1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giới và cảnh quan người nữ và tự nhiên trong cảnh đồng bất tận từ truyện của nguyễn ngọc tư sang phim của nguyễn phan quang bình

13 40 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRONG CẢNH ĐÒNG BẤT TẬN TỪ TRUYỆN CỦA NGUYỄN NGỌC Tư SANG PHIM CỦA NGUYỄN PHAN QUANG BÌNH NGUYỀN THỊ MINHÍ Tóm tắt: Bài viết phân tích cảnh quan được cho là gắn với tự nhiên trong tác

Trang 1

TRONG CẢNH ĐÒNG BẤT TẬN TỪ TRUYỆN

CỦA NGUYỄN NGỌC Tư SANG PHIM CỦA

NGUYỄN PHAN QUANG BÌNH

NGUYỀN THỊ MINH(Í)

Tóm tắt: Bài viết phân tích cảnh quan được cho là gắn với tự nhiên trong tác phẩm Cánh đồng

bất tận, từ truyện của Nguyễn Ngọc Tư sang phim của Nguyễn Phan Quang Bình Đặt cành quan này trong quan hệ với nhân vật người nữ, bài viết đề xuất một hướng khảo sát quá trình “giới hóa” cảnh quan trong văn học, điện ảnh Việt Nam đương đại; và sự góp phần của quá trinh giới hóa cành quan vào việc sản xuất/ tái sản xuất, chất vấn hoặc củng cố các khuôn mẫu giới.

Từ khóa: Cánh đồng bất tận, diễn ngôn, giới hóa cảnh quan, nhân vật người nữ, khuôn mẫu giới.

Abstract: Exploring the relationship between landscape and women in a comparative analysis

of the novella “Endless Field” by Nguyen Ngoc Tu and the film “The Floating Lives” by Nguyễn Phan Quang Binh, the paper argues that the process of “gendering the landscape” in contemporary Vietnamese literature and cinema makes contributions to produce/reproduce, challenge or reinforce gender stereotypes in different ways.

Keywords: Endless field, discourse, gendering landscape, female characters, gender stereotypes.

Mở đầu

Mặc dù trên thế giới, mối quan hệ giữa

giới và cảnh quan nói chung, giới và cảnh

quan trong văn học, điện ảnh nói riêng từ

lâu đã được đề cập và bàn luận*1 theo nhiều

hướng, với trường hợp Việt Nam, nghiên

cứu về chủ đề này chủ yếu tập trung vào

vai trò của cảnh quan trong việc kiến tạo

chủ nghĩa dân tộc qua các phim chiến tranh

[4] Câu hỏi về việc, trong văn học và điện

ảnh Việt Nam đưomg đại, cảnh quan đã

được giới hóa như thế nào, và quá trình

giới hóa cảnh quan này góp phần vào việc

sản xuất/ tái sản xuất, củng cố hoặc chất

vấn các khuôn mẫu giới ra sao hầu như

(>) Tg _ £)ạj học sư phạm Tp Hồ Chí Minh.

Email: minhnt@hcmue.edu.vn.

1 Có thể tham khảo một số tuyển tập, chẳng hạn [7]

Người đầu tiên đặt ra những định hướng của việc

nghiên cứu phụ nữ và cảnh quan là Janice Monk

Có thể tham khảo một sổ bài viết cùa bà, chẳng

hạn [2].

2 về nguyên tắc thì các luận cứ thuyết phục hơn chi

có thể được đưa ra khi phạm vi và quy mô dữ liệu được nghiên cứu đầy đủ Và thực tế cũng chứng minh là các tác giả nam, chẳng hạn như Nguyễn

chưa được đề cập và giải quyết Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích cảnh quan cánh đồng - vốn được cho là gắn liền với ý niệm về tự nhiên trong quan hệ với người

nữ để phần nào trả lời hai câu hỏi trên Mầu được chúng tôi lựa chọn phân tích là tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, được cài biên thành phim Cánh

đồng bất tận của đạo diễn Nguyễn Phan

Quang Bình - hai tác phẩm đặt ra rất nhiều vấn đề về cảnh quan, đồng thời gây tranh cãi cũng vì cảnh quan Lựa chọn một tác phẩm văn học nữ được đạo diễn nam cải biên, chúng tôi không dựa trên tiền giả định cho rằng, tác giả thuộc giới tính nào nhất định sẽ trình hiện về cảnh quan theo hướng ưu tiên cho sự thống trị của trật tự giới mà họ mang2 Tuy nhiên, nghiên cứu

Trang 2

44 NGHIÊN CỬU VẴN HỌC, SỐ 4-2022

này cũng hứa hẹn mở đầu cho một nghiên

cứu trường hợp thú vị có lẽ xuất hiện khá

phổ biến ở Việt Nam - tác phẩm của tác

giả nữ được đạo diễn nam cải biên Trong

khuôn khổ bài viết người viết sẽ phân tích

cảnh quan với tư cách là các kiến tạo diễn

ngôn (bằng ngôn từ và hình ảnh)1, mang

đến cho chúng ta các khả thể của việc

giới hóa cảnh quan và khuôn mẫu giới

Cả người đọc truyện và xem phim đều dễ

dàng nhận ra, tên tiếng Việt của tác phẩm

là Cánh đồng bất tận2, và cảnh quan cánh

đồng xuất hiện xuyên suốt cả trong phim

lẫn trong truyện Nhưng nếu đọc và xem

kĩ, ta sẽ nhận ra, cánh đồng trong truyện

và trong phim là hai phiên bản gần như

khác nhau hoàn toàn, về địa điểm đóng

vai trò bối cảnh, “cánh đồng” được miêu

tả trong truyện được xem là thuộc vùng Cà

Mau3, cụ thế là huyện Đầm Dơi với các

Du, góp phần rất lớn vào việc mở ra những khả thể

giới rộng mở cho người phụ nữ.

1 về một bàn luận thú vị về hướng nghiên cứu

cảnh quan trong văn học như phương thức kiến

tạo ý nghĩa trong diễn ngôn văn học, hay một

khuôn định ý hệ, khuôn định của diễn ngôn bằng

lời, có thể tham khảo James M Mellard, “Reading

“Landscape” in Literature”, The Centennial

Review, Fall 1996, Vol.40, No.3, pp.471-490, về

một bàn luận lí thuyết đối với việc nghiên cứu cảnh

quan trong điện ảnh, có thể tham khảo các lập luận

của Chris Lukinbeal trong “Cinematic Landscape”,

Journal of Cultural Geography Fall/ Winter 2005,

23(l)-3-22

2 Nguyễn Ngọc Tư cũng dùng tên này để đặt cho cả

tập truyện của mình, xuất bản lần đầu năm 2005

Bản tiếng Anh của truyện được dịch là “Endless

Field” do Hung M Duong và Jason A Picard dịch,

Nxb Trẻ, 2019 Truyện được Nguyễn Phan Quang

Bình cải biên năm 2010 với tên tiếng Anh của phim

là Floating Lives (Những cuộc đời trôi nổi).

’Nguyễn Ngọc Tư vốn sinh ra tại xã Tân Duyệt,

huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau trong một gia đình

nông dân, và chị gắn bó với vùng đất này Một năm

sau khi tác phẩm ra đời, vì có nhiều ý kiến cho rằng

địa danh được nhắc đến trực tiếp như Bàu Sen, Bìm Bịp, Trái lại, địa điểm “cánh đồng” được quay trong phim là vùng Đồng Tháp Mười, trong đó phim trường chính nằm trong Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười, thuộc xã Bình Phong Thạnh, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An Địa điểm này sau đó được khai thác thành khu du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng nhờ sự nổi tiếng của bộ phim cùng những hình ảnh thiên nhiên “đẹp như tranh vẽ” bên trong đó về đặc trưng hư cấu, cánh đồng trong truyện

là cánh đồng cháy khô, luôn thiếu nước, ngược lại, cánh đồng trong phim thì bao

la “chim trời cá nước”, cánh đồng Cà Mau trong truyện là vùng ngập mặn, váng phèn, còn cánh đồng Long An trong phim thì trù phú, cây cối xanh tươi, cánh đồng trong truyện được hình dung là đầy chứng tích của chiến tranh và cách tư duy thời chiến, cánh đồng trong phim là nơi của những địa điểm du lịch, nghỉ dưỡng Theo đó, trong truyện Nguyễn Ngọc Tư, cánh đồng là đối tượng nhận thức của chủ thể người nữ, còn trong phim của Nguyễn Phan Quang Bình, cánh đồng được đồng nhất với người nữ, trở thành một thắng cảnh (cảnh để ngắm - spectacle) như cách hình dung của Chris Lukinbeal [1, tr.ll], hay trở thành đối tượng của cái nhìn nam giới (object of the male gaze) đem lại khoái cảm thị giác (visual pleasure) theo cách hình dung của

tác phẩm của chị “phản động” và bêu xấu vùng đất quê nhà, Ban tuyên giáo tỉnh ủy Cà Mau đã yêu cầu chị phải viết kiếm điếm Sự việc này gây nên một cuộc tranh cãi khá sôi nổi về một bài phân tích thấu đáo cuộc tranh cãi xung quanh tác phẩm dưới góc nhìn diễn ngôn, có thể tham khảo bài viết của Hoàng Phong Tuấn, “Định chế và sự đọc: trường hợp tiếp nhận tác phẩm Cảnh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, in trong Văn học, người đọc,

định chế, Nxb Khoa học xã hội, 2017, tr.155-166.

Trang 3

Laura Mulvey [5, tr 14-26], một cái Khác

(the Other) như Simone de Beauvoir phân

tích Quá trình chuyển dịch ý nghĩa của kí

hiệu cánh đồng từ đối tượng gai góc, xa

lạ song mang lại nhận thức trong truyện,

thành đối tượng để thưởng thức, chiêm

ngắm trong phim cũng là quá trình cải

biên, không chỉ gắn với việc khai thác

cảnh quan thiên nhiên theo hướng thưcrng

mại hóa', mà vấn đề là đằng sau cơ chế

thương mại hóa đó thấm đầy những quan

niệm về giới, nó chi phối cách người làm

phim kiến tạo diễn ngôn về tự nhiên cũng

như con người

1 Cánh đồng - đối tượng nhận thức

trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

1.1 Cánh đồng - thiên nhiên đáp trả

thù hận bằng trừng phạt

Đọc văn bản, chúng ta thường dễ kết

luận rằng, cánh đồng là hình ảnh của thiên

nhiên Tuy nhiên, với tư cách là một trình

hiện văn hóa, một kiến tạo diễn ngôn, nghĩa

là không phải tự nhiên, ta phải đặt câu hỏi:

thiên nhiên được tạo dựng ở đây là thiên

nhiên nào? Bị chi phối bởi những ý hệ gì

về cái được coi là thiên nhiên? Trong các

áp phích cổ động về xây dựng xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam sau 1975, người ta luôn

thấy hai hình ảnh quen thuộc: một là bức

tranh những người công nhân, hậu cảnh

là nhà máy; hai là bức tranh những người

nông dân, với hậu cảnh là cánh đồng lúa

chín vàng12 Trong các kiến tạo diễn ngôn

1 về một bài viết rất thú vị theo hướng này, có thể

tham khào bài viết của Hoàng cẩm Giang “Trào

lưu quảng bá du lịch: từ những khung cảnh ‘đẹp

như tranh’ đến ý thức sinh thái của công chúng

Việt Nam”, được trình bày trong Tọa đàm “Phê

bình cảnh quan trong văn chương và điện ảnh” tổ

chức tại Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nằng, ngày

22/2/2022.

2 Tôi biết ơn TS Hoàng Phong Tuấn về gợi ý này.

3 Ý niệm này được cho là xuất phát từ những tuyên

bố rất hùng hồn của Marx về việc hiện thực hóa triết học trong đời sống, thay đổi thực tại thay vi suy tư, chiêm nghiệm mãi về thực tại: “Các triết gia

đã giải thích thế giới theo nhiều cách khác nhau, vấn đề là cần phải thay đổi nó đi”.

4 Tác già miêu tả về những con-người bình thường ấy: “Nhiều lúc tôi hơi nhớ con-người Họ ở trong cái xóm nhỏ kia, chi cách chỗ chúng tôi dựng trại vài ba công đất Họ lúc nhúc trên thị trấn kia, nơi chúng tôi vẫn thường ghé lại mua gạo, cám, mắm muối dự trữ cho những chuyến chạy đồng xa” J8.tr 184]

trên, cánh đồng mang chở ý niệm về việc cải tạo thiên nhiên và hoạt động tạo tác để xây dựng thế giới thành cái nên là (“Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” - Bài ca vỡ đất - Hoàng

Trung Thông)3 Vậy, còn trong Cánh đồng

bất tận, cánh đồng được tạo dựng trong

diễn ngôn bằng lời của Nguyễn Ngọc Tư

là cánh đồng như thế nào?

Cánh đồng xuất hiện ngay ở đầu văn bản “Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng Khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi nầy” [8, tr.163] và đến cuối, kết thúc câu chuyện vẫn là cánh đồng “ Mặt trời le lói ánh sáng trở lại khi trên đồng chỉ còn hai thân thể nhàu nhừ Ai đó vãi từng chùm chim

én lên cao, chúng cố chao liệng để khỏi phải rơi như lá” [8, tr.217] Cánh đồng có khi được hình dung là không gian sống tách biệt với thế giới của con-người, của xã-hội bình thường4 Cánh đồng ấy, được miêu tả là “hoang vắng, vắng ngắt, vắng tanh ”, không chỉ bao bọc không gian sống không lối thoát mà còn làm ngưng đọng thời gian “Lúc và cơm, tôi hay bị

ảo giác, tưởng mình đang ngồi trên cánh đồng của chín năm trước Một cánh đồng miên viễn với gió lắt lay những khối nắng

Trang 4

46 NGHIÊN CỬU VĂN HỌC, SỐ 4-2022

héo xèo, một nhúm mây rất mỏng và rời

rạc bay tha thểu trên cao” [8, tr.200J Tuy

nhiên, cánh đồng ấy, giống như bầy vịt,

không phải là tự nhiên theo nghĩa nguyên

sơ, khi nhân vật nghĩ về sự xuất hiện của

ông trưởng ấp và người cán bộ xã “Tôi

vừa sợ, vừa biết ơn những người như thế

nầy Họ làm cho chúng tôi cảm thấy bớt

hoang dã, làm chúng tôi hiểu rằng, ngay

cả trên những cánh đồng hoang liêu nhất

thì chúng tôi vẫn bị ràng buộc bằng hàng

vạn luật lệ” Như vậy, nếu xem cánh đồng

là hình ảnh của thiên nhiên, thì đó trước

hết là thiên nhiên nằm trong vòng kiềm

tỏa của những “luật lệ” của con người

Những “luật lệ” đó là luật lệ gì, hoạt động

dựa trên nguyên tắc nào? Nhà văn nhiều

lần hé lộ cho ta, đó là các nguyên tắc của

thời chiến, của bạo lực và thù hận1 Bị đối

xử theo những nguyên tắc như vậy, cánh

1 Chứng tích cùa chiến tranh và nguyên tắc của thời

chiến nhiều lần xuất hiện trong cảnh quan cánh

đồng: Khi Sương tinh dậy, và muốn đi tắm, Điền

chỉ cho chị một “hố bom cũ” [8, tr 167] Những

người đàn bà đánh ghen hành động không hề có ý

thức về khoa học và luật pháp Họ tin vào bùa chú,

và đối xử với nhau theo kiểu “luật rừng”: “Bằng

cái giọng rộn rã, giòn tan chỗ cao trào, rồi chị hết

sức chậm rãi, tỉ mi, tả cái đoạn chị dùng dao rạch

mặt cô ta và xát muối ớt vào (những người quê

mình vẫn thường làm chuyện đó rất bình thường,

sẽ buồn cười khi có ai đó nói làm vậy là vi phạm

điều X chương Y luật hình sự, họ cãi ngay, “ủa, nó

cướp chồng tui thì tui phải đánh cho tởn chớ”, với

vẻ mặt tự hào ngút ngất, tinh bơ, ngây thơ, tựa như

một người đi qua trận địa cũ và nói với ông bạn

mình, hồi năm bảy hai tui bắn thằng lính cộng hòa

ở chỗ nầy, óc nó nát như chao, con mắt văng ra xa

cà thước Ông bạn chang ớn, nói tôi cùng căt cô

thằng Mỹ ở đây chớ đâu) [8, tr 188], Khi xử lý dịch

cúm gia cầm, người ta đối xử với bầy vịt trên đồng

theo nguyên tắc chiến tranh còn xa hơn nữa, từ thời

Tam Quốc theo nguyên tắc của Tào Tháo “thà giết

lầm còn hơn tha lầm”, “dồn tất cả bầy vịt trên cánh

đồng lại và đào hố chôn” [8, tr.202].

đồng không thụ động, nằm im chịu trận một chiều mà có phản ứng Phản ứng của

nó, tương ứng với hành động kia, là sự trả thù, trừng phạt “ những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát ( ) Những cánh đồng đó,

đã hắt hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt)” [8, tr.214] Cánh đồng không thụ động mà có thái độ và sự đáp trả của riêng mình Từ góc nhìn của Nương, cánh đồng trả thù bằng cách làm cho Điền trở nên biến dạng, không thể trở thành một người đàn ông bình thường “Và tôi chợt nghĩ, sự bất thường của Điền, chẳng qua nằm trong chuồi rất dài của sự trừng phạt” Không những thế, “ thiên nhiên ngày càng trở nên hung dữ hơn, khắc nghiệt hơn Bằng những sấm chớp, gầm gừ, dường như trời đất đã nín nhịn nhiều, cuồng nộ bắt đầu rồi đây, Có lần, tôi lấy cao su gói lại mớ mùng chiếu, nhìn mưa thè cái lưỡi ướt nhão nhớt vào lều, khoái trá nếm từng tấc đất, tôi tự hỏi, không biết chỗ khác (chồ không có chúng tôi) có mưa nhiều như vầy không Ý nghĩ đó xuất hiện triền miên trong đầu tôi, rằng trời chỉ trút mưa, trút nắng ở nơi chúng tôi dừng chân lại” [8, tr.200] Như thế vẫn chưa đủ, cánh đồng

từ chối và trút hận thù lên bầy vịt, những đối tượng duy nhất mang lại cho chị em Nương niềm vui và sự an ủi, những “đồng loại” duy nhất của hai đứa trẻ: “Gió chướng trở ngọn, trên những cánh đồng ủ

ê tin buồn Chúng tôi nghe được một cụm

từ lạ, dịch cúm gia cầm Đòn thù cuối

cùng, nó giáng lên Nương, vì trên cánh đồng này, chỉ toàn những đứa trẻ tên Hận, tên Thù, và những tên Hận, tên Thù đó đã cưỡng bức cô trước sự chứng kiến bất lực, tủi nhục của người cha

Như vậy, trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, nếu cánh đồng là hình ảnh của

Trang 5

thiên nhiên, thì đó là thiên nhiên phải hứng

nhận những quy tắc ứng xử của con người,

và đến lượt, nó phản ứng cũng bằng hận

thù và bạo lực, bằng sự trừng phạt Đó là

thiên nhiên báo thù, trừng phạt, vì tất cả

những gì thiên nhiên ấy nhận được là sự

thù hận của con người Cánh đồng ở đây

đóng vai trò là một “không gian” (space),

hay rộng hon, một “thế giới”, là bối cảnh

của toàn bộ văn bản hư cấu, một xã hội

hậu chiến, dù đã hòa bình song vẫn vận

hành bằng các nguyên tắc ứng xử của

thời chiến; trong đó, bạo lực, ăn miếng trả

miếng, giết nhầm còn hon bỏ sót là điểm

nổi bật Ta biết được các nguyên tắc chiến

tranh này là nguyên tắc do nam giới đặt

ra Bên cạnh đó, dựa vào cách miêu tả, ta

được biết cánh đồng này mang giới tính

nữ: cánh đồng “chia cắt” [8, tr.210] (sau

khi Sưong và Điền - đứa em trai không

bao giờ trở thành đàn ông của Nương bỏ

đi), cánh đồng “ngoa ngoắt” [8, tr 213]

(từ chỉ dùng để miêu tả phụ nữ), cánh đồng

“trừng phạt” (vì “nỗi bẽ bàng của những

người đàn bà bị cha tôi bỏ rơi (và cộng

thêm niềm đau vỡ của những người quây

quanh họ) đã thấu qua những tầng mây”)

để rồi trở thành cánh đồng “thù hận” [8, tr

214] và “Bất Tận” [8, tr.213], Cho nên, có

ý kiến cho rằng, đây là sự trừng phạt của

người mẹ - tự nhiên, và cuộc đời du mục

trên cánh đồng chỉnh là hành trình vô vọng

mong về với người mẹ - tự nhiên ban sơ,

như người mẹ ban đầu thuở ấu thơ của hai

đứa trẻ1 1 Nhưng có phải vậy hay không?

1 Trong một nghiên cứu về văn bản từ góc nhìn nữ

quyền luận sinh thái, một tác giả rút ra kết luận:

“Tóm lại, từ góc nhìn lí thuyết nữ quyền sinh thái,

ta có the gọi Cánh đồng bất tận là cuộc hành trình

khắc khoải nhưng vô vọng đi tìm lại bàn sắc giới

tính, tình yêu và sự hòa hợp giới tính, sự nảy nở sinh

sôi trong một thế giới cằn cỗi, vô sinh, hoang hóa

của thời hiện đại, khi con người đã mất đi khả năng

giao tiếp với chính mình trong quá trình hủy diệt thế giới tự nhiên” [6] Tuy nhiên, các nghiên cứu dựa trên tiền giả định về một “bản sắc giới tính” cố định, tiên nghiệm phần lớn đã bị các nhà nữ quyền luận làn sóng thứ ba chất vấn và vượt qua.

2 về một sự đồng nhất khác của hình tượng cánh đồng, có thể tham khảo bài viết của Đoàn Ánh Dưoưg “Môi trường và nhân tính: tự sự của

Nguyễn Ngọc Tư trong Cánh đồng bất tận”, in

trong Không gian văn học đương đại, Nxb Phụ

nữ, 2014, tr 129-156.

Hành trình lưu lạc trên cánh đồng có đơn thuần là hành trình tìm kiếm hay mong về với mẹ, hay thực ra còn mang một ý nghĩa nào khác?

Nhìn tổng thể, câu chuyện giống như một tiểu thuyết giáo dục, tiểu thuyết về

sự trưởng thành (bildungsroman) của con người Cánh đồng chính là nơi diễn ra sự trưởng thành đó Nhìn từ phương diện này, cánh đồng mang đến nhận thức Trong

“tiểu thuyết giáo dục” của Nguyễn Ngọc

Tư, cánh đồng được kiến tạo như là cái Khác (the Other), cùng với người mẹ, góp phần vào quá trình của chủ thể nữ hiện thực hóa chính mình

1.2 Cánh đồng và người mẹ - cái Khác của chủ thể ham muốn

Như trên đã nói, người đọc truyện dễ dàng nhận ra những nét tương đồng giữa cánh đồng và người mẹ2, và có người hiểu hành trình trên cánh đồng là hành trình khắc khoải vô vọng tìm về với người mẹ ban đầu, giống như tìm về với mẹ thiên nhiên nguyên sơ của con người hiện đại Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, liệu có một cánh đồng nguyên sơ, tồn tại trước khi

có sự tác động của luật gia trưởng hay không? Có cánh đồng được đồng nhất với người mẹ hay không? Khi cánh đồng được hình dung như vậy, nó được kiến tạo như thế nào?

Trang 6

48 NGHIÊN cửu VẪN HỌC, SỐ 4-2022

Lưu ý là vấn đề của nhân vật trong

văn bản cũng không phải là vấn đề “tìm

lại” người mẹ hay tự nhiên, vì người mẹ

ấy, tự nhiên ấy, ngay từ ban đầu đã đầy

đau khổ, và nhân vật luôn phủ định khả

năng mình sống lặp lại đời của mẹ', luôn

tìm cách chối bỏ những đặc điểm của mẹ1 2,

ngay cách hình dung gặp lại mẹ cũng thật

mong manh, cho dù có gặp, thì nhiều khả

năng là bi kịch, khi mẹ con không nhận

được ra nhau3, vấn đề thực sự đối với

1 Khi người cha cuối cùng hối hận, ông bán bầy vịt

và sắm cho con gái một chiếc nhẫn vàng “Đe dành

khi đi lấy chồng ” Nương đã “sặc ra một bụm

cười, trời ơi, tôi biết lấy ai bây giờ” Và đây là suy

nghĩ của cô: “Suốt những tháng năm sống tù đọng

trên đồng, tôi có biết ai ngoài những người đàn ông

quê mùa cũ kỹ Tôi biết lấy ai trong số đó? ( )

Tôi lấy ai bây giờ, một người thợ gặt? Một anh

chạy đò? Ý nghĩ minh là bản sao của má làm tôi sợ

Tôi không chắc minh có đủ kiên nhẫn sống cuộc

sống nghèo túng, nhàm chán ấy suốt đời, hay nửa

chừng bò dờ Và bi kịch chất đống lên những người

ở lại” [8, tr.212] Rõ ràng, trong thâm tâm, Nương

đã phú nhận, từ chối khả thê cùa việc trờ thành bản

sao của mẹ minh Cô chưa bao giờ có suy nghĩ về

việc sẽ tìm lại mẹ mình như trước kia Vì người

mẹ ấy, ngay từ đầu đã luôn sống trong nước mắt

và tiếng thở dài, chưa bao giờ hạnh phúc Sau này,

càng trưởng thành, cô càng đồng cảm với mẹ và kết

quả là không muốn sống cuộc đời của mẹ.

2 Khi bị cha đánh, Nương tự hỏi minh đã có hành

động cử chi gì giống mẹ Và suy nghĩ của cô cho

ta thấy rằng, cô đã chối bò, xóa sạch mọi dấu hiệu

cho thấy cô giống mẹ trên mình: “Có bữa, nừa đêm

thằng Điền thức giấc, nhìn thấy tôi day lưng lại lui

cui vá áo, nó thảng thốt kêu “Má ơi!” Tôi cảm thấy

mình thất vọng đến rà rời Những thói quen, những

cái gì liên quan đến má tôi phủi gần sạch rồi, nhưng

tôi làm sao có the từ bò hình hài nay” [8, tr 183],

’ “Những chiều ghe chúng tôi đi ngang qua những

người đàn bà ngồi giặt giũ dưới bến sông, tôi hay

hỏi lòng, có phải tôi vừa ngang qua má đó không

Tôi cố giữ trong lòng hình ảnh má nhưng rồi ngày

càng tuyệt vọng khi thấy nó nhạt nhòa dần, cứ nghĩ

mai nầy gặp lại mà không nhận ra nhau, lòng nghe

buồn thiệt buồn” [8, tr 174],

nhân vật là vấn đề của sự nhận thức, sự hiểu và hòa giải

Người mẹ cũng như cánh đồng, là nhân vật duy nhất trong văn bản không được đặt tên Vì sao? Vì cũng như cánh đồng, mẹ cần được nhận thức, được hiểu,

và được đặt tên theo những trải nghiệm, những sự hiểu ấy Cho nên, hành trình đặt tên cho cánh đồng cũng đồng thời là hành trình hiểu về mẹ, hòa giải với người mẹ, và

là hành trình trở thành người mẹ của nhân vật chính

Nếu có sự đồng nhất giữa mẹ với tự nhiên ở đây, thì vấn đề không phải là ao ước vô vọng quay trở lại với tự nhiên ban sơ nguyên thủy, với người mẹ ban đầu, mà vấn đề là phải hiểu tự nhiên ấy, người mẹ ấy, để trường thành Quá trình hiểu này cần sự trải nghiệm và đặt mình vào vị trí của đối tượng Cũng giống như hành trình trưởng thành trên cánh đồng, Nương đã có ba lần đồng nhất với mẹ, để hiểu ra những khổ đau và bất hạnh của người mẹ ấy Lần thứ nhất là khi nghe cha mia mai Sương, Nương trải nghiệm cảm giác của mẹ khi bản thân cô cũng từng đay nghiến bà như vậy, thấm thìa sâu sắc hơn tình cảnh của mẹ Lần thứ hai là khi Sương bỏ đi, cũng giống như người mẹ

bỏ đi trong khi còn đầy tình thương yêu với người ở lại, Nương hiểu ra lòng mẹ tan nát, bẽ bàng ra sao Lần thứ ba là khi

bị cường hiếp, “Nhung lúc này, cảm giác thật đơn điệu Đầu tiên là sự xé toạc, và

từ rách nát, đau đớn như lũ kiến cánh được giải thoát, chúng bò rân khắp thân thể, tôi thấy mình đang chết Rồi kí ức

ùa về kinh hãi, vẻ mặt má tôi cái hôm bị người đàn ông bán vải đo lên người hình như không phải là khoái lạc thăng hoa, nó giống như tôi bây giờ, đau ràn rụa, nhói tận chân tóc” [8, tr.217] Và cũng cần

Trang 7

lưu ý là, người mẹ này có sự lựa chọn, tự

quyết của mình Cho nên, nếu có sự đồng

nhất mẹ - tự nhiên ở đây, thì tự nhiên đó

không phải một tự nhiên vô tri, để con

người mặc sức khai thác, chà đạp, mà là

một tự nhiên có cảnh ngộ, có khát vọng,

có hỉ nộ ái 0, và có quyền lựa chọn ra

đi, rời bỏ con người khi con người không

hiểu, không biết trân trọng những gì tự

nhiên mang lại Neu tự nhiên không hề là

một tự nhiên thoát khỏi những ràng buộc,

luật lệ gia trưởng, thì người ta lại phải đặt

lại câu hỏi về người mẹ và việc làm mẹ:

làm mẹ có phải điều tự nhiên không, hay

đó cũng là một sự cưỡng bức? Cũng như

vậy, “bà mẹ tự nhiên” có bản năng “làm

mẹ” của con người hay không, hay chính

con người cũng đã “cưỡng bức” bà mẹ

đó trở thành mẹ, để đẩy tự nhiên vào bi

kịch?1 Nhìn từ khía cạnh này, tác phẩm

của Nguyễn Ngọc Tư đồng thời chất vấn

hai ý hệ: tự nhiên như một người mẹ và

làm mẹ là một điều tự nhiên

1 Ý niệm về sự cưỡng bức khá rõ trong văn bản, và

cuối cùng, chính Nương đã bị “cường bức” để buộc

phải trở thành một người mẹ, hái với mong muốn

của cô Cô vốn trước đó mới chớm nghĩ đến việc

thương yêu một người đàn ông nào đó “tôi vừa le

lói nhìn thấy con đường dẫn đến cuộc sống bình

thường, tôi vừa nghĩ, trên con đường đó, sẽ gặp

người con trai nào đó để thương yêu” [8, tr.216]

trong khi luôn cự tuyệt khả thể là sẽ lấy chồng.

Chính ở chỗ này, cánh đồng trong

truyện khác với cánh đồng trong phim

Neu cánh đồng trong truyện là cái Khác,

là đối tượng nhận thức, là người mẹ mà

người nữ cần thấu hiểu để có thể làm mẹ,

thì cánh đồng trong phim lại được đồng

nhất với nữ tính nói chung, cả hai đều trở

thành cảnh để ngắm nhìn, là đối tượng tính

dục thỏa mãn khoái cảm thị giác của người

xem mang cái nhìn nam giới

2 Cánh đồng - thắng cảnh trong phim của Nguyễn Phan Quang Bình

Bước chuyển từ truyện sang phim là bước chuyển từ cánh đồng bằng ngôn từ sang cánh đồng bằng hình ảnh Đó cũng

là bước chuyến từ thiên nhiên đồng khô

cỏ cháy, đầy khắc nghiệt thành thiên nhiên đẹp đẽ, “chim trời cá nước” để ngắm nhìn, thưởng thức và khai thác

Nguyễn Ngọc Tư mô tả đời sống các nhân vật trong truyện của mình mang đặc trưng là sự thiếu nước Ngược lại, bộ phim của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình mang đặc trưng chan chứa nước Nước ở khắp nơi Đặc biệt, khi cánh đồng hợp nhất với người phụ nữ, nước trở thành hình ảnh khắc họa rõ thêm vẻ đẹp thân thể

và vai trò gợi dục của họ Ở đây, chúng tôi sẽ phân tích hai cảnh (scene) không có hoặc khác với trong truyện, được những người làm phim tạo ra để thấy sự đồng nhất này: một là cảnh Sương tắm trong

hồ sen; hai là cảnh Nương ngồi dưới mưa trong quan hệ với cấu trúc tự sự sau đó của bộ phim

2.1 Hồ sen trong đồng - mô tip non chon định vị bản sắc nữ

Ở trong truyện, cảnh này chủ yếu có mối liên hệ về ý nghĩa với cảnh đánh ghen trước đó: “Đó là một hố bom cũ, bình bát mọc quanh, rau muống chằng chịt phủ kín mặt nước, cọng rau ốm nhằng, đỏ au Chỗ này, hôm qua, Điền đã câu được những con cá thát lát ú mềm Chị trầm mình dưới

đó rất lâu, chẳng kỳ cọ gì, chỉ để nước lạnh chườm dịu lại những chồ đau Lúc chị lên

bờ, tôi thấy máu lợn cợn theo những giọt nước nhỏ xuống giữa hai đùi, chắc chị

đã làm gì với chồ keo dán ác nghiệt ấy Rồi cũng lâu lắc, cũng cà nhắc từng bước ngắn như lúc đi, chị với tôi quay lại bờ

Trang 8

50 NGHIÊN CỬU VÃN HỌC, SỐ 4-2022

kinh Điền hí hửng khi thấy chị chịu mặc

chiếc áo sơ-mi thẫm phèn và cái quần cụt

quăn queo của nó” Trong truyện, Nguyễn

Ngọc Tư chỉ cho ta hai thông tin: một, địa

điểm tắm “hố bom cũ” - dấu tích của chiến

tranh; hai, đây là nơi giải quyết hậu quả

cho một “cuộc chiến” khác, cuộc chiến

của những người đàn bà trong thời bình,

cũng đau đớn, cũng đổ máu, cũng man rợ

không kém gì cuộc chiến kia Không có

một dòng nào về thân thể người đàn bà lộ

ra trong khi tắm

Trong phim, cảnh (scene) này kéo dài

khoảng gần một phút, gồm 9 cảnh quay

(shot), và ý nghĩa không nằm trong quan

hệ với chuyện đánh ghen, mà gắn với một

loạt các cảnh nói lên vẻ đẹp của thiên

nhiên và người nữ trong phim Cảnh tắm

của Sương bắt đầu bằng cảnh quay trung

cận cảnh việc giặt giũ, sau đó là gương

mặt hồn nhiên của Nương đang ngồi trên

thuyền, thực hiện hoạt động của đời sống

ngày thường: giặt giũ Sau đó, máy quay

lia mở rộng không gian, chuyển sang một

vị trí khác, cho ta thấy không gian rộng

lớn, thơ mộng hơn của hồ sen, và tập trung

vào góc phía bên trái, nơi Sương để mình

trần, lấp ló giữa đám lá và hoa sen, đang

khẽ té nước lên người Máy quay tiến

gần hơn, cho người xem nhìn rõ những

vết thương trên vai phải của chị Sau đó,

cảnh quay được cắt sang hoạt động của

Nương, tạo ra sự đối lập giữa hai người

phụ nữ trong cùng một cảnh quan: một

thiếu nữ ngây thơ và một người đàn bà

từng trải Cảnh quay thứ tư cắt sang hình

ảnh Sương đưa tay xuống dưới, vẻ mặt

đau đớn Ngay sau đó là cảnh mặt nước

nổi lên màu đỏ, ta hiểu là máu từ cửa

mình cùa Sương, có màu cùng màu với

hoa sen, nổi lên giữa đám lá sen Cảnh

quay thứ sáu là cảnh Sương ngửa mặt lên

trời, đau đớn hét lên Trong động tác đó,

cô đồng thời để lộ bầu vú căng tròn lấp ló Trong khung hình này, hình dáng và màu sắc của bầu vú tương đồng với hình dáng

và màu sắc của hai búp sen chưa nở vươn lên từ mặt nước, ở ngay bên cạnh, đang chĩa vào bầu vú Sương Khi ườn ngực lên, nửa thân trên để trần, chị đồng thời cũng khoe ra vẻ đẹp của cổ và vai (điều

sẽ được nhấn mạnh sau đó trong đoạn ở trong thuyền với Điền, và được lặp lại ở Nương trong cảnh khi cô bị cường hiếp), giữa các bông sen đã nở Máy quay được đặt sao cho người xem chỉ nhìn thấy phần thân thể trắng ngần, căng tròn và đẹp đẽ của nhân vật (thay vì quay từ phía sau

để nhìn thấy vết thương trên vai, hay tập trung vào đường nét của những đau đớn khôn tả trên khuôn mặt) Âm thanh tiếng hét dù để nhấn mạnh sự đau đớn, nhưng hình ảnh, ánh sáng hoàn toàn nhằm biểu

lộ vẻ đẹp cơ thể Cảnh quay thứ bảy là cảnh Nương nghe tiếng hét, liền đứng dậy hỏi “chị có sao không”, và cảnh thứ tám lại cắt sang nhấn mạnh hình ảnh Sương thân trần giữa hồ sen lần nữa, trước khi cắt sang cảnh quay cuối, toàn cảnh từ góc quay trên cao, cho thấy toàn bộ hồ sen

và vị trí, dáng vẻ của hai người phụ nữ Ngay sau đó là một cảnh hoàng hôn và chiều muộn đẹp như tranh vẽ

Cảnh hồ sen - mô tip nơi chốn định vị bàn sắc nữ

Ngôn ngữ điện ảnh của đoạn này trong phim nói cho chúng ta biết rất

Trang 9

nhiều điều về cảnh quan cùng vai trò của

nó trong việc giới hóa nhân vật Có thể

nói, việc thay đổi không gian từ “hố bom

cũ” - hình ảnh của chiến tranh và những

nguyên tắc thời chiến vẫn đang vận hành

trong xã hội hậu chiến, tác động đến suy

nghĩ, hành xừ và đời sống của người phụ

nữ - sang hồ sen là một lựa chọn hữu ý

của nhà làm phim để biểu đạt ý nghĩa

Trong tâm thức của người Việt, sự gắn

bó giữa sen và vẻ đẹp của người nữ -

thường là thiếu nữ đã trở nên phổ biến

đến mức, ngay ở thời điểm hiện tại, ta

vẫn bắt gặp rất nhiều hình ảnh các chị các

mẹ các em thường ra hồ sen chụp hình,

đăng Facebook mồi mùa sen nở Trong

văn học bác học, từ các nhà thơ cổ điển

Trung Quốc như Lý Bạch, Đồ Phủ, đến

đại thi hào Việt Nam là Nguyền Du đều

có rất nhiều thơ về sen và người nữ Hoa

sen đặt bên cạnh người phụ nữ thường

mang hai ý nghĩa, một là thiếu nữ hái

sen, giặt áo bên hồ sen biểu đạt vẻ đẹp

thanh tân, giản dị mà quyến rũ Hai là ngó

sen, thân sen đứt mà chăng dễ lìa tượng

trưng cho tơ tình nhi nữ vương vấn người

quân tử mãi không thôi Trong văn học

dân gian, sen tượng trưng cho sự cao

khiết, thanh sạch của những con người

sổng trong lao khổ mà không để mất đi

phẩm chất thanh cao “Trong đầm gì đẹp

bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen

nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh/

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”1

Ý nghĩa về sự thanh tao, thơm mát này

đi vào trong nghệ thuật thưởng trà của

người Việt nói riêng, người phương Đông

1 Bên cạnh đó, sen còn mang nhiều ý nghĩa biểu

tượng trong Phật giáo - tôn giáo phổ biến và có đời

sống lâu bền trong tâm hồn người Việt, nhưng đó

không phải là trọng tâm của những điều được đem

ra bàn ở đây.

2 Trong Truyện Kiều có cảnh Kiều tắm cho Thúc

Sinh ngắm, nhưng đây lại là chuyện khác.

nói chung thông qua các trang viết của Nguyễn Tuân và các phim cổ trang, cung đình đương đại, trong nghệ thuật thưởng trà, người ta thường lấy nước pha trà là những giọt sương đọng trên lá sen buổi sớm mai Mang chở cả sức nặng văn hóa của hình tượng như vậy, trong cảnh hồ sen ta thấy hiện diện cả hai khuôn mẫu quen thuộc trong nghệ thuật bác học lẫn dân gian: thiếu nữ giặt áo và người đàn

bà “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Thông thường, đối với người Kinh, hoạt động tắm, đặc biệt với phụ nữ, dù không diễn ra trong không gian riêng tư, được che kín, và vào thời gian buổi tối, thì cũng không có mục đích nhằm để khoe thân, phục vụ cho cái nhìn của số đông2 Nhưng cảnh phim cho ta thấy một người phụ nữ tắm trong không gian công cộng, giữa thanh thiên bạch nhật, với ánh sáng tràn trề và góc quay từ chi tiết đến toàn cảnh Điều này, từ góc nhìn của Laura Mulvey, góp phần thỏa mãn khoái cảm thị giác cho người xem là nam giới Trong cảnh này, có thể nhận thấy cái nhìn của khán giả đồng nhất với cái nhìn của con mat camera được giả định là nam giới, và đều thỏa mãn khoái cảm mang màu sắc thị dâm khi họ có thể công khai quan sát chi tiết một người phụ nữ đang thực hiện hoạt động cá nhân và để lộ những bộ phận thân thê gợi cảm của mình

Trong trường hợp này, ta thấy cảnh quan không chỉ là yếu tố làm nền cho nhân vật mà còn tham gia vào việc kiến tạo bản sắc giới: có một thiếu nữ ngây thơ bên hồ sen giặt áo, củng cố khuôn mẫu giới về phụ nữ gắn với vẻ đẹp thanh tân trong lao động Bên cạnh đó, ta có một người phụ

Trang 10

52 NGHIÊN CỬU VẰN HỌC, số 4-2022

nữ đẹp trong đau khổ, máu nổi lên từ bùn

thành một đóa sen Các tự sự về nhân vật

sau đó làm rõ thêm ý này Tóm lại, cảnh

quan trong phim góp phần củng cố hai

khuôn mẫu giới: phụ nữ gắn với vẻ đẹp1,

và cái đẹp ấy là cái đẹp của thân thể, của

tuổi trẻ Phụ nữ gắn với việc chịu đựng, gìn

giữ những phẩm chất cao quý dù họ sống

trong hoàn cảnh bùn lầy Ngay cả những

nồi đau, những nghịch cảnh của họ cũng

được mĩ hóa, trở thành cái đẹp Sự đồng

nhất giữa người nữ với cảnh quan như là

cảnh để ngắm cho đã mắt được thể hiện rõ

hơn trong các cảnh phim sau đó, với ẩn dụ

người nữ và đồng lúa

1 Cách hình dung về người mẹ trong phim cũng

nằm chung trong xu hướng này Trong truyện

Nguyễn Ngọc Tư, mẹ là một câu đố bất khá giải:

mẹ từ đâu đến, quá giang cha một đoạn xong mẹ đi

đâu, rốt cuộc vì sao mẹ lựa chọn ra đi, cho đến cuối

truyện, ta vẫn không có được câu trả lời chắc chắn

Ngược lại trong phim, tính phức tạp này của mẹ

bị giản lược đi, khi Sương hỏi “Mẹ em thế nào?”,

Nương chì trà lời “Mẹ đẹp lắm”.

2.2 Thiếu nữ và lúa từ đương thì đến

chỉn vàng - sự thỏa mãn khoái cảm thị giác

Khác với thời gian trong truyện

thường bị đảo lộn, chỉ được đánh dấu

bằng vài mốc theo mùa “Mùa khô năm tôi

mười ba tuồi” [8, tr 185] hay “Trời đất ủ

dột nhìn mưa vào mùa” [8, tr.193], thời

gian trong phim được tính từ lúc Sương

xuất hiện và đi theo vòng tuần hoàn sinh

trưởng của cánh đồng Sương ra đi vào

mùa gặt lúa, khi đàn vịt bị đốt cùng với

rạ rơm, khói nghi ngút khắp đồng, và

bóng chị khuất trong đám cò cao Sau đó

là những khung hình lặp lại cảnh buồn

tẻ chỉ có hai cha con đi hết con kinh này

đến con kinh kia cho đến khi mùa mưa

tới Cảnh thiếu nữ dưới mưa bắt đầu bằng

một khung hình đẹp như mơ, cây cầu vo

gạo ngay bên dòng nước, những giọt mưa nhẹ rơi Sau đó là cảnh quay Nương bước chân lên cầu, với tay lấy chiếc nồi như chuẩn bị rửa hay vo gạo Rồi sau đó là cảnh thiếu nữ ngồi bên cầu, ngửa mặt đón lấy những giọt mưa Góc quay tiến đến trung cận cảnh ghi lấy hình từ ngực trở lên, Nương rướn thân lên đón mưa, vẻ mặt đang tận hưởng khoảnh khắc đẹp của đất trời Cảnh quay kết thúc bằng góc quay

từ trên cao, thu lấy toàn bộ cơ thể thiếu

nữ đương thì, quần áo vì đẫm nước nên dính chặt vào người để lộ những đường cong của thân thế, trước khi hiệu ứng mờ chồng chuyển sang cành hoàng hôn trên con kinh Cảnh quay này, cũng giống như đoạn tắm hồ sen, đồng nhất cảnh quan - cây cầu nhỏ trên mặt nước nổi những lá sen trong mưa với vẻ đẹp của người thiếu

nữ, ánh sáng chủ chiếu thăng trước mặt để làm nổi rõ phần cổ và những đường cong của cơ thể nhân vật nữ Cảnh này không khác cảnh tắm là mấy, vì dưới tác động của nước ướt đẫm mình, quần áo Nương dính sát vào người để khán giả nhìn rõ cơ thể cô qua lần áo mỏng Liên kết cảnh này với các cảnh ngay phía sau trong trình tự cốt truyện của bộ phim, thân hình Nương vươn ra dưới mưa không khác gì cây lúa đương thì, vì ngay sau đó là “mùa đẹp nhất trong năm - mùa lúa chín vàng”

Cảnh dưới mưa - thiếu nữ rướn thân như cây lúa đương thì

Ngày đăng: 02/11/2022, 09:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Chris Lukinbeal, “Cinematic Landscape”, Journal of Cultural Geography Fall/ Winter 2005,23 (1): 3-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cinematic Landscape”, "Journal of Cultural Geography
[2] Janice Monk, “Approaches to the Study of Women and Landscape”, Environmental Review:ER, Spring, 1984, Vol. 8, No. 1, Special Issue:Women and Environmental History (Spring, 1984), pp.22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Approaches to the Study of Women and Landscape”, "Environmental Review: ER, Spring
[3] James M. Mellard, “Reading “Landscape” in Literature”, The Centennial Review, Fall 1996, Vol. 40, No.3, pp.471-490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reading “Landscape” in Literature”, "The Centennial Review
[4] Lan Duong, “Gender, affect, and landscape: wartime films from Northern and Southern Vietnam”, Inter-Asia Cultural Studies, 2014, Vol. 15, No. 2, pp.258-273 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gender, affect, and landscape: wartime films from Northern and Southern Vietnam”, "Inter-Asia Cultural Studies
[5] Laura Mulvey (1989),“Visual Pleasure and Narrative Cinema”, Visual Pleasure and other Pleasures, pp. 14-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Visual Pleasure and Narrative Cinema”, "Visual Pleasure and other Pleasures
Tác giả: Laura Mulvey
Năm: 1989
[6] Phạm Ngọc Lan: “Tìm về với mẹ thiên nhiên: Cảnh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái”, nguồn: hcmup.edu.vn, đăng ngày 25/10/2016, truy cập ngày 24/1/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về với mẹ thiên nhiên: "Cảnh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái
[7] Lorraine Dowler, Josephine Carubia và Bonj Szczygiel chủ biên (2005), Gender and Landscape: Renegotiating Morality and Space, Routledge Taylor & Francis Group Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gender and Landscape: Renegotiating Morality and Space
Tác giả: Lorraine Dowler, Josephine Carubia và Bonj Szczygiel chủ biên
Năm: 2005
[9] Hoàng Phong Tuấn (2017), “Định chế và sự đọc: trường hợp tiếp nhận tác phẩm Cánh đồng bất tận' của Nguyễn Ngọc Tư, in trong Văn học, người đọc, định chế, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định chế và sự đọc: trường hợp tiếp nhận tác phẩm "Cánh đồng bất tận'" của Nguyễn Ngọc Tư, in trong "Văn học, người đọc, định chế
Tác giả: Hoàng Phong Tuấn
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w