LƯỠNG PHÂN TRONG THÉ GIỚI THẨM MĨ CỦA KAWABATA YASƯNARI NHÌN TỪ LỊCH sử VÀ TÂM THỨC DÂN TỘC KHƯƠNG VIỆT HÀ’> Tóm tắt: Kawabata Yasunari 1899-1972 là nhà văn Nhật Bản đầu tiên được trao
Trang 1LƯỠNG PHÂN TRONG THÉ GIỚI THẨM MĨ CỦA
KAWABATA YASƯNARI NHÌN TỪ LỊCH sử
VÀ TÂM THỨC DÂN TỘC
KHƯƠNG VIỆT HÀ(’>
Tóm tắt: Kawabata Yasunari (1899-1972) là nhà văn Nhật Bản đầu tiên được trao giải Nobel Văn học năm 1968, nhân ki niệm 100 năm hiện đại hóa văn học Nhật Bản theo mô hình phương Tây tính từ Cải cách Minh Trị, nhưng nguồn cội sáng tác của ông phần lớn lại nằm trong di sản văn hóa và mĩ học dân tộc vốn dung chứa thuộc tính nhị phân, tương phản như một hằng số Trong bài viết này, lấy dấu mốc năm 1945 làm một lát cắt lịch sử, chúng tôi tìm hiểu khuynh hướng tiên phong “cảm giác mới” trên văn đàn tiền chiến và khuynh hướng ngả về “truyền thống trong hiện đại” thời kì hậu chiến, điều làm nên thẩm mĩ Kawabata Yasunari của những đối cực, tương phản Từ điểm nhìn tâm thức Nhật Bản, bài viết khảo sát những cực trị thẩm mì trong một số tiểu thuyết do văn hào chấp bút.
Từ khóa: tân cảm giác, đối cực thẩm mĩ, điểm nhìn lịch sử, tâm thức dân tộc.
Abtract: Kawabata Yasunari (1899-1972), Japan’s first writer to win Nobel prize four years before his death, engages with themes of dichotomy and contrariety in exploring the national and cultural aesthetic of Japanese literature since the Meiji Restoration His works locate the dichotomy and contrariety as a constant that resulted from a clear split between vanguard novelty of Japan’s pre-war literature and cultural consciousness of the post-war writings.
Keywords: Shinkankaku-ha (Neo-Sensualism), aesthetic polarity, historical viewpoint, national mind.
Tròn nửa thế kỉ trôi qua từ ngày
Kawabata Yasunari (1899-1972) giã từ cõi
thế để bước vào cuộc viễn du vĩnh hằng,
nối tiếp truyền thống tự sát của nhiều nhà
văn Nhật Bản, sự đọc, sự khám phá và
tái khám phá những sáng tạo nghệ thuật
của văn hào trên toàn thế giới vẫn năng
sản không ngừng Trên tiến trình này,
đã có nhiều kiến giải các tác phẩm của
Kawabata bằng cách đặt vào bối cánh
lịch sử thích hợp của chúng Từng được
đánh giá là nhà văn truyền thống nhất của
Nhật Bản, người chịu ảnh hưởng ít nhất
từ các xu hướng trong nước cũng như ảnh
hưởng nước ngoài, đặc biệt khi Kawabata
Yasunari mang về cho Nhật Bản giải Nobel
Văn chương đầu tiên và là giải thứ ba được
'*’ThS - Viện Văn học Email: viethavvh@gmail.com
trao cho châu Á vào năm 1968, các nhà phê bình đã nhấn mạnh sự độc đáo của cả Kawabata và truyền thống Nhưng đó là truyền thống nào? Thẩm thấu trong thẩm
mĩ tương phản như một hằng số Nhật Bản,
từ cuộc đời, quan niệm nghệ thuật đến sáng tác của Kawabata Yasunari đã luôn ánh xạ thuộc tính lưỡng cực, tương phản
từ truyền thống Trong bài viết này, lược thuật lịch đại Tân cảm giác phái, lấy giai đoạn Chiến tranh 15 năm1 và cột mốc 1945
1 “Chiến tranh Thái Bình Dương”, còn được biết đến với tên gọi “Chiến tranh 15 năm”, đề cập đến cuộc chiến kéo dài từ 1931-1945, khởi đầu với biến cố Mãn Châu ngày 18/9/1931, hiện thực hóa tham vọng đế quốc của Nhật Bàn khi quân đội tìm cách mớ rộng ảnh hường ra khắp châu Á, đặc biệt
là qua chiến tranh với Trung Quốc Trong cuộc chiến này các đạo quân dưới lá cờ hinomaru đã
Trang 2làm lát cắt lịch sử, chúng tôi kiếm tìm giữa
phong cách mờ nhòe, mơ hồ nơi tác giả
khuynh hướng khai phóng “cảm giác mới”
trên văn đàn thời kì tiền chiến và khuynh
hướng “truyền thống trong hiện đại” những
năm chiến tranh và đặc biệt trong thời kì
hậu chiến, điều làm nên một Kawabata
Yasunari của những đối cực thẩm mĩ Phần
sau của bài, từ tâm thức dân tộc khảo sát
một vài hình tượng thẩm mì tương phản
trong tiểu thuyết của Kawabata
1 Điểm nhìn lịch sử khoi dòng cảm
thức thẩm mĩ truyền thống trong hiện đại
1.1 Sinh năm 1899 tại Osaka, cùng
năm với Earnest Hemingway (1899-
1961) và Vladimir Nabokov (1899-1977),
Kawabata Yasunari đã sống, đã vượt qua
các trải nghiệm bi thương trong gia thế lúc
còn trẻ và những biến động ba đào của quê
hương xứ sở trong suốt cuộc đời, đã kiếm
tìm và thể nhập cái đẹp trên trọn vẹn hành
trình sáng tạo nghệ thuật để trở thành trụ
cột của văn học chính thống, đại diện “bản
chất của tâm hồn Nhật Bản” [2] Nhìn lại
lịch sử Nhật Bản thập niên 20-30 của thế
kỉ XX, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất,
với khủng hoảng kinh tế năm 1920 và trận
động đất ghê gớm tại đồng bằng Kantõ
năm 1923 gây tác động to lớn và toàn diện
đến đời sống xã hội Nhưng cũng giai đoạn
này đánh dấu bước ngoặt đất nước Thái
Dương thần nữ trỗi dậy, hiện đại hóa thành
công trong nỗ lực trở thành một “phương
Tây ở châu Á”, với việc ứng dụng công
nghệ vào đời sống kéo theo quan niệm
xâm lược hầu hết các quốc gia Đông Á, Đông Nam
Á và các hòn đào thuộc Thái Bình Dương Lãnh
thổ Nhật Bản được mờ rộng chưa từng thấy trong
lịch sử, lên tới 7.400.000km1 2, nhưng kéo theo tới
2,3 triệu binh sĩ trận vong Nhiều nhà văn bị trưng
dụng cho chiến tranh.
1 Trong những năm đầu thế ki XX, khi lộ trình Cải cách Meiji (1868-) đi đến chặng cuối, tư tưởng Marxist đã manh nha tại Nhật Bản thông qua việc xuất bản các tạp chí cánh tả đầu tiên là Seinenbun (Văn học trẻ, 1895-1897), Kaben (Roi lựa, 1905- 1906), đặc biệt là qua sáng tác của một so nhà văn theo khuynh hướng chủ nghĩa xã hội như Kõtoku Shũsui (1871-1911) và người kế tục xuất sắc của ông là Kawakami Hajime (1897-1946) Tiếp nối sau đó, văn học vô sản Nhật Bản (7° n u g 'J 7 Puroretaria bungaku) ra đời khởi đầu như một trào lưu văn học tự ý thức cùng việc xuất bản
tờ Tanemaku hito (Người gieo hạt, 1921-1923) Sau khi Tanemaku hito ngưng phát hành vào năm
1923 (Taisho 12) do ành hường của động đất vùng Kantõ, các nhà vàn vô sản mới cho ra đời tờ Tạp chí Bungei Sensen (Văn nghệ chiến tuyến) vào tháng 6/1924 và tồn tại tới tháng 7/1932.
mới về cuộc sống hiện đại Trên lĩnh vực
tư tưởng, hai phương diện có ảnh hưởng lớn nhất đến trí sĩ thời kì này là chủ nghĩa Marx, hiện diện ở Nhật Bản qua sự ra đời
và hoạt động của đảng cộng sản, và thứ hai, ý thức cởi mở với phương Tây do các nhà quân phiệt Nhật chủ trương, đã tạo cơ hội cho các trí sĩ được tiếp xúc với hàng loạt trào lưu, trường phái, tác gia, tác phẩm triết học, văn chương và nghệ thuật phương Tây Bởi vậy, khi phong trào văn chương Macxit ở Nhật Bản mở màn' cũng
là thập kỉ trí thức Nhật Bản không ngừng hướng về các xu thế văn hóa châu Âu đương thời
Giai đoạn trị vì của Đại Chính Thiên hoàng (Taishõ, 1912-1926) chứng kiến sự bùng nổ tác phẩm của những tác giả trẻ, những người đã cố gắng tìm câu trả lời cho các vấn đề đặt ra trước xã hội [1, tr.82] Một số trong các nhà văn này về sau sẽ trở thành những tên tuổi nổi tiếng mang tầm nhân loại Đối lập, thậm chí đối đầu với các nhà văn bị hấp lực của chủ nghĩa Marx thu hút, bằng ý thức thuần văn học
và phi chính trị hóa, Kawabata Yasunari
Trang 382 NGHIÊN CỬU VÂN HỌC, SỐ 4-2022
cùng người đồng chí Yokomitsu Riichi
(1898-1947), còn có thể kể đến Hayashi
Tatsuo (1896-1984), Watanabe Kazuo
(1901-1975), các tiểu thuyết gia Kataoka
Teppei (1894-1944), Nakagawa Yoichi
(1897-1994), tranh thủ được cơ hội tiếp
cận phương Tây qua sách dịch, và cả
nguyên tác, những tác phẩm văn học, triết
học thế kỉ XIX đến đầu thế ki XX của
Nga, Anh, Pháp, Đức, đã ngả theo hướng
nghiên cứu và sáng tác riêng biệt trong
nồ lực quan tâm đến phương Tây nhiều
hơn BỊ hấp dần bởi hình tượng và hiệu
quả hình ảnh của thơ ca tượng trưng, siêu
thực Pháp do nhà thơ Horiguchi Daigaku
(1892-1981) chuyển ngữ, các nhà văn nói
trên đã tìm cách tạo ra những thành quả
tương tự trong văn xuôi của mình Được
nhà phê bình Chiba Kameo (1878-1935)
định danh và mô tả, Tân cảm giác phái
tiếng Nhật: Shinkankakuha,
tiếng Anh: Neo-sensualism) sinh thành, dù
sẽ thích hợp nếu coi đây là một khuynh
hướng thay vì trường phái do thời gian tồn
tại rất ngắn, vần trở thành trào lưu văn học
“vị nghệ thuật” hiện đại hàng đầu Nhật
Bản thời tiền chiến1, bên cạnh trào lưu
Puroretaria bungakn (văn học vô sản) “vị
nhân sinh”
1 Cũng cần nói thêm rằng, ảnh hưởng của văn
phái Tân cảm giác Nhật Bản tới Trung Quốc kiến
tạo khuynh hướng cùng tên Tân cảm giác phái
(Tiếng Trung: Xĩn Gănjué Pài, tiếng Anh: New
Sensationists), quy tụ nhóm nhà văn nổi lên ở
Thượng Hải những nãm 1930, những người sử
dụng ngôn ngữ, cấu trúc, chủ đề và phong cách
mang tính cách mạng, được coi là nền tảng của vãn
học hiện đại Trung Quốc.
2 Theo Nguyễn Nam Trân, các khuynh hướng nghệ thuật phái (geijutsuha) thời đầu Shõwa với những điểm mới mẻ (modernity) khác biệt với các điểm mới mè, hiện đại của thế hệ các nhà văn chịu ành hưởng phương Tây thời Minh Trị “Đặc điểm của chúng là chống lại truyền thống hiện đại đã có cho nên người ta không thể gọi là văn học hiện đại (modem literature) mà phải mệnh danh là văn học duy hiện đại (modernism literature)” [13, tr.425].
3 Tiểu thuyết tự thuật, thuật ngữ tiếng Nhật là
watakushi shõsetsu ((ÍÁ <1' “tư tiểu thuyết”, tiểu thuyết về tôi) hoặc shinkyo shõsetsu (,Ù'ÌỀ/J', h ) ỉ ,
“tâm cảnh tiểu thuyết”), Theo Ishida Kazuyoshi là một thể loại tiểu thuyết kể chuyện ở ngôi thứ nhất
mà trong đó “tác giả thuật lại đời mình một cách
tự nhiên và trung thực, mồi bối cành của một giai đoạn trong cuộc đời là một chủ đề để xếp thành tiểu thuyết, và tùy theo mồi sự việc ấy mà tác giả bình luận hay lí luận đê tỏ rõ tư tưởng, lập trường hay chí hướng mình” [6, tr.431 ].
4 Trường phái duy mĩ (3fcH±H, tiếng Nhật là tanbishughi, “dam mĩ chủ nghĩa”, còn được biết đến dưới tên gọi “Tân lãng mạn Nhật Bản”) đại biểu với Kitahara Hakushũ, Nagai Kafũ, Tanizaki Jun’ichiro, Kinoshita Mokutarõ Sáng lập PAN hội
Tháng 10/1924, tờ Bungei jidai (Văn
nghệ thời đại) ra mắt như một đối trọng
với tờ Bungei sensen (Văn nghệ chiến
tuyến) ra đời tháng 6/1924 của văn học vô
sản, và dù chỉ hoạt động tới 1927, vẫn trở thành cơ quan ngôn luận quan trọng của văn phái Tân cảm giác Trên phương diện triết lí sáng tác, các nhà văn theo khuynh hướng tân cảm giác nhấn mạnh việc mang lại cảm giác cho độc giả trước đối tượng miêu tà thông qua các giác quan, đề cao cảm hứng của người cầm bút khi hành văn thay vì lạm dụng kĩ thuật của văn chương, chú trọng đến tác phẩm hơn tác giả, coi tác giả là khách quan không can dự vào nhân vật và cốt truyện Với ý nguyện tìm kiếm những điểm khởi hành mới cho văn đàn Nhật Bản2, tôn chỉ cùa Tân cảm giác phái
là sự phủ định tiểu thuyết tự thuật3, thành tựu hậu kì của các nhà tự nhiên chủ nghĩa
đã dần bước qua ngưỡng cửa của tuổi trẻ vốn đề cao cái tôi và thế giới xoay quanh cái tôi bằng lối văn trần trụi, khô khan; phê phán trường phái duy mĩ Nhật Bản4 đang
Trang 4dần sa vào suy đồi; đối đầu với văn học vô
sản qua chủ trương phản đối chính trị hóa
văn học, thực hiện cuộc “cách mạng văn
học đối kháng với văn học cách mạng”
[6, tr.440] Trào lưu văn học này đã thực sự
mang “cảm giác mới” vô tiền khoáng hậu
đến văn đàn Nhật Bản tiền chiến ở phương
diện “phản ánh phản ứng của thế hệ các
nhà văn đàu tiên đối với việc được nuôi
dưỡng bằng thứ văn dịch sang văn hóa của
mình” [8, tr.34],
Gương mặt trung tâm của “cảm giác
mới” trên văn đàn Nhật Bản đương thời là
Kawabata Yasunari và Yokomitsu Riichi
Không thể hiểu nền văn nghệ thời đại và
ấn tượng mới, nhận thức mới của thời đại
mà không bắt đầu từ Yokomitsu, người
bạn, người đồng đạo của Kawabata, nhà
lí thuyết hàng đầu của Tân cảm giác phái,
người đã loại bỏ tất cả chất trữ tình, tìm
cách sử dụng vốn từ ngữ trừu tượng trong
sáng tạo những tiểu thuyết trường thiên
phản ánh thời đại mới Là một bác sĩ,
ông có cái nhìn rộng mở về văn hóa, mối
quan tâm lớn đến khoa học Tây phương
và thường lấy các nhà khoa học làm nhân
vật cho tiểu thuyết, tạo những đổi mới
độc đáo nội dung và hình thức cho tác
phẩm [8, tr.46] Các tác phẩm tiêu biểu
phong cách tân cảm giác với lối văn gọn
gàng, chấm câu, sang câu đột ngột [13,
tr.426] của Yokomitsu có thể kể đến Con
ruồi (Hae, 1923), Đầu với bụng (Atama
narabi ni hara, 1924) hay kiệt tác Thượng
(PAN no kai, 1908-1912), và cơ quan ngôn luận là
tạp chí Subaru (“Sao Mão”, còn gọi là “Tao Đàn”,
1909-1913) Chung chiến tuyến với Tân cảm giác
phái và các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa
khác, văn phái duy mĩ này đối đầu với chủ nghĩa
tự nhiên, phản đối lối văn “khô khan” “không màu
sắc” của chủ nghĩa tự nhiên bằng việc đưa ra những
sáng tác duy mĩ, đề cao nhục cảm.
Hải (Shanghai, 1928-1931) Có đông độc giả đông đảo nhất trong những năm 1930 qua tác phẩm đang viết dở dang Nỗi buồn
tha hương (Ryoshũ, 1937-1946) mang đậm màu sắc triết lí khi so sánh văn hóa Đông-Tây, Yokomitsu cũng là nhà văn hàng đầu của loại tiểu thuyết mới mà cơ
sở nghệ thuật của nó bắt nguồn duy nhất
từ mẫu hình phương Tây và văn chương hiện đại Nhật
Nếu Yokomitsu xây dựng những trường thiên tiểu thuyết miêu tả mối quan
hệ giữa con người với con người cũng như đối sánh các nền văn hóa Đông-Tây, thì Kawabata Yasunari lại giới hạn thể loại trong các truyện ngắn, hoặc các tiểu thuyết mà ở nhiều phương diện được coi như một chuỗi các truyện ngắn ghép lại, nhằm miêu tả thế giới cảm giác của riêng mình và tập trung vào vẻ đẹp của các chi tiết [8, tr.46] Không trực tiếp tham gia xây dựng mục tiêu của Tân cảm giác phái trên phương diện lí luận như Yokomitsu, nhưng Kawabata còn đi xa hơn thế khi đã luôn ở trung tâm của một phong trào tổng hợp các trào lưu hiện đại như chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa Dada, chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa biểu hiện hòa quyện với truyền thống văn hóa châu Á ủng hộ việc cải cách cách thức diễn đạt văn học, hoạt động mạnh mẽ chống lại văn học đại chúng
và giúp kiến thiết thuần văn học1 như văn học Nhật Bản thực thụ và đây là tư thế
để từ đó bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình, Kawabata viết về sự cần thiết của một kiểu loại văn học mới của thời đại: kiểu loại văn học có thể thể hiện hình thức
1 Văn học thuần túy (&Ẽ“jun bungaku”, thuần văn học) đối lập với văn học đại chúng (Y
“heimin bungaku”, văn học bình dân hay À ỉt LẲ;
“taishũ bungaku”, văn học đại chúng).
Trang 584 NGHIÊN CỨU VÃN HỌC, SỐ 4-2022
phi logic và ngắt kết nối trong đó chúng ta
trải nghiệm thế giới như một dòng “cảm
giác” (kankaku) liên tục “Các hiện tượng
mà giác quan cảm nhận được như cấu trúc,
âm thanh, mùi hưcmg, hoặc cảm giác nóng
và lạnh đều góp phần vào trải nghiệm
sống của chúng ta, và không có hiện tượng
nào có thể được biểu hiện đầy đủ thông
qua hình thức trực quan thuần túy mà các
sáng tác truyền thống đương thời thể hiện
được, từ chủ nghĩa tự nhiên đến văn học
vô sản” [7, tr.4] Những thi phẩm văn xuôi
như Vũ nữ hu (Izu no odoriko, 1926) đăng
trên Bungei jidai, 5 tập đoản thiên trong
đó đáng chú ý là Điểm tô tình cảm: 36
thiên tiếu thuyết trong lòng bàn tay (Kanjõ
shõshoku: Tenohira no shõsetsu 36 hen,
1926), cuốn Hồng đoàn Asakusa (Asakusa
kurenai dan, 1929-1930) và Huyễn tưởng
pha lê (Suishõ gensõ, 1931) lần lượt ra mắt
công chúng trong giai đoạn này, hòa trộn
giữa một nội dung dung chứa cái đẹp, sự
chết và nồi buồn của một Nhật Bản truyền
thống, kết hợp ảnh hưởng nghệ thuật hiện
đại phương Tây qua thủ pháp dòng ý thức
của James Joyce (1882-1931), phân tâm
học của Sigmund Freud (1856-1939) và
chủ nghĩa ấn tượng Pháp với Marcel Proust
(1871-1922): “Bắt chước thủ pháp dòng ý
thức của những nhà văn phương Tây như
James Joyce , khiến phạm vi liên tưởng
mở rộng đến thế giới thâm lí, đồng thời lại
trước sau giữ được cách điệu vững chắc,
trau truốt trong truyền thống văn học Nhật
Bản ” [ll,tr?83],
1.2 Tồn tại trong thời gian ngắn từ hậu
kì Taishõ tới khoản năm thứ 6 (1931) thời
kì Shõwa (Chiêu Hòa, 1926-1989), đạt
đỉnh cao trong khoảng năm 1925 đến năm
1926, thời kì hoàng kim của Tân cảm giác
phái chấm dứt khi một số nhà văn chuyển
sang hoạt động cánh tả và các tư trào văn
học kế tục ra đời, như phái Tân hưng văn nghệ, Chủ nghĩa tâm lí mới1 Nhưng băng ngang qua những chuyển động của thời đại, phong cách “tân cảm giác” vẫn nhất quán, xuyên suốt cả những tác phẩm sau này của Kawabata Yasunari
1 Phái Tân hưng văn nghệ (WrR s Kĩ ỈS, Shinkõ Geijutsuha) với Nakamura Murao (1886-1949), Ibuse Masuji (1898-1993), Kajii Motojiro (1901- 1932) chủ trương tự do ý chí và quan tâm đến tính
tư tưởng của văn học nghệ thuật Nhóm Chủ nghĩa tâm lí mới (iff'ù'ĩẵẺĩ|g, Shin Shinrishugi) do Itõ Sei (1905-1969), Hori Tatsuo (1904-1953) lãnh đạo, nhấn mạnh việc miêu tả đời sống tỉnh cảm và tâm lí tinh tế của nhân vật.
2 Truyện kể Genji (Genji monogatari, 1010?) của
nữ sĩ Murasaki Shikibu (978-1019?), kiệt tác cổ điển Nhật Bản được thừa nhận rộng rãi là tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại.
Ở chiều cạnh đối nghịch, phần nào tương tự Tanizaki Jun’ichiro và những người đồng chí như tiểu thuyết gia Shiga Naoya (1883-1971), các thi sĩ Kinoshita Mokutaro (1885-1945), Kitahara Hakushu (1885-1942), Kawabata Yasunari trong thời chiến và những năm sau chiến tranh
đã dứt khoát lựa chọn riêng mình một con đường, hướng sự quan tâm của mình vào đời sống tình cảm của cá nhân, của mĩ học, ngôn ngữ và truyền thống văn hóa Nhật Bản Giữa bộn bề thế cuộc những năm Nhật Bản đối nội thì sôi sục vận hành theo
mô hình thời chiến, “khói súng bao trùm lên trang phục của người phụ nữ Nhật” [1, tr.368], đối ngoại thì leo thang chiến tranh khắp châu Á-Thái Bình Dương, Kawabata Yasunari tìm về nguồn cội để thấu cảm hồn cốt dân tộc: “Trong thời chiến, dưới ánh đèn dầu leo lét, tôi tiếp tục đọc Truyện kê Genji2, Tôi đọc ngay cả khi ngồi trên tàu điện đi qua vùng vừa bị ném bom và lấy làm ngạc nhiên là thế giới của tiểu thuyết không tương thích với thế
Trang 6giới xung quanh, và còn ngạc nhiên hơn
khi thấy tâm hồn mình hòa hợp với tác
phẩm văn học được sáng tác cách đây cả
ngàn năm” [1, tr.375] để rồi chấp bút viết
đăng từng phần của Xứ tuyết (Yukiguni,
1935-1937, 1947) Cũng trong những năm
này Tanizaki Jun’ichiro ra mắt công chúng
áng văn tượng hình cái đẹp siêu vượt thế
gian Mong manh hoa tuyết (Sasame yuki,
1942-1948) mà số phận của tác phẩm và
quá trình sáng tác phần nào tương đồng
với Xứ tuyết Như đặc trưng thi pháp wakal
của thời đại thi ca cổ điển từ 10 thế kỉ
trước và cũng là đặc điểm xuyên suốt lịch
sử văn học duy mĩ (và duy tình) Nhật Bản,
những vấn đề thế sự hầu như vắng bóng ở
cả hai tiểu thuyết Mong manh hoa tuyết
từng khiến Tanizaki vướng vào án tích xao
lãng nghĩa vụ chung của đất nước và tràn
đầy âm hưởng hưởng lạc cá nhân nên từng
bị đình bản năm 1943 Xứ tuyết được khởi
bút trong những năm Nhật Bản bước vào
đường lối quân phiệt, lại tìm được nhóm
độc giả cuồng nhiệt là những người lính
Đế quốc Nhật Bản trên các lãnh thổ thuộc
địa khắp châu Á-Thái Bình Dương mang
niềm hoài nhớ cố hương
1 Waka Hòa ca, Thơ Nhật) nghĩa hẹp chỉ
những bài tanka thơ ngắn, thể thơ 5 câu
5+7+5+7+7 âm tiết) được sáng tác từ thời Heian,
khởi đầu với Cổ kim Hòa ca tập (Kokin Wakashu,
“Tập thơ xưa nay”, năm 905/914) và tiếp nối với
20 “sắc soạn tập” do các Thiên hoàng hoặc Thái
thượng hoàng ban lệnh tuyển soạn về sau Một
trong những đặc điểm thi pháp waka là không
châm biếm, không ca ngợi chiến tranh hay vẻ đẹp
của thân thể con người.
1.3 Tháng 8/1945, người Nhật buộc
phải đầu hàng và chấp nhận bị chiếm
đóng, “nhẫn điều không thể nhẫn nổi”
[1, tr.437] Trong bối cảnh đen tối nhất kể
từ thời lập quốc của nước Nhật với các
thành phố bị san phẳng, nhiều người đã chết hoặc mất đi người thân, và ngay cả hoàng đế cũng buộc phải từ bỏ địa vị thần thánh của mình, đất nước ngày càng lệ thuộc vào phương Tây, đặc biệt là Hoa Kì, độc giả càng bắt gặp ở Kawabata Yasunari diện mạo khác, nơi vị thế tác giả nổi lên như một trong những thành viên bảo thủ nhất của đội ngũ các nhà văn hiện đại Nhật Bản cả từ lí thuyết thẩm mĩ, phương pháp luận phê bình văn học đến thực tiễn sáng tác “Từ đây về sau, tôi sẽ không viết một dòng chữ nào mà không nói về vẻ đẹp
và nỗi buồn của Nhật Bản” [13, tr.570], Kawabata tuyên hứa Ý thức sâu sắc kĩ thuật của văn minh hiện đại không thể là cứu rỗi, thậm chí trong tay quân phiệt và
đế quốc còn mang sức mạnh bạo cường hủy diệt, hoặc tự hủy, Kawabata Yasunari càng ngày càng tôn thờ truyền thống, càng ngày càng quay lưng lại với những giá trị hiện đại mà ông từng bị thu hút và hết mực ủng hộ
Các tác phẩm của Kawabata thường được nhìn dưới góc độ nhị phân truyền thống và hiện đại, nhưng vượt qua ngưỡng của mọi nhị nguyên tính, các nhà phê bình nhận thấy sau Thế chiến thứ hai Kawabata quay về với truyền thống song vẫn nhất quán khẳng định rằng ông là một nhà văn tân cảm giác (chủ nghĩa hiện đại) Trong
ý thức này, tinh thần kiến tạo “cảm giác mới” trên văn đàn song hành cùng nỗ lực bảo lưu truyền thống, điều từng thăng hoa với tác phẩm viết từ thời tiền chiến như Vũ
nữ lzu hay tác phẩm xuất bản từng phần từ năm 1935 đến năm 1947 mới được hoàn
thành như Xứ tuyết, lại càng thấm đẫm
trong những khúc bi ca thuộc giai đoạn sau của Kawabata như Ngàn cảnh hạc (Senbazuru, 1949-1951); Tiếng rền của núi
(Yama no oto, 1949-1954); Hồ (Mizuumi,
Trang 786 NGHIÊN CỨU VẨN HỌC, SỐ 4-2022
1955), Người đẹp say ngủ (Nemureru bijo,
1960-61); Cố đô (Kyodo, 1961-1962)
và các truyện “cầm tay” Tanagokoro no
shõsetsu (thông dụng với tên gọi Tenohira
no shõsetsu, Truyện trong lòng bàn tay,
với 146 đoản thiên đã được xuất bản) Có
thể nói trong hành trình miệt mài tìm về
bản thể, đem sinh mệnh mình biến thành
sự thăng hoa của cái đẹp và sự hoàn thành
cái đẹp [10, tr.82], Kawabata Yasunari đã
không chỉ hiện đại như các tác giả thời kì
Minh Trị, không chỉ ý thức cách tân mạnh
mẽ như Tân cảm giác phái, mà sự thể nhập
Chủ nghĩa tâm lí mới, Tân phục hưng nghệ
thuật hay Lãng mạn để nâng tầm đã khiến
ông hiện đại hon hết những nhà văn Nhật
Bản cùng thời kì Ở chiều ngược lại, nỗ lực
khám phá tâm hồn dân tộc thời hậu chiến
càng khiến Kawabata truyền thống hon
những nhà văn Nhật Bản đưong thời
2 Tâm thức dân tộc kiến tạo hình
tượng nghệ thuật tưong phản, đa thanh
2.1 “Văn hóa Nhật Bản sở hữu một
khả năng rất đáng kinh ngạc, đó là dao
động giữa những quan điểm trái ngược”
[4, tr.32], nhà nhân chủng học Claude
Lévi - Strauss khẳng định Hằng số Nhật
Bản là đối cực, đa thanh, tương phản từ
lập quốc đến hiện đại Đất nước của thiên
nhiên “tuyệt đẹp, dịu dàng, tinh tế nhưng
cũng rất hung bạo” [3, tr.5], bốn mùa tuần
hoàn và sự thay đổi mùa rõ rệt “Hoa thắm
mùa xuân/Cu gù tiết hạ/Trăng thu óng ả/
Tuyết đông giá lạnh, tinh khôi” [20] như
đặc tả trong “Bản lai diện mục” của thiền
sư Dogen (1200-1253) song hành cùng
bốn “đặc sản” bão tố, động đất, sóng thần
và núi lửa Đất nước thượng tôn màu hoa
được sử dụng ở cấp quốc gia là màu vàng,
biểu tượng của ánh dưcmg quang chói lọi
và sự trường tồn vĩnh cửu, với hình tượng
hoa cúc 16 cánh (kikumon) trong hoàng gia huy (quốc huy), nhưng từ sâu thẳm tâm thức người Nhật lại tụng ca bóng tối, và những loại hoa mang sắc tím buổi hoàng hôn hay sắc hồng của sớm mai “thoắt
nở, thoắt tàn” với từng cánh mong manh liên kết từ tâm tỏa ra như hình tượng mặt trời, như hoa anh đào (sakura), đậu tía (murasaki), triêu nhan (asagao), cúc bướm (kosumosu) nối dài danh sách những loài hoa như vậy Đất nước của lằn ranh sống chết mong manh, “người Nhật không có triết lí sống, chỉ có triết lí chết”, không chỉ bởi thiên tai mà còn vì nhân tai với tỉ lệ tự sát cao hàng đầu, nhưng cũng lại là một trong những quốc gia có tuổi thọ dân số cao nhất và xã hội đang già hóa nhanh nhất thế giới,
Suốt chiều dài lịch sử, văn học Nhật Bản cũng biểu hiện thuộc tính lưỡng phân đậm nét từ thế loại đến trào lưu, từ khuynh hướng đến thời đại văn học Đó là những
monogatari (trường thiên tiểu thuyết - truyện) thuộc loại dài nhất thế giới bên cạnh những thế thơ ngắn nhất thế giới,
như thê haiku Đó là sự tương phản kế
cận từ nền văn học “trữ tình ngọt ngào nữ tính” thời Heian (794-1185) đến nền văn học “nam nhi thượng võ” thời Kamakura (1185-1333) Đó là văn học Nhật Bàn thế
kỉ XX với các trào lưu đối kháng như chủ nghĩa tự nhiên và các khuynh hướng phản
tự nhiên chủ nghĩa, văn học vô sản và Tân cảm giác phái, bình dân văn học và thuần văn học, tiểu thuyết tự thuật và phái tân hiện thực, được phân chia hai dòng chảy: truyền thống và hiện đại Song tồn bên dòng chày truyền thống với Akutagawa Ryũnosuke, Tanizaki Juni’chiro, Mishima Yukio, Kawabata Yasunari, dòng chảy hiện đại với những tác giả trẻ hơn, phong cách giàu tính biểu tượng hơn như Ibuse
Trang 8Masuji (1898-1993), Abe Kõbõ (1924-
1993), õe Kenzaburo (1935-), Murakami
Haruki (1949-) nổi lên ưu trội trong thời
kì hậu chiến miêu tả những thảm kịch tật
nguyền sau thảm họa nguyên tử, những
hoang mang tâm thế khi đất nước bị chiếm
đóng và cả ý thức ngả về phương Tây,
“văn học Nhật Bản thời hậu chiến được
xây dựng dựa trên sự chối bỏ thế giới của
Kawabata” [7, tr.3]
Tuy nhiên, dù trên tổng thể văn học
Nhật Bản có nhiều hình thái “nhã, tục và
hòa trộn cả hai phong cách” [ 12, tr 13 5], nói
như Tsubouchi Shõyõ, thì sự ưu nhã vẫn là
dòng chảy chủ đạo1 Chính trên dòng chủ
lưu này là nồ lực bảo tồn những rung cảm
nghệ thuật truyền thống, đấu tranh cho giá
trị truyền thống của Kawabata Yasunari
1 Tsubouchi Shõyõ trong Chân tủy của tiếu thuyết
nhấn mạnh: “Sự lưỡng phân lâu đời giữa cây bút
và thanh kiếm hàm nghĩa là văn chưcmg suốt một
thời gian dài đã bị phó mặc vào tay những quý tộc
cung đình mang tính nữ Ket quả là viết/sáng tác
văn chương trở nên rất tao nhã và đương nhiên mất
đi rất nhiều sự bộc phác và sôi động” [12, tr 136].
2.2 Từ ý tượng đến thực tiễn, thẩm
mĩ đa thanh, tương phản trong tác phẩm
của Kawabata Yasunari có thể được nhìn
nhận ở hệ thống hình tượng nghệ thuật
nào? Nền nghệ thuật “không thích sự
hoàn tất mà hướng về vô tận” Nhật Bản
sản sinh những di sản vô giá và đặc trưng,
như trà đạo (chanoyu), nghệ thuật cắm hoa
(ikebana), thư đạo (shodo), nghệ thuật cây
cảnh (bonsai), gốm sứ, những biểu tượng
từng được Kawabata Yasunari tái họa
trong Diễn từ Nobel [20]; nhưng không
gì sánh được những trang văn kì tuyệt của
Kawabata miêu tả vẻ đẹp tính nữ Nhật Bản
“sống động và mạnh mẽ, duyên dáng và
nữ tính, tinh tế và ngọt ngào” Trong bản
tổng phổ đa sắc thẩm mĩ, mồi tác phẩm của Kawabata Yasunari dường như đi vào một/vài khía cạnh khác nhau của vẻ đẹp người con gái Phù Tang, nơi người nghệ sĩ
“rẩy mực như mây” để nắm bắt và tái hiện khoảnh khắc bừng sáng của chân dung cũng như tâm hồn Tác phẩm nổi tiếng đầu tiên của Kawabata Yasunari, Vũ nữ
Izu (Izu no odoriko, 1926), một tiểu thuyết duyên dáng mà u hoài, đã xây dựng vẻ đẹp người con gái Nhật Bản trinh nguyên và hình tượng chàng lãng tử, nghệ sĩ cô đơn trong hành trình khám phá bản ngã và cái đẹp Chàng sinh viên 19 tuổi, nhân vật xưng tôi mang tâm sự của đứa con mồ côi lên đường chu du vùng Shimoda trên bán đảo Izu gần núi Phú Sĩ, tình cờ mà như nhân duyên kiếp trước khi gặp cô vũ nữ
ở một nhà trọ vùng suối nước nóng ven đường tên là Kaoru Trong cảm giác của nhân vật xưng tôi, khoảnh khắc bắt gặp vẻ đẹp trong trắng nơi cô gái rất trẻ, tưởng mười sáu nhưng thực ra mới chỉ mười ba tuổi, vụt hiện như một mặc khải: “Đấy là
cô vũ nữ, cơ thể nàng trần truồng, thậm chí không quấn cả khăn tắm Tôi nhìn nàng, nhìn đôi chân non trẻ nhìn thân hình ưắng muốt như tạc và bỗng nhiên như thể có một suối nước tinh khiết rửa sạch tim tôi Tôi cười vang, hạnh phúc” [19, tr 16] Ngay từ tác phẩm này, được xây dựng và đăng tải nhiều kì thời điểm tác giả đang ở trung tâm dẫn đạo phong trào tân cảm giác, nhị phân thành thị và nông thôn, xung đột truyền thống và hiện đại đã hiện diện như thuộc tính tương phản, và chủ đề về một người phụ nữ xinh đẹp ở nông thôn với sự thuần khiết làm điểm tựa nội tâm cho một người đàn ông thành thị là điều độc giả còn tìm thấy sau này trong nhiều tác phẩm cả ngắn
và dài của Kawabata Đặc biệt nâng tầm
trong Xứ tuyết, tiểu thuyết viết trong
Trang 988 NGHIÊN CỬU VẦN HỌC, số 4-2022
thời gian dài nhất sự nghiệp cầm bút của
Kawabata Yasunari1, cho đến nay vẫn là
tác phẩm được đọc nhiều nhất và cũng là
tác phẩm đại biểu cho cả văn nghiệp của
ông, “quốc bảo của văn học hiện đại Nhật
Bản” [3, tr 159],
1 Bản Xứ tuyết hoàn chinh được xuất bản tháng
12/1949, sau đúng 12 năm từ những chương đầu
tiên tác giả cho đăng trên Văn nghệ xuân thu
(Bungei Shunjuu) năm 1935 và rải rác các chương
tiếp đăng trên Kaizõ (Cài tạo) hay Nihon Hyõron
(Nhật Bản bình luận).
2 Liên ca (ỈỄIft), tức thơ kết nối, một thể thơ cùa Nhật được các quý tộc thời Heian (719-1185) khởi xướng, ban đầu như một trò chơi có tính chất dân gian, tự do, tùy hứng, theo đó mỗi người tham gia trò chơi sáng tác một phần, ngâm liên tiếp hô ứng với nhau cuối cùng hợp thành bài thơ về sau trò chơi phát triển thành một nghệ thuật trang trọng và trở nên thịnh đạt vào giữa thế ki XV.
3 Shinkankakuha là một phong cách viết, nhưng các nhà biên kịch của Shinkankakuha quan tâm đến điện ảnh như một phương tiện tạo ấn tượng mới
và từng tham gia vào quá trình sàn xuất bộ phim
câm Một trang điên loạn (Kurutta Ichipeiji, 1926) Kawabata Yasunari được cho là viết kịch bản phim, Teinosuke Kinugasa đạo diễn và Shinkankakuha Eiga Dõmei sản xuất.
Được viết “bằng một giọng văn hoa
mĩ diễn tả tất cả những đặc tính của ngôn
ngữ Nhật” [11, tr.3], với sự giản lược cực
độ về cốt truyện, thủ pháp huyền ảo hóa,
lối kết cấu như vô hình và cái đẹp được
miêu tả lộng lẫy, Xứ tuyết dẫn dắt độc giả
theo hành trình của chàng Shimamura về
vùng đất tuyết, hiện hữu khao khát kiếm
tìm những giá trị bị đánh mất trong một
thế giới đang hiện đại hóa, phương Tây
hóa nhanh chóng “Qua một đường hầm
dài giữa hai vùng đất, và thế là đã tới xứ
tuyết Chân trời trắng mờ dưới bóng đêm”
[18, tr.5], khoảnh khắc đoàn tàu thoát ra
khỏi đường hầm dài để đi vào vùng Echigo
Yuzawa tỉnh Niigata trong đoạn mở đầu
tiểu thuyết khởi điểm tự vấn quan trọng
nhất của Kawabata về bản chất cái đẹp
[7, tr.9] Giữa thiên nhiên tuyệt bích tương
phản sắc trắng lạnh của tuyết và rừng rực
lửa đỏ, bảng màu của thuần khiết nhưng
cũng bao hàm nhục dục và cái chết, chàng
thanh niên của Tokyo hiện đại và phồn hoa
Shimamura đã gặp gỡ để rồi yêu cả hai
nàng geisha nơi vùng nông thôn phương
Bắc: Komako tràn trề nữ tính, mạnh mẽ,
thánh thiện và trần tục, tỉnh táo và dam
mê, sáng ngời nét thơ ngây bên ngoài và
sức trầm lắng của nội cảm Yoko trong
trắng và xa vời, mong manh và mờ ảo, tin
cậy và thơ ngây Yêu bằng mối tình đầy nhục cảm với Komako, nhưng trong tâm tưởng Shimamura lại luôn hiện diện hình bóng và vẻ đẹp lí tưởng của Yoko
Chịu ảnh hưởng từ truyền thống liên kết trong thơ renga2 và các ẩn dụ hình ảnh phim câm3, Kawabata Yasunari xây dựng motif thẩm mĩ tương phản khắp Xứ tuyết:
cũ và mới, đẹp và xấu, con người và bản chất, thuần khiết và hư hỏng, nam và nữ, bản thân và tha nhân Nhưng chính trong
sự mờ nhòe và sụp đổ các giá trị này, cái đẹp, như Kawabata diễn giải, có thể được cảm nhận một cách mạnh mẽ nhất [7, tr.20] Lần đầu tiên Shimamura gặp Yoko lại là lần thử ba trở về vùng đất tuyết, đôi mắt, khuôn mặt tuyệt mĩ của người thiếu nữ in lên tấm kính mờ sương cửa sổ con tàu, và
vẻ đẹp con người song trùng vẻ đẹp cảnh sắc khiến Shimamura ngỡ ngàng: “Một thế giới đẹp khôn tả mà Shimamura cảm thấy vào tận tim anh, anh bàng hoàng khi một ánh lửa tít xa trong núi bồng loé sáng giữa gương mặt đẹp của người đàn bà trẻ khiến cho vẻ đẹp không thể tả xiết ấy đạt tới đỉnh điểm” [18, tr.12-13] Tương tự, tấm gương cạnh giường nơi quán trọ phản chiếu màu
Trang 10trắng của tuyết, và giữa màu trắng hút xa
đó là màu đỏ rực của đôi má Komako cũng
kiến tạo một vẻ đẹp vô cùng sống động và
thanh khiết của tương phản: “ cái màu
trắng ở tít sâu trong gương, đó là màu
tuyết, ở giữa đó rực lên màu đỏ của đôi má
người đàn bà trẻ vẻ đẹp của sự tương phàn
ấy cực kì trong sạch, nó vô cùng dừ dội vì
nó sắc nhọn và sống động” [18, tr.65-66]
Cuốn tiểu thuyết kết thúc với cảnh đám
cháy nhà kho kén tằm, một biểu tượng của
truyền thống, gây ra bởi công nghệ hiện đại
nhất trong câu chuyện là chiếc máy chiếu
phim [18, tr.217], như một ẩn dụ về mặt
trái của văn minh
Tác phẩm của Kawabata Yasunari
thường sử dụng phong cách gần gũi
với cái nhìn trong sáng, giản dị của trẻ
em và người phụ nữ trẻ Theo Vũ Thư
Thanh, “lối dựng truyện như thế đem cho
những tác phẩm của Kawabata cả tính
chất thơ trên văn từ và cả trên ý tưởng,
khiến cho những người đọc để tìm một
cốt truyện ly kì sẽ phải thất vọng não nề”
[11, tr.3] Donald Keene (1922-2019),
nhà Nhật Bản học người Mĩ cũng cho
rằng Kawabata mang phong cách nữ nhi
(taoayame) kín đáo và tinh tế như một
thi nhân waka Nhưng trong nhiều phân
cảnh khác, những hình tượng tương phản
vẫn hiện diện đậm nét trong tác phẩm
của Kawabata và khiến độc giả bối rối
Hình tượng người thiếu nữ xinh đẹp, lành
lặn và thuần khiết trong Vũ nữ Izu hay
Xứ tuyết nhòe mờ bên hình tượng người
con gái vô tri, suy nhược trong Người đẹp
say ngủ, hay mang khiếm khuyết, khuyết
tật trên thân thể như nữ giảng sư trà đạo
trong Ngàn cánh hạc
Được viết đãng tạp chí Shincho từ năm
1960 đến năm 1961 trước khi xuất bản
thành sách, Người đẹp say ngủ (Nemureru
bijo, 1961) của Kawabata Yasunari mô
tả một dạng lầu xanh đặc biệt kiểu Nhật dành riêng cho những ông già “gần đất
xa trời” vẫn ham hố cuộc thử nghiệm khả năng khiêu dâm còn sót lại của mình, và
sự bay bổng của tường tượng theo dòng
ý thức, bên những thiếu nữ trinh trắng đã được gây mê bằng thuốc ngủ, khỏa thân trong tình trạng không còn khả năng tự
vệ Năm đêm ông già Eguchi đến với “căn phòng kín đáo chứa người đẹp say ngủ” [17, tr 14] gặp gỡ sáu trinh nữ, hay nói cách khác, là sự gặp gỡ cơ thể cùa họ, để cảm thụ những vẻ đẹp nữ tính tràn trề nhục cảm, và song hành với đối cực ngờ không thể song hành, là bi cảm Bằng cảm giác
được khơi gợi từ các giác quan, đặc biệt là ánh mắt “nhìn chằm chằm người thiếu nữ như những đồ vật vô tri”, ông già Eguchi miên man tái họa trong hồi ức hình bóng những người phụ nữ khác trong cuộc đời mình, từ người tình cũ đến người mẹ Ở đây, thế giới của những người đẹp say ngủ
đã trở thành khoái cảm thị giác cho những khách hàng nam cao tuổi: “mùi thơm tho của da thịt, mùi hương của tuổi trẻ phải chăng mang lại cho các ông già một kiểu tha thứ và an ủi?” [17, tr.77]
2.3 Thiên nhiên Nhật Bản tế vi và dữ dội, động và tĩnh luôn trở đi trở lại trong tác phẩm của Kawabata Yasunari Với người Nhật, thưởng thức thiên nhiên là một nhu cầu mang tính cộng đồng và còn hơn thế, họ mô phỏng thiên nhiên và mang thiên nhiên vào đời sống con người qua trà đạo, vườn cảnh khô (karesansui), nghệ thuật cắm hoa, cây cảnh Tình yêu thiên nhiên biểu hiện bằng sự quan tâm đen biến chuyển mùa màng, mô phỏng tự nhiên, khát vọng sống hòa hợp với thiên nhiên, đồng thời phản ánh trong ẩm thực, trang