuyết này mà Kawabata đã dụng công sáng tạo một thể loại độc đáo
mà ông gọi là “truyện trong lòng bàn tay” (^0/^1$, Tenohira no shousetsu) mang
ý nghĩa mỗi truyện có dung lượng rất nhỏ như thể đặt vừa trong lòng tay Trang
hoàng cảm xúc (Kanjou soushoku, 1926)
và Những căn phòng mâu của tôi (Boku no
Hyohon Shitsu, 1930) là những tập truyện trong lòng tay tiêu biểu của Kawabata Những đặc trưng của phái Tân cảm giác thể hiện trong truyện ngắn trong lòng tay của Kawabata được Tsutsumi Setsuko chỉ
ra như sau: Thứ nhất là sự phóng chiếu của chủ thể vào tác phẩm Thứ hai, nhà văn sử dụng những cách biểu đạt đậm tính cảm giác trực quan Thứ ba, những tượng trưng văn học được dùng để biểu đạt những cảm xúc thầm kín Thứ tư, sử dụng ẩn dụ để gợi liên tưởng Thứ năm, nhà văn cần phá
vỡ những ranh giới của không gian và thời gian Điểm sáng tạo đáng chú ý khác nữa của Kawabata trên cơ sở lí tưởng nghệ thuật mà ông trình bày trong bài tiểu luận nêu trên là “hình tượng nghệ thuật ‘tấm gương’ một hình tượng đặc trưng của ông, lặp đi lặp lại nhiều lần trong các tác phẩm của nhà văn này với những dạng thức khác nhau” [3, tr.64] Tuy nhiên, khi triển khai những lí thuyết trên trong thực tế sáng tác, những tác phẩm của Kawabata có những đặc sắc độc sáng so với lí thuyết được kiến tạo ban đầu Một ví dụ tiêu biểu là
Trang 3Truyện trong lòng tay 95
ban đầu, ông dự kiến kết hợp phương pháp
tâm lí học “tự do liên tưởng’’ của Phân
tâm học với bút pháp tự do cho ngôn từ
tuôn chảy một cách vô nghĩa, phi lí tính
của văn học theo phái Đa đa Nhưng khi
sáng tác, ông đã thực sự thành công trong
sừ dụng bút pháp “dòng ý thức” của tiểu
thuyết thế kỉ XX ở nhiều tiểu thuyết, vượt
qua chủ nghĩa Đa đa Trong bài tiểu luận,
Kawabata không nhắc đến việc ông có
chịu ảnh hưởng từ những vần thơ haiku
- một thể thơ đặc trưng của Nhật Bản -
khi sáng tạo ra truyện trong lòng tay hay
không, nhưng nhiều nhà nghiên cứu cho
rằng, có một “bản chất haiku" tồn tại trong
loại truyện ngắn trong lòng bàn tay của
ông Chat haiku the hiện ở khả năng gợi
mở ở mức sâu nhất, gợi nhiều âm hưởng
nhất trong một cấu trúc nhỏ nhất, hay nhà
văn tập trung tối đa miêu tả những khoảnh
khắc cảm xúc của chủ thể ở ngay lần đầu
tiếp xúc với đối tượng Có thể nói, với sự
thông minh và khéo léo khi "haiku hóa
truyện ngắn”, Kawabata đã góp phần đưa
công cuộc cách tân thể loại ở Nhật Bản đạt
đến giai đoạn chín muồi - hiện đại mà đậm
chất Nhật Bản
Mặc dù chủ đích sáng tạo truyện trong
lòng tay đế hiện thực hóa lí thuyết tân cảm
giác, song những đặc điếm tân cảm giác
cũng thể hiện trong cả các sáng tác thuộc
thể loại tiểu thuyết của Kawabata Tuy
nhiên, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi
chỉ đi sâu phân tích cụ thể một số biểu hiện
lí thuyết Tân cảm giác thể hiện ở truyện
trong lòng tay của Y Kawabata trên các
phương diện như những hình ảnh nhân vật
mang tính tượng trưng góp phần biểu đạt
những cảm xúc thầm kín, khả năng gợi âm
hưởng tối đa trong một cấu trúc tối thiểu,
chú trọng tái hiện những khoảnh khắc cảm
xúc của chủ thế ở ngay lần đầu tiếp xúc với
đối tượng,
2 “Người đẹp say ngủ” và “người cứu rỗi cái đẹp”
Năm 1969, nhân kỉ niệm 100 năm công cuộc Duy Tân Nhật Bản, giải Nobel Văn chương đã được trao cho Kawabata Trong diễn từ đọc tại lễ trao giải, Hội đồng giải thưởng đã nhấn mạnh lí do: “Vì nghệ thuật viết văn tuyệt vời và tình cảm lớn lao, the hiện được bản chất và cách tư duy Nhật Bản” Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh xã hội mưa Âu gió Mĩ tràn vào quần đảo Nhật Bản, làm phôi pha không
ít những giá trị văn hóa truyền thống, Kawabata cùng những nhà văn chân chính hết sức đau xót trước thực tại ấy Họ tìm cách bảo vệ nước Nhật bằng ngòi bút của mình Kawabata đã mở ra một con đường riêng đê thực hiện sứ mệnh cao cả của một nhà văn Đó là bảo tồn những giá trị văn hóa, cái đẹp truyền thống trong những trang văn Đó là lí do mà những nhà văn nổi tiếng cùng thời và hậu nhân gọi ông
là “Người lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp” (Mishima Yukio), “Người cứu rồi cái đẹp” (Nhật Chiêu) Mục đích bảo vệ cái đẹp truyền thống, trân trọng nâng niu và phát huy giá trị của cái đẹp trong đời sống con người và trong nghệ thuật hiện đại đã trở thành chủ đề chính trong sáng tác của Kawabata, bao gồm cả truyện trong lòng tay Để triển khai chủ đề đó, Kawabata đã sáng tạo ra cặp nhân vật “người đẹp say ngủ” - biểu tượng của cái đẹp đang bị đọa đày và “người cứu rỗi cái đẹp”
Vĩnh viễn lữ nhân (Eien no tabibito) - người lừ hành vĩnh cửu - là mệnh danh mà nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925- 1970) đã phong tặng cho Kawabata Biệt danh đó đã phản ánh đúng bản chất cuộc đời và văn nghiệp của Kawabata Suốt cuộc đời, nhà văn đã mải miết lãng du đi tìm cái đẹp của thiên nhiên, con người, văn hóa truyền thống Nhật Bản đang dần bị
Trang 496 NGHIỀN CỨU VẤN HỌC, SỐ 4-2022
phôi pha trong đời sống hiện đại Dường
như, con người ông đã hóa thân thành
những nhân vật lừ nhân xuất hiện hầu hết
trong những trang tiểu thuyết và truyện
trong lòng tay của ông
Nhân vật lữ nhân này thường không
được cá thể hóa bằng một cái tên mà chỉ
được người kế chuyện ngôi ba gọi là “anh”,
“người khách”, hay một người kể chuyện
xưng “tôi” Anh có thể thực hiện một cuộc
hành hương thực sự, nhưng, đôi khi là
hành hương theo nghĩa bóng Người hành
hương không có bất cứ sự xê dịch nào, tuy
nhiên, sau khi quan sát, trải nghiệm một sự
kiện, gặp gỡ một con người, anh giác ngộ
một chân lí Đó là cuộc hành hương tâm
thức trên những con đường tâm linh
Truyện Địa Tạng vương Bồ Tát Oshin
kể về một người hành hương được gọi là
“người khách” - mang thần thái của một
khách làng chơi dung tục nhưng cũng có
một trái tim nhạy cảm “Người khách”,
sau khi nghe huyền thoại về một người
con gái đẹp có tâm hồn vị tha tên là Oshin
thời trước, nay được phong là Địa Tạng
vương Bồ Tát Oshin đã bị quyến rũ đến
say mê Anh quyết tâm đi tìm nàng Nhưng
mĩ nừ Oshin năm nào giờ chỉ còn là một
pho tượng dãi nắng dầm sương được thờ
trước một thanh lâu Bức tượng ấy thảm
hại đến mức “chỉ thấy lờ mờ nét mặt dưới
cái đầu trọc lóc, biết đâu chẳng phải là
một pho tượng đổ lượm trong nghĩa địa”
[1, tr.996] Tuy nhiên, cũng tại lữ điếm
này, người “khách” gặp một thiếu nữ xinh
đẹp mà anh có cảm giác như một thánh nữ,
mang hình bóng Oshin: “Không một vết
gọn trên tấm thân tròn trĩnh Gót sen còn
thắm Khuôn mặt xa vắng, không một nét
gồ, ánh mắt đen nhánh rộng mờ, rực sáng
như chưa một lần từng trải” [1, tr.996]
Anh rơi lệ, thầm nghĩ nàng sẽ không tàn
tạ như những cô gái điếm khác Sau một mùa hè, anh trở lại lữ điếm nơi đã gặp nàng Thiếu nữ tinh khôi năm xưa nay đã tàn tạ, làm dấy lên trong tâm khảm khách
dự cảm rồi nàng cũng giống như những quả dẻ, sau khi nhuốm màu phong sương
sẽ rụng xuống mặt đất bụi bặm, bị khinh miệt, bị giẫm đạp dưới gót giày của bọn khách làng chơi dung tục Điều đó làm cho người khách thấy xót xa, đau đớn, thất vọng khi trùng phùng cố nhân Tuy nhiên, anh cũng cảm thấy hạnh phúc khi nhận ra nàng vẫn giữ được trái tim nhạy cảm thuần khiết, không tầm thường như những cô gái điếm và những gã khách quanh nàng Nàng thương những hạt dẻ bị giẫm dưới chân những con chó Đó chính là những châu ngọc mà người khách muốn tìm kiếm trong thế giới dung tục này
Trong Hiện hữu thần linh, lữ khách là
một nhân vật được người kể chuyện ngôi
ba gọi là “anh” Năm, sáu năm về trước,
“anh” đi du lịch ở vùng suối nước nóng
Do bất cẩn, “anh” đã khiến một người con gái bị thương trong dãy núi phía Nam Sau
đó, anh và nàng xa nhau Trở lại nơi ghi dấu những kỉ niệm ngây thơ và tội lỗi, anh tình cờ gặp lại nàng, khi này đã bị liệt cả chân và tay Anh cảm thấy an lòng khi thấy nàng được chồng hết lòng yêu thương, chăm sóc Qua đôi mắt anh, nàng vẫn đẹp như một thiếu nữ: “Thân thế mong manh như lá cỏ Gương mặt tuyệt đẹp của nàng gợi cho ta cảm giác của tất cả các bông hoa” [1, tr 135] Nhưng đẹp hơn cả là tâm hồn nàng, một tâm hồn thánh thiện, bao dung Nàng đã tha thứ cho anh Anh chợt nhận ra nàng chính là thần linh hiện hữu Cái đẹp mà lữ khách tìm kiếm thường hiện hữu trong hình ảnh nữ nhân xinh đẹp, trẻ tuổi - những cô bé trong các truyện
Chiếc nhẫn, Đôi mat của mẹ, Cao xanh
Trang 5Truyện trong lòng tay 97
lộng gió, Tên trộm hồ đào ', những thiếu
nữ mới lớn trong Tạ ơn, Mưa phùn ',
những phụ nữ như trong Gương mặt, Từ
hàng lông mày, Người đàn bà hóa thân vào
lửa, Nước, Cổ hương, Bình dễ vỡ; những kĩ
nữ trong Ben tàu, Tia nang rạng đông, Địa
tạng vương Bồ Tát Oshin, Dường như,
trong tâm thức Kawabata, biểu tượng của
cái đẹp tuyệt mĩ không gì khác chính là vẻ
đẹp hình hài và tâm hồn của người phụ nữ
Có thể khẳng định mà không sợ quá rằng,
không ở bất cứ đâu, vẻ đẹp tinh khiết của
thân thể và vẻ đẹp vị tha, xả kỉ, tận hiến của
tâm hồn người phụ nữ lại được tôn vinh
như trong những trang văn của Kawabata
Nơi thân thể và tâm hồn họ, “hiện hữu thần
linh” Tuy nhiên, trong thực tại, họ thường
có số phận truân chuyên, bất hạnh, bị dập
vùi, khinh rẻ, phải chịu cảnh sống thiếu
thốn, tủi nhục Cái đẹp dường như đang bị
đoạ đầy trong thế gian này Và nhà văn lên
tiếng kêu cứu cho cái đẹp
Hiện hữu trong những trang viết là một
tình cảm ấm áp của một trái tim nhân hậu,
bao dung Nhà văn không hề coi thường
kĩ nữ Trái lại, ông dành cho họ một tình
cảm yêu thương, một thái độ ngưỡng mộ
thành kính Dưới ngòi bút của ông, họ
hiện lên như những thánh nữ có tâm hồn
xả kỉ, tận tụy hiến dâng Ông trao cho họ
sứ mệnh của những Địa Tạng vương Bồ
Tát Oshin - những vị Bồ Tát có bổn phận
chăm sóc những đứa trẻ Góa chồng ở tuổi
hai tư, Oshin ở vậy không tái giá Nàng trở
thành cây cầu mà những chàng trai trong
làng bước qua để trở thành người đàn ông
trưởng thành Sau khi chết, nàng được tạc
tượng thờ và phong làm Địa Tạng vương
Bồ Tát Oshin Những vị Bồ Tát thì bất tử
Họ hóa thân để tiếp tục cứu vớt con người
khỏi trầm luân Người con gái mới đến
thanh lâu từ mùa hạ là chính là kiếp sau
của Bồ Tát Nàng đến mang tâm hồn thánh
thiện, chưa hề chai sạn để thức tỉnh những
kẻ đang tâm đọa đầy cái đẹp
Trong các truyện trong lòng tay, Kawabata đã xây dựng thành công nhân vật chính là một lữ khách đi tìm cái đẹp Đối diện và nhận thức được thực tại mà
bề ngoài có vẻ náo nhiệt, bên trong lại chất chứa những đổ vỡ, lữ nhân ra đi tìm những giá trị đích thực của cuộc sống mà theo nhân vật là cái đẹp thanh tao, thuần khiết của tâm hồn Nhật Bản truyền thống Trong thực tại, cái đẹp đó đang bị đọa đầy, cần được cứu rỗi Hình ảnh lữ khách
cô đơn kiếm tìm, cứu vớt cái đẹp gợi liên tưởng đến thi sĩ hành hương Matsuo Basho (1644-1694) một mình trên những nẻo đường sâu thẳm tìm về với những cái đẹp chân xác vĩnh cửu Chân lí là kho tàng riêng mỗi người phải tự mình tìm kiếm nên hình ảnh lữ khách đi tìm cái đẹp trong vãn chương là những nhân vật cô đơn
3 Khoảnh khắc thực tại
Thiền tông đề cao vai trò của khoảnh khắc thực tại đối với việc tu tập, giác ngộ Bởi để giác ngộ chân lí, ta có thể đốn ngộ thức tỉnh trong giây phút mà ta thực sự sống Vì vậy, thực tại là tài sản quý giá nhất của mỗi chúng ta Chúng ta không nên đánh mất giây phút thực tại quý báu bởi sự phân tâm, xao lãng vì quá khứ hay tương lai Chịu ảnh hưởng của Thiền tông, thơ haỉku chỉ tái hiện một hoặc một vài hình ảnh chợt hiện lên trong khoảnh khắc thực tại
Giống như haiku, thời gian trần thuật
trong truyện trong lòng tay rất ngắn, thường chỉ là một khoảnh khắc thực tại Trong khoảnh khắc đó, giống như nghệ
sĩ nhiếp ảnh dùng ống kính ghi lại hình ảnh thực tại, nhà văn phác thảo một hoặc một vài hình ảnh, sự kiện chợt hiện lên trước mắt, rồi để chúng rơi vào hư không Người đọc phải dựa vào kiến thức, kinh
Trang 698 NGHIÊN CỬU VẰN HỌC, SỐ 4-2022
nghiệm, tưởng tượng mà suy ngẫm, chiêm
nghiệm, đồng sáng tạo tìm ra những thông
điệp mà nhà văn kí thác Lối khoảnh khắc
hóa thiên thu của Y Kawabata được Thụy
Khuê [1, tr.993] so sánh với lối James
Joyce gói gọn thiên thu trong một ngày,
giam vô tận trong một giây phút Nhưng
có vẻ như nó gần với kĩ thuật “chụp ảnh”
của các thi sĩ haiku hơn.
Truyện Bình dề vỡ chụp lại hình ảnh
một người con gái nhật lên các mảnh vỡ của
một bức tượng Quan Âm trên mặt đường
Từ hình ảnh diễn ra trong khoảnh khắc đó,
nhà văn nhận ra một điều thú vị Rất giống
với những chiếc bình dễ vỡ, các cô trẻ rất
dễ ngã lòng “Chính bản thân tình yêu đã
là một sự ngã lòng của các cô gái trẻ” Cô
gái vội vàng gom những mảnh vờ của bức
tượng như đang gom vội những mảnh vỡ
của chính sự ngã lòng của bản thân
Truyện Gương mặt người chết ghi lại
khoảnh khắc người chồng đi du lịch trở về,
nghiêng xuống khuôn mặt người vợ đã chết
đang toát lên một vẻ đau đón, khổ hạnh:
“Hai gò má gầy xanh, hàm răng đã đổi sắc
chìa ra ở hai môi Thịt ở mi mắt nàng đã
khô đi, dính chặt vào con ngươi Những
dây thần kinh đã kết tinh nỗi thống khổ
trên trán nàng” [1, tr 126], Người chồng
chăm sóc cho vợ lần cuối bằng cách xoa
bóp khuôn mặt, vầng trán khiến những nét
khắc khổ dịu đi Gương mặt người chết trờ
nên thanh thản, trong sáng Mẹ vợ anh trở
vào và lầm tưởng rằng đó là sự giao cảm kì
diệu của linh hồn con người Chỉ cần gặp
lại chồng, gương mặt thiếu phụ xấu số trở
nên hạnh phúc Trong giây phút đó, người
chống nhận ra rằng: phải chăng linh hồn
chỉ là một ảo tưởng của con người Linh
hồn chẳng qua chỉ là một sự ngộ nhận
So với cuộc đời, một khoảnh khắc có
gì đáng kể? Với suy nghĩ lầm lạc như thế,
chúng ta đã bỏ lỡ biết bao khoảnh khắc thực tại quý giá Bằng khả năng tập trung tinh lực đạt tới trạng thái đại nghi (hay nghi tình, trạng thái tập trung tinh thần cao độ) cùa một thiền sư, Kawabata đã đốn ngộ được những chân lí uyên áo của cuộc sống từ những âm thanh, hình ảnh, sự kiện giản dị vẫn hiện diện quanh ta nhưng ta thường vô tâm không đủ thính tai tinh mắt
để nghe để thấy và để nhận thức “Chưởng chi tiểu thuyết” của Kawabata đã nhắc nhở
ta đừng quên sống hết mình trong những khoảnh khắc ngắn ngủi của thực tại
4 Hư không qua nốt lặng vô ngôn
Cứu cánh tối thượng cùa bậc hành giả tu tập Thiền là đạt tới hư không Đó
là trạng thái tịch lặng của một cái tâm đã trở về với bản tính nguyên sơ, trong suốt,
vô khởi ý tham lam, sân hận, si mê Đó không phải là trạng thái rỗng rang, vô tri,
vô giác như kiểu phông màn, tường trắng tinh mà là trạng thái tâm vô niệm tiềm tàng khả năng tri kiến sáng suốt Khái niệm hư không thâm nhập vào văn học nghệ thuật tạo nên những đặc điểm độc đáo của những loại hình nghệ thuật tiếp nhận ảnh hưởng của Thiền
Tranh thủy mặc hay tranh mặc hội
(sumie) Nhật Bản thường rất đơn sơ với một vài đường nét giàu sức gợi Còn lại là khoảng trống không gian Gọi là trổng bởi bằng mắt thường, ta không nhìn thấy bất
cứ hình thể hay sắc tướng nào Nhưng nó không hề có ý nghĩa hư vô như trong triết học phương Tây Đó là vùng không gian dành cho những hoạt động giao cảm và chiêm nghiệm, bao hàm vô số tiềm nãng nằm ngoài các khuôn mẫu nhận thức đời thường của chúng ta Người đọc có thể thấy những hình ảnh trong những khoảng trống đó bằng chính tưởng tượng, kiến thức, trải nghiệm của riêng mình
Trang 7Truyện trong lòng tay 99
Thơ haiku cũng dành nhiều khoảng
không gian cho độc giả đồng sáng tạo Đó
là khoảng không gian rộng lớn bên ngoài
bài thơ Mỗi bài haỉku chỉ có 17 âm tiết
(thi thoảng 19 âm) chia làm ba dòng 5/7/5
(hoặc 5/9/5) Tiếng Nhật là ngôn ngữ đa
âm nên 17 âm tiết chỉ tương đương với
khoảng trên dưới 10 từ Vì vậy, nhà thơ chỉ
có thể phác họa hay gọi tên một cách khách
quan một hay một vài hình ảnh, âm thanh
với nhiều ý nghĩa tượng trưng chứ không
thể miêu tả, lí luận hay diễn giải Ngôn từ
cực tiểu đã để lại khoảng trống tối đa bên
ngoài bài thơ Không những thế, ngay giữa
những hình ảnh, từ ngữ trong bài cũng có
những khoảng trống hư không - vô ngôn -
buộc người đọc phải tưởng tượng, chiêm
nghiệm, dùng kiến thức kết nối chúng lại
Người đọc phải hóa thân, “lặn sâu vào lòng
sự vật” để khám phá điều bí mật ẩn giấu
trong đó Phương pháp cảm nghiệm haiku
tương đồng với phương pháp thể nghiệm
của Thiền: “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh
thành Phật”, nghĩa là nhìn thẳng vào nội
tâm, vào bản ngã để thành Phật Khi đó,
chủ thể và đối tượng sẽ đồng nhất, đạt đến
trạng thái hiểu biết viên mãn: nhất tâm Từ
những khoảng hư không trong thơ, người
đọc có thể nhất tâm với tác giả, đạt đến
những tầng ý nghĩa sâu thẳm, rộng lớn
Với đặc điểm giống như những bài
thơ haiku, truyện trong lòng tay của Y
Kawabata cũng có nhiều khoảng vô ngôn
như vậy Dung lượng truyện cực ngắn
Cảnh vật, sự kiện, nhân vật đều chỉ được
phác thảo vài nét mơ hồ, bí ẩn rồi thả vào
khoảng hư không Có truyện chỉ gồm một
hình ảnh nhưng bản thân hình ảnh đó chỉ
là những nét rời rạc, có truyện gồm hai
hoặc ba hình ảnh, sự kiện đặt cạnh nhau
nhưng không kết nối Độc giả phải tự mình
dùng chiêm nghiệm, tưởng tượng để kết
nối các hình ảnh với nhau Các truyện
cũng thường có kết thúc mở tạo cơ hội cho người đọc tự viết nên số phận nhân vật,
tự viết kết thúc cho tác phẩm và những ý nghĩa cho câu chuyện
Trong truyện Gương mặt người chết,
Kawabata chỉ phác họa khoảnh khắc người chồng nghiêng xuống gương mặt người vợ đã quá cố Sau khi anh xoa bóp, chăm sóc cho vợ lần cuối, gương mặt của chị không còn vẻ khắc khổ, mà trở nên thanh thản Bà mẹ vợ ngạc nhiên cho rằng giữa người sống và người chết có sự giao cảm Truyện có nhiều khoảng trống
vô ngôn khiến người đọc tự hỏi: “Cặp vợ chồng này, một người ngồi đây, một người
đã khuất liệu có yêu nhau, có yêu nhau, còn yêu nhau? Người vợ chờ chồng về để trăng trối, để xin tha thứ hay để tha thứ cho chồng? Người chồng nghĩ gì khi ngồi bên xác vợ? về sự gớm ghiếc của khuôn mặt người chết? Sự đổi thay chớp nhoáng của hai cõi sinh tử trên cùng một thân thể con người? Chàng cố sức chà bóp khuôn mặt
vợ vì tình yêu, vì thương cảm hay vì muốn xóa đi dấu vết của thần Chết trên thân xác bất hạnh? Hay chàng muốn xóa đi nỗi thất vọng của mình trước sự biến đổi ghê gớm của nét mặt, ánh mắt trước đây trong sáng như ánh mắt tuyệt vời của người em gái ngồi bên cạnh? Sự trực diện và tương phản giữa sống và chết có thể khủng khiếp đến thế ư?” [1, tr.994] Người đọc phải tự mình tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi đó Truyện Địa Tạng vương Bồ Tát Oshin1
phác họa bốn hình ảnh dường như chẳng
có gì kết nối với nhau Thứ nhất là chân dung của người kĩ nữ xưa nay được phong
1 Còn được biết đến với tên Bồ tát O-nobu qua bàn dịch của Thụy Khuê trong bài “Từ Murasaki đến Kawabata”, xem [1, tr.995] Trích dẫn tác phẩm
Địa Tạng vương Bồ Tát Oshin trong bài viết này
dựa trên bản của Thụy Khuê.
Trang 8100 NGHIÊN CỬU VĂN HỌC, SỐ 4-2022
là Địa Tạng vương Bồ Tát Hình ảnh thứ
hai là người khách có phần lỗ mãng xuất
hiện trong một ngày hè oi bức Hình ảnh
thứ ba: người thiếu nữ có vẻ đẹp thanh cao,
thuần khiết Hình ảnh thứ tư: vẫn người con
gái ấy giờ đã tàn tạ trong một buổi chiều
thu Người đọc phải tự tìm ra mối liên hệ
giữa các hình ảnh, xâu chuỗi lại để xác định
mạch truyện Người khách đọc cuốn biên
niên sử địa phương và biết được truyền
thuyết về một kĩ nữ thời trước tên là Oshin
Năm hai mươi tư tuổi, nàng góa chồng Từ
đó, nàng sống đời giang hồ: “Như bọn đàn
ông dưới thung lũng phải vượt cầu treo để
về làng, đám trai tơ trong làng đều trở thành
đàn ông qua tấm thân O-Nobu” [1, tr.995]
Câu chuyện về cuộc đời nàng khiến người
khách cảm động sâu sắc Tình cờ khách gặp
một người con gái vô cùng xinh đẹp trên xe
ngựa Khi thấy cô gái bước vào lầu xanh,
khách sững sờ ngậm ngùi nhưng vẫn cảm
thấy một niềm thỏa mãn thầm kín trước sắc
đẹp: nàng ít ra sẽ không xấu xa tàn tạ vì
đàn ông Mùa thu năm sau, khách quay trở
về vùng núi ấy Cô gái xinh đẹp giờ xác xơ
như những quả dẻ rơi dưới chân Đau đớn
vì nhan sắc bị vùi dập, người khách bóp cò
Tiếng súng xé rách mùa thu trên núi Nhưng
anh cũng cảm thấy an ủi một phần bởi tâm
hồn nàng vẫn thánh thiện như xưa Kĩ nữ
thời xưa và người con gái lầu xanh thời nay
đều là hiện thân của cái đẹp, nhưng là cái
đẹp đang bị đọa đày Người con gái được
phong Bồ Tát chỉ còn là một bức tượng vô
chủ phong sương Người con gái thời nay,
qua một mùa, đã xác xơ vì cuộc sống chốn
lầu xanh Nàng như đóa hoa tàn rụng dưới
gót giày của những người khách lỗ mãng
Nhưng ít ra vẫn có những người xót xa
cho kiếp giang hồ không bến đậu của họ,
phát hiện và trân trọng những châu ngọc
trong tâm hồn họ Đó là người khách trong
câu chuyện, là Kawabata - người tiếp nối
những nhà thơ Basho, Nguyễn Du, - viết nên những hang viết xót thương cho thân phận của họ
Các truyện Gà trổng và vũ nữ, Trái đất cũng thuộc kiểu truyện ghép lại từ những mảnh vụn như Địa Tạng vương
Bồ Tát Oshỉn cốt truyện được phân tách
thành từng đoạn (8, 9 đoạn) rời rạc và có đoạn chỉ hai dòng như độc giả thấy trên bản dịch tiếng Việt Người đọc phải tự mình tìm ra ý nghĩa của những khoảng trống vô ngôn
Truyện trong lòng tay của Y Kawabata
là một thể loại độc đáo của loại hình tự
sự Đó là sự thu nhỏ cuộc sống vô hạn vào trong lòng tay, thiên thu dồn lại vào trong khoảnh khắc Mỗi truyện như một giọt sương soi trong mình cả thế giới xung quanh Đe làm được điều kì diệu
đó, Kawabata đã kế thừa hình thức nghệ thuật độc đáo của thơ haiku', nghệ thuật để trống Nhà văn phác họa những hình ảnh,
âm thanh, những sự kiện bình dị được ghi lại từ cuộc sống xung quanh nhưng lại chất chứa nhiều lóp nghĩa rồi thả vào khoảng
hư không Truyện trong lòng tay của Kawabata mời gọi sự tri âm, đồng sáng tạo của người đọc Truyện thật nhỏ bé nhưng lại có khả năng mở ra một khung trời yêu thương đối với thân phận của cái đẹp
Tài liệu tham khảo
[1] Nhiều dịch giả (2005), Yasunari Kawabata
- Tuyên tập tác phãm, Nxb Lao động, Hà Nội [2] Nguyễn Thị Khánh (1998), Văn học Nhật Bản, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội [3] Nguyễn Lương Hải Khôi (2011), Tư tưởng
của Y Kawabata về văn học Tân cảm giác: lí luận, thực tiễn sáng tạo và một so vẩn đề hiện đại hóa, Kỉ yếu Y Kawabata trong nhà trường,
Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội [4] Lưu Đức Trung (1998), Y Kawabata cuộc đời và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.