Với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé kiến thức của mình vào những giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp, Công ty công trình giao thông 208 - thuộc tổng giao thô
Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp hiện nay
Khái quát chung về vốn của doanh nghiệp
Vốn là gì? Để hoạt động sản xuất kinh doanh thực sự có hiệu quả, điều đầu tiên mà các doanh nghiệp quan tâm là làm thế nào để có đủ vốn và sử dụng vốn ấy sao cho mang lại hiệu quả cao nhất Vấn đề cốt lõi là nhận diện khái niệm vốn và xác định mức vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần xác định nguồn vốn phù hợp, bảo đảm dòng tiền ổn định và tối ưu hóa chi phí để duy trì hoạt động, đầu tư và mở rộng quy mô, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý vốn và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Có nhiều quan niệm khác nhau về vốn, nhưng ở góc độ doanh nghiệp, vốn được xem như một quỹ tiền tệ đặc biệt chỉ dùng để phục vụ sản xuất kinh doanh Mục tiêu của quỹ vốn là tích luỹ nhằm tăng trưởng và đảm bảo hoạt động sản xuất - kinh doanh ổn định, chứ không phải dùng cho tiêu dùng như một số quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp Từ các giác độ và phạm vi nhìn khác nhau, chúng ta có thể có nhiều cách tiếp cận và nhận thức về vai trò của vốn, nhưng đều nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn trong quản trị và phát triển doanh nghiệp.
Theo quan điểm của Mark, khi xét tới các yếu tố sản xuất, vốn được xem là tư bản, là giá trị tạo ra giá trị thặng dư và là một đầu vào thiết yếu của quá trình sản xuất Tuy nhiên, Mark cho rằng chỉ khu vực sản xuất vật chất mới có thể tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế, và đây được xem là một hạn chế trong quan điểm của ông.
Paul A Samuelson, đại diện tiêu biểu của kinh tế học hiện đại, cho rằng đất đai và lao động là hai yếu tố ban đầu của quá trình sản xuất, còn vốn và hàng hóa vốn là kết quả của quá trình đó Vốn được hiểu là các loại hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng làm đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó.
Một số hàng hóa vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
Trong cuốn Kinh tế học của David Begg, vốn được phân chia thành hai hình thái: vốn hiện vật và vốn tài chính Vì vậy, Begg đồng nhất khái niệm vốn với tài sản của doanh nghiệp, coi các tài sản này là nguồn lực chủ yếu của quá trình sản xuất và đầu tư Việc phân loại vốn thành vốn hiện vật và vốn tài chính giúp nhận diện cách doanh nghiệp sử dụng tài sản để tạo giá trị và quản lý nguồn lực một cách hiệu quả.
Vốn hiện vật: Là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hàng hoá khác
Vốn tài chính: Là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp
Ngoài ra, có nhiều quan niệm khác về vốn nhưng mọi quá trình sản xuất kinh doanh đều có thể khái quát thành:
T H (TLLD, TLSX) SX H’ T’ Để có các yếu tố đầu vào (TLLĐ, TLSX) phục vụ cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền ứng trước này gọi là vốn của doanh nghiệp Vậy: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận”
Nhưng tiền không phải là vốn Nó chỉ trở thành vốn khi có đủ các điều kiện sau:
Th ứ nh ấ t : Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định hay nói cách khác, tiền phải được đảm bảo bằng một lượng hàng hoá có thực
Th ứ hai : Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định
Để có thể đầu tư cho một dự án kinh doanh, kể cả dự án nhỏ nhất, vốn phải đủ lớn và có sức mạnh tài chính Tiền để ở nhiều nơi rải rác sẽ không phát huy được hiệu quả nếu không được gom lại thành một nguồn vốn tập trung Vì vậy, khi khởi nghiệp, một doanh nghiệp cần có một lượng vốn pháp định đủ lớn Muốn kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp phải biết cách gom tiền thành một khoản vốn lớn để đầu tư vào phương án sản xuất và kế hoạch phát triển của mình.
Th ứ ba: Khi có đủ lượng thì tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời
Từ những vấn đề trên ta thấy vốn có một số đặc điểm sau:
Th ứ nh ấ t : Vốn là hàng hoá đặc biệt vì các lý do sau:
- Vốn là hàng hoá vì nó có giá trị và giá trị sử dụng
+ Giá trị của vốn được thể hiện ở chi phí mà ta bỏ ra để có được nó.
Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở khả năng nó được đầu tư vào quá trình sản xuất và kinh doanh, thông qua mua máy móc, thiết bị, vật tư và hàng hóa; từ đó nâng cao năng lực sản xuất, tối ưu chi phí và tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.
Vốn là một hàng hoá đặc biệt nhờ sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu Khi mua vốn, chúng ta chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu, và quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ sở hữu của nó.
Vốn có đặc tính đặc biệt ở chỗ nó không bị hao mòn hữu hình trong quá trình sử dụng mà còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn chính nó Vì vậy, giá trị của vốn phụ thuộc vào lợi ích biên mà mỗi doanh nghiệp có thể đạt được Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các nhà quản trị tài chính: làm sao tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn để tạo ra giá trị thặng dư cao nhất, đủ chi trả chi phí bỏ ra mua vốn và đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu.
Th ứ hai : Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng vốn vô chủ
Th ứ ba : Vốn phải luôn luôn vận động sinh lời
Th ứ t ư : Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Tuỳ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà có một lượng vốn nhất định, khác nhau giữa các doanh nghiệp Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty, ta cần phân loại vốn để có biện pháp quản lý tốt hơn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao vật tư và nguyên vật liệu, chịu hao mòn máy móc thiết bị và trả lương cho nhân viên Đây là các chi phí sản xuất và chi phí hoạt động mà doanh nghiệp phải chi để duy trì hoạt động và đạt được mục tiêu kinh doanh Quản lý tốt chi phí sản xuất, chi phí lao động và chi phí vận hành giúp tối ưu nguồn lực, giảm thiểu lãng phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Chi phí phát sinh có tính chất thường xuyên, liên tục gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm, vì vậy doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để đạt mục tiêu kinh doanh Để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tiết kiệm chi phí ở từng khâu sản xuất cũng như toàn doanh nghiệp, cần tiến hành phân loại vốn nhằm kiểm tra và phân tích quá trình phát sinh các loại chi phí trong sản xuất kinh doanh Có nhiều cách phân loại vốn tùy thuộc vào góc độ đánh giá khác nhau, qua đó giúp tối ưu hoá chi phí và nâng cao hiệu quả vốn cho doanh nghiệp.
1.1.2.1 - Phân lo ạ i v ố n d ự a trên giác độ chu chuy ể n c ủ a v ố n thì v ố n c ủ a doanh nghi ệ p bao g ồ m hai lo ạ i là v ố n l ư u độ ng và v ố n c ố đị nh
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ) TSCĐ được dùng trong kinh doanh và tham gia hoàn toàn vào quá trình sản xuất, kinh doanh, nhưng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kỳ kinh doanh.
Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái:
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường10
1.2.1- Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1.1- Hi ệ u qu ả s ử d ụ ng v ố n là gì?
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, vật lực và tài lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả sản xuất – kinh doanh cao nhất với tổng chi phí thấp nhất Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ nền sản xuất nào nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng, đặc biệt nó đang là vấn đề cấp bách mang tính thời sự đối với các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam hiện nay Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vừa là câu hỏi, vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp hiện nay Bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh nào cũng có hàm sản xuất dạng:
Kết quả SXKD của doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố tài nguyên, vốn và công nghệ Ở tầm vi mô và trong ngắn hạn, các nguồn lực đầu vào bị giới hạn, đòi hỏi doanh nghiệp phải khai thác và sử dụng vốn hiệu quả, tận dụng tối đa các nguồn lực sẵn có Trên cơ sở đó, doanh nghiệp cần so sánh các phương án SXKD và lựa chọn phương án tối ưu nhất cho hoạt động của mình.
Vậy hiệu quả sử dụng vốn là gì ? Để hiểu được ta phải hiểu được hiệu quả là gì?
- Hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa “kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”
Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh Chi phí đầu vào
Về mặt định lượng, hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội được thể hiện qua mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Chỉ khi kết quả đầu ra lớn hơn chi phí đầu vào mới hình thành hiệu quả kinh tế, và mức độ hiệu quả càng cao khi chênh lệch giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào càng lớn Do đó, mục tiêu là tối ưu hóa chi phí và tăng đầu ra để nâng cao hiệu quả kinh tế cho từng nhiệm vụ kinh tế xã hội.
Về mặt định tính, hiệu quả kinh tế cao được thể hiện qua sự nỗ lực và trình độ quản lý ở từng khâu, từng cấp trong hệ thống công nghiệp, đồng thời cho thấy sự gắn bó giữa việc giải quyết các yêu cầu và mục tiêu kinh tế với các yêu cầu và mục tiêu chính trị – xã hội.
Có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh tế khác nhau, nhưng ở bài viết này em tập trung vào vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp Để tối ưu hóa nguồn vốn, doanh nghiệp cần phân tích các yếu tố tạo giá trị, từ hiệu suất sử dụng tài sản, vòng quay vốn đến hiệu quả chi phí và cơ cấu vốn Việc cải thiện hiệu quả sử dụng vốn giúp tăng lợi nhuận, giảm chi phí vốn và nâng cao khả năng cạnh tranh Các chỉ số như vòng quay vốn, ROA (lợi nhuận trên tài sản) và ROE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) là công cụ đo lường quan trọng để theo dõi tiến bộ Do đó, tập trung vào tối ưu hóa chi phí, quản trị rủi ro tài chính và kế hoạch đầu tư hợp lý sẽ là nền tảng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
Như vậy, ta có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn như sau:
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế thể hiện trình độ khai thác và sử dụng nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời tối đa với chi phí thấp nhất Đây đòi hỏi quản trị vốn hiệu quả, phân bổ và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý để tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí Việc tối ưu hóa nguồn vốn giúp nâng cao hiệu suất hoạt động, tăng cường năng lực cạnh tranh và đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh đầy biến động.
Hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề phức tạp, liên quan tới tất cả yếu tố của quá trình sản xuất – kinh doanh, nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả bằng cách tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh Để đạt được hiệu quả cao, doanh nghiệp cần giải quyết các vấn đề cốt lõi như đảm bảo tiết kiệm chi phí, huy động thêm vốn để mở rộng quy mô hoạt động sản xuất – kinh doanh, và liên tục theo đuổi các mục tiêu đã đề ra trong quá trình sử dụng vốn.
1.2.1.2 - S ự c ầ n thi ế t ph ả i nâng cao hi ệ u qu ả s ử d ụ ng v ố n t ạ i doanh nghi ệ p
Trong thời kỳ bao cấp trước đây, chi phí và doanh thu phần lớn do Nhà nước ấn định Quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc Nhà nước thu lãi, lỗ được Nhà nước bù đắp cho doanh nghiệp Nhà nước ban hành kế hoạch mang tính pháp định về mặt hàng kinh doanh, nguồn hàng, địa bàn tiêu thụ và doanh thu được xác định trước.
Do vậy, DN không thể và không cần thiết phải phát huy tính sáng tạo, chủ động của mình trong sản xuất kinh doanh Hạch toán kinh doanh hiện nay mang tính chất hình thức, khiến nhiều DN tylko làm cho có thay vì thực sự tối ưu hóa hiệu quả Đa số các DN lãi giả lỗ thật, nguy cơ ảnh hưởng đến nền kinh tế ngày càng tăng, trong khi nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả vẫn được Nhà nước bù lỗ để duy trì hoạt động.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế và doanh nghiệp khiến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh trở thành điều kiện sống còn để tồn tại và phát triển Việc tối ưu hóa hiệu quả hoạt động không chỉ giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong nước và nước ngoài mà còn xây dựng uy tín, vị thế vững chắc trên thị trường.
1.2.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp Việt nam hiện nay
Các doanh nghiệp Việt Nam với số vốn tự có, vốn vay hoặc vốn điều lệ không phải là vốn cho không; họ phải trả cổ tức, nộp thuế vốn và hạch toán bảo toàn vốn Vậy số vốn lớn lên bao nhiêu là đủ, hợp lý và hiệu quả cho quá trình sản xuất, kinh doanh? Khi thị trường ngày càng ổn định, mở rộng và nhu cầu của khách hàng tăng lên, tất nhiên cần nhiều vốn để phát triển kinh doanh; tuy nhiên, nếu công tác quản trị và điều hành không tốt thì doanh nghiệp có thể phải phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn hoặc gặp khó khăn trong xoay vòng vốn, thậm chí có thể dẫn đến phá sản do ảo tưởng về sự thành đạt Để đánh giá chính xác hơn hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, ta có thể dựa vào các nhóm chỉ tiêu đo lường sau đây:
1.2.2.1 Nhóm ch ỉ tiêu v ề hi ệ u qu ả s ử d ụ ng v ố n c ủ a doanh nghi ệ p
Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện rõ qua các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, cho thấy mối quan hệ giữa kết quả hoạt động trong kỳ và vốn kinh doanh bình quân Để đánh giá và theo dõi khả năng sinh lời từ vốn bỏ ra, ta có thể sử dụng các chỉ tiêu như ROIC (lợi suất trên vốn đầu tư), ROA (lợi nhuận trên tài sản), vòng quay vốn lưu động và vòng quay tài sản, nhằm đo lường mức độ hiệu quả và khả năng tạo lợi nhuận từ vốn kinh doanh Những chỉ tiêu này hỗ trợ nhận diện ưu điểm và hạn chế trong quản trị vốn, từ đó đưa ra quyết định tối ưu hóa chi phí, tăng trưởng và ổn định tài chính cho doanh nghiệp.
♦ Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghiệp
Hv - Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghiệp
D - Doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ
V - Toàn bộ vốn sử dụng bình quân trong kỳ
Vốn của doanh nghiệp bao gồm: vốn cố định và vốn lưu động, do đó ta có các chỉ tiêu cụ thể sau:
♦ Hiệu quả sử dụng vốn cố định
Trong đó: H VCĐ : Hiệu quả sử dụng VCĐ
Vcđ : Vốn cố định bình quân sử dụng trong kỳ
♦ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
H VLĐ = V LĐ Trong đó: HVLĐ: Hiệu quả sử dụng VLĐ
VLĐ : Vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cho biết mỗi đồng vốn của doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng lớn và cho thấy doanh nghiệp đang tối ưu hóa nguồn vốn của mình Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ và tiết kiệm nguồn vốn hiện có.
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, để phản ánh chính xác hơn, cần xem xét đồng thời cả số tuyệt đối và số tương đối bằng cách so sánh tổng vốn bỏ ra với lợi nhuận thu được trong kỳ Việc đánh giá ở dạng tuyệt đối cho biết mức lợi nhuận cụ thể, còn ở dạng tương đối cho phép đánh giá hiệu quả đầu tư và so sánh với các kỳ trước hoặc với các doanh nghiệp khác Nhờ sự kết hợp của hai yếu tố này, doanh nghiệp có thể có cái nhìn toàn diện về hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời trong kỳ, từ đó hỗ trợ lựa chọn các quyết định quản trị tối ưu.
Các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất lợi nhuận
♦ Tỷ suất lợi nhuận của toàn bộ vốn kinh doanh
TLN ∑ Vkd - Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn kinh doanh
∑LNST - Tổng lợi nhuận sau thuế trong kỳ
∑ Vkd - Tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
♦ Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động:
Trong đó: V LĐ : Tổng vốn lưu động bình quân trong kỳ
TLNVLĐ: Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
♦ Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định, T LNVCĐ
Trong đó: VCĐ - Tổng vốn cố địng bình quân trong kỳ
Các chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
1.2.3 - Một số chỉ tiêu khác phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức và quản lý, cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp (DN) Đây là thước đo toàn diện cho thấy mức độ tối ưu hóa quản trị nguồn lực và hiệu quả hoạt động của DN, đồng thời cung cấp cái nhìn tổng quát về hiệu suất tài chính và quản trị vốn Tỷ lệ các chỉ tiêu liên quan được xây dựng thành một hệ thống đánh giá nhằm giúp doanh nghiệp nhận diện điểm mạnh, hạn chế và cơ hội cải tiến trong quá trình quản trị và sử dụng vốn.
♦ Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ:
Là số lần luân chuyển vốn lưu động trong kỳ, nó đươc xác định như sau:
Trong đó: C - Số vòng quay vốn lưu động
D - Doanh thu thuần trong kỳ
V lđ - Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Vốn lưu động bình quân tháng, quý, năm được tính như sau:
Vốn LĐBQ tháng = (VLĐ đầu tháng + VLĐ cuối tháng)/2 Vốn LĐBQ quý, năm = (VLĐ1/2 + VLĐ2 + +VLĐn-1+ VLĐn/2)/(n-1)
Trong đó: VLĐ1, VLĐn - Vốn lưu động hiện có vào đầu tháng
trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty công trình giao thông 208
Thực trạng sử dụng vốn trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.1- Thực trạng của các DN Việt nam hiện nay
Vay nợ nước ngoài là một công cụ quan trọng trong quá trình vận hành nền kinh tế, giúp các quốc gia điều tiết mức chi tiêu và đầu tư phát triển Chính phủ sử dụng hình thức vay nợ và viện trợ phát triển để bổ sung nguồn lực cho ngân sách và các dự án hạ tầng, đồng thời nợ của các doanh nghiệp cũng gia tăng, ước khoảng 4 tỷ USD nhưng con số này chưa chắc đã chính xác tuyệt đối Việc sử dụng nguồn vốn nước ngoài thể hiện qua nhiều biểu hiện, như tăng quy mô đầu tư công, mở rộng vốn sản xuất và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, đi kèm với rủi ro phụ thuộc vốn và tài chính từ nguồn vốn nước ngoài.
Thời gian thực hiện dự án đầu tư bị kéo dài so với kế hoạch ban đầu vay vốn, khiến khi đến kỳ hạn trả nợ dự án chưa có nguồn thu và không có nguồn trả nợ Điều này buộc doanh nghiệp đối mặt với thiếu dòng tiền và rủi ro tài chính tăng lên Do đó, họ phải giật gấu vá vai tìm kiếm các nguồn vốn bổ sung từ nhiều kênh khác nhau để đảm bảo trả nợ đến hạn Tình trạng này có thể làm tăng chi phí vốn và ảnh hưởng đến niềm tin của đối tác, ngân hàng và nhà đầu tư Việc quản trị rủi ro tài chính và lên kế hoạch dự phòng dòng tiền trở nên cấp thiết để hạn chế rủi ro vỡ nợ trong bối cảnh dự án chậm tiến độ.
Không thể dự báo hết sự biến động của tỷ giá, đặc biệt đối với các dự án có vốn vay nước ngoài lớn Dự án từng tính toán biến động ở mức thấp khi xây dựng, nhưng chỉ trong vòng 3 năm, khi dự án chưa triển khai xong, tỷ giá USD/VND biến động tới 20–30% đã làm dự án gặp lỗ rõ rệt.
Nhận thức về vốn vay còn hạn chế, chưa nhận ra đầy đủ vai trò của vốn vay trong phát triển và đầu tư Việc chưa thể hiện đầy đủ mặt trái của vốn vay khiến các quyết định sử dụng vốn vay thiếu cân nhắc, dễ phát sinh rủi ro và hiệu quả sử dụng chưa tối ưu Vì thế, cần nâng cao nhận thức về vốn vay, phân tích kỹ lưỡng lợi ích và hạn chế, đồng thời đánh giá tác động lâu dài để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn vay.
Một số dự án vay vốn nước ngoài với mục đích sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu hoặc có phần sản phẩm dành cho xuất khẩu Tuy nhiên, khi đi vào sản xuất, phần lớn sản phẩm lại được tiêu thụ tại thị trường nội địa, khiến thiếu ngoại tệ để trả nợ nước ngoài và làm gia tăng áp lực lên cán cân thanh toán Tình huống này cho thấy rủi ro thanh khoản và tính bền vững của nguồn vốn vay nước ngoài đối với các dự án sản xuất, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý ngoại hối và đa dạng hóa thị trường để giảm tác động của biến động ngoại tệ.
Hiện nay nhiều khoản tín dụng tài trợ nhập khẩu được chào mời và thực hiện với các doanh nghiệp Việt Nam với các điều kiện ưu đãi, nhưng giá vẫn trở nên đắt đỏ và ẩn chứa nhiều rủi ro Thiết bị cũ hoặc hàng hoá chậm tiêu thụ dẫn tới tồn kho và luân chuyển hàng hóa không hiệu quả, gây thiệt hại cho doanh nghiệp và ảnh hưởng xấu tới xã hội cũng như lợi ích quốc gia Giải pháp đặt ra là thắt chặt hoạt động của cơ quan kiểm định, thẩm định chất lượng tại Việt Nam và cần thiết phải nhờ đến các tổ chức có uy tín của quốc tế để thực hiện khâu này, nhằm ngăn ngừa các tiêu cực và tham nhũng trong vay nợ và nhập khẩu thiết bị chưa được quản lý chặt chẽ.
2.1.2 - Các DNNN thuộc Bộ GTVT, thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn
Cơ cấu và quy mô doanh nghiệp đã có sự chuyển hướng hợp lý hơn
Nguồn vốn chủ sở hữu được bổ sung và phát triển liên tục: năm 1995 đạt 5.870 tỷ đồng, đến năm 2000 lên 7.057 tỷ đồng, tăng 20% Cùng kỳ, tỷ lệ vốn tự bổ sung trên tổng nguồn vốn chủ sở hữu tăng từ 21,5% lên 33,8% Quy mô vốn còn nhỏ, chiếm dụng lẫn nhau, thiếu vốn kinh doanh nghiêm trọng nên các doanh nghiệp buộc phải vay vốn ngân hàng dẫn đến tăng giá thành sản phẩm Lãi trả ngân hàng của toàn ngành năm 2000 lên tới 353 tỷ đồng.
Trong năm 2000, năm đầu tiên của các doanh nghiệp trong Bộ, tổng doanh thu đạt 16 ngàn tỷ đồng, gấp 2,21 lần năm 1995 và mức tăng trưởng trung bình từ 1995 đến 2000 là 44,2% mỗi năm Tuy vậy, thực tế cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, chưa được cải thiện đáng kể Theo đánh giá của Chính phủ, khoảng 40% doanh nghiệp thực sự có hiệu quả; 20% kinh doanh kém hiệu quả và thua lỗ; 6% phá sản; còn lại là các doanh nghiệp kinh doanh thất thường, lúc lỗ, lúc lãi Sau đợt kiểm tra của Bộ, nhiều doanh nghiệp đã hạch toán không đúng chế độ, đặc biệt là tính giá thành sản phẩm, làm thiếu phản ánh chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, lỗ của năm trước chưa được giải quyết nhưng lại bị chồng lên bởi lỗ năm sau, đẩy họ vào thế bế tắc Đáng chú ý, có tổng công ty với tới 58% đơn vị trực thuộc lỗ vốn, lỗ luỹ kế tới đầu năm 2000 gần 30 tỷ đồng, nhiều doanh nghiệp có mức lỗ lên tới gần bằng hai lần vốn chủ sở hữu.
Hiệu suất sử dụng TSCĐ và hiệu quả sử dụng vốn của các đơn vị trong toàn ngành nhìn chung còn thấp Trung bình, hiệu suất sử dụng TSCĐ của ngành đạt 0,73 lần; doanh lợi vốn cố định ở mức 2% Doanh lợi từ doanh thu bán hàng chỉ đạt 2,8%, trong khi doanh lợi vốn là 6%.
Giới thiệu về công ty
2.2.1- Đặc điểm quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty công trình giao thông 208 là doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng công ty công trình giao thông 4, Bộ Giao thông Vận tải, hoạt động theo luật doanh nghiệp và có đầy đủ tư cách pháp nhân Trụ sở chính của công ty đặt tại 26B - Vân Hồ II, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Được thành lập năm 1965, với tiền thân là Trạm quản lý quốc lộ Hà Nội thuộc Sở Giao thông Hà Nội Nhiệm vụ chính của trạm là đảm bảo giao thông thông suốt các cửa ngõ vào thủ đô Hà Nội, chủ yếu là các bến phà và cầu phao Đến năm 1971, công ty đổi tên thành Xí nghiệp quản lý sửa chữa giao thông trung ương 208 và trực thuộc Cục Quản lý đường bộ Việt Nam Nhiệm vụ chính lúc đó là đảm bảo giao thông thông suốt khu vực Hà Nội và ứng cứu, bảo đảm giao thông trên phạm vi toàn quốc khi có lệnh điều động.
Vào năm 1992, Xí nghiệp đổi tên thành Phân khu quản lý đường bộ 208 thuộc khu quản lý đường bộ 2, với nhiệm vụ bảo dưỡng thiết bị, phao phà, ứng cứu và đảm bảo an toàn giao thông trên toàn quốc khi có lệnh điều động, đồng thời tiến hành các công trình cơ bản nhỏ Bên cạnh đó, phân khu đại tu, sửa chữa các cầu, đường bộ; rải thảm bê tông asphalt; sửa chữa và làm mới một số cầu, đường ở các tỉnh phía Bắc; xây dựng các công trình dân dụng Đến tháng 7/1992, Phân khu quản lý đường bộ 208 tách làm đôi: một nửa thành lập Phân khu quản lý đường bộ 234 trực thuộc khu quản lý đường bộ 2, còn một nửa trực thuộc Cục Đường bộ Việt Nam và được đặt tên là Công ty công trình giao thông 208, với nhiệm vụ như trên.
Kể từ năm 1995, phạm vi hoạt động của công ty được mở rộng ra toàn quốc và nước ngoài thông qua đấu thầu các dự án Công ty đảm nhận hầu hết các công trình trong nước và có thể huy động vốn từ nguồn nước ngoài như vốn ODA hoặc vay từ các tổ chức cá nhân và tổ chức tín dụng nước ngoài Do đó, các dự án do công ty thực hiện luôn chịu sự giám sát của các tổ chức nước ngoài nhằm đảm bảo tính minh bạch, tuân thủ chuẩn mực quốc tế và hiệu quả đầu tư.
Nguồn vốn kinh doanh của công ty bao gồm: 5843068057 đồng Trong đó:
Vốn do ngân sách cấp: 1.623.766.038 đồng và vốn tự bổ sung: 4.209.302.019 đồng là hai nguồn vốn chủ lực hỗ trợ hoạt động của công ty Năm 1992, công ty thực hiện tách thành một công ty kinh doanh và một công ty quản lý, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc giải quyết việc làm Thời điểm này, việc làm chủ yếu được giao cho tổng công ty, và với sự xuất hiện của cơ chế đấu thầu mới, công tác quản lý chưa chặt chẽ đã làm giảm hiệu quả hoạt động và gây áp lực lên công tác tuyển dụng.
Năm 1998, công ty đã giải quyết 80% việc làm cho công nhân; năm 1999, sau khi thắng thầu và được tổng công ty giao nhiệm vụ, công ty nâng tỉ lệ giải quyết việc làm lên 90%; đến năm 2000, công ty đã lo đầy đủ 100% việc làm cho cán bộ, công nhân viên Đến năm 2001, tổng số nhân viên của công ty là 365 người, trong đó 45 người làm việc ở 6 phòng ban, phần còn lại là công nhân viên làm việc tại các đội, xưởng, trạm.
Gần 40 năm xây dựng và trưởng thành với phương châm lấy uy tín chất lượng làm đầu thì công ty công trình giao thông 208 đã có bước phát triển đáng kể, ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong xã hội Để thấy rõ hơn được quá trình phát triển của công ty chúng ta có thể dựa vào một số chỉ tiêu sau:
BCKQKD của công ty từ năm 1999 đến năm 2001 Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
5.Lợi nhuận từ HĐKD 1316 2310 2479 6.Lợi nhuận từ HĐTC - 2252 - 1566 -1549
7 Lợi nhuận bất thường 743 - 202 -181 5.Lợi nhuận trước thuế - 193 542 749
(Nguồn BCĐKT của công ty các năm 1999 - 2001)
Từ bảng trên ta thấy doanh thu năm 2001 tăng vọt so với năm 1999
Lợi nhuận năm 1999 không có, trong khi đó năm 2001 lợi nhuận đạt những
Với mốc 749 triệu đồng, công ty cho thấy xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ, được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ đạo như doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế.
2.2.2- Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty
Công ty công trình giao thông 208 hoạt động trong nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh, chủ yếu là xây dựng mới đường bộ, cầu bê tông cốt thép và rải thảm bê tông asphalt, với đặc điểm riêng của sản phẩm xây dựng là tác động trực tiếp đến công tác tổ chức quản lý và điều hành Quy mô các công trình giao thông thường rất lớn, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất kéo dài và đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn do sự đa dạng của các yếu tố đầu vào Nguồn vốn kinh doanh của công ty chủ yếu là vốn vay từ ngân hàng, Tổng 4, cán bộ công nhân viên và các tổ chức tín dụng khác nhằm đảm bảo tiến độ thi công; ví dụ cuối năm có công trình bị ách vốn sẽ gây thiệt hại cho công ty và làm giảm uy tín, khó khăn trong việc đấu thầu các dự án sau Vốn lưu động được xác định căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh, và khi tham gia đấu thầu, công ty phải xác định nhu cầu vốn lưu động rồi trình Tổng 4 xét duyệt; sau khi được duyệt, công ty sẽ thuyết trình với ngân hàng để xem xét khả năng cho vay và quyết định cấp vốn trong hạn mức tín dụng.
Trong trường hợp khoản vay của công ty vượt quá hạn mức tín dụng, ngân hàng sẽ không cấp thêm vay và yêu cầu đợi vốn về để trả nợ cũ trước khi được cấp vốn mới Đối với nhu cầu vốn lưu động đột xuất, công ty có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau nhằm đảm bảo quá trình sản xuất và kinh doanh diễn ra liên tục Lãi suất vay ngân hàng áp dụng cho công ty là 6,2% mỗi năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn mức, tương đương 9,3% mỗi năm.
Để đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn, các doanh nghiệp xây dựng bắt buộc phải xây dựng giá dự toán cho từng công trình (dự toán thiết kế và dự toán thi công) Trong quá trình sản xuất và thi công, giá dự toán trở thành thước đo, được so sánh với các khoản chi phí phát sinh; khi công trình hoàn thành, giá dự toán là cơ sở để nghiệm thu, kiểm tra chất lượng công trình, xác định giá thành, quyết toán và thanh lý hợp đồng đã ký kết.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty chịu sự tác động trực tiếp từ quy trình công nghệ Hiện nay, công ty có ba quy trình công nghệ chính là làm đường mới, vá sửa đường và rải thảm đường bê tông nhựa asphalt, đóng vai trò then chốt trong mọi dự án Các quy trình này đảm bảo chất lượng công trình, tối ưu hóa tiến độ và chi phí, đồng thời nâng cao hiệu quả vận hành và an toàn giao thông Việc áp dụng ba quy trình này giúp công ty duy trì năng lực cạnh tranh và đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng về thi công đường sá.
Có thể khái quát quy trình công nghệ của công ty qua 3 sơ đồ sau:
+Dây truyền làm đường mới : Đào khuôn đường trồng đá hộc rải đá 4×6Lu nèn rải đá 1×2 tưới nhựa nhũ tương 2 lớp
Vệ sinh mặt đường cuốc, sửa vuông chỗ vá Rải đá2×4 Lu nèn Rải đá 1×2 tưới nhựa nhũ tương 2 lớp
+Rải thảm bê tông đường antpha:
Vệ sinh mặt đường Bổ lỗ chân chim tưới nhựa dính bám Rải nhựa bê tông antpha Lu bánh lốp lu nặng 10 tấn đập mép đường
Việc nắm vững công nghệ thi công giúp tổ chức, quản lý và theo dõi từng bước trong quá trình tập hợp chi phí sản xuất đến giai đoạn cuối cùng, từ đó kiểm soát và giảm đáng kể chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh của công ty Với tư cách pháp nhân, công ty có thể huy động vốn, đại diện cho các xí nghiệp sản xuất ký kết hợp đồng và tham gia đấu thầu để tìm việc làm cho các đơn vị Trên cơ sở các hợp đồng kinh tế, công ty tiến hành giao khoán và điều hành sản xuất các đơn vị thành viên là: Xí nghiệp thi công cơ giới, Xí nghiệp công trình giao thông I, II, III, đội 281, 282, 283.
284, trạm bê tông Phú Viên, trạm bê tông Phủ Lý, trạm bê tông Văn Lâm
Sơ đồ tổ chức hoạt động SXKD của công ty cho thấy cơ cấu quản lý được thiết kế nhằm tối ưu hóa bộ máy sản xuất và hệ thống hoạt động kinh doanh Để duy trì và củng cố hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, công ty đã xây dựng và vận hành theo một cơ chế điều hành riêng, đảm bảo sự đồng bộ giữa các bộ phận và mục tiêu phát triển bền vững.
Kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính pháp lệnh, các phòng ban bằng các nỗ lực chủ quản phải chấp hành nghiêm túc tổ chức thực hiện đem lại hiệu quả cao nhất Kế hoạch sản xuất mang các nội dung: Nhiệm vụ công trình, khối lượng công việc, chất lượng sản phẩm, tiến độ hoàn thành
Xí nghiệp thi công cơ giới Đội
Xí nghiệp công trình giao thông
Xí nghiệp công trình giao thông
Xí nghiệp công trình giao thông III thực hiện bàn giao tiến độ và phân bổ giá trị sản lượng cùng kinh phí cho từng công trình theo từng giai đoạn hoàn thành Mọi hợp đồng kinh tế với chủ đầu tư và các cơ quan trong và ngoài ngành đều do giám đốc trực tiếp ký kết, không uỷ quyền cho các xí nghiệp thành viên; đối với những công trình có giá trị nhỏ và chủ yếu thuê nhân công, giám đốc có thể uỷ quyền cho các xí nghiệp thành viên ký kết và tổ chức thực hiện khi cần thiết Tuy nhiên, bản hợp đồng đã ký kết phải được nộp về phòng kinh doanh và phòng tài vụ của công ty để công ty theo dõi.
Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty công trình giao thông 208
2.3.1 - Khái quát chung về nguồn vốn của công ty
Phòng tài chính kế toán
Phòng tổ chức hành chính
Phòng thiết bị- vật tư
Phòng tổ chức cán bộ lao động
Xí nghiệp thi công cơ giới Đội
Cũng như các doanh nghiệp nhà nước khác, CTGT 208 chủ động tìm nguồn vốn từ thị trường để tồn tại và phát triển Nhờ sự năng động, sáng tạo, công ty nhanh chóng thích ứng với điều kiện và cơ chế thị trường nên kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh những năm vừa qua ở mức khả quan Tuy vậy, do cạnh tranh ngày càng gay gắt trong cơ chế mới, doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng nhất định Để đánh giá mức độ thành công trong kinh doanh, cần hiểu rõ cách công ty sử dụng các nguồn lực và tiềm năng sẵn có, đặc biệt là hiệu quả sử dụng vốn Qua xem xét tình hình hoạt động năm 2001 cho thấy tổng vốn đầu tư cho hoạt động SXKD đầu năm là 49.797.246.528 đồng và đến cuối năm đã tăng lên 70.128.306.434 đồng, phản ánh mức tăng trưởng về vốn để mở rộng sản xuất và kinh doanh.
- Vốn lưu động chiếm: 0.586.697.975 đồng
- Vốn cố định chiếm: 9.210.548.553 đồng Đến cuối năm số vốn này đạt lần lượt là:
Nguồn vốn này hình thành từ hai nguồn: (Cuối năm 2001)
- Vốn chủ sở hữu: 3.550.150.632 đồng
Cụ thể về nguồn vốn của công ty được thể hiện qua bảng sau:
Biểu 1: Nguồn hình thành vốn của công ty CTGT 208 Đơn vị: Triệu đồng
Lượng Tỷ trọng Lượng Tỷ trọng
1.Nguồn vốn và quỹ Nguồn vốn kinh doanh 5065 10,17% 5159 7,36%
Chênh lệch đánh giá lại TS 796 1,6% 796 1,14%
Lợi nhuận chưa phân phối - 3802 - 7.63% - 2424 - 3,46%
( Nguồn : Bảng CĐKT công ty CTGT 208 năm 2000; 2001)
Từ bảng số liệu trên, ta có các chỉ tiêu năm 2001 của công ty là:
Hệ số nợ Tổng số vốn của công ty
Hệ số nợ dài hạn
= Vốn CSH +Nợ dài hạn
Từ việc tính toán trên ta thấy:
Hệ số nợ của công ty rất lớn, lên tới 94,94%, trong khi vốn tự có chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn vốn (5,06%) Để đánh giá chính xác hơn tình hình tài chính, ta cần phân tích bảng biểu dưới đây nhằm làm rõ mức độ đòn bẩy tài chính và cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp.
Biểu 2: Cơ cấu tài sản của công ty CTGT 208 năm 2001 Đơn vị : Triệu đồng Đầu năm Cuối năm Chênh lệch
(Nguồn: Bảng CĐKT của công ty CTGT 208 ngày 31/12/01)
Về cơ cấu tài sản, TSLĐ và ĐTNH chiếm 40.587 trđ (81,5%) vào đầu năm và tăng lên 60.091 trđ (85,69%) vào cuối năm; phần lớn tài sản tập trung ở nợ phải thu chiếm 39,79% và hàng tồn kho 31,49% trên tổng giá trị tài sản của công ty Tài sản là hiện vật (hàng tồn kho, TSCĐ, công trình XDCB dở dang) là 32.104 trđ, chiếm 45,78%; phần còn lại gồm vốn bằng tiền, công nợ phải thu và đầu tư tài chính dài hạn chiếm 54,22% Những tỷ lệ này cho thấy việc đầu tư dài hạn vào cơ sở vật chất kỹ thuật hình thành TSCĐ của DN còn thấp, công nghệ lạc hậu, nguồn vốn còn hạn chế.
Về nợ phải thu, tính đến ngày 31/12/2001 giá trị là 27.906 trđ, chiếm 39,79% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp Điều này cho thấy vốn của công ty bị chiếm dụng ở mức đáng kể và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn Trong khi các nguồn vốn khác có tỷ trọng thấp, nợ phải thu lại tăng lên từ 13.147 trđ đầu năm lên 27.906 trđ cuối năm, với tỷ trọng tăng tương đối là 13,39% Đây là một nguyên nhân chủ yếu khiến hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, làm giảm lợi nhuận và làm giảm tốc độ quay vòng vốn Vì các khoản nợ phải thu không sinh lời và làm tăng chi phí vốn do phải đi vay lãi, công ty phải đối mặt với hạn chế trong việc sử dụng vốn và cần xem xét đưa ra phương án tối ưu cho quản trị và sử dụng vốn hiệu quả.
Về hàng hoá tồn kho tại thời điểm ngày 31/12/2001, giá trị 22.084 triệu đồng chiếm 31,49% tổng giá trị tài sản và 36,75% vốn lưu động; vốn bằng tiền là 2.871 triệu đồng chiếm 4,09%, nợ phải thu của công ty 27.906 triệu đồng chiếm 39,79% Các con số này cho thấy việc sử dụng vốn chưa hiệu quả, phần lớn vốn lưu động đọng ở khâu thanh toán và công nợ.
Quản trị tồn kho vật tư, hàng hoá gặp tình trạng ứ đọng, không dùng được và kém phẩm chất khi chưa có biện pháp xử lý kịp thời; những vật tư từ các công trình đã lâu không còn phù hợp khiến giá trị tồn kho giảm sút Gánh nặng chi phí bảo quản, cất giữ tăng lên sẽ tác động tiêu cực đến tài chính doanh nghiệp, đòi hỏi các biện pháp tối ưu như thanh lý nhanh, tái sử dụng hoặc loại bỏ vật tư không còn phù hợp để cải thiện hiệu quả vận hành và giảm chi phí tồn kho.
Về tài sản cố định (TSCĐ), công ty hiện có giá trị 9.613 triệu đồng, chiếm 13,7% tổng tài sản Nguyên giá TSCĐ là 24.916 triệu đồng, chiếm 35,53% tổng tài sản; giá trị còn lại của TSCĐ là 9.613 triệu đồng, chiếm 38,58% nguyên giá; tỷ lệ hao mòn là 61,42% So với thời điểm đầu năm 2001, nguyên giá TSCĐ tăng từ 21.653 triệu đồng, chiếm 43,48% tổng tài sản lên 24.916 triệu đồng, tăng 3.263 triệu đồng; phần tăng thêm do điều chỉnh giá và chủ yếu là do doanh nghiệp đầu tư mới vào các trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ cho văn phòng và đội thi công.
Giá trị còn lại của TSCĐ là 38,58%, cho thấy quy mô tài sản của công ty cũ còn lớn và mức đầu tư đổi mới TSCĐ qua các năm đang diễn ra quá chậm Bên cạnh đó, có thể chưa tính đầy đủ mức hao mòn vô hình của tài sản; nếu tính đúng tỷ lệ, mức hao mòn này có thể còn thấp hơn Để xem xét tài sản được tài trợ như thế nào, chúng ta sẽ phân tích cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp thông qua bảng biểu sau.
Biểu 3: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty CTGT 208 năm 2001 Đơn vị: Triệu đồng Đầu năm Cuối năm Chênh lệch
Chỉ tiêu Lượng % Lượng % Lượng %
(Nguồn: bảng CĐKT của công ty ngày 31/12/2001)
Từ bảng biểu trên ta thấy tài sản của DN được hình thành từ hai nguồn là:
- Nguồn vốn vay và chiếm dụng
- Nguồn vốn chủ sở hữu
Vốn vay và vốn chiếm dụng chiếm 95,63% cơ cấu vốn của doanh nghiệp vào đầu năm; đến cuối năm lượng vốn này tăng lên 18.958 triệu đồng nhưng tỷ trọng lại giảm còn 94,94% Vốn chủ sở hữu chiếm một phần rất nhỏ, chỉ 5,06% Vì vậy, với mỗi đồng vốn của doanh nghiệp, gần 19 đồng phải đi vay hoặc chiếm dụng để kinh doanh (94,94/5,06 ≈ 19 lần).
Tuy nhiên, dữ liệu này chỉ phản ánh tại thời điểm 31/12/2001, nên chưa phản ánh đầy đủ tình hình huy động vốn của doanh nghiệp Tỷ lệ vốn vay của các doanh nghiệp rất cao, đòi hỏi họ phải đạt được mức lợi nhuận lớn để có thể trả lãi vay ngân hàng.
Nguồn vốn chủ sở hữu cuối năm đạt 3.550 triệu đồng, tăng từ đầu năm 2.178 triệu đồng lên 3.550 triệu đồng, tương đương gấp 1,63 lần Dù lợi nhuận chưa phân phối cuối năm có cải thiện nhưng vẫn ở mức âm Vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp; mức vốn CSH cao sẽ giúp doanh nghiệp chủ động về năng lực hoạt động và không bị phụ thuộc vào các đối tác bên ngoài.
Như vậy, nguồn vốn CSH của DN quá nhỏ (5,06%), chứng tỏ khả năng tự chủ về tài chính là quá thấp so với chỉ tiêu của toàn ngành
Về nợ phải trả, tổng nợ phải trả của DN tăng từ 47.620 triệu đồng đầu năm lên 66.578 triệu đồng vào cuối năm, tương ứng khoảng 1,39 lần; đồng thời nợ phải thu tăng lên khoảng 2,39 lần so với đầu kỳ Khoản nợ phải trả này DN phải chi trả lãi suất khi sử dụng vốn, trong khi các khoản phải thu lại không mang lại lãi cho DN, cho thấy sự bất hợp lý trong quản lý các khoản phải thu và hàng tồn kho Theo bảng biểu 3, về tỷ trọng, tất cả các khoản nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và các khoản nợ khác đều có xu hướng giảm, riêng nợ dài hạn có xu hướng tăng lên, cho thấy DN đã chú ý đầu tư vào TSCĐ nhằm đổi mới thiết bị công nghệ và sử dụng vốn vay một cách hợp lý hơn.
Như vậy, qua phân tích về cơ cấu tài sản, nguồn vốn của công ty công trình giao thông 208 năm 2001, ta thấy:
- Tổng tài sản của công ty tăng 20.330 triệu đồng
- Các loại tài sản khác đều có xu hướng tăng lên riêng vốn bằng tiền và TSLĐ khác có xu hướng giảm
- Nợ phải trả và vốn CSH cũng tăng lần lượt là 18.958 triệu đồng và 1.372 triệu đồng
Hiệu quả sử dụng vốn của công ty còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau Để hiểu rõ hơn, ta đi sâu vào nghiên cứu vốn cố định và vốn lưu động của doanh nghiệp, từ đó có cái nhìn đầy đủ và toàn diện về tình trạng sử dụng vốn tại công ty CTGT 208.
2.3.2 - Thực trạng công tác quản lý và hiệu quả sử dụng vốn cố định tại công ty công trình giao thông 208
Vốn cố định là một phần của vốn kinh doanh để hình thành nguồn vốn cho doanh nghiệp Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định có vai trò quan trọng trong việc tăng hiệu quả kinh doanh, giúp giảm tỷ suất chi phí lưu thông và tăng doanh lợi kinh doanh của DN Mặc dù vốn cố định chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, để đánh giá chính xác mức độ hiệu quả của vốn cố định cần phân tích sâu các chỉ tiêu liên quan nhằm xác định được mức độ tốt hay xấu của việc sử dụng vốn cố định.
2.3.2.1 - Tình hình s ử d ụ ng v ố n c ố đị nh c ủ a công ty Để đánh giá được tình hình sử dụng vốn cố định của công ty ta nghiên cứu bảng biểu sau:
Biểu 4: Cơ cấu vốn cố định của công ty CTGT 208 Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
( Nguồn : BCTC của công ty từ năm 1998 - 2001)
Qua bảng biểu 4 ta thấy:
TSCĐHH của công ty chiếm phần lớn trong tổng TSCĐ và ĐTDH của DN
TSCĐHH (tài sản cố định hữu hình) của công ty bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, máy thi công công trình, máy vi tính, máy đóng cọc và nhiều máy móc khác phục vụ cho quá trình kinh doanh Với hoạt động chủ yếu là xây dựng các công trình và đường quốc lộ, TSCĐHH chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản cố định của công ty Năm 1998, tỷ trọng này đạt 89,9%.
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty
Biểu 13:Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty CTGT 208 Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
4.Hiệu quả sử dụng VKD (1/3)
( Nguồn BCTC của công ty năm 1999 - 2001)
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công tăng dần qua các năm với tốc độ tăng khá nhanh Cụ thể:
+ Năm 1999, một đồng vốn kinh doanh của công ty tạo ra được 4,52 đồng doanh thu
+ Năm 2000, một đồng vốn kinh doanh của công ty tạo ra được 8,43 đồng doanh thu, tăng 3,91 đồng so với năm 1999
+ Năm 2001, con số này là 10,48 đồng, tăng 1,95 đồng so với năm
Trong năm 1999, tỷ suất lợi nhuận của công ty ở mức thấp, cho thấy hiệu quả hoạt động còn kém Đến năm 2001, công ty đã ghi nhận lợi nhuận 749 triệu đồng Cụ thể, mỗi đồng vốn kinh doanh tham gia vào sản xuất, kinh doanh của công ty năm 1999 tạo ra 0,03 đồng lợi nhuận, và sang năm 2001 con số này tăng lên thành 0,15 đồng lợi nhuận trên mỗi đồng vốn Sự gia tăng mạnh mẽ của tỷ suất lợi nhuận cho thấy năng lực hoạt động của công ty ngày càng được cải thiện, minh chứng cho hiệu quả quản lý và khả năng sinh lợi cao hơn.
IV - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY
Từ việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại công ty CTGT 208, ta rút ra một số nhận xét sau:
2.4.1 - Những kết quả đạt được
Công ty tập trung đầu tư mạnh vào máy móc thiết bị và dụng cụ quản lý, đồng thời nhượng bán các thiết bị cũ, lạc hậu để tối ưu hóa danh mục tài sản Sử dụng hợp lý nguồn vốn tự có, công ty thay mới thiết bị và máy móc, đảm bảo một cơ cấu tài sản cố định hợp lý với phương tiện hiện đại, phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Công ty đã lập kế hoạch khấu hao cho từng năm, giúp dự báo và phân bổ nguồn vốn khấu hao một cách cụ thể để sử dụng hiệu quả nguồn vốn này Việc lên kế hoạch khấu hao hàng năm giúp công ty kiểm soát dòng tiền và tối ưu hóa việc đầu tư, bảo trì và khấu hao tài sản cố định Công ty quy định rõ trách nhiệm vật chất của từng cá nhân và từng phòng ban trong việc quản lý và sử dụng tài sản, đảm bảo tài sản được quản lý và sử dụng đúng mục đích, mang lại hiệu quả cao.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty ngày càng tăng qua các năm kể từ năm 1999 đến năm 2001
Tỷ suất lợi nhuận đạt được ngày càng cao, công ty đã tiết kiệm được số vốn cố định của mình trong việc sử dụng
Công ty ngày càng sử dụng hợp lý và hiệu quả hơn vốn lưu động của mình, thể hiện qua xu hướng cải thiện các chỉ tiêu phân tích ở trên Những kết quả này cho thấy quản trị vốn lưu động được tối ưu hóa, tăng vòng quay vốn lưu động và khả năng thanh toán ngắn hạn, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính và giá trị doanh nghiệp.
Thứ nhất, khả năng thanh toán của công ty ngày càng tăng, cho thấy sức khỏe tài chính được cải thiện và có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn trong từng năm một cách tốt hơn Điều này có nghĩa là công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mỗi năm đầy đủ và an toàn hơn, giảm thiểu rủi ro tài chính và tăng sự ổn định của dòng tiền.
Th ứ hai : Tình hình cho thấy doanh thu tăng nhanh qua các năm, khắc phục được tình trạng khó khăn trong năm trước (1999) là thua lỗ trong kinh doanh
Hiệu suất sử dụng vốn lưu động của công ty đã tăng đều qua các năm, cho thấy sự quản trị tài chính ngày càng hiệu quả Mức tăng ổn định này cho thấy vốn lưu động được khai thác tối ưu, giúp công ty vận hành linh hoạt hơn trong mọi điều kiện thị trường Đặc biệt, tỷ suất lợi nhuận đã tăng lên khá nhanh, phản ánh hiệu quả biên lợi nhuận và lợi nhuận ròng được cải thiện rõ rệt Nhìn chung, xu hướng này tạo nền tảng vững chắc cho khả năng sinh lời và giá trị cổ đông trong tương lai.
Kết quả đạt được trong năm 1999-2001 giúp công ty mở rộng mối quan hệ với nhiều bạn hàng và nâng cao uy tín trên thị trường Thành tựu này làm tăng sự tin cậy từ đối tác, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty huy động nguồn vốn để tài trợ cho việc sử dụng vốn, từ đó đẩy mạnh hoạt động và tăng trưởng kinh doanh.
Công ty đã triển khai cơ chế hạch toán kinh doanh độc lập đến các xí nghiệp thành viên, nhằm tăng tính tự chủ và trách nhiệm trong việc sử dụng và quản lý vốn được giao Nhờ đó, các xí nghiệp thành viên có ý thức quản trị tài sản tốt hơn và giảm thiểu mất mát về tài sản so với trước đây.
Đời sống kinh tế của cán bộ, công nhân viên trong công ty ngày càng được cải thiện Từ tình trạng thiếu việc làm năm 1995, đến năm 2001 công ty đã giải quyết toàn bộ việc làm cho anh em trong công ty và đảm bảo được mức sống cho họ và gia đình họ Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những thành công này.
♦ Những nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, mục tiêu kinh doanh của công ty cần phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và xu hướng hội nhập quốc tế Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thuộc Bộ Giao thông vận tải (GTVT) tham gia thực hiện các công trình mới xây dựng và tu sửa nhằm đóng góp cho sự phát triển của đất nước và thu hút đầu tư nước ngoài.
Thứ Hai: Nhà nước đã ban hành một số luật thuế mới như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế tiêu thụ đặc biệt; đặc biệt là Hiệp định thương mại Việt Nam – Mỹ được ký kết năm vừa qua đã tạo cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động, giúp sân chơi công bằng và thông thoáng hơn cho hoạt động kinh doanh.
Thứ nhất, nhờ sự cố gắng nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong công ty Thời kỳ đầu, công ty luôn đối mặt với tình trạng thiếu vốn và thiếu việc làm; đến nay, đội ngũ cán bộ đã được trang bị đầy đủ và có trình độ cao, đóng góp tích cực cho sự phát triển của công ty.
Thứ hai, công ty đã tổ chức và quản lý tốt quá trình kinh doanh, đảm bảo các hoạt động được lên kế hoạch và triển khai hiệu quả Các khâu tổ chức được phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp chặt chẽ với nhau, giúp tối ưu hóa quy trình và loại bỏ lãng phí vốn trong quản lý Nhờ đó, năng suất được nâng cao, nguồn lực được sử dụng hợp lý và hiệu quả vận hành được cải thiện, mang lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.
Th ứ ba : Thường xuyên tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh giúp công ty nắm bắt được tình hình tài chính của mình
Việc công ty tổ chức quản lý tốt khâu tuyển dụng cán bộ lao động đã giúp doanh nghiệp trở nên linh hoạt và năng động hơn trong các tình huống kinh doanh Quản lý tuyển dụng hiệu quả đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng, giúp công ty thích nghi nhanh với thị trường và tối ưu hóa hiệu suất làm việc Nhờ quy trình tuyển dụng được tối ưu, đội ngũ nhân sự phù hợp có thể đáp ứng kịp thời các yêu cầu thay đổi của môi trường kinh doanh, từ đó đẩy mạnh hiệu quả và phát triển bền vững cho doanh nghiệp.
Th ứ n ă m : Uy tín của công ty ngày càng lớn đối với bên đối tác kinh doanh của mình
Đoạn này nêu rõ những thành tựu mà công ty đã đạt được trong thời gian qua đồng thời nhấn mạnh rằng mỗi thành công đều có hai mặt Bên cạnh những kết quả tốt đẹp, vẫn tồn tại những hạn chế cần khắc phục và cải thiện Do đó, công ty sẽ tiếp tục đánh giá, khắc phục điểm yếu, tối ưu quy trình và nắm bắt cơ hội để đảm bảo sự phát triển bền vững và tăng trưởng lâu dài.
Song song với những thành tựu đạt được ở trên thì hiệu quả sử dụng vốn của công ty còn những hạn chế sau: