1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp NHU cầu KINH DOANH NÔNG NGHIỆP của các NÔNG hộ và cán bộ KHUYẾN NÔNG

73 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu Kinh Doanh Nông Nghiệp của Các Nông Hộ và Cán Bộ Khuyến Nông
Trường học Trung tâm Phát triển Nông thôn, Đại học Kinh tế Huế
Chuyên ngành Phát triển nông nghiệp và nông thôn
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2006
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 593,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Giới thiệu và bối cảnh (5)
  • 2. Định nghĩa mốc sự kiện và báo cáo kết quả (6)
  • 3. Phương pháp (6)
    • 3.1 Đội ngũ cán bộ điều tra (6)
    • 3.2 Phương pháp điều tra thực tế (7)
    • 3.3 Việc lựa chọn nông hộ và hình thức trang trại (7)
  • 4. Các thành tựu đã đạt được (8)
    • 4.1 Nhu cầu của các nông hộ (8)
      • 4.1.1 Hệ thống nông nghiệp vùng đồi núi (8)
      • 4.1.2 Hệ thống nông nghiệp ở vùng đồng bằng (9)
      • 4.1.3 Hệ thống nông nghiệp ở vùng duyên hải (9)
      • 4.1.4 Các chuỗi cung KDNN (9)
    • 4.2 Nhu cầu của các cán bộ cung cấp dịch vụ kinh doanh (9)
    • 4.3 Chương trình phát triển chương trình đào tạo và các modules tập huấn (10)
  • 5. Tính bền vững và các vấn đề quan trọng (11)
    • 5.1 Phương pháp thí điểm (11)
    • 5.2 Phát triển nghiên cứu trường hợp (12)

Nội dung

DSTs Cán bộ hỗ trợ huyện FEDS Khoa Kinh tế và Phát triển GO Tổng giá trị sản xuất GoV Chính phủ Việt Nam HCCP Hệ thống đo lường chất lượng sản phẩm HCE Đại học Kinh tế Huế HTX Hợp tác xã

Giới thiệu và bối cảnh

Mục đích của báo cáo mốc sự kiện này là ghi nhận và công bố những thành tựu mà Dự án Agribiz đã đạt được trong thời gian vừa qua Thông qua báo cáo, chúng tôi nêu rõ các công việc đã được tiến hành để đánh giá nhu cầu tập huấn KDNN đối với các nông hộ và các cán bộ khuyến nông, nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ kinh doanh nông nghiệp cho cộng đồng.

Dự án Agribiz nhằm phát triển nguồn lực KDNN bền vững tại Trường Đại học Kinh tế (HCE) – Đại học Huế Dự án được tài trợ từ Chương trình Hợp tác Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn do Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia (AusAID) tài trợ và được thực hiện thông qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD) Đại học Lincoln (LU) ở New Zealand phối hợp với Đại học Kinh tế Huế để xây dựng và triển khai một chương trình xây dựng năng lực nhằm đáp ứng nhu cầu KDNN của các nông hộ ở miền Trung Các mục tiêu và kết quả mong đợi của dự án Agribiz bao gồm nâng cao năng lực và nguồn lực KDNN, tăng cường liên kết giữa các bên liên quan và thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp bền vững ở khu vực miền Trung.

Mục tiêu của dự án là nâng cao năng lực tiếp cận các dịch vụ KDNN cho các nông hộ ở miền Trung Việt Nam bằng cách cung cấp cho họ những kỹ năng KDNN thiết yếu Nhờ được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng KDNN, các nông hộ có thể cải thiện sinh kế, tăng cường tiếp cận nguồn lực và dịch vụ KDNN tại địa phương, từ đó nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống ở miền Trung.

Đội ngũ cán bộ Trường Đại học Kinh tế Huế đã được nâng cao kỹ năng nghiên cứu ứng dụng và giảng dạy KDNN, đồng thời cải thiện kỹ năng tư vấn và nghiên cứu, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và hoạt động nghiên cứu của trường.

• Trường Đại học Kinh tế Huế có chương trình giảng dạy KDNN được cải thiện;

Nâng cao kỹ năng và kiến thức KDNN cho đội ngũ cán bộ ở các cấp tại các tỉnh vùng dự án là yếu tố then chốt để họ có khả năng tổ chức và tiến hành các khóa đào tạo KDNN cho nông hộ Chương trình tập huấn được thiết kế nhằm trang bị kiến thức KDNN cập nhật cùng kỹ năng sư phạm và tư vấn thực tế, giúp cán bộ truyền đạt hiệu quả cho người dân và hỗ trợ nông hộ ứng dụng KDNN vào sản xuất Nhờ tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, dự án sẽ xây dựng mạng lưới đào tạo KDNN rộng khắp, nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ và tính bền vững của chương trình hỗ trợ nông dân.

• Kĩ năng KDNN các nông hộ tốt hơn và được hỗ trợ hiệu quả hơn bởi các cơ quan cấp tỉnh

Đói nghèo ở các vùng nông thôn, đặc biệt là trong các nhóm dân tộc thiểu số tại Miền Trung, là một đặc điểm nổi bật Chính phủ Việt Nam (GoV) và nhiều nhà tài trợ đã triển khai các chương trình trong khuôn khổ Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS) nhằm giải quyết tình trạng này Tuy nhiên hiện nay nguồn lực ở các đơn vị miền Trung vẫn chưa đủ để hỗ trợ các dự án KDNN (Kinh tế nông dân và nông thôn) là một lĩnh vực nghiên cứu mới ở Việt Nam Hiện nay cả nước chỉ có hai trường đại học có chương trình đào tạo cử nhân về KDNN, trong đó có Đại học Kinh tế Huế.

Các chương trình nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam đang gặp hạn chế do thiếu hụt kiến thức và kỹ năng KDNN của cán bộ nông nghiệp cấp tỉnh và các cố vấn địa phương Khi Việt Nam chuyển mục tiêu từ an ninh lương thực sang ưu tiên các hoạt động tạo thu nhập, kỹ năng KDNN sẽ trở nên vô cùng quan trọng để nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các chương trình này.

Dự án Agribiz chính thức khởi động vào tháng 3 năm 2005 khi các chuyên gia KDNN của Đại học Lincoln bắt đầu làm việc với Đại học Kinh tế Huế Kết quả của chuyến thăm là phát triển được phương pháp luận đánh giá nhu cầu KDNN của các nông hộ Tháng 7 năm 2005, dự án tổ chức hội thảo khai trương và các chuyên gia Đại học Lincoln đã tiến hành tập huấn KDNN cho cán bộ của Đại học Kinh tế Huế Trong thời gian hội thảo, kế hoạch cho công tác điều tra thực tế nhằm thu thập thông tin về nhu cầu KDNN của các nông hộ cũng như các cán bộ cung cấp dịch vụ đã được vạch ra Đánh giá kiến thức và kỹ năng KDNN của các nông hộ và các cán bộ khuyến nông là hoạt động chủ chốt của dự án, thể hiện ở các mục tiêu dự án 2.0 và 3.0.

Mục tiêu 2.0 tập trung vào việc trao cơ hội cho các nông hộ, nam và nữ, tiếp cận các dịch vụ KDNN để cải thiện thu nhập tại bốn tỉnh Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi và Kon Tum.

Mục tiêu 3.0 của chương trình là phát triển năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông tỉnh và các cán bộ cung cấp dịch vụ về kỹ năng và phương pháp KDNN, nhằm giúp họ hỗ trợ nông hộ hiệu quả hơn Việc trang bị đầy đủ kỹ năng KDNN và các phương pháp KDNN cho đội ngũ này cho phép họ tư vấn, đào tạo và đồng hành cùng nông hộ để áp dụng các giải pháp khuyến nông phù hợp Mục tiêu đặc biệt chú trọng đến phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số để đảm bảo sự tham gia và lợi ích công bằng Nhờ đó, các nông hộ có thể cải thiện sinh kế của mình tốt hơn thông qua tăng năng suất, quản lý tài nguyên bền vững và tăng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp.

Đây là báo cáo nhằm xem xét lại các kết quả tại các mốc sự kiện của dự án, đồng thời đánh giá những thành tựu đã đạt được và làm rõ các vấn đề quan trọng có thể ảnh hưởng đến tính bền vững của dự án trong thời gian tới Việc phân tích các kết quả mốc sự kiện giúp nhận diện rủi ro, cơ hội cải thiện và cập nhật chiến lược quản trị nhằm đảm bảo hiệu quả, đồng bộ giữa tiến độ, chất lượng và tác động xã hội – môi trường Bên cạnh đó, báo cáo nhấn mạnh yếu tố bền vững như nền tảng cho quyết định đầu tư và sự tin tưởng của các bên liên quan.

Định nghĩa mốc sự kiện và báo cáo kết quả

The Agribiz project results report is detailed in Appendix 1, Part 2 of the contract between Lincoln University and Hassall & Associated International 1 (see Appendix 1).

Mốc sự kiện 3 được mô tả là: Nhu cầu KDNN của các nông hộ và đội ngũ khuyến nông

Kết quả 2.1: Nhu cầu của các nông hộ và các cán bộ cung cấp dịch vụ khuyến nông (chung và riêng) được xác định; và

Kết quả 3.1: Đề cương chương trình phát triển Chưong trình đào tạo KDNN và các Module đào tạo KDNN cho cán bộ cung cấp dịch vụ được xây dựng.

Phương pháp

Đội ngũ cán bộ điều tra

Bốn nhóm điều tra đã được hình thành (xem trang 8 Báo cáo 6 tháng đầu) Mỗi nhóm có một trưởng nhóm và tất cả các nhóm này đã tham gia vào công tác điều tra thí điểm tại Thừa Thiên Huế Trong thời gian tới, mỗi nhóm sẽ được cử đến làm việc tại các tỉnh còn lại.

1 Hassall & Associates International là quản lý dự án Hỗ trợ của chương trình CARD theo hợp đồng với AusAID

Phương pháp điều tra thực tế

Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) được áp dụng cho cả việc phân tích trang trại và phân tích chuỗi cung KDNN, nhằm làm rõ các yếu tố tác động, mối quan hệ giữa nguồn lực, quy trình vận hành và kết quả ở mỗi bối cảnh Việc sử dụng case study mang lại sự sâu sắc, minh chứng thực tế và khả năng so sánh giữa hai phạm vi phân tích, từ đó nâng cao chất lượng quyết định và hiệu quả quản lý Xem phần 11 trang 25 Báo cáo 6 tháng đầu.

Phương pháp nghiên cứu trường hợp mang tính toàn diện tạo ra một khuôn mẫu phân tích rõ ràng để các cán bộ điều tra có hướng dẫn và cấu trúc khi tiếp cận dữ kiện và sự kiện Khuôn mẫu này cho phép họ linh hoạt theo dõi, khám phá và theo đuổi các lĩnh vực quan tâm có thể nảy sinh trong quá trình thu thập thông tin Nhờ đó, công tác điều tra được nâng cao tính hệ thống, đảm bảo thu thập thông tin đầy đủ, sâu sắc và có thể phân tích trong bối cảnh thực tế Phương pháp này hỗ trợ việc tổng hợp dữ liệu, đánh giá bằng chứng và xác định các yếu tố ảnh hưởng, từ đó tăng cường độ tin cậy và chất lượng kết luận điều tra.

Phương pháp nghiên cứu trường hợp vừa là công cụ phân tích cụ thể, vừa là nguồn tài liệu giảng dạy quý giá khi mỗi nghiên cứu về trang trại và chuỗi cung ứng được hoàn thành Việc triển khai phương pháp này cung cấp các bài học thực tiễn và dữ liệu minh chứng để giảng dạy và thảo luận trong lớp Một trong những lý do quan trọng để sử dụng phương pháp này là nhằm giúp các giáo viên của Đại học Kinh tế Huế phát triển nguồn tài liệu giảng dạy chất lượng, từ đó tăng cường tính ứng dụng và độ sâu cho các bài giảng về kinh tế nông nghiệp và chuỗi cung ứng.

Việc lựa chọn nông hộ và hình thức trang trại

Xuất phát từ mục tiêu và tính đa dạng về điều kiện kinh tế xã hội và sinh thái của 4 tỉnh, nghiên cứu lựa chọn nông hộ và hình thức trang trại điển hình làm đối tượng khảo sát Các trường hợp điển hình được minh hoạ rõ nét để đảm bảo đại diện cho các vùng, các mức độ nghèo giàu và các hình thức canh tác ở vùng đồng bằng, đồi núi và duyên hải Khảo sát tập trung vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp quan trọng của mỗi vùng sinh thái, đặc biệt là các cây trồng tạo nguồn thu tiền mặt và các loại vật nuôi mang định hướng thị trường được phân tích chuyên sâu Phương pháp nghiên cứu được thiết kế để tránh lặp lại các trường hợp tương tự đã được nghiên cứu trước đó ở các tỉnh khác.

Việc chọn lựa các trang trại/nông hộ nhằm minh hoạ được các nhu cầu sau:

• Các hệ thống nông nghiệp khác nhau ở các vùng sinh thái khác nhau;

• Các mục tiêu khác nhau của các nông hộ và các cơ sở nguồn lực khác nhau; o Cơ cấu thu nhập và chi phí khác nhau

• Các cơ hội khác nhau; o Cải thiện các hoạt động kinh doanh hiện tại, o Các hoạt động kinh doanh mới, o Các cơ hội chuỗi cung

• Thực trạng của người dân tộc thiểu số nghèo (ví dụ: tự cung tự cấp, các mục tiêu và các vấn đề)

• Các hình thức phân tích khác nhau (ví dụ: luồng tiền, thu nhập hỗn hợp )

Việc chọn lựa các chuỗi cung (supply chain) nhằm minh hoạ các nhu cầu sau:

• Các sản phẩm khác nhau và các vùng khác nhau;

• Các sản phẩm cho thị trường chính thức (xuất khẩu) hay không chính thức;

• Chuỗi cung có nhiều hay ít cơ hội cho các nông dân cải thiện vị thế của mình trong chuỗi cung;

• Các chuỗi cung với các trở ngại khác nhau (ví dụ: công tác hậu cần, bảo quản sản phẩm )

Công tác điều tra thực tế đã được hoàn thành tại hai tỉnh Thừa Thiên–Huế và Nghệ An Đối với hai tỉnh còn lại là Kon Tum và Quảng Ngãi, công tác điều tra sẽ được tiến hành vào tháng 3 năm 2006.

Kết quả điều tra thực tế tại Thừa Thiên Huế được báo cáo tại Seminar được tổ chức ở Thừa Thiên Huế vào tháng 11 năm 2005, có sự tham gia của hai cán bộ từ Đại học Lincoln, ông Stewart Pittaway và bà Sandra Martin, cùng đại diện của chương trình CARD, ông Keith Milligan Các báo cáo nghiên cứu KDNN ở Nghệ An đang dần hoàn thiện Ở Thừa Thiên Huế, 12 nghiên cứu trường hợp đã được hoàn tất, với 4 trang trại cho mỗi vùng sinh thái (duyên hải, đồng bằng và vùng đồi núi); và đáng chú ý là 4 trang trại của nông dân thuộc dân tộc thiểu số ở vùng đồi núi cũng đã được phân tích.

6 trang trại và chuỗi cung của các doanh nghiệp quan trọng đã được đưa vào nghiên cứu

Trong số đó có 2 trang trại thuộc vùng duyên hải, 2 ở vùng chuyển giao giữa vùng đồng bằng với vùng đồi núi và 2 ở các vùng cao của tỉnh

3.4 Đánh giá lại điều tra thí điểm

Phương pháp khảo sát chính được thực hiện qua các cuộc phỏng vấn và được kết hợp với đánh giá có sự tham gia (PRA) nhằm thu thập ý kiến từ các cán bộ HTX, Sở NN&PTNT và cán bộ hỗ trợ cấp huyện Các mẫu câu hỏi điều tra do đội ngũ cán bộ khoa Kinh tế và Phát triển soạn thảo và đã được các chuyên gia Đại học Lincoln xem xét, đóng góp ý kiến để tăng tính chuẩn xác và phù hợp Ngoài ra, phân tích thống kê mô tả đã được tiến hành nhằm làm rõ các đặc trưng và xu hướng của dữ liệu thu thập được.

Kết quả của các cuộc khảo sát được Tiến sĩ Sandra Martin và Ông Stewart Pittaway xem xét lại tại Hội thảo tháng 11 năm 2005 Các chuyên gia này trước tiên rà soát báo cáo kết quả từ nhiều nghiên cứu trường hợp, sau đó trực tiếp gặp gỡ các nhóm điều tra để thảo luận chi tiết về kết quả và phương pháp luận Họ cũng đề xuất một số phương pháp bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả của các phương pháp hiện hành.

Trong khuôn khổ hội thảo dự án tại Đại học Kinh tế Huế diễn ra vào tháng 11 năm 2005, một số nghiên cứu trường hợp đã được trình bày và thảo luận về việc hoàn thiện phương pháp nghiên cứu Các đại biểu đã đi đến sự thống nhất về các bước cải tiến phương pháp này Các chuyên gia từ Đại học Lincoln và ông Keith Milligan đã đánh giá cao những kết quả đạt được tại seminar Chương trình hội thảo và danh sách những người tham gia được thể hiện ở Phụ lục 2.

Các thành tựu đã đạt được

Nhu cầu của các nông hộ

Nhu cầu của các nông hộ thay đổi theo các vùng sinh thái và các hình thức trang trại

Nhu cầu của các nông hộ ở Thừa Thiên Huế và Nghệ An được thảo luận dưới đây

4.1.1 Hệ thống nông nghiệp vùng đồi núi

Qua điều tra thực tế, nông dân vùng đồi núi cho thấy họ mong muốn cải thiện hệ thống nông nghiệp và tăng thu nhập Tuy nhiên, kiến thức và kỹ năng KDNN của họ còn rất thấp, khiến sản xuất bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như thiếu vốn, đất và lao động cũng như thiếu các kỹ năng và kiến thức cần thiết để tiến hành công việc kinh doanh nông nghiệp Trong số những mong muốn lớn nhất của họ là được tập huấn về lĩnh vực KDNN Hiện tại, các nông dân vùng đồi núi gặp những trở ngại.

Hai công tác điều tra ở Nghệ An đã được hoàn thành trong tháng 1 và được trình bày trong báo cáo này; tuy nhiên việc tiếp cận thông tin thị trường còn gặp khó khăn do sự cô lập và cơ sở hạ tầng giao thông yếu kém.

Các dịch vụ khuyến nông ở vùng này còn nghèo nàn, sự hỗ trợ và cố vấn kĩ thuật rất hạn chế

Rủi ro đối với sản xuất của người dân ở đây rất cao do sự biến động của giá cả thị trường và thiên tai Người nông dân mong muốn được tập huấn nhiều hơn về phân tích và quản lí rủi ro cũng như vạch kế hoạch kinh doanh nhằm nâng cao khả năng ứng phó với biến động giá và thiên tai, từ đó ổn định thu nhập và nâng cao hiệu quả sản xuất.

4.1.2 Hệ thống nông nghiệp ở vùng đồng bằng

Những nông dân vùng đồng bằng thuộc hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Nghệ An khi được phỏng vấn cho biết mong muốn được tham gia đào tạo KDNN nhằm cải thiện sản xuất và sinh kế Mặc dù họ có tiếp cận thông tin thị trường tốt hơn nông dân vùng cao, họ vẫn cần bổ sung kiến thức và kỹ năng về phân tích ngân sách toàn bộ trang trại và phân tích từng hoạt động kinh doanh để lựa chọn và kết hợp các hoạt động một cách tối ưu cho nông trại Công tác hậu cần và tạo giá trị gia tăng thông qua bảo quản và đóng gói cũng rất quan trọng Người dân ở đây mong được đào tạo về quản lý chất lượng và phát triển thương hiệu.

4.1.3 Hệ thống nông nghiệp ở vùng duyên hải

Nuôi trồng thủy sản như tôm, cá và cua là hoạt động kinh doanh trọng yếu ở vùng duyên hải Những người tham gia thường có nguồn lực mạnh và được tiếp cận tốt với thông tin thị trường, tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật Tuy nhiên, nuôi tôm có rủi ro cao và có thể gây ô nhiễm môi trường nếu quản lý chưa chặt chẽ Giá tôm trên thị trường có thể biến động và tôm dễ mắc bệnh Giá tôm phụ thuộc nhiều vào chất lượng sản phẩm.

Những người nông dân nuôi tôm đang tìm kiếm thêm khóa đào tạo về quản lý chất lượng nhằm cải thiện thu nhập và nuôi hy vọng tôm của họ sẽ được tiêu thụ ở thị trường châu Âu Họ cũng mong được học cách đối phó với các rủi ro trong nuôi tôm để tăng cường sự bền vững và thành công lâu dài cho chuỗi cung ứng.

Có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về chuỗi cung KDNN cho thấy hai kiểu chuỗi cung là chuỗi cung hợp tác và chuỗi cung cơ hội Trong hầu hết các trường hợp, luồng thông tin giữa các thành viên chuỗi không minh bạch; người dân (người sản xuất) thường không biết các thành viên khác trong chuỗi, ngoài những người trực tiếp với họ Họ cũng không nắm được biên thị trường và giá trị tạo ra, khiến việc mặc cả và định giá bán gặp khó khăn do thiếu thông tin thị trường Do đó, việc cải thiện vai trò và vị trí của những người nông dân trong chuỗi cung là rất quan trọng Điều này có thể đạt được thông qua việc cải thiện tiếp cận thông tin thị trường của người nông dân và kỹ năng của họ trong việc phân tích thị trường.

Các cán bộ khuyến nông, những người có nhu cầu về kiến thức và kĩ năng KDNN, sẽ được phân tích ở phần bên dưới và được xem là những người có khả năng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.

Nhu cầu của các cán bộ cung cấp dịch vụ kinh doanh

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đội ngũ khuyến nông là hỗ trợ người nông dân trong KDNN và quản lý trang trại Tuy nhiên, kiến thức về KDNN của họ còn hạn chế và họ thường gặp khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ Để làm rõ vấn đề và xác định các yếu tố cần bổ sung, một cuộc đánh giá nhu cầu đào tạo đã được tiến hành nhằm xác định các kiến thức và kỹ năng thiết yếu mà họ cần trang bị Kết quả tổng hợp từ đánh giá cho thấy các lỗ hổng chủ yếu về KDNN và quản trị trang trại, từ đó đề xuất nội dung và chương trình đào tạo phù hợp nhằm nâng cao năng lực hỗ trợ nông dân Tóm tắt kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo của cán bộ khuyến nông được trình bày bên dưới.

Những khó khăn chủ yếu mà các cán bộ khuyến nông gặp phải trong công tác của mình được trình bày trong Bảng 1, bao gồm:

(i) thiếu hụt kiến thức chuyên môn do đào tạo chưa đầy đủ;

(ii) thiếu kinh nghiệm thực tế;

(iii) thiếu kĩ năng về phương pháp đào tạo;

Hầu hết các khó khăn nảy sinh từ chính bản thân của đội ngũ cán bộ, cho thấy sự tự nhận thức và ý thức nâng cao năng lực là rất quan trọng Các cán bộ thuộc chính phủ cũng gặp phải những thách thức tương tự, nhưng nguyên nhân chủ yếu lại là thiếu đào tạo chuyên môn và kỹ năng cần thiết để giải quyết công việc Điều này làm rõ nhu cầu cấp thiết về đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ nhằm đáp ứng tốt các vấn đề phát sinh trong quá trình làm việc và nâng cao hiệu quả phục vụ cộng đồng Đầu tư vào các chương trình đào tạo chuyên môn và phát triển năng lực cán bộ sẽ giúp cải thiện hiệu suất làm việc, đáp ứng yêu cầu công việc và tăng cường sự hài lòng của người dân.

Bảng 1: Nhu cầu đào tạo của cán bộ khuyến nông

Vấn đề Cán bộ xã (%) Cán bộ huyện và tỉnh

Thiếu kiến thức chuyên môn do chưa được đào tao đầy đủ

Thiếu kinh nghiệm thực tiễn 47,17 41,51

Thiếu kĩ năng, phương pháp đào tạo 75,47 58,49

Theo khảo sát thực tế từ dự án Agribiz tại Thừa Thiên Huế năm 2005, đối với cán bộ huyện và tỉnh, ngoài những khó khăn đã nêu còn tồn tại một vài trở ngại khác ảnh hưởng đến công việc của họ; tuy nhiên những trở ngại này không đáng kể vì chúng chiếm tỷ lệ nhỏ Nguồn: Khảo sát thực tế, dự án Agribiz, Thừa Thiên Huế, 2005.

Những khó khăn mà các cán bộ khuyến nông đang phải đối mặt cho thấy họ đang thiếu các kỹ năng và kiến thức cần thiết về lĩnh vực KDNN, từ đó cho thấy nhu cầu cấp thiết được đào tạo chuyên sâu Việc nâng cao trình độ đào tạo về KDNN sẽ giúp họ thích ứng với thực tế công tác khuyến nông, nâng cao hiệu quả hỗ trợ nông dân và phát triển nông thôn bền vững Để xem chi tiết nội dung liên quan, tham khảo Phụ lục 5.

Chương trình phát triển chương trình đào tạo và các modules tập huấn

Trong tháng 11 năm 2005, các chuyên gia KDNN từ Đại học Lincoln đã thảo luận về phát triển chương trình đào tạo cho các khóa tập huấn và các chương trình đào tạo chính quy Việc biên soạn tài liệu tập huấn và xem xét chương trình đào tạo KDNN tại Trường Đại học Kinh tế Huế đã được thống nhất bắt đầu từ tháng 4 năm 2005 Hai hoạt động chính của dự án sẽ được thực hiện vào đầu năm 2006, và được coi là rất quan trọng cho sự phát triển của các chương trình đào tạo và tập huấn.

• Hoàn thành công tác điều tra thực tế ở 03 tỉnh còn lại và phân tích kết quả nghiên cứu;

• Chuyến đi công tác học tập, trao đổi kinh nghiệm của các cán bộ nòng cốt của dự án tới Đại học Lincoln, New Zealand

Chương trình dự kiên dưới đây đã được nhất trí và sẽ được phát triển tiếp tục trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2006

Bảng 2: Tóm tắt chương trình dự kiến 2006

Hoạt động dự án Thời gian Nhận xét Điều tra thực tế ở Nghệ An, Kontum và Quảng Ngãi Tháng 1 đến tháng 3,

Phân tích kết quả điều tra và viết báo cáo Tháng 1 đến tháng 3,

Chuyến đi học tập, trao đổi kinh nghiệm tại trường Đại học Lincoln, NZ

Vào tháng 2 năm 2006, các cán bộ của Đại học Kinh tế Huế sẽ thảo luận kết quả điều tra bước đầu và được tập huấn về phương pháp cũng như cách thức tiếp cận KDNN, đồng thời tham gia phát triển chương trình đào tạo và các khóa tập huấn.

Phân tích sơ bộ nhu cầu đào tạo có được từ các cuộc điều tra thực tế

2005 Các đề tài tập huấn sơ bộ bao gồm:

Làm thế nào để so sánh các hoạt động kinh doanh?

Phương pháp phân tích tài chính nào được sử dụng?

Cách thức thu thập và sử dụng thông tin?

Kế hoạch cho Hội thảo phát triển chương trình tập huấn và đào tạo

Tháng 2/3, 2006 Sẽ được thảo luận sâu hơn trong chuyến đi học tập, trao đổi kinh nghiệm tại NZ, chương trình và thời gian đã được nhất trí vào tháng 03,

Tính bền vững và các vấn đề quan trọng

Phương pháp thí điểm

Việc chọn lựa phương pháp thí điểm để thu thập thông tin nhằm bảo đảm chất lượng thông tin trong quá trình điều tra thực tế là yếu tố then chốt Công tác điều tra đòi hỏi đầu tư đáng kể về thời gian và chi phí, đặc biệt khi các tỉnh Nghệ An, Kontum và Quảng Ngãi cách xa Huế, khiến việc khảo sát truyền thống gặp nhiều khó khăn Vì vậy, điều tra thí điểm được xem là cách tiếp cận thiết yếu để rút ra kinh nghiệm và xác định phương pháp đúng đắn cho việc triển khai điều tra trên diện rộng Nhờ đó, các nhóm điều tra có thể tích lũy kinh nghiệm nghiên cứu trường hợp trước khi tiến hành điều tra ở ba tỉnh còn lại và nâng cao hiệu quả thu thập thông tin trên quy mô lớn.

Việc sử dụng phương pháp nghiên cứu thí điểm đã khiến dự án chậm tiến độ so với kế hoạch ban đầu, làm ảnh hưởng đến nhịp độ triển khai và kết quả tổng thể Theo kế hoạch, việc điều tra toàn bộ bốn tỉnh phải được hoàn tất vào tháng 12 năm 2005; tuy nhiên, tiến độ hiện tại đang cho thấy sự chậm trễ và đòi hỏi điều chỉnh lịch trình để đảm bảo mục tiêu được đạt đúng hạn.

Các cuộc điều tra ở các tỉnh sẽ được hoàn thành vào tháng 1, 2 và 3 năm 2006 Kết quả điều tra sẽ được sử dụng để phát triển các khóa tập huấn và các chương trình đào tạo KDNN tại Đại học Kinh tế Huế Việc phát triển khóa đào tạo dự kiến bắt đầu vào tháng 4 và 5 năm 2006 nhằm đảm bảo không bị ảnh hưởng bởi tiến độ điều tra ở 03 tỉnh khác bị chậm.

Phát triển nghiên cứu trường hợp

Việc sử dụng các nghiên cứu trường hợp rất quan trọng để hỗ trợ phát triển giảng dạy KDNN tại Đại học Kinh tế Huế Mục đích của việc này là phát triển các tài liệu về các nghiên cứu trường hợp như nguồn tài liệu bổ sung cho việc giảng dạy KDNN và giúp giáo viên có ví dụ cụ thể để nâng cao chất lượng bài giảng Giáo viên sẽ sử dụng các nghiên cứu trường hợp này làm ví dụ thích hợp hỗ trợ cho bài giảng, từ đó tăng tính trực quan và thực tế cho sinh viên Hiện tại chưa có cuốn sách KDNN nào được viết với bối cảnh nền nông nghiệp Việt Nam, vì vậy việc xây dựng tài liệu dựa trên thực tế Việt Nam sẽ giúp kết nối lý thuyết và thực hành, đáp ứng nhu cầu của người học và giảng viên Những nguồn tài liệu này sẽ đóng vai trò làm cầu nối giữa nghiên cứu và giảng dạy, thúc đẩy sự hiểu biết sâu sắc về KDNN trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam.

Phụ lục 1: Bảng các mốc quan trọng

STT Tham chiếu khung lô gic

(Kết quả) Mô tả/ Chi tiết Các tài liệu kết quả Thời hạn

1 Hợp đồng được kí kết với CARD o Hợp đồng nghiên cứu được kí kết o Mốc sự kiện và lịch chuyển tiền Tháng 4, 2005

2 Báo cáo 6 tháng đầu o Đệ trình báo cáo o Cam đoan của các cán bộ Úc, đầu vào tập huấn và thiết bị Tháng 9, 2005

Xác định nhu cầu KDNN của nông hộ và đội ngũ cán bộ khuyến nông là nền tảng để cung cấp dịch vụ KDNN hiệu quả; nhận diện cụ thể nhu cầu của nông hộ và các cán bộ cung cấp dịch vụ KDNN (cộng đồng và tư nhân) trong lĩnh vực KDNN; đồng thời vạch ra chương trình phát triển bài giảng và chương trình đào tạo dành cho các cán bộ cung cấp dịch vụ KDNN nhằm tăng cường năng lực hỗ trợ nông dân và nâng cao chất lượng thông tin, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.

4 Báo cáo 6 tháng lần 2 o Đệ trình báo cáo o Cam đoan của các cán bộ Úc, đầu vào tập huấn và thiết bị Tháng 3, 2006

5 Báo cáo 6 tháng lần 3 o Đệ trình báo cáo o Cam đoan của các cán bộ Úc, đầu vào tập huấn và thiết bị Tháng 9, 2006

Chương trình tập huấn và giảng dạy KDNN đã được phát triển; bản sao chương trình giảng dạy KDNN tại HCE được chuẩn bị, chấp thuận bởi HCE và đệ trình lên MOET; đồng thời bản sao các bài giảng KDNN cho các cán bộ cung cấp dịch vụ cũng được chuẩn bị để đảm bảo nguồn tài liệu giảng dạy đầy đủ và nhất quán.

7 Báo cáo 6 tháng lần 4 o Đệ trình báo cáo o Cam đoan của các cán bộ Úc, đầu vào tập huấn và thiết bị Tháng 3, 2007

Năng lực KDNN của đội ngũ cán bộ Đại học Kinh tế, Sở NN &

PTNT và các cá nhân cung cấp dịch vụ được đánh giá qua phản hồi của người tham dự các khóa tập huấn thí điểm tại Trường Đại học Kinh tế Huế, phân tích các cán bộ cung cấp dịch vụ và bổ sung bài giảng tập huấn khi cần; đảm bảo đội ngũ có năng lực giảng dạy lĩnh vực KDNN cho các cán bộ cung cấp dịch vụ và nông hộ được cấp bằng; duy trì bản sao chương trình giảng dạy chính quy chi tiết cho từng môn học; áp dụng các nghiên cứu trường hợp có hiệu quả vào bài giảng cho sinh viên chưa tốt nghiệp và nông dân; hoàn thành khảo sát trình độ năng lực của các cán bộ khuyến nông tỉnh và các cán bộ cung cấp dịch vụ; và đảm bảo các kiến thức và kỹ năng chuẩn về KDNN cho cán bộ HCE.

AGRIBIZ PROJECT - 055/04VIE tóm tắt việc phát triển các kĩ năng và kiến thức cập nhật và xem xét chất lượng của việc giảng dạy KDNN

9 Báo cáo 6 tháng lần 5 o Đệ trình báo cáo o Cam đoan của các cán bộ Úc, đầu vào tập huấn và thiết bị Tháng 09, 2007

Các nông hộ và cán bộ cung cấp dịch vụ tham gia các chương trình nghiên cứu và ứng dụng KDNN, với mục tiêu tăng cường hiệu quả chuỗi cung ứng nông sản Ít nhất 12 dự án phát triển nông trại cho nông hộ đã được chuẩn bị dựa trên sự tham gia của các bên liên quan tại 4 tỉnh mục tiêu là Thừa Thiên Huế (TT-Huế), Quảng Ngãi, Nghệ An và Kon Tum Số lượng hợp đồng nghiên cứu KDNN chính thức với Đại học Kinh tế Huế và đội ngũ CRD đang được mở rộng Số lượng ấn phẩm về KDNN trên phạm vi vùng, trong nước và trên thế giới ngày càng nhiều Lịch tập huấn cho năm 2007–2008 đã được chuẩn bị và dự đoán nhu cầu của các đối tượng tham gia là những người cung cấp dịch vụ Phân tích chuỗi cung KDNN đối với 3 vụ mùa ưu tiên nhằm xác định các vùng phát triển thích hợp để cải thiện lợi ích cho các nông hộ.

11 Báo cáo hoàn thành dự án o Đệ trình báo cáo o Cam đoan của các cán bộ Úc, đầu vào tập huấn và thiết bị Tháng 03, 2008

Phụ lục 2: Hội thảo đánh giá công tác điều tra thí điểm

HỘI THẢO PHÂN TÍCH TRANG TRẠI VÀ CHUỖI CUNG

Nội dung công việc Cán bộ phụ trách

8:00 Đón tiếp đại biểu Hồ Thị Quý An

Lê Thị Kim Tuyển 8:30 Giới thiệu thành phần tham dự TS Bùi Dũng Thể 8:40 Diễn văn khai mạc Hội thảo TS Nguyễn Văn Phát

Hiệu trưởng nhà trường 8:50 Thông tin cập nhật về chương trình dự án

Trong khuôn khổ hội thảo CARD TS, 9:00 sẽ diễn ra bài phát biểu của Keith Milligan, điều phối viên chương trình CARD TS, nhằm khai mạc sự kiện và cung cấp thông tin tham dự 9:15, TS Mai Văn Xuân, Giám đốc dự án, sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giới thiệu cách tiếp cận và công cụ được áp dụng 9:30 là giờ nghỉ giải lao, tạo điều kiện cho các đại biểu kết nối và trao đổi trước khi tiếp tục các phiên làm việc tiếp theo.

9:50 Phân tích trang trại và chuỗi cung:

Nông trại vùng đồng bằng Ths Nguyễn Ngọc Châu 10:30 Phân tích trang trại và chuỗi cung:

Nông trại ở vùng gò đồi Ths Trần Văn Hoà

11:10 Thảo luận Toàn thể Hội thảo

11:30 Giải lao 13:30 Phân tích trang trại và chuỗi cung:

Nông trại vùng duyên hải TS Phùng Thị Hồng Hà 14:10 Đánh giá nhu cầu đào tạo KDNN Ths Trương Chí Hiếu 14:50 Giải lao

15:10 Lập kế hoạch cho 6 tháng tiếp theo Ông Stewart Pittaway 16:30 Phát biểu kết thúc Hội thảo TS Keith Milligan

Phụ lục 2.2: DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM DỰ HỘI THẢO

Stt Họ và tên Đơn vị công tác

1 Ông Hoàng Trung Ân Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế

2 Ông Phạm Đình Văn Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế

3 Ông Hoàng Hữu Hè Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế

4 Ông Trần Văn Hiền Liên minh HTX tỉnh Thừa Thiên Huế Đại học Lincoln, New Zealand

5 Ông Stewart Pittaway Đại học Lincoln

6 TS Sandra Martin Đại học Lincoln

7 TS Keith Milligan Chương trình CARD Đại học Kinh tế Huế

8 TS Mai Văn Xuân Đại học Kinh tế Huế

9 TS Bùi Dũng Thể Đại học Kinh tế Huế

10 TS Nguyễn Văn Phát Đại học Kinh tế Huế

11 Ths Lê Sĩ Hùng Đại học Kinh tế Huế

12 Ths Nguyễn Thị Thanh Bình Đại học Kinh tế Huế

13 Ths Nguyễn Ngọc Châu Đại học Kinh tế Huế

14 Ths Nguyễn Văn Cường Đại học Kinh tế Huế

15 TS Phùng Thị Hồng Hà Đại học Kinh tế Huế

16 CN Nguyễn Lê Hiệp Đại học Kinh tế Huế

17 Ths Trương Chí Hiếu Đại học Kinh tế Huế

18 Ths Trần Văn Hòa Đại học Kinh tế Huế

19 Ths Phan Văn Hòa Đại học Kinh tế Huế

20 Ths Phạm Xuân Hùng Đại học Kinh tế Huế

21 CN Nguyễn Quang Phục Đại học Kinh tế Huế

22 Ths Trương Tấn Quân Đại học Kinh tế Huế

23 CN Trần Minh Trí Đại học Kinh tế Huế

24 Ths Trần Hữu Tuấn Đại học Kinh tế Huế

25 Ths Phạm Thị Thanh Xuân Đại học Kinh tế Huế

26 CN Trần Đoàn Thanh Thanh Đại học Kinh tế Huế

27 CN Phan Thị Nữ Đại học Kinh tế Huế

28 Ths Lê Nữ Minh Phương Đại học Kinh tế Huế

29 Ths Lê Thị Hương Loan Đại học Kinh tế Huế

30 CN Nguyễn Đình Chiến Đại học Kinh tế Huế

31 CN Nguyễn Bá Tường Đại học Kinh tế Huế

32 Ths Nguyễn Văn Lạc Đại học Kinh tế Huế

33 Ths Lê Thị Kim Liên Đại học Kinh tế Huế

34 CN Trần Hạnh Lợi Đại học Kinh tế Huế

35 CN Trần Thị Thanh Thuỷ Đại học Kinh tế Huế

36 CN Tôn Nữ Hải Âu Đại học Kinh tế Huế

Phụ lục 3: Các nghiên cứu trường hợp ở tỉnh Thừa Thiên Huế

KINH DOANH NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ VÙNG DUYÊN HẢI

1 TS Phùng Thị Hồng Hà – Khoa kinh tế & Phát triển, Trường ĐHKT Huế

2 CN Phan Thị Nữ – Khoa Kinh tế & Phát triển, Trường ĐHKT Huế Người viết báo cáo tổng hợp: TS Phùng Thị Hồng Hà

Ngày điều tra: 18/9/2005 Địa điểm: Nhà anh Trần Đức Nhơn, Đội 9, thôn Đại Thắng, xã Vinh Hưng, Phú Lộc Người trả lời phỏng vấn: Ông Trần Đức Nhơn

Phân tích kinh tế nông hộ là một nội dung trọng tâm của dự án Agribiz, nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu cái nhìn toàn diện về tình hình bố trí sản xuất của nông hộ và từ đó đánh giá kết quả cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của họ.

- Đánh gía thực trạng hệ thống sản xuất của các nông hộ;

- Mô tả và phân tích sơ bộ chuỗi cung một số sản phẩm quan trọng có tính chủ lực của nông hộ;

- Đánh giá nhu cầu tập huấn của các nông hộ;

Rút ra một số nhận xét về hệ thống sản xuất nông nghiệp ở vùng đầm phá ven biển của tỉnh Thừa Thiên–Huế làm cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo cho các đối tượng liên quan Các nhận định này làm rõ đặc điểm, thách thức và tiềm năng của khu vực đầm phá ven biển, từ đó xác định nhu cầu năng lực và nội dung đào tạo phù hợp với thực tiễn nông nghiệp TT-Huế Việc thiết kế chương trình đào tạo dựa trên những phân tích này giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, quản lý nguồn lực và phát triển bền vững cho nông dân, doanh nghiệp nông nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Chương trình được điều chỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nông thôn và vùng đầm phá ven biển, góp phần thúc đẩy giáo dục nghề nghiệp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho khu vực.

1.2.1 M ộ t vài nét khái quát v ề h ộ Ông Nhơn là một nông dân 46 tuổi, ông có 5 đứa con, 3 đứa đang đi học, 2 đứa khác còn nhỏ Ông đã học hết chương trình phổ thông trung học Các con ông đã có đứa học hết lớp 12, đứa sau đang học lớp 11 và 8 Mục tiêu của ông là tăng thu nhập để có tiền nuôi các con ăn học Hiện 3 đứa con của ông đều mong muốn được vào Đại học

Trước đây, ông Nhơn chuyên sản xuất lúa, nhưng vài năm gần đây phong trào nuôi tôm phát triển mạnh đã khiến gia đình ông chuyển sang nuôi tôm kết hợp với trồng lúa và chăn nuôi lợn Nhờ mô hình nuôi tôm kết hợp với trồng lúa và chăn nuôi lợn, đời sống gia đình ngày càng khá giả nhờ nguồn thu đa dạng từ nuôi tôm, trồng lúa và chăn nuôi Đây là ví dụ điển hình về chuyển đổi nông nghiệp hiệu quả nhờ tận dụng lợi thế thị trường và nguồn lực sẵn có.

Vinh Hưng là một xã nằm ở vùng ven phá Tam Giang - Cầu Hai, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, và sản xuất nông nghiệp Điều kiện này tác động lớn đến cách bố trí sản xuất của gia đình ông Nhơn Hiện nay, ông Nhơn có 1 ha đất để nuôi tôm, 4000 m2 để trồng lúa, và thêm 2 sào đất vườn để trồng cây ăn quả, sắn và khoai phục vụ cho chăn nuôi.

Bảng 1: Cơ cấu và nguồn hình thành các loại đất của hộ

Nguồn: số liệu điều tra của tác nhóm nghiên cứu, 2005

Trong tổng diện tích 15.000 m2, có 1.700 m2 đất trồng lúa và 1.000 m2 đất vườn được chính quyền cấp theo nghị định 64/CP; gia đình còn khai hoang được 10.000 m2 đất để làm hồ nuôi tôm và 2.300 m2 để trồng lúa, và toàn bộ diện tích này đã được cấp sổ đỏ Chi phí cấp sổ đỏ cho hồ nuôi tôm là 580.000 đồng; hiện gia đình không phải nộp thuế đất Đất khai hoang 10.000 m2 đã đào thành 4 hồ nuôi tôm với tổng chi phí đào hồ và kè là 42 triệu đồng; đồng thời trang bị 4 bộ máy bơm nước dùng cho việc bơm nước vào và tháo nước ra hồ tôm và ruộng lúa; xây 1 chuồng lợn 12 m2, trị giá 1,5 triệu đồng.

Bảng 2: Tình hình trang bị máy móc thiết bị của hộ

Loại TLSX Số lượng và đơn vị tính

Thời gian có thể sử dụng (năm)

Thời gian đã sử dụng (năm)

Xay (chống bão) 500 cây tre và lái 1,50 3 Thay dần

Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm nghên cứu, 2005

Gia đình ông Nhơn gồm 7 người, chỉ có hai lao động chính là ông và vợ, trong khi ba đứa con lớn có thể phụ giúp nuôi tôm và chăn nuôi lợn và gia đình không thuê lao động bên ngoài Công việc chính của ông là nuôi tôm; bình quân mỗi năm ông làm việc khoảng 9 tháng, từ tháng 9 đến tháng 12 là mùa mưa nên không nuôi tôm được và phải nghỉ Hai con lớn phụ giúp cha nuôi tôm, cũng làm việc 9 tháng liên tục nhưng mỗi ngày chỉ khoảng 4 giờ, công việc chủ yếu là đưa thức ăn từ nhà ra hồ nuôi và trợ giúp cho tôm ăn Vợ ông chủ yếu làm công việc đồng áng, chăn nuôi lợn, đi chợ bán giá đỗ vào các tháng nông nhàn và đảm nhận công việc nội trợ Giúp việc cho vợ là một cô con gái út, nhiệm vụ chính là nội trợ và đi làm đồng giúp mẹ khi cần.

1.2.2 Hiện trạng sản xuất của hộ

Hiện nay, hộ ông sản xuất 3 loại sản phẩm chính: tôm, lúa, lợn Trong đó, nuôi tôm là nguồn thu chủ yếu

Nguồn hình thành Loại đất Tổng diện tích

(m 2 ) Được cấp Khai hoang Khác

Nuôi tôm có hai vụ mỗi năm: vụ 1 bắt đầu từ ngày 12 tháng 1 và thu hoạch vào ngày 12 tháng 5 (theo âm lịch); vụ 2 bắt đầu ươm giống từ ngày 12 tháng 4, thả giống vào ngày 15 tháng 5 và thu hoạch vào ngày 15 tháng 8 Thời gian nuôi tôm tùy thuộc mục đích lấy sản phẩm; nếu nuôi để được 40 con/kg thì chỉ cần khoảng 2,5 tháng, còn muốn tôm to hơn với 20 con/kg thì thời gian lứa từ 3–3,5 tháng Mỗi vụ, anh Nhơn mua 10.000 con tôm giống về ươm nhưng chỉ còn khoảng 7.000 con sống để thả nuôi thịt, tức tỷ lệ tôm sống đạt khoảng 70–80%.

Bảng 3: Bố trí lịch thời vụ sản xuất của hộ

Vụ Đông Xuân có điều kiện canh tác thuận lợi nên tôm phát triển tốt; 30% số tôm đạt trọng lượng 40 con/kg và 60% còn lại đạt 60 con/kg, tổng sản lượng vụ này đạt 1.073 kg Vụ Hè thu thời tiết không thuận lợi khiến tôm bị nhiễm bệnh; gia đình phải bán xô với giá trung bình 45 ngàn đồng/kg, số tôm thu được là 700 kg Tổng doanh thu từ bán tôm đạt 101,20 triệu đồng.

Ngày đăng: 02/11/2022, 08:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w