21 CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THĂM DÒ- KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở NƯỚC NGOÀI CỦA TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM.. Thực trạng hoạt động đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí ở nước ngoài
Trang 1Mục lục
Trang
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ- KHAI THÁC
I Những đặc diểm của hoạt động thăm dò- khai thác dầu khí
1 Dầu khí là nguồn tài nguyên quý, không tái tạo được 3
2 Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí là hoạt động có nhiều
3 Ngành công nghiệp Dầu khí đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn mà chủ
4 Ngành công nghiệp Dầu khí đòi hỏi áp dụng công nghệ cao 7
5 Hoạt động dầu khí mang tính quốc tế hoá cao 8
II Tình hình thăm dò- khai thác dầu khí trên thế giới 9
2 Tình hình thăm dò- khai thác dầu khí trên thế giới 17 III Hoạt động thăm dò- khai thác dầu khí của Việt Nam 21
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THĂM DÒ- KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở NƯỚC NGOÀI CỦA TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM 31
I Giới thiệu về Tổng công ty Dầu khí Việt Nam 31
1 Sự hình thành của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam 31
2 Nhiệm cụ của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam 32
Trang 2II Thực trạng hoạt động đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí
ở nước ngoài của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam 37
1 Cơ sở pháp lý của hoạt động đầu tư thăm dò- khai thác dầu
2 Tiềm lực kinh tế kĩ thuật của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam 43
3 Tình hình đầu tư thăm dò – khai thác dầu khí ở nước ngoài của
III Đánh giá hoạt động thăm dò- khai thác dầu khí ở nước ngoài của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam 55
1.1 Số lượng dự án tăng dần qua các năm 55
1.2 Khu vực đầu tư có tiềm năng dầu khí lớn hứa hẹn mang lại
1.3 Bước đầu tạo dựng hình ảnh Petrovietnam trên thị trường thế giới 57
1.4 Phát triển tốt các mối quan hệ hợp tác kinh doanh 58
2.1 Môi trường đầu tư dầu khí thế giới có nhiều biến động phức tạp 58
2.2 Sự khác nhau về văn hoá, phong tục và tập quán kinh doanh 59
Trang 32.4 Khả năng cạnh tranh yếu 60 CHƯƠNG III: TRIỂN VỌNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦU
TƯ THĂM DÒ- KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở NƯỚC NGOÀI CỦA TỔNG
I Triển vọng phát triển đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí ở nước ngoài của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam 63
1 Phương hướng phát triển của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam 63
2 Mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng 66
3 Định hướng phát triển đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí ở nước ngoài của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam 69
1.2 Tăng cường hợp tác dầu khí cấp chính phủ và nhà nước 80
2.1 Tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ 81
2.3 Tăng cường năng lực tài chính và kỹ thuật 83 KẾT LUẬN 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4Phụ lục 1: Nghị định Số 22/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 4
năm 1999 quy định về đầu tư ra nước ngoài của Doanh nghiệp Việt Nam
Phụ lục 2: Thông tư Số 05/2001/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
ngày 30 tháng 8 năm 2001 Hướng dẫn hoạ tđộng đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam (không bao gồm bản phụ lục của thông tư này)
Phụ lục 3: Quyết định của thủ tướng Chính phủ Số 116/2001/QĐ-TTg
ngày 02 tháng 8 năm 2001 Về một số ưu đãi, khuyến khích đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực hoạt động dầu khí
Trang 5Sản lượng dầu thô có thể được giữ ổn định ở mức 16-18 triệu tấn/năm đến năm 2015 Vì vậy việc tiếp tục tìm kiếm các nguồn trữ lượng mới, đặc biệt là dầu thô, ở cả trong và ngoài nước nhằm đảm bảo cung ứng tối
đa nhu cầu năng lượng ngày càng tăng và an ninh năng lượng cho nền kinh tế quốc dân trở thành nhiệm vụ cấp bách Được sự chỉ đạo và hỗ trợ của Nhà nước, Tổng công ty dầu khí Việt Nam bắt đầu tiến hành tìm kiếm và kí kết các dự án thăm dò- khai thác dầu khí ở nước ngoài từ năm
2001 Trong gần 3 năm qua hoạt động đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí
đã đạt được một số thành tựu đáng kể, số dự án và quy mô dự án ngày càng tăng song cũng có không ít khó khăn mà Tổng công ty phải vượt qua
Nhận thấy rằng việc nghiên cứu hoạt động đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí ở nước ngoài là việc làm rất bổ ích đối với sinh viên ngoại thương nên em đã chọn đề tài “ Thực trạng và triển vọng hoạt động đầu
tư thăm dò- khai thác dầu khí ở nước ngoài của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam” làm đề tài cho khoá luận của mình
Trang 6Trong quá trình thực hiện, em có sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê
Khoá luận trình bày tình hình đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí trên thế giới và ở Việt Nam, thực trạng đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí
ở nước ngoài trong thời gian qua để từ đó đánh giá triển vọng và đưa ra giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động này phát triển Khoá luận gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan hoạt động đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí thế giới và Việt Nam
Chương II: Tình hình hoạt động đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí
ở nước ngoài của Tổng công ty dầu khí Việt Nam
Chương III: Triển vọng và các giải pháp đẩy mạnh đầu tư thăm dò- khai thác dầu khí ở nước ngoài của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, song do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, bất cập Vì cậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía các thầy cô giáo và bạn đọc
Nhân đây, em xin được bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến cô giáo, Ths Nguyễn Thị Việt Hoa đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong
suốt quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp này Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên trong gia đình đã không ngừng khích lệ,
động viên cùng với chị Nguyễn Cẩm Tú và anh Đỗ Việt Dũng thuộc
công ty Đầu tư Phát triển Dầu khí (PIDC) giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này
Trang 7Hà Nội 12/2003
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ-
KHAI THÁC DẦU KHÍ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
I NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ- KHAI THÁC DẦU KHÍ
1 Dầu khí là nguồn tài nguyên quý, không tái tạo được
Trên thế giới, tài nguyên dầu khí được phát hiện từ lâu nhưng mới bắt đầu khai thác mang tính công nghiệp từ nửa cuối thế kỷ 19 Đây là nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo Dầu khí được tạo ra nhờ các quá trình biến đổi địa chất liên quan đến sự hình thành, chuyển hoá, di chuyển và tích tụ các vật chất hữu cơ (Hydrocacbon) và trong một khoảng thời gian rất dài, từ 10 triệu đến 100 triệu năm
Các mỏ dầu khí phân bố không đồng đều giữa các vùng khác nhau trên trái đất Điều này phụ thuộc vào cấu tạo địa chất cũng như khí hậu của từng vùng Những mỏ dầu lớn nhất thế giới tập trung ở các nước Trung Cận Đông Arập-Xêut, Cô-oét, Irắc, Vênêzulêa, Nga, Mỹ Việt Nam cũng được thiên nhiên ưu đãi có những mỏ dầu khí ở thềm lục địa,
đó là nguồn tài nguyên quý giá đối với quá trình phát triển kinh tế đất nước
Dầu mỏ và khí thiên nhiên là nguồn tài nguyên năng lượng quý thể hiện ở giá trị kinh tế cao của nó Đây là nguồn năng lượng mới có những thuộc tính vượt trội so với các nguồn năng lượng khác Dầu mỏ được chế biến thành các dạng năng lượng khác như xăng dầu đã được sử dụng rộng
Trang 8rãi trong sản xuất và đời sống Hơn nữa các sản phẩm chế biến từ dầu mỏ lại là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp hoá chất và công nghiệp hàng tiêu dùng Khí thiên nhiên ngày càng được ưa chuộng sử dụng như một loại năng lượng sạch có khả năng thay thế các loại chất đốt như than, dầu hoả Bảng dưới cho thấy nhu cầu tiêu dùng năng lượng thế giới năm 2001:
Bảng 1: Nhu cầu năng lượng thế giới năm 2001
Nguồn năng lượng
Lượng tiêu thụ (Triệu thùng/ngày quy
(Nguồn IEA Monthly Oil Market Report- UN 20/4/2002)
Từ số liệu bảng trên ta thấy dầu khí chiếm tới 64% lượng tiêu thụ năng lượng thế giới trong đó 40% là dầu thô, nguồn nguyên liệu quan trọng nhất
Trữ lượng dầu khí trên thế giới là có hạn, nó cạn kiệt dần theo quá trình khai thác Do con người chưa tìm ra nguồn năng lượng thay thế nên dầu khí càng trở nên quý giá hơn khi trữ lượng ngày càng giảm Theo tính toán dự báo thì với nhịp độ đầu tư khai thác dầu khí như hiện nay, trữ lượng của những quốc gia đã tìm thấy dầu tính đến cuối thế kỷ 20 sẽ chỉ
Trang 9đủ khai thác trong vòng 50 năm tới Nhiều nước ở Đông Nam Á hiện nay đang là nước xuất khẩu dầu mỏ như In-đô-nê-sia, Ma-lay-sia sẽ trở thành những nước nhập khẩu vào những năm sau 2010
2 Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí là hoạt động có nhiều rủi
ro mang tính mạo hiểm kinh tế
Trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò dầu khí, độ rủi ro cao trước hết phụ thuộc vào điều kiện địa chất Xác suất thành công trung bình trong tìm kiếm thăm dò dầu khí trên thế giới hiện nay rất thấp, chỉ khoảng 10%
Ngoài những rủi ro về địa chất ảnh hưởng đến xác suất phát hiện
mỏ, rủi ro về kỹ thuật cũng rất lớn Việc xây dựng và vận hành các đề án dầu khí luôn đi đôi với nguy cơ cháy, nổ làm tổn hại người, của và gây ô nhiễm môi trường sinh thái Các chi phí cho những rủi ro này khó mà tưởng tượng được Vào năm 1997, công ty Mobil (Mỹ) đã phải bồi thường tới 5 tỷ USD vì gây ô nhiễm môi trường Chính vì độ rủi ro cao
mà các nhà đầu tư trở nên mạo hiểm khi bỏ vốn lớn vào lĩnh vực này
3 Ngành công nghiệp Dầu khí đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn mà chủ yếu
là ngoại tệ mạnh
Quy mô vốn đầu tư lớn là đặc trưng của ngành Dầu khí khác biệt với các ngành công nghiệp khác Mỗi lĩnh vực hoạt động của ngành Dầu khí lại đòi hỏi lượng vốn đầu tư phù hợp để đạt được hiệu quả kinh tế cao Do tính chất đặc thù chứa đựng nhiều rủi ro nên loại trừ những nước trữ lượng dầu khí lớn và xác suất thành công trong thăm dò- khai thác cao, còn lại giá thành khai thác một thùng dầu thường rất cao (Bảng 2)
Trang 10Bảng 2: Giá thành khai thác 1 thùng dầu
(Đơn vị: USD/Thùng)
Nước/Khu vực Mỹ
ChâuMỹ
La tinh Tây Âu
Trung Cận Đông
Đông Á- Đông Nam Á
và Châu Phi
Giá thành khai thác trung bình
Giá thành thấp nhất
Công tác vận chuyển dầu khí vào bờ cũng đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn vì hầu hết các mỏ Dầu khí nằm rất xa bờ Quá trình vận chuyển dầu khí vào bờ phải sử dụng hệ thống chuyên dụng, để thu gom và vận chuyển khí cần các phương tiện kỹ thuật hiện đại như giàn nén trung tâm
cỡ lớn với vốn đầu tư trên 100 triệu USD Một đề án xây dựng công trình
Trang 11bình 1 triệu USD/km đường ống Từng công trình nhỏ, từng hạng mục đòi hỏi những khoản đầu tư khổng lồ nếu đem so sánh với các ngành khác
Lĩnh vực chế biến dầu khí cũng cần một lượng vốn đầu tư ban đầu rất lớn bằng ngoại tệ nhưng thời gian thu hồi vốn rất dài Các lĩnh vực hoá dầu, sản xuất dầu mỡ nhờn, chất dẻo, phân bón và các sản phẩm dầu khí khác cũng cần nhiều vốn đầu tư
4 Ngành công nghiệp Dầu khí đòi hỏi áp dụng công nghệ cao
Các mỏ dầu khí thường nằm ở dưới độ sâu hàng nghìn mét trong lòng đất
Ngoài thềm lục địa thì còn phải tính thêm độ sâu nước biển từ hàng chục đến hàng trăm mét Vì vậy con người không thể trực tiếp tiếp cận các mỏ
ở sâu trong lòng đất như thế được Sự hiểu biết của con người về địa chất,
về cấu tạo mỏ dầu khí, về sự chuyển dịch của các lưu thể lỏng: dầu, khí, nước trong mỏ đều phải qua suy đoán, tính toán nhờ vào các phương tiện, máy móc kỹ thuật hiện đại kết tinh hàm lượng chất xám cao Do đó, lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và khai thác Dầu khí đòi hỏi phải áp dụng những tiến bộ mới nhất về khoa học và kỹ thuật
Nhiều thành quả tiến bộ khoa học công nghệ đã được áp dụng cho công tác thăm dò, khai thác dầu khí Những tín hiệu xung lượng phản hồi
từ các tầng địa chất khác nhau sâu trong lòng đất từ 4 tới 5km thu lượm được phải nhờ đến những trung tâm điện tử với công suất tính toán lớn mới xử lý được
Do điều kiện làm việc đặc thù ngoài biển khơi, mỗi giàn khoan hoạt động cần tới hơn 30 loại dịch vụ khác nhau Từ hệ thống định vị vệ tinh, địa chất công trình biển, dự báo thời tiết, thông tin liên lạc kể cả truyền ảnh vệ tinh, máy bay trực thăng, tàu biển, dịch vụ lặn sâu đến các thiết bị máy móc phân tích mẫu thu được liên tục trong quá trình khoan…
Trang 12Tất cả đều là những tiến bộ khoa học mới nhất áp dụng nhằm giảm thiểu các chi phí và rủi ro trong thăm dò tìm kiếm dầu khí
5 Hoạt động dầu khí mang tính quốc tế hoá cao
Vốn đầu tư lớn, độ rủi ro cao, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại là lý
do khiến các công ty dầu khí đa quốc gia, xuyên quốc gia mở rộng hoạt động đầu tư của mình ra ngoài chính quốc trên khắp năm châu và đại dương để giảm thiểu bất trắc Yếu tố khách quan đáng lưu ý là hầu hết các nước có tài nguyên dầu khí (chủ yếu là Trung Cận Đông, Châu Phi,
Mỹ Latinh) lại là những nước mà nền kinh tế còn nghèo nàn không đủ sức tự chịu rủi ro để tìm kiếm tài nguyên dầu khí Điều đó tất yếu cần tới các công ty dầu khí ở các nước phát triển hơn tham gia vào tìm kiếm để chia sẻ rủi ro
Hiện nay trên thế giới, không một nước nào kể cả Mỹ- cường quốc
về dầu khí cũng không thể sản xuất tất cả các loại máy móc thiết bị cho hoạt động dầu khí Bởi vậy, hoạt động dầu khí thường có nhiều công ty với nhiều quốc tịch cùng nhau tham gia đầu tư vào các khâu khác nhau trong tìm kiếm - thăm dò, khai thác một mỏ dầu khí Các công ty cung cấp dịch vụ dầu khí cũng có những cơ sở trải khắp toàn cầu cùng với các trang bị kỹ thuật hiện đại Ta có thể thấy các giàn khoan di động từ Châu Phi sang Châu Á rồi Châu Mỹ đã trở thành hiện tượng bình thường
Trong xu hướng toàn cầu hoá, cạnh tranh quốc tế của các nước lân cận, khu vực và toàn cầu ngày càng gay gắt là điều phải tính đến trong chính sách thu hút đầu tư tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí của mỗi quốc gia Tình hình biến động kinh tế thế giới hay khu vực đều có ảnh hưởng đến hoạt động dầu khí đặc biệt là thị trường dầu mỏ Do đó, các nước xuất khẩu dầu thô khối lượng lớn đã liên kết thành tổ chức OPEC
Trang 13(1960) Tổ chức này kiểm soát lượng cung dầu mỏ trên thị trường thế giới nhằm bảo vệ quyền lợi của các nước thành viên
II TÌNH HÌNH THĂM DÒ- KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN THẾ GIỚI
1 Trữ lượng
Như đã nói ở trên dầu khí được khai thác từ giữa thế kỉ 19 và nhanh chóng được sử dụng trong cuộc sống Hiện nay trữ lượng thu hồi dầu thô toàn thế giới đạt khoảng 1032 tỷ thùng và khí đốt là 5457.1 tỷ fit khối (1 fit khối = 0.093m3)
Bảng 3: Trữ lượng dầu khí thế giới
Lượng thu hồi
Vùng
Tỷ tấn
% trữ lượng toàn cầu
Nghìn tỷ fit khối
% trữ lượng toàn cầu
Trang 14Từ bảng số liệu trên ta thấy trữ lượng dầu mỏ và khí đốt phân bố không đều Khí đốt chủ yếu tập trung ở hai khu vực là Đông Âu- Liên Xô
cũ và Trung Cận Đông với trữ lượng lần lượt 1967.9 tỷ fit và 1974.6 fit khối chiếm 36.06% và 36.18% trữ lượng toàn thế giới Dầu mỏ tập trung chủ yếu ở vùng Trung Cận Đông với trữ lượng 685.6 tỷ thùng dầu thô chiếm hai phần ba trữ lượng dầu mỏ thế giới (66.43%), khu vực đứng thứ hai là Châu Mỹ với trữ lượng 150.2 tỷ thùng chiếm 14.55% toàn thế giới nhưng cũng chưa bằng 1/4 trữ lượng vùng Trung Cận Đông Khu vực có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt thấp nhất thế giới là Tây Âu chỉ chiếm 2.94% về trữ lượng khí và 1.68% trữ lượng dầu mỏ Có thể thấy rõ hơn
sự chênh lệch này qua biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 1: Phân bổ dầu mỏ trên thế giới
Nguồn: Oil & Gas journal 24/10/2003
Châu Phi 7.43%
Châu Á và Úc 4.24%
Châu Mỹ 14.55%
Tây Âu 1.68%
Đông Âu và Liên Xô cũ 5.49%
Trung Cận Đông 5.49%
Trang 15
Ngay tại một khu vực trữ lượng dầu mỏ cũng phân bố không đều nhau Bảng dưới cho biết trữ lượng các nước tại khu vực Trung Cận Đông:
Bảng 4: Trữ lượng dầu mỏ các nước Trung Cận Đông
Tên Nước Trữ lượng (tỷ thùng) % trong khu vực
Trang 16Đây là khu vực có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới nhưng lượng dầu
mỏ cũng chỉ tập trung ở một số nước đứng đầu như A-rập-Xê-ut 261.8 tỷ thùng chiếm 36.185% so với khu vực và 25.368% toàn thế giới, đứng thứ hai là I-rắc 112.5 tỷ thùng chiếm 16.409% so với khu vực và 10.901%
thế giới Trong khi đó một số nước như Ix-ra-en hay Ba-han trữ lượng dầu mỏ lại gần như không có gì
Do có trữ lượng lớn như vậy nên những biến động dầu lửa tại khu vực này có ảnh hưởng lớn đến tình hình thị trường dầu lửa thế giới đặc biệt là các nước tư bản phát triển là những nước có khối lượng nhập khẩu dầu lớn Thực tế cũng cho thấy những diễn biến chính trị tại khu vực này trong thời gian qua diễn ra rất phức tạp mà nguyên nhân chủ yếu là sự tranh giành quyền lợi dầu mỏ của các nước trên thế giới
Khu vực có trữ lượng dầu mỏ đứng thứ hai sau Trung Cận Đông là Châu Mỹ
Bảng 5: Trữ lượng dầu mỏ các nước Châu Mỹ
Tên nước Trữ lượng (tỷ thùng) % trong khu vực
Trang 17Trữ lượng dầu mỏ đứng thứ ba thế giới là khu vực các nước Châu Phi với 76.7 tỷ thùng chiếm 7.43% tổng trữ lượng dầu mỏ thế giới (Bảng 6) Đứng đầu khu vực này là Li-bi với trữ lượng 29.5 tỷ thùng chiếm 38.46% khu vực Sau Li-bi là Ni-giê-ria 24 tỷ thùng chiếm 31.29% khu vực, tiếp theo là An-giê-ri 9.2 tỷ thùng chiếm 12% khu vực
Bảng 6: Trữ lượng dầu mỏ khu vực Châu Phi
Tên nước Trữ lượng (tỷ thùng) % trong khu vực
Trang 18Tổng 76.7 100
Nguồn: Oil & Gas journal 24/10/2003
Đứng sau khu vực Châu Phi là khu vực Đông Âu và Liên Xô cũ với trữ lượng 58.4 tỷ thùng chiếm 5.49% trữ lượng thế giới trong đó riêng Nga đã chiếm 83.23% trữ lượng khu vực với 48.6 tỷ thùng (Bảng 7)
Bảng 7: Trữ lượng dầu mỏ khu vực Đông Âu và Liên Xô cũ
Tên nước Trữ lượng (tỷ thùng) % trong khu vực
Nguồn: Oil & Gas journal 24/10/2003
Đây là khu vực có trữ lượng dầu mỏ tuy không nhiều nhưng lại là khu vực tập trung nhiều khí đốt với trữ lượng 1967.9 tỷ fit khối chiếm tới 36.06% trữ lượng toàn thế giới Trong khu vực này có Nga là nước có trữ lượng khí lớn nhất thế giới đạt 1680 tỷ fit khối chiếm 85.37% khu vực và 30.78% thế giới
Trang 19Khu vực châu Á và Úc trữ lượng dầu mỏ không lớn lắm chỉ chiếm 4.24% trữ lượng dầu mỏ toàn thế giới, tập trung chủ yếu ở Trung Quốc
24 tỷ thùng chiếm 54.79% khu vực, tiếp đến là In-đô-nê-xi-a 5 tỷ thùng chiếm 11.41% khu vực (Bảng 8)
Bảng 8: Trữ lượng dầu mỏ các nước Châu Á và Úc
Tên nước Trữ lượng (tỷ thùng) % toàn khu vực
Trang 20Cuối cùng là các nước Tây Âu với trữ lượng dầu tập trung ít nhất 17.3 tỷ thùng chiếm 1.68% trữ lượng toàn thế giới và chưa bằng 1/15 nước có trữ lượng lớn nhất là A-rập-Xê-ut (Bảng 9)
Bảng 9: Trữ lượng dầu mỏ khu vực Tây Âu
Tên nước Trữ lượng (tỷ thùng) % toàn khu vực
Nguồn: Oil & Gas journal 24/10/2003
Ngoài ra OPEC (Organization of Petroleum Exporting Countries)-
tổ chức lớn nhất thế giới trong lĩnh vực dầu khí- có ảnh hưởng mạnh mẽ tới tình hình cung cấp dầu của thế giới Đây là tổ chức được thành lập nhằm đối phó với các nước công nghiệp phát triển là những nước nhập khẩu dầu chủ yếu
Trữ lượng dầu của các nước OPEC rất lớn, chiếm hơn 3/4 trữ lượng dầu của thế giới (Bảng 10)
Bảng 10: Trữ lượng dầu của các nước OPEC
Tên nước Trữ lượng (tỷ
thùng) % toàn thế giới
Trang 21Nguồn: Oil & Gas journal 24/10/2003
2 Tình hình thăm dò- khai thác dầu khí trên thế giới
Trong những năm gần đây do sự bất ổn của nền kinh tế thế giới và sự xáo trộn trên chính trường dẫn đến lượng tiêu thụ dầu mỏ có phần chững lại kéo theo sản lượng khai thác dầu gần như không đổi trong giai đoạn 1997-2002 (Bảng 11) Điều này trái ngược với tình hình khai thác dầu trên thế giới trong những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước khi mức tăng sản lượng trong 10 năm 1990-2000 là 11.67% (sản lượng khai thác năm 1990 và 2000 lần lượt là 66 triệu thùng/ngày và 77 triệu thùng/ngày)
Trang 22Bảng 11: Sản lượng khai thác dầu trên thế giới
(Đơn vị: triệu thùng/ngày)
Nước/Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 OPEC
OECD
Mỹ Ca-na-đa Anh Mê-hi-cô Nauy
Ngoài OECD
Liên Xô cũ Trung Quốc Ma-lay-si-a Ấn- Độ Bra-xin Ác-hen-ti-na Cô-lôm-bia Ô-man Ai-cập Ăng-gô-la
29.98 22.07
8.64 2.57 2.76 3.41 3.28
20.76
7.20 3.19 0.75 0.76 1.13 0.88 0.66 0.91 0.90 0.70
30.68 24.85
8.35 2.67 2.84 3.40 3.14
21.09
7.28 3.19 0.74 0.74 1.28 0.90 0.77 0.90 0.88 0.73
29.44 21.41
8.08 2.56 2.93 3.35 3.14
21.57
7.49 3.19 0.71 0.75 1.36 0.85 0.83 0.90 0.85 0.76
30.80 21.92
8.12 2.73 2.70 3.45 3.32
22.24
7.94 3.23 0.71 0.73 1.50 0.82 0.70 0.96 0.81 0.74
30.16 21.87
8.11 2.75 2.53 3.56 3.41
23.14
8.56 3.30 0.75 0.73 1.59 0.83 0.62 0.96 0.76 0.74
28.54 21.90
8.08 2.87 2.48 3.58 3.33
24.39
9.38 3.40 0.77 0.75 1.74 0.80 0.59 0.90 0.75 0.76
Toàn thế giới 74.35 74.05 74.09 76.67 76.91 76.58
Trang 23Nguồn: Thông tin dầu khí thế giới số 1/2003
Bảng 12: Phần trăm sản lượng dầu OPEC so với thế giới
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Phần trăm 40.32 41.43 39.73 40.172 39.21 37.27
Nguồn: Thông tin dầu khí thế giới số 1/2003
Có thể thấy rằng sản lượng dầu thô của các nước OPEC luôn dao động ở mức cao khoảng 40% sản lượng dầu thế giới do các nước thành viên của tổ chức này nắm giữ một phần lớn trữ lượng dầu thế giới Nắm trong tay nguồn tài nguyên khổng lồ nên tổ chức này có khả năng chi phối quan hệ Cung-cầu, tuy nhiên điểm yếu dễ thấy của tổ chức này là tính bất đồng nhất về quan điểm, về quyền lợi và về mối quan hệ với các nước tiêu thụ dầu Có thể thấy trong những năm vừa qua những quyết định đưa ra của OPEC về hạn ngạch thường không kịp thời, khi có quyết định rồi lại không thực hiện hoặc thực hiện tuỳ tiện làm cho sức mạnh của OPEC giảm đi rất nhiều
Bảng dưới cho thấy sản lượng dầu thô các nước OPEC qua các năm
Bảng 13: Sản lượng dầu thô và khí lỏng các nước OPEC
(Đơn vị: triệu thùng/ngày) Nước/Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Trang 24An-giê-ri In-đô-nê-si-a I-ran
I-rắc Cô-oét Li-bi Ni-giê-ria Qua-ta Arập-Xêut UAE Vê-nê-zu-ê-la
0.86 1.37 3.7 1.53 2.08 1.44 2.11 0.64 8.68 2.28 3.23
0.82 1.29 3.61 2.11 2.01 1.39 2.11 0.66 8.19 2.28 3.12
0.76 1.27 3.50 2.52 1.94 1.38 1.95 0.63 7.81 2.07 2.79
0.81 1.20 3.69 2.57 1.98 1.41 2.02 0.68 8.31
2024 2.89
0.84 1.21 3.70 2.36 2.01 1.37 2.08 0.67 8.01 2.16 2.68
0.85 1.12 3.42 2.01 1.89 1.32 1.95 0.64 7.67 1.99 2.29
Tổng dầu thô Khí lỏng
27.40 2.58
27.83 2.85
26.62 2.82
27.92 2.88
27.09 3.07
25.09 3.45
Nguồn: Thông tin dầu khí thế giới số 1/2003
Các nước nằm trong khối các nước phát triển (OECD) tuy sản lượng khai thác không cao (năm 2002 chỉ đạt 27.54% sản lượng thế giới) nhưng tiêu thụ phần lớn lượng dầu trên thế giới Năm 2002 lượng tiêu thụ của các nước OECD đạt mức 47.69 triệu thùng/ngày chiếm 62.2% lượng tiêu thụ trên thế giới Chỉ tính riêng Mỹ, nước chiếm 5% dân số thế giới
và sản lượng chỉ đạt 8 triệu thùng/ngày lại tiêu thụ 20.07 triệu thùng/ngày (bảng 14) chiếm hơn 1/4 lượng tiêu thụ thế giới Chính lượng tiêu thụ lớn cùng với khả năng sản xuất có hạn là nguyên nhân ràng buộc các nước Phát triển vào nguồn dầu mỏ của khu vực Trung Cận Đông và Trung Á
Bảng 14: Lượng tiêu thụ dầu thô trên thế giới
Trang 25(Đơn vị: triệu thùng/ngày)
Khu vực/ nước 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Châu Mỹ
Ca-na-đa Mê-hi-cô
Mỹ Ac-hen-ti-na Bra-xin
Tây Âu
Pháp Đức I-ta-li-a Anh
Đông Âu và Liên Xô cũ Trung Đông Châu Phi Châu Á TBD
Trung Quốc Ấn- Độ Nhật
27.20
1.98 1.90 18.97 0.46 1.80
14.78
2.03 3.03 2.04 1.83
5.42
4.21 2.23 19.71
3.88 1.71 5.87
27.73
1.98 1.99 19.25 0.49 1.87
15.05
2.10 3.04 2.05 1.82
5.33
4.38 2.25 19.36
4.01 1.78 5.66
28.43
2.05 2.00 19.87 0.47 1.93
14.95
2.06 2.96 1.96 1.84
5.18
4.53 2.35 20.22
4.22 1.97 5.75
28.75
2.07 2.05 20.07 0.45 1.95
14.85
2.04 2.88 1.93 1.81
5.14
4.53 2.39 20.49
4.46 2.02 5.66
28.56
1.98 2.04 20.02 0.45 1.95
15.03
2.07 2.93 1.94 1.80
5.37
4.64 2.41 20.66
4.65 2.04 5.57
28.5
1.98 1.98 20.07 0.45 1.95
14.97
2.03 2.85 1.95 1.79
5.33
4.66 2.42 20.90
4.88 2.02 5.45
Tổng 73.55 74.11 74.47 76.14 76.66 76.68
Nguồn: Oil & Gas Journal 24/2/2003 Theo cục quản lý thông tin năng lượng EIA (the Energy Information Administration), nhu cầu dầu thô trên thế giới sẽ tăng 2.1%/năm trong 20 năm tới và đạt 117.4 triệu thùng/ngày vào năm 2020
Mức tăng này đáp ứng phần lớn nhu cầu tăng về vận tải Nguồn cung
Trang 26được dự báo tăng nhanh hơn, đạt 2.2%/năm nhưng trong 20 năm nữa mức tăng cung sẽ thấp hơn mức tăng cầu Sản lượng dầu thô thế giới năm
2002 đạt 76.58 triệu thùng/ngày và vào năm 2020 là khoảng 120 triệu thùng/ngày Trong con số dự báo sản lượng năm 2020 như trên thì khối OPEC chiếm 57.6 triệu thùng/ngày tức là khoảng 49% sản lượng toàn thế giới, cao hơn mức hiện nay là khoảng 40% Sự tăng trưởng mạnh sản lượng ở các nước thuộc OPEC và ngoài OPEC là do công nghệ địa vật lý
và khoan được nâng cao liên tục, điều này sẽ giảm mức giá thành thùng dầu khai thác trong các vùng địa lý khó khăn
III HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ- KHAI THÁC DẦU KHÍ CỦA VIỆT NAM
So với các ngành công nghiệp khác trong nước, ngành Dầu khí được coi
là phát triển sau Tuy nhiên với sự hấp dẫn của nó và sự quan tâm ưu tiên đặc biệt của Đảng và Chính phủ, trong vòng 30 năm trở lại đây, ngành công nghiệp đặc thù này đã phát triển mạnh và trở thành một trong những ngành có vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân hiện nay
Có thể tạm chia tiến trình phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam theo các giai đoạn như sau:
1 Giai đoạn trước 1987
Thời kì những năm 60 cho đến năm 1975, khi Tổng cục Dầu khí chưa được thành lập (ngày 3/9/1975 chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt mà ngày nay trở thành Tổng công ty Dầu khí Việt Nam) Lúc đó các hoạt động thăm dò dầu khí là nhiệm vụ của Tổng cục Địa chất với sự tham gia của các nhà địa chất dầu khí Việt Nam và các chuyên gia Liên Xô Trong thời gian này chủ yếu tìm kiếm, thăm dò ở miền Bắc, trên đất liền
Trang 27Các chuyên gia của Tổng cục Địa chất mà sau này là Liên đoàn Địa chất 35 đã khảo sát rất nhiều khu vực trên miền Bắc để thăm dò, tìm kiếm dầu khí, đã làm nhiều tuyến địa chất và đã khoan nhiều giếng khoan
ở đồng bằng sông Hồng Trên cơ sở dữ liệu vật lí địa chất, giếng khoan đầu tiên xấp xỉ 3000 m đã được khoan năm 1970 Kết quả tìm được trong thời gian này còn rất khiêm tốn Cho tới năm 1975 chỉ phát hiện được một mỏ khí nhỏ ở tỉnh Thái Bình và hiện nay đang được khai thác
Trong thời gian này tại miền Nam Việt Nam việc khảo sát địa vật lí
đã được tiến hành vào cuối những năm 60 bởi chính quyền Ngụy Sài Gòn Năm 1967 Cục nghiên cứu hải dương học của Mỹ tiến hành khảo sát toàn bộ lãnh thổ Nam Việt Nam từ độ cao 2000m hình thành 1 lô và
1 bản đồ tỉ lệ 1/250.000
Trong những năm 1969-1970, Mandral đã chụp 1 lô 30×50 km dữ liệu địa chấn trên thềm kục địa Việt Nam với tổng 8000km các dải địa chấn Năm 1974 CSI chụp 5000km các dải địa chấn phía Đông miền Trung Nam Việt Nam
Trong năm 1973-1974 chính quyền Ngụy Sài Gòn mở hai cuộc đấu thầu quốc tế và có 9 tập đoàn dầu lửa quốc tế như Mobil Oil, Shell/Pecten Việt Nam, Esso, Marathon, Mobil/Kaiyo, Pecten/BHP, Union Texas… thắng thầu
Trong thời gian này, Mobil và Pecten tiến hành khảo sát địa vật lí
và đã khoan 6 giếng thăm dò ở biển Cửu Long và Nam Côn Sơn, 2 giếng
ở Bạch Hổ- IX với sản lượng 2400 thùng/ngày được phát hiện bởi Mobil
và giếng Dua IX sản lượng 2230 thùng/ ngày do Pecten thực hiện
Sau khi đất nước thống nhất, Tổng cục Dầu khí được thành lập ngày 3/9/1975, cho đến đầu những năm 80 là thời kì chúng ta được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô tiếp tục tìm kiếm và thăm dò dầu khí trên toàn bộ đất nước bao gồm cả trên đất liền cũng như ngoài biển Tại
Trang 28miền Bắc tiếp tục thăm dò ở đồng bằng sông Hồng Tại miền Nam Tổng cục Dầu khí kí hợp đồng thăm dò với Công ty Địa vật lý Quốc tế (CGG) thăm dò khảo sát 2275km nhiều dải địa chấn dọc các nhánh sông Mêkông
và các vùng nước cạnh Khảo sát trọng lực với bản đồ tỉ lệ 1/200.000 được Tổng cục Dầu khí thực hiện Trên cơ sở dữ liệu đó, 2 giếng đã được khoan thăm dò
Năm 1978 Tổng cục Dầu khí đã kí 3 hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí (PSC) với Diminex (Block 15), Agip (Block 04 và 12) và Bowvalley (Block 28 và 29) khảo sát thăm dò trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam và đã được khoan tại 12 vị trí nhưng kết quả các hợp đồng cũng bị gián đoạn Kết quả thăm dò dầu khí của thời gian này chỉ thu thập được nhiều số liệu, kể cả số liệu của đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long nhưng vẫn chưa phát hiện ra một mỏ dầu nào mới
Năm 1986 đánh dấu bước ngoặt trong sự phát triển của ngành dầu khí Việt Nam bằng việc kí kết hiệp định Liên Chính Phủ giữa CHXHCN Việt Nam và Liên bang CHXHCN Xô Viết về việc thành lập Xí nghiệp liên doanh Việt Xô (VietSopetro) tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam Hàng loạt các hoạt động thăm dò địa chất, địa vật lí được tiến hành bởi liên doanh và đã xác định lô địa chấn 16×32 km tại hầu hết các khu vực bể trầm tích tại thềm lục địa Việt Nam với tổng 50.000km các giải địa chất Chúng ta đã phát hiện được dầu khí tại mỏ Bạch Hổ 1985 và tiếp theo là mỏ Đại Hùng và Rồng Năm 1986 chúng ta có những tấn dầu thô đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ của VietSopetro với sản lượng khai thác đạt 40.000 tấn dầu thô/năm
2 Giai đoạn 1987 đến nay
Với việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987) và chính sách mở cửa kinh tế của Đảng và Nhà nước, ngành Dầu khí Việt Nam đã
Trang 29bước vào một thời kì phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là đối với công tác thăm dò- khai thác
Tổng cục Dầu khí được chuyển đổi thành Tổng công ty \Ddầu khí Việt Nam (Petrovietnam) với tư cách là một Công ty Dầu khí Quốc Gia,
đã tiến hành hàng chục hợp đồng hợp tác kinh doanh thăm dò dầu khí với các công ty dầu khí danh tiếng trên thế giới
Hệ thống luật pháp điều chỉnh hoạt động dầu khí trong nền kinh tế thị trường đã được hoàn thiện, đảm bảo cho việc đầu tư được ổn định (Luật Dầu Khí, Luật Thuế, Luật Lao Động…)
Sau hơn 10 năm tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, Petrovietnam đã hợp tác đầu tư với các công ty dầu khí nước ngoài triển khai một khối lượng rất lớn các công việc nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò
và đã phác thảo rõ nét hơn bức tranh dầu khí Từng bước chính xác hoá tiềm năng, trữ lượng và phát hiện một số khu vực có trữ lượng dầu khí
Kết quả là xác định được các bể trầm tích có tiềm năng dầu khí như:
- Bể sông Hồng, Phú khánh, Cửu long, Nam Côn Sơn, Malay - Thổ Chu, Hoàng Sa và nhóm bể Trường Sa (đối với thềm lục địa và vùng biển đặc quyền kinh tế)
- Trũng Hà Nội và một phần trũng Cửu Long (đối với phần đất liền)
Phía nước ngoài đã tham gia tìm kiếm- thăm dò dầu khí tập trung ở các bể: Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay-Thổ Chu Một số vùng đã có các phát hiện dầu khí là:
- Bể Cửu Long: Phát hiện dầu
- Bể Nam Côn Sơn, Malay - Thổ chu: Phát hiện dầu và khí, trong
đó chủ yếu là khí thiên nhiên
Trang 30- Bể sông Hồng: phát hiện khí, trong đó những phát hiện khí ở vùng biển Quảng Nam, Đà Nẵng có trữ lượng rất lớn nhưng hàm lượng CO2 cao (60-90%)
- Trũng Hà Nội: phát hiện dầu và khí với trữ lượng nhỏ
Những nghiên cứu bước đầu đánh giá được trữ lượng xác minh và tiềm năng dầu khí của từng bể với tổng tiềm năng dự báo khoảng 3 tỷ tấn dầu quy đổi trong đó chủ yếu là khí Trữ lượng đã phát hiện khoảng 1 tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó có khoảng 250 tỷ m3 khí ở bể Sông Hồng có hàm lượng CO2 cao, tổng trữ lượng các mỏ nhỏ khoảng 100 triệu tấn dầu quy đổi Trữ lượng dầu và khí của các mỏ đã được phát hiện khẳng định tiềm năng dầu khí của nước ta là tương đối lớn Tuy nhiên, cho đến nay ta mới chỉ phát hiện được khoảng 33% trữ lượng tiềm năng
Bên cạnh mỏ Bạch Hổ do Vietsopetro đang khai thác, các nhà thầu
đã khoan thẩm lượng và đưa 5 mỏ mới vào khai thác: Đại Hùng, Rồng, Rạng Đông, Ruby, Bunga Kekwa Tổng sản lượng khai thác lên tới 98 triệu tấn dầu và 3.9 tỷ m3 khí Tổng sản lượng khai thác dầu thô ngày càng tăng qua các năm thể hiện qua biểu đồ dưới đây:
Trang 31Biểu đồ 2: sản lượng khai thác dầu thô của Việt Nam qua các năm
(Đơn vị: triệu tấn/năm)
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18
'97 '98 '99 '00 '01 '02 '03
(¦íc)
Nguồn: Báo cáo Dầu Khí 7/2003
Như vậy, các hoạt động dầu khí trong giai đoạn 1987-2002 đã tạo nên bước phát triển mới của ngành Dầu khí nước ta, xây dựng nền tảng đầu tiên của ngành trên cơ sở khai thác dầu khí ở thềm lục địa, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu dầu mỏ Điều đó thể hiện ở sự gia tăng sản lượng dầu thô xuất khẩu Năm 1988: xuất khẩu 0.69 triệu tấn dầu thô
Năm 2002: xuất khẩu 17.0971 triệu tấn dầu thô, gấp 24.8 lần năm 1988
Khối lượng dầu thô xuất khẩu đã đem lại nguồn ngoại tệ rất lớn cho Nhà nước Chính vì giá trị xuất khẩu lớn như vậy mà dầu thô đã đứng đầu trong số 5 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Dầu thô chiếm
tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu lớn, có vai trò to lớn trong việc cân đối cán cân xuất nhập khẩu của nước ta Trong 10 năm trở lại đây, tỷ trọng giá trị
9.96
17.097 17.01
12.32
15.86 15.22
17.61
Trang 32xuất khẩu của dầu thô đạt mức cao nhất vào năm 2000 (25.84%), sau đó
tỷ trọng này giảm dần do tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các sản phẩm khác cao hơn tương đối so với dầu thô Đến năm 2002, tỷ trọng giá trị xuất khẩu dầu thô đạt 19.55% Bảng sau đây minh hoạ cho ta thấy điều
đó
Bảng 15: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dầu thô giai đoạn 1995-2002
Năm
Sản lượng dầu thô xuất khẩu (triệu tấn)
Giá trị dầu thô xuất khẩu (tỷ USD)
Tổng giá trị xuất khẩu (tỷ USD)
Tỷ trọng giá trị dầu thô (%)
Trang 331990 khi sản lượng dầu thô của mỏ Bạch Hổ đã đạt trên 5 triệu tấn một năm và cùng với nó là một lượng khí đồng hành tương đối lớn, gần 1 tỷ
m3 khí/năm, không được sử dụng và phải đốt bỏ gây lãng phí và ô nhiễm môi trường Chính vì vậy, Chính phủ đã quyết định phải có phương án sử dụng khí đồng hành đó cho sản xuất điện và các nhu cầu công nghiệp, dân dụng khác Chính phủ đồng thời quyết định để Petrovietnam tự xây dựng đường ống dẫn khí từ mỏ Bạch Hổ vào bờ để dùng cho phát điện
Sản lượng khí thu gom được nhờ đó tăng nhanh qua các năm Năm 1997 sản lượng khí gom được là 563 triệu m3 thì năm 2002 lên tới 2170 triệu
m3 Tổng số khí khai thác được là gần 9 tỷ m3
Biểu đồ 3: Sản lượng khai thác khí của Việt Nam qua các năm
(Đơn vị: triệu m 3 )
0 500 1000 1500 2000 2500 3000
(¦íc)
Nguồn: Báo cáo Dầu Khí 7/2003
Cùng với sự tăng trưởng của sản lượng khí khai thác, doanh số thu được từ việc bán khí cho các hộ tiêu thụ, nhà máy điện cũng ngày càng
Trang 34tăng, năm 2002 đạt được 1887 tỷ đồng Doanh thu bán khí các năm gần đây thể hiện qua bảng sau
Nguồn: Báo cáo Dầu khí 7/2003
Tháng 5/1995, nhà máy khí hoá lỏng đầu tiên của Việt Nam được Petrovietnam xây dựng tại Dinh Cố để chuyển một phần khí sang trạng thái lỏng (LPG) trước khi đưa vào nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ Với sản lượng 300.000 tấn LPG/năm không những góp phần thay đổi cơ cấu nhiên liệu trong công nghiệp và tiêu dùng, còn giúp ta tiết kiệm ngoại tệ (khoảng 80 triệu USD/năm để nhập khẩu mặt hàng này)
Mới có 8 năm thu gom khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ, ta đã tiết kiệm được một khối lượng khí lớn hàng vài tỷ m3 khí không phải đốt bỏ góp phần bước đầu thay đổi cơ cấu đầu vào của ngành điện Bên cạnh nhà máy nhiệt điện truyền thống dùng dầu FO, than đá thì nay có thêm nhà máy nhiệt điện dùng tuốc bin khí
Bên cạnh khí đồng hành, nguồn khí đốt thiên nhiên có tính thương mại cũng đã được các Nhà thầu phát hiện ra tại mỏ Lan Tây-Lan Đỏ (lô 06-l, Nhà thầu BP/STATOIL/ONGC) vào năm 1993 với trữ lượng trên 2
Trang 35TCF (2 ngàn tỷ feet khối - khoảng 60 tỷ mét khối), Mỏ Rồng Đôi (lô ll-2, Nhà thầu PEDCO) vào năm 1995 Hai mỏ Lan Tây - Lan Đỏ và Rồng Đôi đã đi vào khai thác trong năm 2000
Những năm tới, khi khai thác các mỏ khí thiên nhiên, ngành công nghiệp Khí của Việt Nam sẽ khởi sắc Nhiều ngành công nghiệp theo đó
sẽ có đà phát triển mạnh Chính phủ đã phê duyệt dự án xây dựng 4 nhà máy điện dùng khí tại Phú Mỹ với công suất 3500-4000MW (gấp hai lần công suất của nhà máy thủy điện Sông Đà) Một liên hợp điện đạm cũng
sẽ được ra đời tại đó Các nhà máy sản xuất methanol, PVC, PS, PP, phân Urê cũng có điều kiện ra đời từ việc sử dụng khí Như vậy, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không chỉ khai thác được tài nguyên dầu khí, làm tăng giá trị của nó qua chế biến mà còn góp phần thúc đẩy phát triển một
số ngành công nghiệp mới làm thay đổi cơ cấu ngành kinh tế
Theo các số liệu về tình hình khai thác dầu khí trên đây, ta có thể thấy rằng tổng sản lượng khai thác dầu và khí hàng năm không ngừng tăng lên Doanh thu từ dầu khí tăng trưởng hàng năm khoảng 25% đã đóng góp rất lớn vào Ngân sách Nhà nước Sự tăng trưởng như vậy đã thể hiện hiệu quả của sự nỗ lực toàn Ngành trong việc ký kết và triển khai nhiều hợp đồng tìm kiếm-thăm dò, khai thác dầu khí với nước ngoài Ta
đã có nhiều phát hiện dầu khí và đẩy mạnh khai thác sản phẩm, đầu tư công nghệ kỹ thuật mới, hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình
và giếng khoan khai thác Điều đó chứng tỏ hoạt động của Petrovietnam đạt hiệu quả đầu tư cao Đây là dấu hiệu đáng mừng cho nền kinh tế
Trang 36CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THĂM DÒ- KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở NƯỚC NGOÀI CỦA TỔNG CÔNG TY
DẦU KHÍ VIỆT NAM
I GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM
1 Sự hình thành Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
Tổng công ty Dầu khí ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp Dầu khí Từ Đoàn Địa chất 36 trực thuộc Tổng cục Địa chất làm nhiệm vụ tìm kiếm thăm dò dầu khí, được thành lập năm
1961, trở thành Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) như hiện nay là cả một quá trình phát triển liên tục gắn bó với từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Năm 1975, Tổng cục Dầu khí được thành lập trên cơ sở Liên Đoàn Địa chất 36 của Tổng cục Địa chất và một số bộ phận thuộc Tổng cục Hoá chất Tổng cục Dầu khí đã được tổ chức và hoạt động như một cơ quan ngang Bộ Các hoạt động tìm kiếm thăm dò trong thời kỳ đầu chủ yếu được tiến hành trên các bể trầm tích ở đồng bằng sông Hồng với sự hợp tác và trợ giúp kỹ thuật của Liên Xô (cũ) sau đó đã từng bước mở rộng tìm kiếm thăm dò ở đồng bằng sông Cửu Long
Tháng 4/1990, Tổng cục Dầu khí được sát nhập vào Bộ Công nghiệp nặng Đến tháng 2/1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã quyết định tách Tổng công ty Dầu khí khỏi Bộ Công nghiệp nặng và trực thuộc Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)
Trang 37Từ tháng 7/2003 Tổng công ty một lần nữa được sát nhập vào Bộ Công nhiệp Với cơ chế này, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã có điều kiện hoạt động thuận lợi, phù hợp với tính đặc thù của ngành Dầu khí
Ngành Dầu khí được đánh giá là ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân Phù hợp với điều đó, tháng 5/1995, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định tiến hành xây dựng, hoàn thiện tổ chức cơ chế quản lý của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh doanh (mô hình Tổng công ty 91) Tổng công ty có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Oil and Gas Corporation, viết tắt là PETROVIETNAM Hiện nay tổ chức của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã được kiện toàn phù hợp với mô hình quản lý mới
2 Nhiệm vụ của Tổng công ty Dầu khí
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là Tổng công ty Nhà nước có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, chịu sự quản lý Nhà nước của các Bộ, Ngành về những nội dung thuộc chức năng quản lý Nhà nước của mình
Tổng công ty Dầu khí có nhiệm vụ nhận và sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, bao gồm cả phần vốn đầu tư vào các doanh nghiệp khác, nhận và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đất đai, vùng biển
và các nguồn lực khác trong lĩnh vực công nghiệp Dầu khí do Nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh và những nhiệm vụ khác được giao Ngoài ra, Tổng công ty có nhiệm vụ tổ chức quản lý công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong ngành Dầu khí cũng như thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công nhân viên
trong Tổng công ty
Các đơn vị thành viên của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam bao gồm: doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập, đơn vị hạch toán phụ
Trang 38thuộc và các đơn vị sự nghiệp Các đơn vị thành viên có điều lệ, quy chế
tổ chức và hoạt động riêng do Hội đồng quản trị của Tổng công ty Dầu khí phê chuẩn
3 Các lĩnh vực hoạt động
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam được phép tiến hành các hoạt động dầu khí trên toàn lãnh thổ, lãnh hải, thềm lục địa, hải đảo và vùng đặc quyền kinh tế thuộc chủ quyền nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các hoạt động của ngành Dầu khí Việt Nam rất đa dạng được phân thành hai khâu là khâu đầu và khâu sau Khâu đầu bao gồm các hoạt động nằm trong lĩnh vực thượng nguồn, khâu sau chỉ các hoạt động không phải khâu đầu và bao gồm các lĩnh vực trung nguồn, hạ nguồn, các hoạt động dịch vụ dầu khí và nghiên cứu khoa học công nghệ
3.1 Lĩnh vực thượng nguồn (Upstream)
Lĩnh vực thượng nguồn bao gồm các hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí Hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí có
độ rủi ro cao, đòi hỏi vốn đầu tư lớn và phải sử dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại Lĩnh vực hoạt động này là đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự tồn tại và hướng phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam Nền kinh tế nước ta còn nghèo nàn không đủ sức gánh chịu các rủi ro do đó việc kêu gọi đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này là giải pháp bắt buộc và tối ưu
Hơn chục năm qua, Petrovietnam đã hợp tác với nhiều công ty dầu khí nước ngoài để cùng triển khai hoạt động này
Các loại hợp đồng trong khâu thượng nguồn mà Petrovietnam đã
ký với các nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian qua gồm có: hợp đồng chia sản phẩm PSC (Production Sharing Contract), hợp đồng liên doanh
Trang 39doanh BCC (Business Co-operation Contract), hợp đồng khảo sát địa chấn không độc quyền, hợp đồng nghiên cứu chung
3.2 Lĩnh vực trung nguồn (Midstream)
Lĩnh vực trung nguồn bao gồm các hoạt động tàng trữ, sơ chế và vận chuyển dầu khí từ mỏ đến các hộ tiêu thụ Từ trước đến nay, do ta chưa
có đủ khả năng về vốn để xây dựng hoàn thiện một nhà máy lọc dầu nào (nhà máy lọc dầu số 1 mới đang ở giai đoạn thi công ban đầu) nên toàn
bộ dầu thô đã khai thác đều được tàng trữ trong trạm rót dầu không bến với công suất 100.000-150.000 tấn và được tàu chở dầu nước ngoài đến tiếp nhận để xuất khẩu Trong tương lai, ngành Dầu khí sẽ tổ chức một đội tàu chở dầu thô phục vụ xuất khẩu, chuyên chở dầu cho nhà máy lọc dầu và vận tải sản phẩm dầu khí đến các hộ tiêu thụ Hiện nay, Petrovietnam đang hướng dẫn các công ty Petechim (thuộc Petrovietnam), Falcon (thuộc Cục Hàng Hải) và NT&T (Nhật Bản) đàm phán, hoàn thiện hồ sơ dự án để trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư duyệt và cấp giấy phép thành lập một công ty liên doanh chuyên về vận tải dầu thô xuất khẩu
3.3 Lĩnh vực hạ nguồn (Downstream)
Lĩnh vực hạ nguồn bao gồm các hoạt động liên quan đến chế biến gồm lọc dầu và hoá dầu, phân phối và kinh doanh sản phẩm dầu khí hoặc sản phẩm dẫn xuất từ dầu khí
* Lọc dầu
Trang 40Ngay sau khi Việt Nam khai thác tấn dầu thô đầu tiên vào năm 1986 từ
mỏ Bạch Hổ thì đồng thời một kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu công suất khoảng 6,5 triệu tấn/ năm đã được triển khai nghiên cứu Nhưng do
có sự biến động về tình hình chính trị xã hội ở Liên Xô vào năm 1990 nên
kế hoạch này đã không thực hiện được
Trong giai đoạn 1990-1996 cùng với việc sản lượng khai thác dầu hàng năm và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong nước liên tục tăng thì việc xây dựng nhà máy lọc dầu trở nên cấp thiết hơn Petrovietnam đã được Chính phủ chỉ đạo kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài hợp tác liên doanh xây dựng nhà máy lọc dầu số 1
Đầu năm 1997, thực hiện chỉ thị của Chính phủ, Petrovietnam đã tiến hành triển khai kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu số 1 tại Dung Quất-Quảng Ngãi Một hướng hợp tác mới đã mở ra khi Petrovietnam và Zarubezhneftj của Nga ký hợp đồng liên doanh thành lập công ty liên doanh Vietross để triển khai xây dựng nhà máy lọc dầu số 1 này Hiện nay, công ty Vietross đang tích cực triển khai đề án: san lấp mặt bằng, chuẩn bị các tài liệu gọi thầu thiết kế, xây dựng Mục tiêu có sản phẩm đầu tiên vào cuối năm 2007 Tuy nhiên, dự báo nhu cầu tiêu thụ và hướng phát triển của nền kinh tế quốc dân, Petrovietnam đã trình Chính phủ phương án xây dựng nhà máy lọc dầu số 2
* Hoá dầu
Công nghiệp hoá dầu là một ngành rất mới ở Việt Nam Do nền kinh tế còn chưa phát triển nên Việt Nam chưa có điều kiện để xây dựng một liên hợp lọc hoá dầu hoàn chỉnh Để đáp ứng dần dần nhu cầu thị trường trong nước, Petrovietnam đã hợp tác với các công ty nước ngoài để triển khai các đề án như: đề án liên doanh sản xuất nhựa PVC với Petronas, đề
án liên doanh sản xuất phụ gia hoá dẻo DOP với LG, Vinachem Các dự