TRONG CẢNH ĐÒNG BẤT TẬN TỪ TRUYỆN CỦA NGUYỄN NGỌC Tư SANG PHIM CỦA NGUYỄN PHAN QUANG BÌNH NGUYỀN THỊ MINHÍ Tóm tắt: Bài viết phân tích cảnh quan được cho là gắn với tự nhiên trong tác
Trang 1TRONG CẢNH ĐÒNG BẤT TẬN TỪ TRUYỆN
CỦA NGUYỄN NGỌC Tư SANG PHIM CỦA
NGUYỄN PHAN QUANG BÌNH
NGUYỀN THỊ MINH(Í)
Tóm tắt: Bài viết phân tích cảnh quan được cho là gắn với tự nhiên trong tác phẩm Cánh đồng
bất tận, từ truyện của Nguyễn Ngọc Tư sang phim của Nguyễn Phan Quang Bình Đặt cành quan này trong quan hệ với nhân vật người nữ, bài viết đề xuất một hướng khảo sát quá trình “giới hóa” cảnh quan trong văn học, điện ảnh Việt Nam đương đại; và sự góp phần của quá trinh giới hóa cành quan vào việc sản xuất/ tái sản xuất, chất vấn hoặc củng cố các khuôn mẫu giới.
Từ khóa: Cánh đồng bất tận, diễn ngôn, giới hóa cảnh quan, nhân vật người nữ, khuôn mẫu giới.
Abstract: Exploring the relationship between landscape and women in a comparative analysis
of the novella “Endless Field” by Nguyen Ngoc Tu and the film “The Floating Lives” by Nguyễn Phan Quang Binh, the paper argues that the process of “gendering the landscape” in contemporary Vietnamese literature and cinema makes contributions to produce/reproduce, challenge or reinforce gender stereotypes in different ways.
Keywords: Endless field, discourse, gendering landscape, female characters, gender stereotypes.
Mở đầu
Mặc dù trên thế giới, mối quan hệ giữa
giới và cảnh quan nói chung, giới và cảnh
quan trong văn học, điện ảnh nói riêng từ
lâu đã được đề cập và bàn luận*1 theo nhiều
hướng, với trường hợp Việt Nam, nghiên
cứu về chủ đề này chủ yếu tập trung vào
vai trò của cảnh quan trong việc kiến tạo
chủ nghĩa dân tộc qua các phim chiến tranh
[4] Câu hỏi về việc, trong văn học và điện
ảnh Việt Nam đưomg đại, cảnh quan đã
được giới hóa như thế nào, và quá trình
giới hóa cảnh quan này góp phần vào việc
sản xuất/ tái sản xuất, củng cố hoặc chất
vấn các khuôn mẫu giới ra sao hầu như
(>) Tg _ £)ạj học sư phạm Tp Hồ Chí Minh.
Email: minhnt@hcmue.edu.vn.
1 Có thể tham khảo một số tuyển tập, chẳng hạn [7]
Người đầu tiên đặt ra những định hướng của việc
nghiên cứu phụ nữ và cảnh quan là Janice Monk
Có thể tham khảo một sổ bài viết cùa bà, chẳng
hạn [2].
2 về nguyên tắc thì các luận cứ thuyết phục hơn chi
có thể được đưa ra khi phạm vi và quy mô dữ liệu được nghiên cứu đầy đủ Và thực tế cũng chứng minh là các tác giả nam, chẳng hạn như Nguyễn
chưa được đề cập và giải quyết Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích cảnh quan cánh đồng - vốn được cho là gắn liền với ý niệm về tự nhiên trong quan hệ với người
nữ để phần nào trả lời hai câu hỏi trên Mầu được chúng tôi lựa chọn phân tích là tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, được cài biên thành phim Cánh
đồng bất tận của đạo diễn Nguyễn Phan
Quang Bình - hai tác phẩm đặt ra rất nhiều vấn đề về cảnh quan, đồng thời gây tranh cãi cũng vì cảnh quan Lựa chọn một tác phẩm văn học nữ được đạo diễn nam cải biên, chúng tôi không dựa trên tiền giả định cho rằng, tác giả thuộc giới tính nào nhất định sẽ trình hiện về cảnh quan theo hướng ưu tiên cho sự thống trị của trật tự giới mà họ mang2 Tuy nhiên, nghiên cứu
Trang 244 NGHIÊN CỬU VẴN HỌC, SỐ 4-2022
này cũng hứa hẹn mở đầu cho một nghiên
cứu trường hợp thú vị có lẽ xuất hiện khá
phổ biến ở Việt Nam - tác phẩm của tác
giả nữ được đạo diễn nam cải biên Trong
khuôn khổ bài viết người viết sẽ phân tích
cảnh quan với tư cách là các kiến tạo diễn
ngôn (bằng ngôn từ và hình ảnh)1, mang
đến cho chúng ta các khả thể của việc
giới hóa cảnh quan và khuôn mẫu giới
Cả người đọc truyện và xem phim đều dễ
dàng nhận ra, tên tiếng Việt của tác phẩm
là Cánh đồng bất tận2, và cảnh quan cánh
đồng xuất hiện xuyên suốt cả trong phim
lẫn trong truyện Nhưng nếu đọc và xem
kĩ, ta sẽ nhận ra, cánh đồng trong truyện
và trong phim là hai phiên bản gần như
khác nhau hoàn toàn, về địa điểm đóng
vai trò bối cảnh, “cánh đồng” được miêu
tả trong truyện được xem là thuộc vùng Cà
Mau3, cụ thế là huyện Đầm Dơi với các
Du, góp phần rất lớn vào việc mở ra những khả thể
giới rộng mở cho người phụ nữ.
1 về một bàn luận thú vị về hướng nghiên cứu
cảnh quan trong văn học như phương thức kiến
tạo ý nghĩa trong diễn ngôn văn học, hay một
khuôn định ý hệ, khuôn định của diễn ngôn bằng
lời, có thể tham khảo James M Mellard, “Reading
“Landscape” in Literature”, The Centennial
Review, Fall 1996, Vol.40, No.3, pp.471-490, về
một bàn luận lí thuyết đối với việc nghiên cứu cảnh
quan trong điện ảnh, có thể tham khảo các lập luận
của Chris Lukinbeal trong “Cinematic Landscape”,
Journal of Cultural Geography Fall/ Winter 2005,
23(l)-3-22
2 Nguyễn Ngọc Tư cũng dùng tên này để đặt cho cả
tập truyện của mình, xuất bản lần đầu năm 2005
Bản tiếng Anh của truyện được dịch là “Endless
Field” do Hung M Duong và Jason A Picard dịch,
Nxb Trẻ, 2019 Truyện được Nguyễn Phan Quang
Bình cải biên năm 2010 với tên tiếng Anh của phim
là Floating Lives (Những cuộc đời trôi nổi).
’Nguyễn Ngọc Tư vốn sinh ra tại xã Tân Duyệt,
huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau trong một gia đình
nông dân, và chị gắn bó với vùng đất này Một năm
sau khi tác phẩm ra đời, vì có nhiều ý kiến cho rằng
địa danh được nhắc đến trực tiếp như Bàu Sen, Bìm Bịp, Trái lại, địa điểm “cánh đồng” được quay trong phim là vùng Đồng Tháp Mười, trong đó phim trường chính nằm trong Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười, thuộc xã Bình Phong Thạnh, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An Địa điểm này sau đó được khai thác thành khu du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng nhờ sự nổi tiếng của bộ phim cùng những hình ảnh thiên nhiên “đẹp như tranh vẽ” bên trong đó về đặc trưng hư cấu, cánh đồng trong truyện
là cánh đồng cháy khô, luôn thiếu nước, ngược lại, cánh đồng trong phim thì bao
la “chim trời cá nước”, cánh đồng Cà Mau trong truyện là vùng ngập mặn, váng phèn, còn cánh đồng Long An trong phim thì trù phú, cây cối xanh tươi, cánh đồng trong truyện được hình dung là đầy chứng tích của chiến tranh và cách tư duy thời chiến, cánh đồng trong phim là nơi của những địa điểm du lịch, nghỉ dưỡng Theo đó, trong truyện Nguyễn Ngọc Tư, cánh đồng là đối tượng nhận thức của chủ thể người nữ, còn trong phim của Nguyễn Phan Quang Bình, cánh đồng được đồng nhất với người nữ, trở thành một thắng cảnh (cảnh để ngắm - spectacle) như cách hình dung của Chris Lukinbeal [1, tr.ll], hay trở thành đối tượng của cái nhìn nam giới (object of the male gaze) đem lại khoái cảm thị giác (visual pleasure) theo cách hình dung của
tác phẩm của chị “phản động” và bêu xấu vùng đất quê nhà, Ban tuyên giáo tỉnh ủy Cà Mau đã yêu cầu chị phải viết kiếm điếm Sự việc này gây nên một cuộc tranh cãi khá sôi nổi về một bài phân tích thấu đáo cuộc tranh cãi xung quanh tác phẩm dưới góc nhìn diễn ngôn, có thể tham khảo bài viết của Hoàng Phong Tuấn, “Định chế và sự đọc: trường hợp tiếp nhận tác phẩm Cảnh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, in trong Văn học, người đọc,
định chế, Nxb Khoa học xã hội, 2017, tr.155-166.
Trang 3Laura Mulvey [5, tr 14-26], một cái Khác
(the Other) như Simone de Beauvoir phân
tích Quá trình chuyển dịch ý nghĩa của kí
hiệu cánh đồng từ đối tượng gai góc, xa
lạ song mang lại nhận thức trong truyện,
thành đối tượng để thưởng thức, chiêm
ngắm trong phim cũng là quá trình cải
biên, không chỉ gắn với việc khai thác
cảnh quan thiên nhiên theo hướng thưcrng
mại hóa', mà vấn đề là đằng sau cơ chế
thương mại hóa đó thấm đầy những quan
niệm về giới, nó chi phối cách người làm
phim kiến tạo diễn ngôn về tự nhiên cũng
như con người
1 Cánh đồng - đối tượng nhận thức
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
1.1 Cánh đồng - thiên nhiên đáp trả
thù hận bằng trừng phạt
Đọc văn bản, chúng ta thường dễ kết
luận rằng, cánh đồng là hình ảnh của thiên
nhiên Tuy nhiên, với tư cách là một trình
hiện văn hóa, một kiến tạo diễn ngôn, nghĩa
là không phải tự nhiên, ta phải đặt câu hỏi:
thiên nhiên được tạo dựng ở đây là thiên
nhiên nào? Bị chi phối bởi những ý hệ gì
về cái được coi là thiên nhiên? Trong các
áp phích cổ động về xây dựng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam sau 1975, người ta luôn
thấy hai hình ảnh quen thuộc: một là bức
tranh những người công nhân, hậu cảnh
là nhà máy; hai là bức tranh những người
nông dân, với hậu cảnh là cánh đồng lúa
chín vàng12 Trong các kiến tạo diễn ngôn
1 về một bài viết rất thú vị theo hướng này, có thể
tham khào bài viết của Hoàng cẩm Giang “Trào
lưu quảng bá du lịch: từ những khung cảnh ‘đẹp
như tranh’ đến ý thức sinh thái của công chúng
Việt Nam”, được trình bày trong Tọa đàm “Phê
bình cảnh quan trong văn chương và điện ảnh” tổ
chức tại Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nằng, ngày
22/2/2022.
2 Tôi biết ơn TS Hoàng Phong Tuấn về gợi ý này.
3 Ý niệm này được cho là xuất phát từ những tuyên
bố rất hùng hồn của Marx về việc hiện thực hóa triết học trong đời sống, thay đổi thực tại thay vi suy tư, chiêm nghiệm mãi về thực tại: “Các triết gia
đã giải thích thế giới theo nhiều cách khác nhau, vấn đề là cần phải thay đổi nó đi”.
4 Tác già miêu tả về những con-người bình thường ấy: “Nhiều lúc tôi hơi nhớ con-người Họ ở trong cái xóm nhỏ kia, chi cách chỗ chúng tôi dựng trại vài ba công đất Họ lúc nhúc trên thị trấn kia, nơi chúng tôi vẫn thường ghé lại mua gạo, cám, mắm muối dự trữ cho những chuyến chạy đồng xa” J8.tr 184]
trên, cánh đồng mang chở ý niệm về việc cải tạo thiên nhiên và hoạt động tạo tác để xây dựng thế giới thành cái nên là (“Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” - Bài ca vỡ đất - Hoàng
Trung Thông)3 Vậy, còn trong Cánh đồng
bất tận, cánh đồng được tạo dựng trong
diễn ngôn bằng lời của Nguyễn Ngọc Tư
là cánh đồng như thế nào?
Cánh đồng xuất hiện ngay ở đầu văn bản “Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng Khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi nầy” [8, tr.163] và đến cuối, kết thúc câu chuyện vẫn là cánh đồng “ Mặt trời le lói ánh sáng trở lại khi trên đồng chỉ còn hai thân thể nhàu nhừ Ai đó vãi từng chùm chim
én lên cao, chúng cố chao liệng để khỏi phải rơi như lá” [8, tr.217] Cánh đồng có khi được hình dung là không gian sống tách biệt với thế giới của con-người, của xã-hội bình thường4 Cánh đồng ấy, được miêu tả là “hoang vắng, vắng ngắt, vắng tanh ”, không chỉ bao bọc không gian sống không lối thoát mà còn làm ngưng đọng thời gian “Lúc và cơm, tôi hay bị
ảo giác, tưởng mình đang ngồi trên cánh đồng của chín năm trước Một cánh đồng miên viễn với gió lắt lay những khối nắng
Trang 446 NGHIÊN CỬU VĂN HỌC, SỐ 4-2022
héo xèo, một nhúm mây rất mỏng và rời
rạc bay tha thểu trên cao” [8, tr.200J Tuy
nhiên, cánh đồng ấy, giống như bầy vịt,
không phải là tự nhiên theo nghĩa nguyên
sơ, khi nhân vật nghĩ về sự xuất hiện của
ông trưởng ấp và người cán bộ xã “Tôi
vừa sợ, vừa biết ơn những người như thế
nầy Họ làm cho chúng tôi cảm thấy bớt
hoang dã, làm chúng tôi hiểu rằng, ngay
cả trên những cánh đồng hoang liêu nhất
thì chúng tôi vẫn bị ràng buộc bằng hàng
vạn luật lệ” Như vậy, nếu xem cánh đồng
là hình ảnh của thiên nhiên, thì đó trước
hết là thiên nhiên nằm trong vòng kiềm
tỏa của những “luật lệ” của con người
Những “luật lệ” đó là luật lệ gì, hoạt động
dựa trên nguyên tắc nào? Nhà văn nhiều
lần hé lộ cho ta, đó là các nguyên tắc của
thời chiến, của bạo lực và thù hận1 Bị đối
xử theo những nguyên tắc như vậy, cánh
1 Chứng tích cùa chiến tranh và nguyên tắc của thời
chiến nhiều lần xuất hiện trong cảnh quan cánh
đồng: Khi Sương tinh dậy, và muốn đi tắm, Điền
chỉ cho chị một “hố bom cũ” [8, tr 167] Những
người đàn bà đánh ghen hành động không hề có ý
thức về khoa học và luật pháp Họ tin vào bùa chú,
và đối xử với nhau theo kiểu “luật rừng”: “Bằng
cái giọng rộn rã, giòn tan chỗ cao trào, rồi chị hết
sức chậm rãi, tỉ mi, tả cái đoạn chị dùng dao rạch
mặt cô ta và xát muối ớt vào (những người quê
mình vẫn thường làm chuyện đó rất bình thường,
sẽ buồn cười khi có ai đó nói làm vậy là vi phạm
điều X chương Y luật hình sự, họ cãi ngay, “ủa, nó
cướp chồng tui thì tui phải đánh cho tởn chớ”, với
vẻ mặt tự hào ngút ngất, tinh bơ, ngây thơ, tựa như
một người đi qua trận địa cũ và nói với ông bạn
mình, hồi năm bảy hai tui bắn thằng lính cộng hòa
ở chỗ nầy, óc nó nát như chao, con mắt văng ra xa
cà thước Ông bạn chang ớn, nói tôi cùng căt cô
thằng Mỹ ở đây chớ đâu) [8, tr 188], Khi xử lý dịch
cúm gia cầm, người ta đối xử với bầy vịt trên đồng
theo nguyên tắc chiến tranh còn xa hơn nữa, từ thời
Tam Quốc theo nguyên tắc của Tào Tháo “thà giết
lầm còn hơn tha lầm”, “dồn tất cả bầy vịt trên cánh
đồng lại và đào hố chôn” [8, tr.202].
đồng không thụ động, nằm im chịu trận một chiều mà có phản ứng Phản ứng của
nó, tương ứng với hành động kia, là sự trả thù, trừng phạt “ những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát ( ) Những cánh đồng đó,
đã hắt hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt)” [8, tr.214] Cánh đồng không thụ động mà có thái độ và sự đáp trả của riêng mình Từ góc nhìn của Nương, cánh đồng trả thù bằng cách làm cho Điền trở nên biến dạng, không thể trở thành một người đàn ông bình thường “Và tôi chợt nghĩ, sự bất thường của Điền, chẳng qua nằm trong chuồi rất dài của sự trừng phạt” Không những thế, “ thiên nhiên ngày càng trở nên hung dữ hơn, khắc nghiệt hơn Bằng những sấm chớp, gầm gừ, dường như trời đất đã nín nhịn nhiều, cuồng nộ bắt đầu rồi đây, Có lần, tôi lấy cao su gói lại mớ mùng chiếu, nhìn mưa thè cái lưỡi ướt nhão nhớt vào lều, khoái trá nếm từng tấc đất, tôi tự hỏi, không biết chỗ khác (chồ không có chúng tôi) có mưa nhiều như vầy không Ý nghĩ đó xuất hiện triền miên trong đầu tôi, rằng trời chỉ trút mưa, trút nắng ở nơi chúng tôi dừng chân lại” [8, tr.200] Như thế vẫn chưa đủ, cánh đồng
từ chối và trút hận thù lên bầy vịt, những đối tượng duy nhất mang lại cho chị em Nương niềm vui và sự an ủi, những “đồng loại” duy nhất của hai đứa trẻ: “Gió chướng trở ngọn, trên những cánh đồng ủ
ê tin buồn Chúng tôi nghe được một cụm
từ lạ, dịch cúm gia cầm Đòn thù cuối
cùng, nó giáng lên Nương, vì trên cánh đồng này, chỉ toàn những đứa trẻ tên Hận, tên Thù, và những tên Hận, tên Thù đó đã cưỡng bức cô trước sự chứng kiến bất lực, tủi nhục của người cha
Như vậy, trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, nếu cánh đồng là hình ảnh của
Trang 5thiên nhiên, thì đó là thiên nhiên phải hứng
nhận những quy tắc ứng xử của con người,
và đến lượt, nó phản ứng cũng bằng hận
thù và bạo lực, bằng sự trừng phạt Đó là
thiên nhiên báo thù, trừng phạt, vì tất cả
những gì thiên nhiên ấy nhận được là sự
thù hận của con người Cánh đồng ở đây
đóng vai trò là một “không gian” (space),
hay rộng hon, một “thế giới”, là bối cảnh
của toàn bộ văn bản hư cấu, một xã hội
hậu chiến, dù đã hòa bình song vẫn vận
hành bằng các nguyên tắc ứng xử của
thời chiến; trong đó, bạo lực, ăn miếng trả
miếng, giết nhầm còn hon bỏ sót là điểm
nổi bật Ta biết được các nguyên tắc chiến
tranh này là nguyên tắc do nam giới đặt
ra Bên cạnh đó, dựa vào cách miêu tả, ta
được biết cánh đồng này mang giới tính
nữ: cánh đồng “chia cắt” [8, tr.210] (sau
khi Sưong và Điền - đứa em trai không
bao giờ trở thành đàn ông của Nương bỏ
đi), cánh đồng “ngoa ngoắt” [8, tr 213]
(từ chỉ dùng để miêu tả phụ nữ), cánh đồng
“trừng phạt” (vì “nỗi bẽ bàng của những
người đàn bà bị cha tôi bỏ rơi (và cộng
thêm niềm đau vỡ của những người quây
quanh họ) đã thấu qua những tầng mây”)
để rồi trở thành cánh đồng “thù hận” [8, tr
214] và “Bất Tận” [8, tr.213], Cho nên, có
ý kiến cho rằng, đây là sự trừng phạt của
người mẹ - tự nhiên, và cuộc đời du mục
trên cánh đồng chỉnh là hành trình vô vọng
mong về với người mẹ - tự nhiên ban sơ,
như người mẹ ban đầu thuở ấu thơ của hai
đứa trẻ1 1 Nhưng có phải vậy hay không?
1 Trong một nghiên cứu về văn bản từ góc nhìn nữ
quyền luận sinh thái, một tác giả rút ra kết luận:
“Tóm lại, từ góc nhìn lí thuyết nữ quyền sinh thái,
ta có the gọi Cánh đồng bất tận là cuộc hành trình
khắc khoải nhưng vô vọng đi tìm lại bàn sắc giới
tính, tình yêu và sự hòa hợp giới tính, sự nảy nở sinh
sôi trong một thế giới cằn cỗi, vô sinh, hoang hóa
của thời hiện đại, khi con người đã mất đi khả năng
giao tiếp với chính mình trong quá trình hủy diệt thế giới tự nhiên” [6] Tuy nhiên, các nghiên cứu dựa trên tiền giả định về một “bản sắc giới tính” cố định, tiên nghiệm phần lớn đã bị các nhà nữ quyền luận làn sóng thứ ba chất vấn và vượt qua.
2 về một sự đồng nhất khác của hình tượng cánh đồng, có thể tham khảo bài viết của Đoàn Ánh Dưoưg “Môi trường và nhân tính: tự sự của
Nguyễn Ngọc Tư trong Cánh đồng bất tận”, in
trong Không gian văn học đương đại, Nxb Phụ
nữ, 2014, tr 129-156.
Hành trình lưu lạc trên cánh đồng có đơn thuần là hành trình tìm kiếm hay mong về với mẹ, hay thực ra còn mang một ý nghĩa nào khác?
Nhìn tổng thể, câu chuyện giống như một tiểu thuyết giáo dục, tiểu thuyết về
sự trưởng thành (bildungsroman) của con người Cánh đồng chính là nơi diễn ra sự trưởng thành đó Nhìn từ phương diện này, cánh đồng mang đến nhận thức Trong
“tiểu thuyết giáo dục” của Nguyễn Ngọc
Tư, cánh đồng được kiến tạo như là cái Khác (the Other), cùng với người mẹ, góp phần vào quá trình của chủ thể nữ hiện thực hóa chính mình
1.2 Cánh đồng và người mẹ - cái Khác của chủ thể ham muốn
Như trên đã nói, người đọc truyện dễ dàng nhận ra những nét tương đồng giữa cánh đồng và người mẹ2, và có người hiểu hành trình trên cánh đồng là hành trình khắc khoải vô vọng tìm về với người mẹ ban đầu, giống như tìm về với mẹ thiên nhiên nguyên sơ của con người hiện đại Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, liệu có một cánh đồng nguyên sơ, tồn tại trước khi
có sự tác động của luật gia trưởng hay không? Có cánh đồng được đồng nhất với người mẹ hay không? Khi cánh đồng được hình dung như vậy, nó được kiến tạo như thế nào?
Trang 648 NGHIÊN cửu VẪN HỌC, SỐ 4-2022
Lưu ý là vấn đề của nhân vật trong
văn bản cũng không phải là vấn đề “tìm
lại” người mẹ hay tự nhiên, vì người mẹ
ấy, tự nhiên ấy, ngay từ ban đầu đã đầy
đau khổ, và nhân vật luôn phủ định khả
năng mình sống lặp lại đời của mẹ', luôn
tìm cách chối bỏ những đặc điểm của mẹ1 2,
ngay cách hình dung gặp lại mẹ cũng thật
mong manh, cho dù có gặp, thì nhiều khả
năng là bi kịch, khi mẹ con không nhận
được ra nhau3, vấn đề thực sự đối với
1 Khi người cha cuối cùng hối hận, ông bán bầy vịt
và sắm cho con gái một chiếc nhẫn vàng “Đe dành
khi đi lấy chồng ” Nương đã “sặc ra một bụm
cười, trời ơi, tôi biết lấy ai bây giờ” Và đây là suy
nghĩ của cô: “Suốt những tháng năm sống tù đọng
trên đồng, tôi có biết ai ngoài những người đàn ông
quê mùa cũ kỹ Tôi biết lấy ai trong số đó? ( )
Tôi lấy ai bây giờ, một người thợ gặt? Một anh
chạy đò? Ý nghĩ minh là bản sao của má làm tôi sợ
Tôi không chắc minh có đủ kiên nhẫn sống cuộc
sống nghèo túng, nhàm chán ấy suốt đời, hay nửa
chừng bò dờ Và bi kịch chất đống lên những người
ở lại” [8, tr.212] Rõ ràng, trong thâm tâm, Nương
đã phú nhận, từ chối khả thê cùa việc trờ thành bản
sao của mẹ minh Cô chưa bao giờ có suy nghĩ về
việc sẽ tìm lại mẹ mình như trước kia Vì người
mẹ ấy, ngay từ đầu đã luôn sống trong nước mắt
và tiếng thở dài, chưa bao giờ hạnh phúc Sau này,
càng trưởng thành, cô càng đồng cảm với mẹ và kết
quả là không muốn sống cuộc đời của mẹ.
2 Khi bị cha đánh, Nương tự hỏi minh đã có hành
động cử chi gì giống mẹ Và suy nghĩ của cô cho
ta thấy rằng, cô đã chối bò, xóa sạch mọi dấu hiệu
cho thấy cô giống mẹ trên mình: “Có bữa, nừa đêm
thằng Điền thức giấc, nhìn thấy tôi day lưng lại lui
cui vá áo, nó thảng thốt kêu “Má ơi!” Tôi cảm thấy
mình thất vọng đến rà rời Những thói quen, những
cái gì liên quan đến má tôi phủi gần sạch rồi, nhưng
tôi làm sao có the từ bò hình hài nay” [8, tr 183],
’ “Những chiều ghe chúng tôi đi ngang qua những
người đàn bà ngồi giặt giũ dưới bến sông, tôi hay
hỏi lòng, có phải tôi vừa ngang qua má đó không
Tôi cố giữ trong lòng hình ảnh má nhưng rồi ngày
càng tuyệt vọng khi thấy nó nhạt nhòa dần, cứ nghĩ
mai nầy gặp lại mà không nhận ra nhau, lòng nghe
buồn thiệt buồn” [8, tr 174],
nhân vật là vấn đề của sự nhận thức, sự hiểu và hòa giải
Người mẹ cũng như cánh đồng, là nhân vật duy nhất trong văn bản không được đặt tên Vì sao? Vì cũng như cánh đồng, mẹ cần được nhận thức, được hiểu,
và được đặt tên theo những trải nghiệm, những sự hiểu ấy Cho nên, hành trình đặt tên cho cánh đồng cũng đồng thời là hành trình hiểu về mẹ, hòa giải với người mẹ, và
là hành trình trở thành người mẹ của nhân vật chính
Nếu có sự đồng nhất giữa mẹ với tự nhiên ở đây, thì vấn đề không phải là ao ước vô vọng quay trở lại với tự nhiên ban sơ nguyên thủy, với người mẹ ban đầu, mà vấn đề là phải hiểu tự nhiên ấy, người mẹ ấy, để trường thành Quá trình hiểu này cần sự trải nghiệm và đặt mình vào vị trí của đối tượng Cũng giống như hành trình trưởng thành trên cánh đồng, Nương đã có ba lần đồng nhất với mẹ, để hiểu ra những khổ đau và bất hạnh của người mẹ ấy Lần thứ nhất là khi nghe cha mia mai Sương, Nương trải nghiệm cảm giác của mẹ khi bản thân cô cũng từng đay nghiến bà như vậy, thấm thìa sâu sắc hơn tình cảnh của mẹ Lần thứ hai là khi Sương bỏ đi, cũng giống như người mẹ
bỏ đi trong khi còn đầy tình thương yêu với người ở lại, Nương hiểu ra lòng mẹ tan nát, bẽ bàng ra sao Lần thứ ba là khi
bị cường hiếp, “Nhung lúc này, cảm giác thật đơn điệu Đầu tiên là sự xé toạc, và
từ rách nát, đau đớn như lũ kiến cánh được giải thoát, chúng bò rân khắp thân thể, tôi thấy mình đang chết Rồi kí ức
ùa về kinh hãi, vẻ mặt má tôi cái hôm bị người đàn ông bán vải đo lên người hình như không phải là khoái lạc thăng hoa, nó giống như tôi bây giờ, đau ràn rụa, nhói tận chân tóc” [8, tr.217] Và cũng cần
Trang 7lưu ý là, người mẹ này có sự lựa chọn, tự
quyết của mình Cho nên, nếu có sự đồng
nhất mẹ - tự nhiên ở đây, thì tự nhiên đó
không phải một tự nhiên vô tri, để con
người mặc sức khai thác, chà đạp, mà là
một tự nhiên có cảnh ngộ, có khát vọng,
có hỉ nộ ái 0, và có quyền lựa chọn ra
đi, rời bỏ con người khi con người không
hiểu, không biết trân trọng những gì tự
nhiên mang lại Neu tự nhiên không hề là
một tự nhiên thoát khỏi những ràng buộc,
luật lệ gia trưởng, thì người ta lại phải đặt
lại câu hỏi về người mẹ và việc làm mẹ:
làm mẹ có phải điều tự nhiên không, hay
đó cũng là một sự cưỡng bức? Cũng như
vậy, “bà mẹ tự nhiên” có bản năng “làm
mẹ” của con người hay không, hay chính
con người cũng đã “cưỡng bức” bà mẹ
đó trở thành mẹ, để đẩy tự nhiên vào bi
kịch?1 Nhìn từ khía cạnh này, tác phẩm
của Nguyễn Ngọc Tư đồng thời chất vấn
hai ý hệ: tự nhiên như một người mẹ và
làm mẹ là một điều tự nhiên
1 Ý niệm về sự cưỡng bức khá rõ trong văn bản, và
cuối cùng, chính Nương đã bị “cường bức” để buộc
phải trở thành một người mẹ, hái với mong muốn
của cô Cô vốn trước đó mới chớm nghĩ đến việc
thương yêu một người đàn ông nào đó “tôi vừa le
lói nhìn thấy con đường dẫn đến cuộc sống bình
thường, tôi vừa nghĩ, trên con đường đó, sẽ gặp
người con trai nào đó để thương yêu” [8, tr.216]
trong khi luôn cự tuyệt khả thể là sẽ lấy chồng.
Chính ở chỗ này, cánh đồng trong
truyện khác với cánh đồng trong phim
Neu cánh đồng trong truyện là cái Khác,
là đối tượng nhận thức, là người mẹ mà
người nữ cần thấu hiểu để có thể làm mẹ,
thì cánh đồng trong phim lại được đồng
nhất với nữ tính nói chung, cả hai đều trở
thành cảnh để ngắm nhìn, là đối tượng tính
dục thỏa mãn khoái cảm thị giác của người
xem mang cái nhìn nam giới
2 Cánh đồng - thắng cảnh trong phim của Nguyễn Phan Quang Bình
Bước chuyển từ truyện sang phim là bước chuyển từ cánh đồng bằng ngôn từ sang cánh đồng bằng hình ảnh Đó cũng
là bước chuyến từ thiên nhiên đồng khô
cỏ cháy, đầy khắc nghiệt thành thiên nhiên đẹp đẽ, “chim trời cá nước” để ngắm nhìn, thưởng thức và khai thác
Nguyễn Ngọc Tư mô tả đời sống các nhân vật trong truyện của mình mang đặc trưng là sự thiếu nước Ngược lại, bộ phim của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình mang đặc trưng chan chứa nước Nước ở khắp nơi Đặc biệt, khi cánh đồng hợp nhất với người phụ nữ, nước trở thành hình ảnh khắc họa rõ thêm vẻ đẹp thân thể
và vai trò gợi dục của họ Ở đây, chúng tôi sẽ phân tích hai cảnh (scene) không có hoặc khác với trong truyện, được những người làm phim tạo ra để thấy sự đồng nhất này: một là cảnh Sương tắm trong
hồ sen; hai là cảnh Nương ngồi dưới mưa trong quan hệ với cấu trúc tự sự sau đó của bộ phim
2.1 Hồ sen trong đồng - mô tip non chon định vị bản sắc nữ
Ở trong truyện, cảnh này chủ yếu có mối liên hệ về ý nghĩa với cảnh đánh ghen trước đó: “Đó là một hố bom cũ, bình bát mọc quanh, rau muống chằng chịt phủ kín mặt nước, cọng rau ốm nhằng, đỏ au Chỗ này, hôm qua, Điền đã câu được những con cá thát lát ú mềm Chị trầm mình dưới
đó rất lâu, chẳng kỳ cọ gì, chỉ để nước lạnh chườm dịu lại những chồ đau Lúc chị lên
bờ, tôi thấy máu lợn cợn theo những giọt nước nhỏ xuống giữa hai đùi, chắc chị
đã làm gì với chồ keo dán ác nghiệt ấy Rồi cũng lâu lắc, cũng cà nhắc từng bước ngắn như lúc đi, chị với tôi quay lại bờ
Trang 850 NGHIÊN CỬU VÃN HỌC, SỐ 4-2022
kinh Điền hí hửng khi thấy chị chịu mặc
chiếc áo sơ-mi thẫm phèn và cái quần cụt
quăn queo của nó” Trong truyện, Nguyễn
Ngọc Tư chỉ cho ta hai thông tin: một, địa
điểm tắm “hố bom cũ” - dấu tích của chiến
tranh; hai, đây là nơi giải quyết hậu quả
cho một “cuộc chiến” khác, cuộc chiến
của những người đàn bà trong thời bình,
cũng đau đớn, cũng đổ máu, cũng man rợ
không kém gì cuộc chiến kia Không có
một dòng nào về thân thể người đàn bà lộ
ra trong khi tắm
Trong phim, cảnh (scene) này kéo dài
khoảng gần một phút, gồm 9 cảnh quay
(shot), và ý nghĩa không nằm trong quan
hệ với chuyện đánh ghen, mà gắn với một
loạt các cảnh nói lên vẻ đẹp của thiên
nhiên và người nữ trong phim Cảnh tắm
của Sương bắt đầu bằng cảnh quay trung
cận cảnh việc giặt giũ, sau đó là gương
mặt hồn nhiên của Nương đang ngồi trên
thuyền, thực hiện hoạt động của đời sống
ngày thường: giặt giũ Sau đó, máy quay
lia mở rộng không gian, chuyển sang một
vị trí khác, cho ta thấy không gian rộng
lớn, thơ mộng hơn của hồ sen, và tập trung
vào góc phía bên trái, nơi Sương để mình
trần, lấp ló giữa đám lá và hoa sen, đang
khẽ té nước lên người Máy quay tiến
gần hơn, cho người xem nhìn rõ những
vết thương trên vai phải của chị Sau đó,
cảnh quay được cắt sang hoạt động của
Nương, tạo ra sự đối lập giữa hai người
phụ nữ trong cùng một cảnh quan: một
thiếu nữ ngây thơ và một người đàn bà
từng trải Cảnh quay thứ tư cắt sang hình
ảnh Sương đưa tay xuống dưới, vẻ mặt
đau đớn Ngay sau đó là cảnh mặt nước
nổi lên màu đỏ, ta hiểu là máu từ cửa
mình cùa Sương, có màu cùng màu với
hoa sen, nổi lên giữa đám lá sen Cảnh
quay thứ sáu là cảnh Sương ngửa mặt lên
trời, đau đớn hét lên Trong động tác đó,
cô đồng thời để lộ bầu vú căng tròn lấp ló Trong khung hình này, hình dáng và màu sắc của bầu vú tương đồng với hình dáng
và màu sắc của hai búp sen chưa nở vươn lên từ mặt nước, ở ngay bên cạnh, đang chĩa vào bầu vú Sương Khi ườn ngực lên, nửa thân trên để trần, chị đồng thời cũng khoe ra vẻ đẹp của cổ và vai (điều
sẽ được nhấn mạnh sau đó trong đoạn ở trong thuyền với Điền, và được lặp lại ở Nương trong cảnh khi cô bị cường hiếp), giữa các bông sen đã nở Máy quay được đặt sao cho người xem chỉ nhìn thấy phần thân thể trắng ngần, căng tròn và đẹp đẽ của nhân vật (thay vì quay từ phía sau
để nhìn thấy vết thương trên vai, hay tập trung vào đường nét của những đau đớn khôn tả trên khuôn mặt) Âm thanh tiếng hét dù để nhấn mạnh sự đau đớn, nhưng hình ảnh, ánh sáng hoàn toàn nhằm biểu
lộ vẻ đẹp cơ thể Cảnh quay thứ bảy là cảnh Nương nghe tiếng hét, liền đứng dậy hỏi “chị có sao không”, và cảnh thứ tám lại cắt sang nhấn mạnh hình ảnh Sương thân trần giữa hồ sen lần nữa, trước khi cắt sang cảnh quay cuối, toàn cảnh từ góc quay trên cao, cho thấy toàn bộ hồ sen
và vị trí, dáng vẻ của hai người phụ nữ Ngay sau đó là một cảnh hoàng hôn và chiều muộn đẹp như tranh vẽ
Cảnh hồ sen - mô tip nơi chốn định vị bàn sắc nữ
Ngôn ngữ điện ảnh của đoạn này trong phim nói cho chúng ta biết rất
Trang 9nhiều điều về cảnh quan cùng vai trò của
nó trong việc giới hóa nhân vật Có thể
nói, việc thay đổi không gian từ “hố bom
cũ” - hình ảnh của chiến tranh và những
nguyên tắc thời chiến vẫn đang vận hành
trong xã hội hậu chiến, tác động đến suy
nghĩ, hành xừ và đời sống của người phụ
nữ - sang hồ sen là một lựa chọn hữu ý
của nhà làm phim để biểu đạt ý nghĩa
Trong tâm thức của người Việt, sự gắn
bó giữa sen và vẻ đẹp của người nữ -
thường là thiếu nữ đã trở nên phổ biến
đến mức, ngay ở thời điểm hiện tại, ta
vẫn bắt gặp rất nhiều hình ảnh các chị các
mẹ các em thường ra hồ sen chụp hình,
đăng Facebook mồi mùa sen nở Trong
văn học bác học, từ các nhà thơ cổ điển
Trung Quốc như Lý Bạch, Đồ Phủ, đến
đại thi hào Việt Nam là Nguyền Du đều
có rất nhiều thơ về sen và người nữ Hoa
sen đặt bên cạnh người phụ nữ thường
mang hai ý nghĩa, một là thiếu nữ hái
sen, giặt áo bên hồ sen biểu đạt vẻ đẹp
thanh tân, giản dị mà quyến rũ Hai là ngó
sen, thân sen đứt mà chăng dễ lìa tượng
trưng cho tơ tình nhi nữ vương vấn người
quân tử mãi không thôi Trong văn học
dân gian, sen tượng trưng cho sự cao
khiết, thanh sạch của những con người
sổng trong lao khổ mà không để mất đi
phẩm chất thanh cao “Trong đầm gì đẹp
bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen
nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh/
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”1
Ý nghĩa về sự thanh tao, thơm mát này
đi vào trong nghệ thuật thưởng trà của
người Việt nói riêng, người phương Đông
1 Bên cạnh đó, sen còn mang nhiều ý nghĩa biểu
tượng trong Phật giáo - tôn giáo phổ biến và có đời
sống lâu bền trong tâm hồn người Việt, nhưng đó
không phải là trọng tâm của những điều được đem
ra bàn ở đây.
2 Trong Truyện Kiều có cảnh Kiều tắm cho Thúc
Sinh ngắm, nhưng đây lại là chuyện khác.
nói chung thông qua các trang viết của Nguyễn Tuân và các phim cổ trang, cung đình đương đại, trong nghệ thuật thưởng trà, người ta thường lấy nước pha trà là những giọt sương đọng trên lá sen buổi sớm mai Mang chở cả sức nặng văn hóa của hình tượng như vậy, trong cảnh hồ sen ta thấy hiện diện cả hai khuôn mẫu quen thuộc trong nghệ thuật bác học lẫn dân gian: thiếu nữ giặt áo và người đàn
bà “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Thông thường, đối với người Kinh, hoạt động tắm, đặc biệt với phụ nữ, dù không diễn ra trong không gian riêng tư, được che kín, và vào thời gian buổi tối, thì cũng không có mục đích nhằm để khoe thân, phục vụ cho cái nhìn của số đông2 Nhưng cảnh phim cho ta thấy một người phụ nữ tắm trong không gian công cộng, giữa thanh thiên bạch nhật, với ánh sáng tràn trề và góc quay từ chi tiết đến toàn cảnh Điều này, từ góc nhìn của Laura Mulvey, góp phần thỏa mãn khoái cảm thị giác cho người xem là nam giới Trong cảnh này, có thể nhận thấy cái nhìn của khán giả đồng nhất với cái nhìn của con mat camera được giả định là nam giới, và đều thỏa mãn khoái cảm mang màu sắc thị dâm khi họ có thể công khai quan sát chi tiết một người phụ nữ đang thực hiện hoạt động cá nhân và để lộ những bộ phận thân thê gợi cảm của mình
Trong trường hợp này, ta thấy cảnh quan không chỉ là yếu tố làm nền cho nhân vật mà còn tham gia vào việc kiến tạo bản sắc giới: có một thiếu nữ ngây thơ bên hồ sen giặt áo, củng cố khuôn mẫu giới về phụ nữ gắn với vẻ đẹp thanh tân trong lao động Bên cạnh đó, ta có một người phụ
Trang 1052 NGHIÊN CỬU VẰN HỌC, số 4-2022
nữ đẹp trong đau khổ, máu nổi lên từ bùn
thành một đóa sen Các tự sự về nhân vật
sau đó làm rõ thêm ý này Tóm lại, cảnh
quan trong phim góp phần củng cố hai
khuôn mẫu giới: phụ nữ gắn với vẻ đẹp1,
và cái đẹp ấy là cái đẹp của thân thể, của
tuổi trẻ Phụ nữ gắn với việc chịu đựng, gìn
giữ những phẩm chất cao quý dù họ sống
trong hoàn cảnh bùn lầy Ngay cả những
nồi đau, những nghịch cảnh của họ cũng
được mĩ hóa, trở thành cái đẹp Sự đồng
nhất giữa người nữ với cảnh quan như là
cảnh để ngắm cho đã mắt được thể hiện rõ
hơn trong các cảnh phim sau đó, với ẩn dụ
người nữ và đồng lúa
1 Cách hình dung về người mẹ trong phim cũng
nằm chung trong xu hướng này Trong truyện
Nguyễn Ngọc Tư, mẹ là một câu đố bất khá giải:
mẹ từ đâu đến, quá giang cha một đoạn xong mẹ đi
đâu, rốt cuộc vì sao mẹ lựa chọn ra đi, cho đến cuối
truyện, ta vẫn không có được câu trả lời chắc chắn
Ngược lại trong phim, tính phức tạp này của mẹ
bị giản lược đi, khi Sương hỏi “Mẹ em thế nào?”,
Nương chì trà lời “Mẹ đẹp lắm”.
2.2 Thiếu nữ và lúa từ đương thì đến
chỉn vàng - sự thỏa mãn khoái cảm thị giác
Khác với thời gian trong truyện
thường bị đảo lộn, chỉ được đánh dấu
bằng vài mốc theo mùa “Mùa khô năm tôi
mười ba tuồi” [8, tr 185] hay “Trời đất ủ
dột nhìn mưa vào mùa” [8, tr.193], thời
gian trong phim được tính từ lúc Sương
xuất hiện và đi theo vòng tuần hoàn sinh
trưởng của cánh đồng Sương ra đi vào
mùa gặt lúa, khi đàn vịt bị đốt cùng với
rạ rơm, khói nghi ngút khắp đồng, và
bóng chị khuất trong đám cò cao Sau đó
là những khung hình lặp lại cảnh buồn
tẻ chỉ có hai cha con đi hết con kinh này
đến con kinh kia cho đến khi mùa mưa
tới Cảnh thiếu nữ dưới mưa bắt đầu bằng
một khung hình đẹp như mơ, cây cầu vo
gạo ngay bên dòng nước, những giọt mưa nhẹ rơi Sau đó là cảnh quay Nương bước chân lên cầu, với tay lấy chiếc nồi như chuẩn bị rửa hay vo gạo Rồi sau đó là cảnh thiếu nữ ngồi bên cầu, ngửa mặt đón lấy những giọt mưa Góc quay tiến đến trung cận cảnh ghi lấy hình từ ngực trở lên, Nương rướn thân lên đón mưa, vẻ mặt đang tận hưởng khoảnh khắc đẹp của đất trời Cảnh quay kết thúc bằng góc quay
từ trên cao, thu lấy toàn bộ cơ thể thiếu
nữ đương thì, quần áo vì đẫm nước nên dính chặt vào người để lộ những đường cong của thân thế, trước khi hiệu ứng mờ chồng chuyển sang cành hoàng hôn trên con kinh Cảnh quay này, cũng giống như đoạn tắm hồ sen, đồng nhất cảnh quan - cây cầu nhỏ trên mặt nước nổi những lá sen trong mưa với vẻ đẹp của người thiếu
nữ, ánh sáng chủ chiếu thăng trước mặt để làm nổi rõ phần cổ và những đường cong của cơ thể nhân vật nữ Cảnh này không khác cảnh tắm là mấy, vì dưới tác động của nước ướt đẫm mình, quần áo Nương dính sát vào người để khán giả nhìn rõ cơ thể cô qua lần áo mỏng Liên kết cảnh này với các cảnh ngay phía sau trong trình tự cốt truyện của bộ phim, thân hình Nương vươn ra dưới mưa không khác gì cây lúa đương thì, vì ngay sau đó là “mùa đẹp nhất trong năm - mùa lúa chín vàng”
Cảnh dưới mưa - thiếu nữ rướn thân như cây lúa đương thì