1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đẩy mạnh liên kết vùng tây nguyên với các tỉnh nam trung bộ

8 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đẩy mạnh liên kết vùng Tây Nguyên với các tỉnh Nam Trung Bộ
Người hướng dẫn PGS, TS Nguyễn Mạnh Hùng
Trường học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế và Phát triển vùng
Thể loại Báo cáo thực tiễn - Kinh nghiệm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 895,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tong quan liên kết kỉnh tế vùng Tây Nguyên vói Nam Trung Bộ Kết quả khảosát năm 2019 đối với200 doanh nghiệp trênđịa bàn 13 tỉnh, thành phố ởNam TrungBộvà Tây Nguyên trong giai

Trang 1

THựC TIỄN - KINH NGHIỆM 75

Học viện Chính trị quôc gia Hổ Chí Minh

• Tóm tắt: Tây Nguyên và Nam Trung Bộ có những tiềm năng, lợi thê đặc thù song có những hạn chê phát triển nhất định Liên kết kinh tê giữa hai vùng là điều kiện để mở ra những cơ hội phát triển mới Bài viết đế xuất ý tưởng phát triển các hành lang kinh tế; đồng thời, cần chuyên từ tư duy quản lý hành chính trong phân vùng kinh tế- xã hội sang

tư duy quản trị phát triển vùng phát huy vai trò của khu vực doanh nghiệp để thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển các hành lang kỉnh tế.

• Từ khóa: Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, liên kết vùng hành lang kỉnh tế, quản trị phát triển.

Tây NguyênĐák Lák, Đắk (gồm Nông 5tỉnh: và Lâm Kon Tum,Đồng) và Gia NamLai,

Trung Bộ (gồm 8 tỉnh, thành phố: Đà

Nảng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,Phú

Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận vàBình Thuận) có

nhữngtiềmnăng, lọithế cóthể bù đáp cho nhau

trong quátrình phát triểnvàhội nhập.Tài nguyên

dulịch là thếmạnh nổibậtcủakhuvựcnày với

nhiều cảnh quan thiên nhiênđẹp nổi tiếng,nhiều

disản thiênnhiên và văn hóa của nhân loại như

phốcổ HộiAn, Thánhđịa MỹSon, khônggian

văn hóa Cồng ChiêngTây Nguyên; những bãi

biển đẹp như Lăng Cô,MỹKhê - Non Nước, biển

NhaTrang; núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, cảnh

quankỳ thú phục vụ cho du lịch sinh thái,nghỉ

dưỡng, Liênkết kinh tế, phát triển một số lĩnh

vựccông nghiệp như: thủyđiện, năng lượngmặt

tròi, vật liệu xâydựng, chế biến nông lâm thủy

sản, dệt may, các ngànhcông nghiệp phụ trợ, v.v,

hình thành cácchuỗi sản phấmnôngnghiệp mà Tây Nguyên giữvị trí khâu đầu tiên (sản xuất cung cấp nguyên liệu thô); thúc đẩy dịch vụ logistics,

xuất nhập khẩu, kho ngoạiquan trung chuyển hàng hóa cho các nước khu vựcthông quahành

lang kinhtế Đông -Tây, tăng cườnghộinhậptiểu vùng Mêkông và khu vực

1 Đánh giá tong quan liên kết kỉnh tế vùng Tây Nguyên vói Nam Trung Bộ

Kết quả khảosát năm 2019 đối với200 doanh

nghiệp trênđịa bàn 13 tỉnh, thành phố ởNam

TrungBộvà Tây Nguyên trong giai đoạn

2013-2018, có54,5% số doanh nghiệp ởTây Nguyên

có mối quan hệkinh doanh rất thường xuyên và

thường xuyên vói các doanh nghiệp ở Nam Trung Bộ(1); vàcó49,7% doanhnghiệp ở Nam Trung Bộ có quan hệ kinh doanh rất thường xuyênvà thườngxuyênvớicác doanh nghiệp ở Tây Nguyên.Số doanh nghiệp này chủ yếuhoạt

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -Số 8/2021

Trang 2

độngtrong lĩnhvựcthưong mại,dịch vụ (49,1%)

hoặccôngnghiệp (41,4%); chỉ có 9,5% doanh

nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nôngnghiệp

Về tínhchất, chủ yếu là liên kết xuôi: 68,4%

doanh nghiệp Tây Nguyên trả lời, các doanh

nghiệpNam Trung Bộtiêuthụ đầu ra chohọ(2)

Tuy nhiên, các doanhnghiệpTâyNguyên và

Nam Trung Bộ lại không phải là những đối tác

quan trọngnhất của nhau Chỉcó 34,5% sốdoanh

nghiệpở Tây Nguyên được hỏi cho ràng, cácđối

tác doanh nghiệp ỞNam Trung Bộ đáp ứng được

đầy đủ nhu cầu kinh doanh của họ; tỷ lệnày là

35,8% đối vói các doanh nghiệp NamTrungBộ

khi đượchỏi vềkhảnăng đáp ứng của các đối tác

TâyNguyên Đặc biệt, 26% số doanhnghiệp ở cả

hai vùng được hỏi cho ràng, mốiquanhệvói các

đối tác của họ không ổn định rất không ổn

định',30% số doanh nghiệp đánh giá ràng mứcđộ

liênkếtkinh doanhcủa họ chỉ ởmức thấprất

thấpơ \ Kếtquả nàycũng phản ánh thực tếmà

một sốnghiên cứu trước đó đã chỉ ra, cácdoanh

nghiệp ởĐông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí

Minh vãn là đốitácchính củacácdoanhnghiệp

ở khuvực Tây Nguyên - NamTrung Bộ

Ngoài nhữngyếu tố khách quan như điều

kiệnđịa lý, tự nhiên, quymô nền kinh tế, cóhai

nguyênnhânchủ yếu dẫn đến nhữnghạnchế

trong liên kết kinh tếvùng Nam Trung Bộ

Tây Nguyên:

Thứ nhất, sự kết nối hạ tầng,nhấtlà hạ tầng giao thông còn rất hạnchế Hạ tầng giaothông

kết nốiTâyNguyênvói NamTrungBộ thiếu đa dạng và chủ yếuphụ thuộc vào các tuyến đường

bộ Hiện tại, đường bay thảng từ TâyNguyên

đếnNam Trung Bộ chỉ giới hạn ở các tuyến bay

đến Đà Nảng với lưu lượng 1 chuyến khứ hồi/sânbay/ngày

Đến nay, mạng lưới đường bộ vùng Tây

Nguyên có tổng chiều dài trên 39.000 km; trong

đó bao gồm 12 tuyến quốc lộ, vói tổng chiều dàikhoảng 2.800 km Các tuyến đường huyết mạch kết nối Tây Nguyên - Nam Trung Bộ đang xuống cấp trầmtrọngdù đã được đầu tư nângcấp một số lầnnhư quốc lộ 19, quốc lộ 28 Nhiều tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường

huyện,đường giao thông nông thônquá tải và

hưhỏng nặng; tiến độ thực hiện một số dự án

đầutư còn chậm Kếtcấuhạ tầnggiao thông hiện đại, có khả năng đáp ứng được nhu cầu lưu thônghànghóavà hànhkháchvớiquymô lớn thiếu hụt Hầu hết các tuyến quốc lộkết nối Tây Nguyên - Nam Trung Bộ đều có những

đoạn đường nhỏ hẹp chỉ với 2 làn xe, khôngcó trạm dừng nghỉ Thực trạng các tuyến giao thông kết nối Tây Nguyên - Nam Trung Bộ tưong phản so vói các tuyến quốc lộchạy dọc Tây Nguyên (quốc lộ 14) và dọc các tỉnh Nam Trung Bộ (quốc lộ 1)

Bảng: Mức độ quan hệ giữa hai nhóm doanh nghiệp

Nguồn: Điều tra của Đề tài TN.X17/02, năm 2019

Đồhọa:LLCT

Trang 3

Chi phí giao thông cao cảntrởcơhộiliênkết,

mởrộngthị trường tại TâyNguyên- Nam Trung

Bộ củacác doanhnghiệp Một số doanh nghiệp

đã thăm dò thị trường, kết nối với các đối tác

nhưng phải chấm dứt liên kết vì chi phí vận tải

phát sinh lớn,không thểtạo lọi thếcạnh tranh

vàlợinhuận

Thứ hai, thể chế liên kết phát triển vùngchưa

hoàn thiện, các chính sách vùng chưa được thực

hiện hiệuquả Nhìn chung,nhậnthức, tư duy và

hành độngvề liên kết kinhtếvùng của chính

quyền các cấpchưa thật đầy đủ vàđúng dấn

Sự phối họp theo chiều dọc (Trung ương - địa

phương) và theo chiềungang (địa phương -địa

phương) còn hạn chế.Ngay cảtrong một sốlĩnh

vực, mặc dù hệthống văn bảnvềtổ chức liên kết

pháttriển vùng tương đốiđồngbộ (cócả các quy

chế phối họp,tổđiềuphối vùng, cácchiếnlược,

kế hoạch, quy hoạch ) song tác động vào việc

điều chỉnh phân công, họp tác giữa các địa

phương trong vùng còn hạnchế

Năng lực thực thi yếukhiến nhiều chủ trương,

chính sáchchậmđi vào thực tiễn Hệ thống cơ

sở dữ liệuvùng không được xây dựng đầy đủ để

làm cơsởkhoahọc cho lậpquy hoạch vùng cũng

như giúp các địa phương tạođược các liên kết

Ban chỉ đạovùng trướcđây chỉcó chức năng

tham mưu, giám sát, chứ chưa được trao quyền

có nguồn lực tài chính và nhân lực trong việc ra

quyếtđịnhliên kết pháttriển vùng, bởi vậy, vai

trò còn hạnchế

Chỉcó13,5% doanh nghiệpchoràng, Nhà nước

và chính quyền địaphương đóng vai trò tíchcực

và rất tíchcực ttong việc thúc đẩy liênkếtdoanh

nghiệpởhai vùng Tây Nguyên và NamTrungBộ;

51%sô' doanh nghiệp choràng, Nhà nước đóng

vai trò không tích cực và khôngđáng kể(4)

Việcthiếu sự liên kết chặt chẽ, hiệu quả giữa

cácđịaphương dẫn đến tình trạng đầu tưdàn

trải, lãng phí, chưa phát huy được các lợithế của từng địa phương Thựctế nhiều năm nay, giữacác tỉnh hầu như không có liên kếtthuhút

đầu tư Cáctỉnhtừng thinhau “trải thảm đỏ”

mờigọicácnhàđầutư vớinhiều hình thức ưu đãi: giảmthuế, giảm giá thuê đất,v.v Đây là hạn chế rất lớn của cáctỉnh duyên hảimiền Trung

và Tây Nguyên trong việctận dụng “ngoại lực”

để phát triển kinh tế trong khi toànvùng đang đối diệnvớisựthiếu hụt rất lớn vềnguồn lực pháttriển

Trong những năm gần đây, thực hiện chủ

trươngcủa Trung ương về tăngcườngliên kết phát triển giữa các địa phương, vùng, miền,

chính quyền các tỉnhTây Nguyên và NamTrung

Bộ đã bước đầu xây dựngvà triển khai một số chương trình liên kết, họp tácphát triển kinh tế

- xã hội.Các lĩnh vựcphối họp hànhđộng cũng giống như trongliên kết dọc giữacác cơ quan

quản lý theo phân cấp (Trung ương - địa

phương),chỉ khác là cáchthức tiến hành thì diễn

ra theo chiều ngang (giữa cácđịa phương với

nhau) và chủ yếu mang tính tự nguyện

Theo đánh giá chung, những chương trình họp tác nàycòn mang nặng tính chính trị, hành chính Số lượngcácthỏathuận liênkết tuy có tăng nhưng nhìn chung vẫn cònít; chủ yếuthực

hiện ởphạm vi nhỏ lẻ, sựvụ giữa các doanh nghiệp, các địaphươnggiáp ranh Nội dung của

các vănbản họp tác thường ômđồm nhiều lĩnh

vực, thiếu ưu tiên trọng điểm

Trong triển khai,phầnlớn hoạt động chỉdừng lại ở việctham quan,hội thảo chứchưaphát triển thành cáchoạt độngthực chất, mang tính chiều sâu, cókết quảcụthể.Các chương trình họptác đều được thực hiện thông quacácbiên bảnghi nhớ haythỏa thuận họp tác màkhông

có sự ràng buộc pháp lý.Các cam kết mới chỉ mang tính chất đồng thuận về nguyên tác, còn

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -Sô 8/2021

Trang 4

vềthực chất, các tỉnh không có ràng buộc cụ thể

nàovề trách nhiệmthihành, cũngnhư cơ chế

chia sẻ lợi ích, rủiro trongviệc thực hiện các

chươngtrình họp tác

2 Hướng đột phá cho liên kết phát triển

vùng kinh tế - xã hội

Trong điều kiện khan hiếm nguồn lực, liên

kết vùng kinh tế giúp nâng cao hiệu quả và gia

tănglọi thế kinh tếnhờ quy mô Cóhai phương

thức thực hiện liên kếtvùng chủyếu: i)liên kết

được hình thành kháchquan theo cơ chếthị

trường, thể hiện phổ biến là quan hệ họp tác

giữa các chủ thể trên thị trường như doanh

nghiệp,hộ gia đình, v.v; ii) liên kết được hình

thành chủ quan theo nhữngthỏa thuận được ký

kết giữa các chính quyền địaphươnghoặc được

thúc đẩy bởi quyết định phân vùng kinh tế của

Trung ương

Kể từ khi tiếnhành côngcuộc đổi mới đến

nay, Việt Nam đã có một sốlần thay đổi cách

phân vùng kinhtế - xã hội nhàm phùhọpvới

yêu cầu phát triển của đất nước Đây là cách

thúc đẩy liên kết vùngmộtcáchchủ quan, chủ

yếu phục vụcho mục đích quản lýhành chính,

ítgắn với tưduy kinh tế thị trường Trong thời

gian qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình

Chính phủ mộtsố phương án phân vùng kinh

tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 căn cứ trên

nhiều yếu tố, như: địalý,tự nhiên, kinh tế, xã

hội, văn hóa, dân cư mang nhiều ýtường mói

nhầmtạo ra đột pháthực sự trong liên kết phát

triểncác địa phương®

Cùng vói sự pháttriển của nền kinh tế, các mô

hình họptác, liên kếtcủacác chủthể trênthị

trường ở nước ta đã phát triển mạnh mẽ, đa

dạng và ngày một hiệu quả; phạm vi liên kết

được mởrộng ở kháp các địa phương, vùng

miền,xuyên biên gióivàvươnra thị trườngquốc

tế Ngược lại, các hình thức liênkết chủ quan

chưa phát huy hiệu quả, dù đólà việc phân chia

ra các vùng kinhtế-xãhộihay các sáng kiến liên kết,họp táccủacác địa phương Sáng kiến liên

kết vùng phụ thuộc chủ yếuvào một số địa phương có điều kiện phát triển thuận lợi và nguồn thu ngân sách tốt; song những địa

phươngnàychưa có động lựcthật sự mạnhmẽ trong liên kết vói những địa phương cóđiều kiện phát triểnkém thuận lợi hơn

Trongcácvăn kiện Đạihội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 và với tầm nhìn xahơn, một

số địaphương chưa quantâm nhiều đến việc thúc đẩy liên kết vùngkinh tế - xã hội Điều này

có thể do một sốnguyên nhân: i)liênkết vùng

bị xem lànhững sáng kiến chưa thiết thực bỏi hiệu quả của liênkết vùng kinh tế- xã hộitrong thời gian qua không caovàhiện các địaphương chưa thấynhữngyếu tố cầnthiếtđể bảo đảm nâng caohiệuquả liên kếtvùng trong thờigian tới;ii)liênkết vùng là vấn đềnàm ngoài phạm vi

quyền hạn vànỗlực của mộtđịa phương; đòihỏi

sự tổ chức, điều phối của Trung ương; iii) thay vì chú trọng thúc đẩyliên kết vùng, một sốđịa

phương quan tâmnhiềuhơnđến việcxâydựng những cơ chế đặc thù đểphát huy đượctiềm

năng, lợi thế của địa phương mình(6)

Thực tiễn đó cho thấy, phương thức phân vùng kinhtế - xã hội theo hướng áp đặtchủ quan

khôngcònphù họp với sự phát triển của nền

kinhtế thịtrường định hướng xã hội chủnghĩa

vàtiến trình hội nhập, phát triểncủađấtnước, chưaphát huy hiệu quả caotrong việcthúc đẩy liên kết phát triển giữacác địaphương.Điềunày đòi hỏi phảiđổimói mạnh mẽ tư duy về phân

vùng kinh tế - xã hội và liên kết vùng kinh tế trong giai đoạn mói:

Thứ nhất,thực hiện những phương thứcliên

kết,phát triển vùngkinh tế - xã hộidựa vào sự

dẫndát, thúc đẩy củathịtrường Chuyển từ tư

Trang 5

duy quản lýhành chính đối với các vùngkinh tế

-xãhộichủ yếunhấnmạnh vai trò quản lý của

nhà nước, sang tư duyquảntrịpháttriển vùng

và liên kết vùng, có sựkết họp vai trò của cả thị

trường vànhà nước Theo phương thức quản lý

hành chính, chính phủ và chính quyền địa

phương thường đóng vai trò chính trong xử lý

các vấn đề phát triển của địaphưong

Về mặtthể chế và bộ máy nhà nước, có hai

giải pháp chủ yếu để đối phó và xử lý những

tháchthức vùng: i) họp nhất chính quyền địa

phương, tạo dựng một bộ máy hành chính

thốngnhất; và ii) phối họpmột số lĩnhvựcchức

năng hoạtđộng củachính quyền địa phương,

nhất là việclập kế hoạch vùng trong việc xử lý

nhữngvấn đề chung liên quan đến nhà ở, giao

thông, môi trường ; sự phối họp này thường

dẫn đến việc thànhlập các cơquan vùng

Hiệnnay, nhiều vấnđề phát triển phứctạpchỉ

có thể giải quyếtnếucó sựphối họp giữa chính

quyền, cộngđồng dân cư vànhấtlà các doanh

nghiệp Trongchiến lượcphát triển vùng,để đầu

tưhiệu quảcho các loại hàng hóa côngnhầm

phát huylọi thế củavùngcần sự phối họp chặt

chẽ giữakhu vực công và khu vực tư, vượt qua

không gian hànhchính, pháp lý đangphân biệt

hai khu vực công - tưmột cách rạchròi Quảntrị

liên kếtvùng chính là một khungkhổ hànhđộng

họp tác mới, vượt qua các ranh giói về hành

chính,pháp lý,lĩnh vực,v.v, định hướng để tìm ra

cácbiện pháp thực tế giảiquyếtvấn đề kinhtế,xã

hội, môi trường mà vùng đang phải đối mặt

Quảntrị liênkếtvùngkết họphai khái niệm:i)

Phối họp giũacác địaphương trong vùngđể đạt

được mụcđích chung thôngqua các liên minhđa

chủ thể, đaphạm vi, đalĩnh vực; và ii) Quảntrị

vùng là tiến trình địnhhướng các quyết định,

hành độngcủa khu vực công, khu vực tưnhân và

phi lọi nhuận nhầm đạt được mục tiêu chúng'71

Khácvớitư duy truyền thốngvề quản lý của chính quyền vùng,quản trị liênkết vùng đòihỏi

vận dụng các mô hình quan hệđối tác công tư,

các liên kết,liênminh giữa doanh nghiệp, chính

quyền và cộng đồng đểxử lýnhững vấnđề chung

của vùng'8’ Nhìndưới góc độquản trị, liên kết

kinh tếvùng sẽdocả thị trường vànhà nước dẫn

dát Mộtmặt,lợi íchvàphân chia lợi ích của các

chủ thể kinh tế (hộ giađình,doanh nghiệp,v.v.) trong tham gia liên kếtvùngsẽ do thị trường quyếtđịnh, dựa vào đóng gópcủa họ (laođộng,

vốn,tài nguyên,tri thức, sángtạo ) theoquy luật

của thị trường Mặt khác, nhà nước tham gia dẫn dát hên kếtkinhtế vùngđể khắc phục nhữngthất bại của thị trường(ví dụ: trongviệccung cấp các điều kiện tạo thuậnlọicho liên kết như kếtcấu

hạtầng) hoặc để phân phối lại lọi ích (ví dụ:bù đápchocác chủthể ởvào vị thế thua thiệt hơn)'9’

Thứ hai, môhìnhliên kết vùng phổbiến và hiệu quả hiện nay làcác hành lang, vành đai

kinh tế với những cơ chếquản trị đặc thù,nhầm

tạo môi trườngđầutưthuận lợi, thu hútđược

nguồn lực phát triển và thúcđẩy liên kết, họp tác sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp,

người dântrongvùng Hành langkinhtế là một không gian kinh tế có giới hạn về chiều dài và chiều rộng, dựa trên một hoặc nhiều tuyến giao

thông kếthọp với cácchínhsách đểthúc đẩy

pháttriểnkinhtế - xã hội.Đây là chiến lượcđể

đẩy mạnh hội nhập và kết nối kinh tế - xã hội

giữanhững vùng kémphát triển,thường là các

vùng sâu vùng xa, miền núi, với những vùng

phát triểnhơn, thường là các vùngduyênhải'10’ Các tuyến hànhlang kinh tế sẽ mởra một

không gian phát triển mói,là giải pháp hữuhiệu nhàm khắc phục tư duy cục bộ, thiếuphối họp

và sự bị động củacác địa phươngtrongliên kết vùng kinh tế Ba lĩnh vực kết nối hạ tầng then chốt của hành lang kinhtế là: giaothông, năng

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -Sô 8/2021

Trang 6

lượng và viễn thông Tuy nhiên, sự phát triển

toàn diện của một hành lang kinh tế cần tích

họp các yếu tố phát triểnkết cấu hạ tầng,thưong

mại, đầu tư, đô thị, v.v, vói nỗlựcgiảiquyếtcác

tác động xã hội, môitrường và các tác độngbất

lọi khác doviệc giatăng kết nối

Trongcác hành langkinh tế, các hành lang

giao thông đóng vaitròxương sống,với mạng

lưóigiao thông tích họp:từ đường bộ, đườngsát,

đường thủy chotói các cảng, đểliên kết các tỉnh,

thànhphố vùngbiên, các trungtâm sản xuất

(các khu công nghiệp, khukinh tế ), các trung

tâm tiêuthụ (các đô thị và thành phốlớn) và các

cửangõ thương mại (cửa khẩu biêngiới, cảng

biển, cảng hàng không)

Nhờviệc tạo lậpmôi trường kinh doanh hấp

dẫn, các hành lang giao thông có thể thu hút

mạnhđầu tư, là điều kiện thúcđẩytraođổihàng

hóa, dịch vụ, vốn và nguồn nhân lực (tận dụng

lợi thếvề chi phí giao dịch,vận tải ).Các doanh

nghiệptập trung trong hành langcó lợi thế nhờ

khoảngcách gần nhau;chi phí vậnchuyển và

thông tin thấp; thòi gian giao hàng ngán;và giảm

được chiphílưu kho(11).về mặtthực tiễn, việc cải

thiện hệ thốnghạtầng giao thông luôn được thừa

nhận đóng vaitrò rất quan trọng trong sự cất

cánh của các vùngkinhtế; lànền tảng cho việc

phát triển thị trường và các lĩnh vựckinh tế hiện

đại Hệ thống giao thôngphát triểnsẽkhác phục

được những bất lợithếvềđiều kiện tự nhiên như

vị trí địa lý,địahình và là nhân tố quantrọng góp

phần vào sự thành bại của các liên kếtvùng

Các hành langkinh tế gánkết các địaphương

với nhau trong một quy hoạch pháttriển liên

hoàn của một vùng haymộttuyến tăng trưởng

để tậndụng được lọi thế nhờ quymô,sự hộitụ

vàlan tỏaphát triển

Trong quyhoạchvà phát triển cáchành lang

kinh tế, ngoàiviệc phải xây dựng và cải tạo các

công trình giao thông như đườngsá, cầu cảng, còn phải cung cấphàihòacác dịch vụvận tải

đa phương thức nhưvận tải đường bộ, đường sát, đường thủy, đường biển và đường hàng

không Hạ tầngtạicác cảng biển và các vùng

venbiển như hệ thống thủy lọi, điện, cảng hàng

không, trung tâm logistics, trungtâm kho vận, các dịch vụcảng phảiđược đầu tưnâng cấp và phát triển tương xứng với năng lực và nhu cầu kết nối, tạo ramôitrường kinh doanhcỏi mở và thuận lọi, duy trìtính hấp dãn của vùng đối vói cácdoanh nghiệp, nhà cung ứngvànhà đầu tư

nước ngoài

Cùngvói đầu tư pháttriển hạ tầng “ cứng”,cần cảithiện hạ tầng “mềm” Các địa phương cần

họp lý hóa các thủ tục hải quan,giảmthuế nhập khẩu,miên thuế trong cáckhu kinhtế đặc biệt,

bảo đảm kết nốihạ tầng công nghệ thông tin

viên thông Việc xây dựng một hệthống hạ tầng

“mềm” đồng bộ và tương xứng với hạ tầng

“cứng” đóng vai tròrất quan trọng góp phần tạo

ra sự bền vững, ổn định lâu dài và hấp dẫncủa

họp táckinh tế vùng, đồng thờitạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh của các thành phố, các trungtâm

kinh tế đầutàu

3 Một số định hướng thúc đẩy liên kết kinh tế vùng Tây Nguyên vói các tỉnh Nam Trung Bộ

Xây dựng các hành lang kinh tế kết nối Tây Nguyên với Nam Trung Bộ

Cânđổimói mạnh mẽ tư duy phân vùng kinh

tế - xã hội và liên kết vùng kinh tế từchỗ nhấn mạnh yếu tố quản lý hành chính không còn phát huy hiệu quả trong tiến trình liên kết phát

triểngiữa các địa phươngsang tưduy kinh tế thị

trường, phùhọp với tiến trình hội nhậpvà phát

triển củađấtnước để mở ra những không gian phát triển mới trong liên kếtkinh tếgiữa Tây Nguyên với NamTrung Bộ

Trang 7

Tronggiai đoạn 2021-2030, cần quy hoạch và

phát triển các hành langkinh tế kết nối các tỉnh

Tây Nguyênvới các tỉnhNam TrungBộ,kếtnối

giữa các tỉnh TâyNguyênvàkết nối giữa các tỉnh

Nam Trung Bộ theo haitrục Đông - TâyvàNam

- Bác, hình thành các tuyếnphát triểnxuyên biên

giới, hướng biển vàgánliền vóicác chuỗi giá trị

Xétvề tiềm năng vàlọi thế,động lực phát triển

cho Tây Nguyênnàm ở các tuyến hành lang kinh

tế Đông-Tây tạo thànhtrụckếtnốitừcác cửa

khẩu biêngiói,các khukinh tế của khẩu của Tây

Nguyên cho đến các cảng biển và các khu kinhtế

ven biển củaNam Trung Bộ, gánliền với một số

chuỗi giá trị mà khu vực Tây Nguyên - Nam

Trung Bộ có nhiều thế mạnhnhư:nông nghiệp,

dulịch, logistic và mộtsố lĩnhvực công nghiệp

Trướcmát, đầutư xây dựng các hànhlangkinh

tế -đô thị theo hai trục đường cao tốc:i)Buôn Ma

Thuật Nha Trang; vàii) Pleiku - Quy Nhon Xây

dựng, kết nốicác cụm côngnghiệp và cụm công

nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ tổng họp theo

chuỗi giá trị và theo các tuyến hànhlang kinh tế

Xây dựng mô hình quản trị liên kết vùng

mang tính "vượt trội".

Thành lậpcơ chế phù họpđể phát triển các

hànhlangkinh tế kết nối Tây Nguyên vói duyên

hải Nam TrungBộ Một trong những mô hình

được nhiều nước trên thế giới áp dụng trong

quản trị liên kết vùng là Hội đồng phát triển

vùng Hội đồng này có số lượng thành viên gồm

các đại diện đượcbầucử hoặcđại diện của chính

quyền địa phương, tổ chứcphilợi nhuận,một số

ngành công nghiệp, hội đồngdịch vụ công.Các

thành viên hộiđồngcó thể bỏ phiếu hoặc không

bỏphiếu Kết quả bỏ phiếu được công khai Mỗi

thành viên hội đồng có 1 phiếu, đại diệntương

đối cho số dân và khôngcho phépnhững địa

phương lớnkiếm soát kết quả bỏ phiếu Ngoài ra,

Hội đồng này có thể hoạt động theo nguyên tác

doanhnghiệp (ví dụ, theo môhìnhcác công ty pháttriển) Các quyết địnhcủa Hội đồngcó tính chất pháp lý và ràng buộc.Có thể áp dụng mô

hìnhnàytrongviệcxây dựngcáchànhlang kinh

tếvới sựtham gia của các địaphương duyên hải

Nam Trung Bộvà Tây Nguyên

Kết nối quy hoạch phát triển

Việc tăng cường liên kết kinh tế giữa Tây

Nguyênvói cáctỉnh Nam Trung Bộ phải bát đầu

từ công tácquy hoạch Tiếptục rà soát, đánh giá việc triển khai và kếtnối Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội vùng kinh tế trọngđiểmmiền Trungđếnnăm 2020, địnhhướng đến năm 2030,

Quy hoạchxây dựngvùng Tây Nguyên đến năm

2030 đãđược ban hành năm 2014, cácQuy hoạch

pháttriển cũvà móicủa cáctỉnh Tây Nguyênvà

duyên hải Nam TrungBộ Đẩy mạnh việcxây

dựng,hoàn thiện các quyhoạch tích họp, kết nối

cácquy hoạch phát triển của haivùng Trong các

kết nối kinh tế,cầnchú trọng trước hết thực hiện tíchhọpcác quy hoạch hệ thống giao thông; hệ

thống năng lượng; phát triển du lịch, pháttriển

nôngnghiệp gán vóichuỗi giá trị; quyhoạch cụm ngành côngnghiệp; chuỗi đôthị; hệ thống các

khu kinh tế của khẩu, khu kinh tế ven biển; mạng lưói các trường đại học và đàotạo; mạnglưóiy tế;

quy hoạch về môitrường bảo đảm nguyên tác

hội nhập, bao trùmvà bềnvững.Yếu tố quan

trọng có tính thànhbại trong việc xây dựng các

hành lang kinhtế kếtnối Tây Nguyênvói duyên hải Nam Trung Bộ làcác nhà đầu tưchiến lược

Việc có quyhoạch họp lý và dài hạn chocác tuyến phát triển giúp thu hútđượcnguồn vốn đầu tư từ

khu vực tư nhân, nhất là từ những tập đoàn tư

nhân lớn thông qua các cơ chế đối tác công - tư Chú trọngnghiên cứu vận dụng các mô hình:đầu

tư công - quản trị tư,lãnh đạo công- quản trị tư,

đầu tư tư - sử dụng công đãđược mộtsố địa

phương vận dụng kháthành công

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - Sô 8/2021

Trang 8

Xây dựng chiến lược phát triển bền vững

trong kết nối vùng

Pháttriển bền vữnglà yêu cầu quan trọng

trong việc xây dựng các hành langkinh tế, nhất

là khi các dựánnày cóthể có những tácđộng

tiêu cực nhấtđịnhđốivói các vấn đềmôi trường

và xàhội Trên cáctuyếnhành lang kinhtế, một

mặt có các dự án tạo nhiều việclàmvà sinh kế

chonhững ngưòi lao động ítkỹ năng và dễ bịtổn

thưong,phù họp với điều kiệnpháttriểnkinh tế

-xãhộicủa nhiều địabànvùng sâu, vùng xa và

cộngđồng dân tộc thiểu số; mặt khác có các dự

án tạo raviệc làm có năng suấtcao, thunhập

cao, phùhọpvớicác tỉnh duyênhải, đặcbiệtlà

những đô thị đang đàphát triển

Việc phát triển cáchànhlang,vànhđai kinh tế

gán liền vói yêucầu nâng cấp quátrìnhđô thị hóa;

phát triển mạng lưới đường bộ xưong cá để kết

nối nông thôn- đô thị, thúcđẩy thươngmại và

manglạicơhội việc làmcho nông dân và ngưòi

dânở cácvùng sâu, vùng xa; nângcao khả năng

tiếp cận của người dân, nhất là những người

nghèo, cộng đồng dân tộc thiểusố vói cácdịch vụ

xã hội quan trọng như giáo dục, y tế, môi

trường (12) Đặc biệt,trong quá trình đô thịhóa

cần chú Uọngxây dựng các mô hình như“thành

phố đángsống”, “thành phốsống tốt”, “thành

phố vănminh hiệnđại”, “thành phô' thông minh”

và “thành phốxanh",v.v.Quy hoạch những hành

lang kinh tếxanh vừa làtầm nhìn dài hạn,vừalà

mộttrongnhững mục tiêu phát triển hàng đầu

Các địa phươngTây Nguyên và duyên hải

Nam Trung Bộ cũngkhông nên quá “ôm đồm”

trong việcxác định các lĩnh vực ưu tiên phát

triển bởi nhiều lĩnhvực có thể xung đột với nhau,

đặc biệtkhi tiềm năng lớn nhất của vùng là nông

nghiệp và du lịch - hai ngành rất dễ bị tổn

thương trước cácảnh hưởngvềmôi trường Liên

kết hai vùng có thể chỉcần tập trung vào kếtnối

mộtsố lĩnh vực mũi nhọn, gồm: kếtnối du lịch, công nghệ cao, logistics; những lĩnhvực cơ bản, gồm: thương mại, nông nghiệp, y tế, nguồn

nhânlực, dịchvụ môi trườngvà mộtsốngành kinh tế xanh □

(I), (2), (3), (4) Kết quả điềuưacủa Đề tài:Đẩy mạnh liên kết kinh tế vùng Tây Nguyên với các tỉnh Nam Trung Bộ giai đoạn đến năm 2030, Mã số

TN.X17/02.Điều tra được thực hiện trongkhoảng

thòi gian từ tháng11-2018 đến tháng 2-2019

(5) BộKế hoạch Đầutư.Báo cáo nghiên cứu phân vùng phục vụ quy hoạch cho giai đoạn 2021 -2030,

HàNội, tháng 7-2018

(6), (12) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2020), Báo cáo tư vấn: Một số vấn đề về liên kết vùng và phân vùng kinh tế-xã hội giai đoạn 2021 -

2030, tâm nhìn đến 2045, HàNội, tháng 8-2020

(7) William R Barnes, Kathryn A Foster, Lara

Malakoff, Getting Things Done Together: A Work ­ book for Achieving Goals Regionally, The National League of Cities, Centerfor Research and Innova­

tion, California, 2012

(8) Alliance for Regional Stewardship, Regional Stewardship & Collaborative Governance Implementation That Produces Results, March

2006, Colorado, USA, 2006

(9) Nguyên Mạnh Hùng, Nguyễn Minh Tháng:

Những vấn đê đặt ra cho liên kết kinh tế vùng Tây Nguyên với các tỉnh Nam Trung Bộ,Tạp chí Kinh tế

và Quản lý, số30 (06-2019), ISSN 1859-4565

(10) Hans-Peter Brunner: “What Economic

CorridorDevelopment and WhatCan It Achieve in Asia’s Subregions?” ADB, Policy paper No 117

August2013

(II) Petrella, Stephanie: “What is an Economic

Corridor?”, Reconnecting Asia, March 27,2018

Ngày đăng: 02/11/2022, 09:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w