1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu của người cao tuổi nông thôn (nghiên cứu trường hợp 2 xã ở nam định

12 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nàytậptrung tìm hiểuvề nhu càu chăm sóc sức khóe banđầucủa người cao tuổi ở khu vực nông thôn qua nghiên cứu trườnghợp tạihaixã Nam ĐiềnvàNghĩa Hải, tinhNam Định ởcác khíacạnh g

Trang 1

Nhu câu chăm sóc sức khỏe ban đâu

của ngưòi cao tuổi nông thôn

(Nghiên cứu trường hợp 2 xã ở Nam Định)

Trịnh Thái Quang * , Trần Thị Thanh Tâm **

* TS., Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

** ThS., Trung tâm Hợp tác Phát triển Tây Bắc.

1 Bài viết là sản phẩm cùa Đe tài cấp Cơ sờ “Phân tích một số chính sách, pháp luật về người cao tuổi ở Việt Nam trong bối cảnh già hoá dân số hiện nay” do Viện Nghiên cứu Gia đinh và Giới chủ trì thực hiện năm 2021.

Tóm tắt: Ở Việt Nam,chăm sóc sứckhỏe ban đầu (CSSKBĐ) đóng vaitrò quan trọng trong việc nâng cao sức khóecho nhân dân,góp phần giảm tỷlệ tử vong, bệnh tật,tángtuổi thọ trung bình Bài viết nàytậptrung tìm hiểuvề nhu càu chăm sóc sức khóe banđầucủa người cao tuổi ở khu vực nông thôn qua nghiên cứu trườnghợp tạihaixã Nam ĐiềnvàNghĩa Hải, tinhNam Định ởcác khíacạnh gồm giáo dục sức khỏe, khámđịnh kỳ, khám chừa bệnh thông thường và sử dụng thuốc thiếtyếu Bài viết sửdụng số liệu khảo sátcủa đềtài nghiên cứuvề chăm sóc sức khỏe ban đầu ở cấp cơ sỡ đối với người cao tuổi ở nôngthôn với 300 người trả lờilà ngườicaotuổi.Ket quả cho thấyngườicao tuổi có nhu cầucaovề CSSKBĐ, đặc biệt là nhu cầu giáo dục sứckhòe Nhucầu khám chữa bệnh định

kỳ vàkhám chữa bệnh thông thường của NCTcó mốiquan hệvớitìnhtrạngsức khỏevà mức sốngcủa NCT,trongkhi đó, nhu cầu sử dụng thuốc thiết yếu của NCT cũng phụthuộc vào tìnhtrạng bệnh tật và độ tuổi của NCT Ketquảcủa nghiên cứu gợi ýviệc tiếp tụctriển khai mạnhmẽ hơn những hoạt độnggiáo dục sức khỏe với đối tượng người cao tuổi, đồng thời tăng cường nângcao chất lượng khám chữabệnh và cơ sởhạ tầng ưang thiếtbị cho tuyến y tế cơ sở đếphụcvụ người dân nói riêng và NCT nóichung hiệu quả hơn'

Từ khóa: Người cao tuổi; Chãm sóc sức khỏe; Người cao tuổi nông thôn;

Ytếcơ sở

Ngày nhận bài: 27/9/2021; ngày chỉnh sửa: 11/10/2021; ngày duyệt đãng: 15/11/2021

Trang 2

1 Bối cảnh nghiên cứu

Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) là côngtáctrọng tâmchính đểtăng cường sứckhỏe người dântrên toàn thế giới, đãvàđang góp phần quan trọngtrong việc thúc đẩy phân phối nguồn lực ytế một cách công bằng vàcung cấp dịch vụ có mục đích Ở Việt Nam, công tác CSSKBĐ cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe cho nhân dân, góp phần giảmtỷlệ tử vong, tỷ lệ bệnh tật, tăng tuổi thọtrung bình của người dân

CSSKBĐ là khái niệmđượcthống nhấttoàn cầu vàđược quy định tại Tuyên

bốAlma-Ata ở Hội nghịtoàn cầuvề CSSKBĐ năm 1978 tạiKazakhstan Tuyênbố Alma-Ata 1978đãchỉrõ“Chăm sócsứckhỏebanđầulà sự chăm sóc sứckhỏe thiết yếu, dựatrên những phương pháp và kỹ thuậthọc thực tiễn, có cơ sởkhoa học và được chấpnhậnvề mặt xã hội, phổbiếnđếntậnmọi cá nhânvà gia đình trong cộng đồng, thôngquasự tham giatích cực cùa họ với chi phí hợplýcho các cộng đồng

và quốc gia có thể duy tri ở bất cứ giai đoạnphát triển nào, ưên tinhthần tự lực và

tự quyết CSSKBĐ tạo thànhmột họp phầnkhôngthể thiếu của hệthốngy tế của mỗi quốc gia, trongđó,nó giữvai trò trọng tâmvàlà tiêuđiểm chínhcủa sự phát triền chung về kinh tế xà hội của cộng đồng CSSKBĐlà nơi tiếpxúcđầutiên của người dân, gia đình vàcộng đồng với hệ thống y tế quốc gia, đưa sự chămsóc sức khỏe đến càng gần càng tốt nơi người dân sống và lao động, trở thành yếu tốđầu tiên của một quá trình săn sóc sức khỏe lâu dài” (Declaration of Alma Ata: International Conference on Primary HealthCare, 1978)

Trong bốicảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóngởViệt Nam, công tác CSSKBĐcàng trở thành một yếu tố quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, đặc biệt là ở khu vực nòng thôn với điều kiện y tế và chăm sóc khác biệt tương đối lớn sovới ở khuvực đô thị ỞViệt Nam, trên thực

tế có nhiều nghiên cứu về CSSKBĐnhưng chưa có nhiều phân tíchvềCSSKBĐ cho người cao tuôimà chuyếu là về chăm sóc bàmẹ trẻ em, phòng chống dịch bệnh nói chung Trong khi đó, công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là côngtác luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng Trongbối cảnhgià hóa dàn số nhanh chóng ở ViệtNam hiện nay, Việt Nam cũng đã kịp thời đưa ra những chính sách, chương trình hướng đến tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Quyếtđịnh7618/QĐ-BYTban hànhngày30 tháng 12năm2016

về việc phê duyệtđề ánchăm sócsức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017-2025 cũng đề cậpđến công tácCSSKBĐ đối với người cao tuổi Cụ thế, mụctiêucủa

đê án hướng tới “nâng cao sức khỏe người cao tuôi trên cơ sở nâng cao kiến thức, kỳ năng tự chăm sócsức khỏe và tăng khảnăng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu của người cao tuổi” (khoan 2b, Mục I, Điều 1); củng cố hoàn

Trang 3

Trịnh Thái Quang, Trần Thị Thanh Tâm 5

thiệnhệ thống cung cấp dịch vụ CSSKBĐ,khám chữa bệnhchongười cao tuổi, nângcaonăng lực choytế cơ sở, bao gồmcả trạm y tế xã/phương, thị trấn trong thực hiện CSSKBĐ chongười caotuồi

Bài viết này tìm hiểuvề nhu cầu CSSKBĐ của người cao tuổiở khuvực nông thôn của NamĐịnh thông quanghiên cứu trường họp 2 xãNamĐiềnvàNghĩa Hải với 300 mầunghiên cứu Cácnội dung CSSKBĐ được tìm hiểu trong bài viết này baogồm việc giáo dục sức khỏe, khám bệnh định kỳ, khám chữa bệnh thông thường,

và cấp phát thuốcthiết yếu

2 Nguồn số liệu, lý thuyết và phương pháp phân tích

Bài viết sử dụng số liệu từ khảo sát về CSSKBĐ đốivới người cao tuổitrong khuôn khổ đề tàicơ sở nãm 2021 của Viện Nghiên cứuGia đìnhvà Giới với mẫu nghiên cứulà 300 người caotuổi(từ60tuổitrở lên)do tác giả thứ nhất làchủ nhiệm Phương phápphân tích chủyếu trong nghiêncứu này là thốngkêmôtảsửdụngtần suất và tỷ lệ, phân tích hai biến

Biến sốđộc lập: bao gồmcácbiến số về đặc điểm nhân khấu học của người cao tuổi: giới tính, độ tuổi, mức sống,tình trạngsứckhoe, tình trạng hônnhân Biến sốphụ thuộc: nhu cầugiáo dục về sức khỏe,khámchừa bệnh định kỳ, khám chữa bệnh thông thường, cấp phátthuốc củangườicao tuối

Bài viết sử dụng lý thuyết hành động xã hội và lý thuyết về nhu cầu cùa Maslow để giải thích cáckết quả phân tích Hành độngtìmkiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe là hành động xà hội dựa trên địnhhướng chủ quan hợp lývề mục đích đảm bảo sứckhỏe của bản thân Nhóm người caotuổi được xem là nhóm người có nhiều nguy cơ cao hơn ve các vấn đề sức khỏe, họ cũnglà đối tượng

sử dụng nhiều hơn dịch vụ chăm sóc sức khỏe Hànhđộng tìm kiếm và lựa chọn dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ dựavàonhiều yếu tố chủ quan và khách quan Yếutố chủ quan bao gồm các đặc điểm về bệnh tật, đặc điểm kinh tế,xãhội của

cá nhânvà hộ giađình Các đặc điểm kháchquancó thể là điều kiệnkhámchữa bệnhở các đơn vị y tế cơ sở

Theolý thuyếtvề nhu cầu củaMaslow, nhu cầucơ bản thứ hai (saunhu cầu sinhlý) mà các cánhânhướng tới là nhu cầu an toàn Nhu cầu an toàn và được bảo

vệlànhucầu bao gồman toàntínhmạng vàantoàn tinh thần Nghĩalà nhu cầu về con người được bảo vệ,tránh được các nguy cơđedoạ cuộc sống như bệnh tật, tai nạn,thiên tai, chiến tranh tránh được mọi sự sợ hãi, lo lắng, những tác động xấu

về tinh thần cũngcóthể gâynguy hạicho tính mạng con người

Nhu cầu đượcbảo vệ đượcxếp ưutiên sau nhucầu về thể chất, nhucầu này trở thành nhu cầu cấp thiết trong thời gian xảyra bệnh dịch, chiến tranh,thảm họa

Trang 4

Trẻem, người có tuổi, người tàntật đòi hỏi sự an toàn được bảovệ nhiều hon Do

có nhu cầu được đảm bảo, an toàn, đặc biệt trong trường họp người có tuồi có xu hướng suy giảmsức khỏe khi tuổi cao, họ tìm kiếm các chăm sóc y tế, khám chữa bệnhđể duy trì tình trạngkhỏe mạnh, hoặc cải thiệntìnhtrạngsức khóe

3 Tổng quan nghiên cứu

Ngay từ năm 1986, Việt Nam đã đưa ra chiến lược CSSKBĐ trêncả nước

vànhững ưu tiên cho CSSKBĐ từ năm 1990 CSSKBĐ là hoạt độngđượcthực hiện ởcấp y tế cơ sở, cụ thể là trạm y tế (TYT) xã Birt (1990) đã có những mô

tả chi tiết về hai cơ sở cung cấp dịch vụ CSSKBĐ ở Việt Nam từ những năm

1990 ở miền Namgồmcómột trung tâm y tế phường 6, quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh và trung tâmytế Talai ở Đồng Nai Nghiên cứu của Birt đã cho thấy vai trò củaCSSKBĐ trong giáo dục sức khỏe, cung cấp nước sạch, vệ sinhmôi trường, phòng chống vàđiều trị dịch bệnh ờ phường 6 Tuynhiên, tácgiả nhận định, các công tác CSSKBĐ ở cộng đồng gặp nhiều khó khăn do cơ chế phối hợp của chính quyền, thiếu hiểu biết vềnhu cầu của người dânđịa phương đồng thời là thiếu sựhọp tác, thamgiacủangười dân trong các hoạt độngtăng cường sức khỏe (Birt, 1990: 344) Nghiêncứu này tập trung vàođơn vị cung cấp dịch

vụ TYT xã hơn là tập trungvào người sử dụng dịch vụ

Nghiên cứu của Lê Thị Hoàng Liễu (2015) lại tập trung vào khả năng tiếp cận CSSKBĐ, nhận thức của người dânvà thực trạng y tế cơ sờ của một

số địa bàn ở nông thôn phíaNam Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng

có khách thể nghiên cứu là người dân nói chung và tỷ lệ người cao tuổi trong mầu nghiên cứu không đáng kể Nghiên cứu đánh giá về hoạt động của y tế tuyến cơ sở ở nông thôn Việt Nam củaDuong và cộng sự(2004) tậptrung vào

4 khía cạnh chính là cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, cơ sởy tế, nhân lực, và tiếp cận dịch vụ Nghiên cứu này cũng chỉ đề cập đến một khía cạnh của CSSKBĐ là chăm sócsức khỏe bà mẹ-trẻ em Vì thế, mẫunghiên cứu chỉ bao gồm 200 phụnữ đãtừngsinhcon trong vòng 3 tháng ở thời điểm khảo sát Kết quả cho thấy, khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế không có nhiều tácđộng đến việc sử dụng dịch vụ y tế tại địa bàn nghiên cứu, tuy nhiên, điều kiện kinh tế

có tácđộng đáng kể dophụ nữ thường phái chi trả tiền dịch vụ trực tiếp Chất lượng cung ứng dịch vụ cũng tác động đáng kể đến việc quyết định địa điểm sinh con của phụ nữ nông thôn, cụ thể họ quan tâm đến chất lượng dịch vụ được cung cấp, việc cấp phát thuốc, kết quả điều trị Ngoài ra, mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụvà người sử dụng dịch vụ, yếu tốvăn hóa, chi phí dịch vụcũng đóngvai trò đáng kể ưongviệc phụ nữ quyết định sử dụng dịch

vụ ởcơ sởy tế tuyến cơ sở

Trang 5

Trịnh Thái Quang, Trần Thị Thanh Tâm 7

Nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe NCT ở Việt Nam đã được triển khai nhiều và rộng khắp Các nghiên cứugầnđây đều đề cập đếnvấn đề sức khỏe và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NCT Việt Nam (Bang và cộng sự, 2017; Bộ Y

tế Việt Nam và Nhóm đối tác Y tế, 2018; Nguyền Thế Huệ, 2010; Trịnh Duy Luân & Trần Thị Minh Thi, 2017; UNFPA & VNCA, 2019) Nghiên cứu của TrịnhDuy Luânvà Trần Thị Minh Thi (2017) vềngười caotuồiViệt Nam có đề cập đến khả năng tiếp cận TYTxã/phường của NCT về mặt địalý,trong đó, phần lớnNCT có thể đến các cơ sở y tếđịaphương này trong vòng 30 phút và không

cósựkhác biệt lớn giữa khu vực nông thônvàđô thị Tuy nhiên,nghiêncứunày không đề cập đến tính dễ tiếp cận, hay chất lượng của dịch vụ CSSK đối với người caotuổi ở địa phương

Bang vàcộngsự(2017) nhậnđịnh người cao tuổiViệt Nam có nhucầu rất lớn tiếp cận các thông tin về sức khoe đế quản lý các bệnh mạn tính và cải thiện sức khỏe nói chung bàng việc thực hành lối sống khỏe mạnh và việc cung cấp các thông tin này là trách nhiệm của y tế cơ sởvới vai trò là đơn vị thực hiện CSSKBĐ tại cơ sở và đó là nội dung thứ nhất trong công tác CSSKBĐ Nghiên cửu này cũng cho rằng các trungtâm y tế xã đóng vai trò quan trọngtrongviệc chăm sóc sức khỏe NCT, đồng thời là đơn vị góp phần vào việc quản lý bệnh mạn tính, thúc đẩy lối sống lành mạnh, giảm nguy cơ sức khỏe, phòng chống bệnh tật, tăng cường chất lượngcuộc sống của NCT, vì thế các trung tâm này cần phảiđược tăngcường năng lực đểđáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu dịch

vụ chăm sócsức khỏe cũa NCT đặc biệt là ở khu vực nông thôn

Điểm đáng lưu ý là hiện nay không có nhiều nghiên cứu về các nội dung

cụ thể của CSSKBĐ đối với người cao tuổi ở Việt Nam, các nghiên cứutrước thường tập trung vào đánh giá hoạt động chung của đơn vị cung cấp dịch vụ CSSKBĐ, và các đối tượng là người dân nói chung Đối tượng người cao tuổi chưa được quan tâm nghiên cứunhiều Đánh giá chung về CSSKBĐ ở y tế cơ

sở, Báo cáo chung về ngành y tế 2016 chothấy, thiếu thuốc thiết yếu và trang thiết bị thôngthường dẫn tới chấtlượng CSSKBĐ ở tuyến cơ sở kém Nhiều đơn

vị y tế tuyến cơ sở thiếu các thuốc thiết yếu theo quy định của Bộ Y tế Nhiều bệnh nhân phảibỏ tiền túi để mua thuốctrong danh mụcbảo hiêm củahọ, thậm chí trạm y tế xãcòn khôngcó tủthuốc cấp cứu Đối vớiNCT, trang thiết bị ytế không cần phải là các phương tiện đắt tiền, tuy nhiên các TYT vẫn thiếu các dụng cụ cơ bàn để đánh giá sức khỏe NCT Ngoài ra, cơ chế tài chính còn gây

ra nhiều khó khăn cho hoạt động CSSKBĐ cho người dân nói chung và người cao tuổi nói riêng (BộY tế Việt Nam & Nhóm đối tác Ytế, 2018)

Trong công tác quản lý sức khỏe, sổtheo dõi sứckhỏe NCT vẫn chưađược

sử dụng rộngrãi, và nội dung chưa toàndiện Ở nhiều tỉnh, thành, sổ theo dối sức

Trang 6

khỏe NCT chưa có ở cộng đồng trong khi đó trạm ytế xã chi có danh sách người cao tuôi ở địa bàn Bộ Y tế chưa ban hành mẫu sổ thống nhất cũng như chưa có hướng dần cụ thểvềviệc lậphồ sơ quảnlý sứckhỏeNCT tại cộng đồng, thiếu quản

lý bệnhmạn tínhtrong CSSKBĐ vấn đề kê đơn thuốc vàtuân thủ điều trịcũng gặp nhiều hạnchếdo chất lượng nguồn nhân lựcy tế cơsở và dobảnthân người bệnh (Bộ Ytế Việt Nam &Nhómđối tác Y tế,2018)

Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dùcông tác CSSKBĐ đối với NCT làmột trongnhữngtrọngtâm trong lĩnh vực y tế, CSSK đối với NCTở ViệtNam nhưng trên thực tế, việcthựchiệnCSSKBĐ cho NCT còn gặp nhiều khó khăn về nhiều mặt Nghiên cứu này, vì thế sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề nghiên cứu bằng cách tìmhiểu thựctrạng nhu cầu CSSKBĐđối với NCT ởtuyếncơ sở, tập trung vào khu vực nông thôn, nhu cầu CSSKBĐ của NCT nông thôn và những yếu tố tácđộngđến công tác CSSKBĐ đối vớiNCT ở cấp cơ sở

4 Người cao tuổi có nhu cầu cao về giáo dục phổ biến kiến thức về chăm sóc sức khỏe

về cơ bản, đại đa sốNCT nhận thấy bản thân cần thêm các kiến thức về chăm sóc sức khỏe Đa số NCT trong nghiên cứu này mong muốn được tham gia các buổi phổbiến kiến thức về kinh nghiệm phòng bệnh (95,3%) cũng như chữa bệnh(95,7%)và kinh nghiệm tự chăm sóc bản thân (95%) Không cókhác biệt nào đángkể giữa các nhóm NCT có đặc điểm nhân khẩu học khác nhau về nhucầu bổ sung kiến thức về chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, phần lớn những người không có nhu cầuhọc hỏi thêm kiến thức chăm sóc sức khỏe là những người ở độ tuổi trên 80 Có thể quan niệmcủa họ về vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe ở độ tuổi đó sẽ khácbiệt so với những người già ở độ tuổi thấp hơn Ví dụ như họ có thể cho rằng, ở độ tuồi đó, việc chăm sóc sức khỏe của NCTphụthuộc nhiều hơn vàocon cái, hoặc dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên họ không cần thiết phảihọchỏi thêm những kiến thức bổ trợ đó nữa

về cách thức, hình thức tổ chức các buôi phổ biến kiến thức về CSSK, NCT mong muốn nhất là có thể tổ chức thành các buổitập huấn độc lập, dành riêng cho NCT và tổ chức tại địa phương nơi cư trú (72,1%) Hình thức lồng ghép nội dung phổ biến kiến thức vào các buổi họp thôn/xóm cũngđược nhiều người cao tuổi lựa chọn (66,3%) Ngoài ra, các hình thức khác có thể được sử dụng mang tính bổ sung nhưphát tài liệu hướngdần,hay truyền thanhquađài phát thanh xã/phường về các nội dung kiến thứcvề CSSKcho NCT

Với phần lớn số NCT lựa chọn hình thức tổ chức các buổi phổ biến kiến thức về CSSK choNCT tạiđịa phượng nên hầu hết đều cho rằng các sự kiệnnày

Trang 7

Trịnh Thái Quang, Trần Thị Thanh Tâm 9

nênđược tổ chức ở địa bànthôn/xóm (95,1%) Có thể dođối tượng làNCT nên

họ mong muốn các buổiphổ biến kiến thức được tổ chức ởngay tại thôn/xóm của mình để thuậntiệncho việcđi lại củabản thân NCT vàtăng khả năng tham gia của họ Khoảng 40% mong muốn các buổi phổ biến kiến thức CSSK này được tổ chức ở TYT xã/phường, và khoảng 22% cho rằng có the tổ chức ở UBND Xã

5 Nhu cầu của NCT về cung cấp thuốc thiết yếu từ TYT xã không cao,

nhưng được đáp ứng tương đối đầy đủ

Việc cung cấp thuốc thiết yếu tại TYT xã là gói dịch vụ cơbản và do bảo hiểmy tế chi trả, vì thếnhu cầu này phụ thuộc nhiều vàoviệc người dân có và

sử dụng thẻ BHYT hay không Kết quả khảo sát cho thấy trong tổng số người trà lời, khoảng40% (120người) đãtừng sử dụng thẻBHYT để đến lấy thuốc ở TYT xã/phường phục vụ cho mục đích điều trị bệnh Trong khi đó, tỷlệ NCTcó BHYT các loạitrong nghiên cứu nàylà 96,3% Nhưvậy, chỉ có chưa đến ’/2 số NCT có BHYT có sừdụng thẻ để lấy thuốc điều trị tại TYT xã, phản ánhNCT

có nhu cầu khôngcao đối với dịch vụthuốc thiết yếu ởTYT Xã

Có một số điểmđáng lưuý liên quanđếnviệc sử dụng thẻ BHYT lấy thuốc tại cácTYT cơ sở như sau Thứnhất, dường như cómối quanhệ giữa mức sống

và việc sử dụng thẻBHYT Tỷ lệ NCT nghèo đã từng sửdụngthẻ BHYT đến lấy thuốc ở TYTcaohơn đáng kể so với nhữngngườiở nhómcómức sống khá

- giàu (43,9% so với 24,0%), nhưng không có khác biệt đáng kể với nhóm có mức sốngtrung bình (40,8%) Tỷ lệ phụ nữ cao tuổi sử dụngthẻ BHYT để lấy thuốc ở TYT nhiều hơn so với nam giới cao tuổi (47,3% so với 34,0%) Bên cạnh đó, những người ởđộ tuổi 80 trở lên cũngsử dụng thẻ BHYTđể lấy thuốc

ở TYT nhiều hơn so với những người ởđộ tuổi thấp hơn hay những người có tình trạng sức khỏe kém hơn, cóbệnh mạntính cũngcó tỷlệ sửdụng thẻ BHYT

để nhận thuốc từ TYT nhiều hơn so với những người có sức khỏe tốt hơn, hoặc những người khôngcóbệnh mạn tính

Số liệu của khảo sát cũng cho thấy, trong số 120 người đã từng sử dụng thè BHYT đến lấy thuốc ở trạm y tế thì phần lớn (88,4%) cho biết họ có thề lấy đầyđù các loạithuốc theo nhucầuKCBcủa bản thân Tỷ lệ không có đủ thuốc

đểsử dụng chiếm 11,6%(tươngứng 14 trường hợp) Trong các trường hợp này,

có chín người cho biết là do TYT không có loại thuốc mà họ cần cho điều trị bệnh, mộtngười cho biết do TYT hết loại thuốc đó và năm người cho biết do loạithuốc đó không nằm trong danh mục thuốc cấp do BHYT chi trả Mặt khác cũng cần phải nhìn nhận rằng, nhu cầu về thuốc của NCTđa dạng và phụ thuộc nhiều vào địa điểm khám chữa bệnh hoặc nơi cư trú của họ Cụ thể, phần lớn

Trang 8

NCT sẽ đến tiệmthuốc gần nhà để mua các loại thuốc mà họ cần (53,1%) hoặc mua ở các cửa hàng thuốc tại nơi họ thăm khám(25%)

Biểu đồ 1 Sử đụng thẻ BHYT để lấy thuốc ở TYT xâ/phường theo tuổi

và tình trạng sức khỏe thể chất (%)

70

60

50

40

30

20

10

0

60-69 70-79 80+

Độ tuổi

Khi phân tích yểu tố tácđộng đến nhu cầu củaNCT về thuốcthiết yếu tại TYT xãbằngphân tích hồi quy nhị phân với biến phụ thuộc là NCT có sửdụng thẻ BHYT để lấy thuốcởTYT xã haykhông trong 12 tháng vừa quavà các biến độc lậplàthôngtinnhân khẩu học của NCT thìkết quả cho thấy nhữngNCT ở độ tuổi cao hơn, có bệnh mạn tính có xu hướng sử dụng BHYTđể lấy thuốc ờ TYT

xã cao hơn 1,6 lần so với NCT ớ độ tuổi thấp hơn (p<0,05; 95% CI: 1,0-2,5) và 2,2 lần so với NCT không cóbệnh mạn tinh (p< 0,01; 95% Cl: 1,3-3,8)

6 Nhu cầu về điều trị và phòng bệnh có tưong quan vói mức sống của

NCT

Phần lớn NCT trong khảo sát này có nhu cầu về khám định kỳ hàngnăm (96,7%) Không có khácbiệt giữa namvà nừ cao tuổi, hay về độtuổicủa NCT, cũng như mức sống vàtinhtrạng sức khoe thể chất của NCT trongmối quanhệ với nhucầu khám bệnh định kỳ của NCT về địa điểm khám chữa bệnh địnhkỳ, theo ý kiến của NCT, phần lớn số họ mong muốn khám chữa bệnh định kỳ ở trung tâm y tế hoặc bệnh viện tuyến huyện (55,4%) Tiếp theo là trạm y tế xã/phường (21,1%) và bệnh viện tỉnh/Trung ương (16,3%) Địa điểm mong muốn cho việc khám chữa bệnh định kỳ củaNCT có tương quan với mức sống

tự đánh giá của bảnthân NCT (p< 0,05) Có hai xu hướngtrái ngược nhau rất

dễ nhận biết,thehiện trong Biểu 2 dưới đây, đó làtrạm y tế xã/phườngvàphòng khám/bệnh viện tư nhân Theo đó, tỷ lệ NCT có mức sống khá giả ít chọntrạm

y tế xã/phường (5,9%) là địa điểm khám chữa bệnh định kỳ mong muốn, ngược

Trang 9

Trịnh Thái Quang, Trần Thị Thanh Tâm 11

lại tỷ lệ NCT có mức sống khágiả lựa chọn phòng khám/bệnh viện tư nhân là điểm khámchữa bệnh định kỳ là cao nhất so với nhữngngườicó mức sống thấp hơn (17,6%)

Nhu cầu khám chữa bệnh định kỳ tại TTYT hoặc bệnhviện huyệnchiếm

tỷ lệ cao nhất phảnánhphần nàothái độ của NCT về TYT xã vì TYT xã mới là đơn vị tuyến đầu tiên chịu trách nhiệm thực hiện các dịch vụ khám chữa bệnh định kỳ choNCT địa phương

Biểu đồ 2 Địa điểm khám chữa bệnh định kỳ mong muốn và mức sống

tự đánh giá của NCT (N=289) (%)

NCT được hỏi khi có nhu cầu khám chừa bệnh thông thường, họ mong muốn đến đâu để sử dụng dịch vụ này Kết quả phân tích cho thấy, phần lớn NCT mong muốn đến TTYT huyện hoặc bệnh viện huyện để khám chữa bệnh thông thường, 36% lựa chọn bệnh viện tỉnh và đứng thứ ba là trạm y tế xã/phường với 34,7%

Mức sống củaNCT có tương quancó ý nghĩa thốngkê với việc họ mong muốn khám chữa bệnh thông thường ở cơ sở y tế nào Giữa các nhóm NCT có mức sống khác nhau thì có mong muốn khác nhau về điểm khám chữa bệnh thông thường Ví dụ như NCT có mức sống tựđánhgiá nghèo lựa chọn khám chữa bệnhthôngthường ở những cơ sở ytế gầnnơi cư trú, ít tốnkém nhiều hơn (tư nhân) so với những người có điều kiện kinh tế tốt hơn Tỷ lệ NCT nghèo chọn điều trị bệnhthông thường ờ trạmy tế hay bệnh viện tỉnh đều cao hơn so với những NCT ởmức sống tốt hơn Khác biệt nàythế hiện rõ nhất ở cơ sở y tể

Trang 10

tư nhân Nếu như chỉ có 14% NCT nghèo mong muốn khám chừa bệnh thông thường ở phòng khám tư nhân (3% ở bệnh viện tư), thi tỷ lệ này ở nhóm NCT

có mức sống trungbình là 23,3% (4% ở bệnh việntư), và47,1% ở nhóm NCT

có mức sổng khá - giàu (11,8% ở bệnh viện tư)

Biểu đồ 3 Nhu cầu về noi khám chữa bệnh thông thường (N=297) (%)

Tình trạng sức khỏe của NCT cũng có tương quan với cơ sởy tế mong muốn để khám chữabệnhthông thường của NCT Tỳ lệ NCT cóbệnh mạn tính mong muốn đến khám sức khỏe thông thường tại TYT xã cao hơn đáng kể so với những người không có bệnh mạn tính (39,1% so với 26%) (p<0,05) Hay những người có tình trạng sức khỏe thể chất kém mong muốn đến khám chừa bệnh thông thường ở bệnh viện tình nhiều hơnso với những người có sức khỏe tốt hơn (p<0,005)

Bảng 1 Co ’ sở y tế mong muốn và mức sống tự đánh giá (N=297) (%)

Nghèo Trung bình Khá -giàu

Mức ý nghĩa thống kê: ** p< 0,01; *** p< 0,001

7 Kết luận và thảo luận

Người cao tuổi có nhu cầu đa dạng về CSSKBĐ, thể hiện là phần lớn số NCT trong nghiên cứu nàyđều có nhu cầutìm hiểu, học hỏi thêm về các kiến thức chăm sóc sức khỏecho bản thân Kếtquảnày phầnnào cũng cho thấy NCT

Ngày đăng: 02/11/2022, 08:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w