Phần lớn các nghiên cứuvề bình đẳng giới đã thựchiệnthườngđomức độ hàilòng - như một chỉ báo của hạnh phúc - ởmột số lĩnh vực.. Một số nghiên cứu khác về hạnh phúc thì thườngphân tích yế
Trang 1- Chủ đê nghiên cứu trọng tâm trong
7
Báo cáo hạnh phúc thê giói
Bùi Thị Hương Tràm *
* TS., Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
1 Bài viết là sản phẩm của Đề tài cấp Cơ sở “Thứ bậc hạnh phúc của Việt Nam trong bảng xếp hạng hạnh phúc thế giới’’ do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới chủ trì thực hiện năm 2021.
Tóm tắt: TạiHội nghị cấp cao của Liên Họp Quốcvề hạnhphúc vàphúc lợi
xãhội được tố chức năm2012, cơ quannày đã khuyến cáo các quốc gia nên coihạnhphúc làthước đo đúngđắn của tiến bộ xã hội và là mục tiêu của chính
sáchcông (WorldHappiness Report, 2012) Điểm quantrọng trong tiến trình
đó là cần xác địnhmối tương quan của hạnh phúc với các yếutố kinh tế, xã hội, môi trường và phúc lợi Báo cáo Hạnh phúc thế giới đã căn cứ vào luận
điếm quan trọng trên đây để phát triển thành các chủđềtrọng tâmcủa các báo
cáo hằng năm Mối quanhệ giữa binh đẳng giới vàhạnhphúc là chủ đề trọng
tâm của Báo cáo Hạnhphúc thế giới năm 2016 Ket quả nghiên cứu chỉ ra
rằng: bình đẳng giới là một phần không thể thiếucủa hạnh phúc Bình đẳng
giới cómốiquan hệ với hạnh phúc nhưng rấtphức tạp và nhiều sắcthái Khi
định kiến giới không bị phá võ thì phụnữvà nam giới sẽtiếp tục phải đối mặt
vớibấtcônggiớingaycả khi có cơ hộibình đẳng.Và điềunày làm ảnhhưởng đến cảmnhận hạnh phúc Do đó,cáccanthiệp về bìnhđẳng giớicómục tiêu không chỉ đemlại điềukiện tốt hơn cho phụnữ và namgiới màcòn để tăng
cường hạnh phúc tong the của cảhaigiới Bài viết sử dụng phương pháp tổng
quan tài liệu, trongđó nguồn tài liệuchính là 09 Báo cáo Hạnh phúcthế giới (từ năm2012 đến năm 2021)*1
Từ khóa: Báocáo Hạnh phúcthế giới; Hạnhphúc; Bình đẳng giới
Ngày nhận bài: 11/10/2021; ngày chỉnh sửa: 25/10/2021; ngày duyệt đăng:
15/11/2021
Trang 2Bùi Thị Hương Trầm 131
1 Giói thiệu
Trongkhi chủđề bình đẳng giới thu hútrất nhiều nghiên cứu ở ViệtNam thì chủ đề hạnhphúc chỉ mới được quantâm nghiên cứu khoảng 10 năm trởlại
đây Phần lớn các nghiên cứuvề bình đẳng giới đã thựchiệnthườngđomức độ hàilòng - như một chỉ báo của hạnh phúc - ởmột số lĩnh vực Một số nghiên cứu khác về hạnh phúc thì thườngphân tích yếu tốgiới nhưmột biếnsố có thể thay
đổinhưngkhôngxem xétliệu bìnhđẳng giới cóphảilà một chỉ số của hạnhphúc
hay không (Carmine Rustin, 2018) Việt Nam là quốc gia được đánh giá có
những quyết tâm chính trị cao trong lĩnh vực bình đẳng giới Chính phủ Việt
Nam đã vàđang nỗ lực thựchiện cácgiải pháp đồngbộ thúcđẩybình đẳnggiới (Trần Thị Minh Thi (chủ biên), 2017) Tuy nhiên, trên thực tế, còn rất nhiều thách thức mà phụ nữ và nam giới phải đối mặt, bao gồm cả bấtbình đẳng và bạo lực trên cơ sở giới
Thực tiễn xây dựngvà triển khaicác chươngtrình liênquan đển bình đẳng giới và hạnh phúc, luôn có rất nhiều câu hỏi được đặtra: các chínhsách thúc đẩy
bình đẳng giới tác động đếncách phụ nữvà nam giới trải nghiệmcuộc sống như thế nào? Họ có hạnh phúc không và có thấy hạnh phúcgắnliền với những nỗ lựcbình đẳng giới không? Liệu có khả năng: cóbình đắng nhưng không có hạnh phúchay
cóhạnh phúc màkhông có bìnhđẳng? Bằng việc phântích một số chiều cạnh của
mốiquan hệgiữabình đẳng giớivàhạnh phúc, bài viết mangtính gợi mở bướcđầu
về mối quan hệnày
2 Đôi nét về các chủ đề trọng tâm trong Báo cáo Hạnh phúc thế giói
Báo cáoHạnh phúcthếgiới (WorldHappinessReport-WHR) đầu tiên được công bố vào tháng 4năm2012, nhằm hỗtrợHộinghịcấp caocủa LiênHợp Quốc
về hạnh phúc và phúc lợi xã hội số liệu của Báo cáo được thuthập từ người dân tại hơn 150 quốc gia Ketừ đó, WHR được tiếptục nghiên cứu và công bố vào Ngày Quốc tế về Hạnh phúc các năm Khoảngthời gian mỗi báo cáo giới hạn để
đo hạnh phúc của các quốc gialà 3 năm, chẳng hạn Báo cáo WHR 2020 nghiên
cứu, đánh giá hạnhphúc của các quốc gia trong cácnăm từ 2017đến 2019 Tương
tự nhưthế, Báo cáo WHR 2021 sẽ nghiên cứu, đánhgiá hạnhphúc cùa các quốc gia trongcác năm từ 2018 đến 2020 Đến nayđã có 09 Báo cáo WHR vào các năm
2012,2013, 2015, 2016, 2017, 2018, 2019, 2020, 2021
Các Báo cáo Hạnh phúc thế giớikhông chỉ xem xét hạnh phúc trung bình trong mộtcộngđồng hoặc quốc gia, mà còn baogồm các chủđề trọngtâmphân tích sâu hơn về hạnh phúc ờ các quốc gia và khuvực Những hiểu biết cụthê và
rõ ràng về các chủđề trọng tâmlàcơ sở gợi ý chính sách cho cácquốc gia như lời
Trang 3Giáo sư Jeffrey D Sachs - Giám đốc Mạng lưới giải phápphát triển bền vừng-
nhấn mạnh trong lời giới thiệu WHR2013: “Chúng ta đang sốngtrong thờiđại
mà căng thẳng gia tăng Các chínhsách phải phù hợp chặtchẽ hơn với những gì thực sự quantrọng đổi vớicon người Càng ngàycàng có nhiều nhàlãnhđạo trên thế giới bao gồm cả Thủtướng ĐứcAngela Merkel,Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye và Thủ tướngAnh David Cameron, nói về tầm quan trọng cùa hạnh phúc như mộtkim chì nam cho quốc gia của họ và cho thế giới Dữ liệu nàysẽ cung cấp cho các chính phủ trên thế giới cơ hội để cân nhắc lại các chính sách công cũng như đê các cá nhân lựa chọncuộc sông cá nhân, nângcaohạnh phúc
Báo cáo cũng sẽ chỉ ra những thách thức tiềm ẩn cần được giải quyết” (WHR,
2013: 5)
Chủ đề trọng tâm của 09 Báo cáo Hạnhphúc thế giới (từ năm 2012đếnnăm
2021) được tổng họp ờBảngdướiđây:
Bảng 1 Chủ đề trọng tâm của 09 Báo cáo Hạnh phúc thế giới
Báo cáo Hạnh phúc thế giói 2012
Báo cáo Hạnh phúc thế giới 2013
Báo cáo Hạnh phúc thế giới 2015
Nguyên nhân của hạnh phúc và khô đau Sức khoé tâm thần và hạnh phúc
Xu hướng và sự khác biệt toàn cầu về hạnh phúc Phát triển bền vững và hạnh phúc
Báo cáo Hạnh phúc thế giới 2016 (Binh đẳng giới là một mục tiêu phát triển bền vững hướng
đến hạnh phúc toàn diện) Báo cáo Hạnh phúc thế giới 2017
Báo cáo Hạnh phúc thế giới 2018
Báo cáo Hạnh phúc thế giới 2019
Báo cáo Hạnh phúc thế giới 2020
Báo cáo Hạnh phúc thế giới 2021
Vai trò cùa các yếu tố xã hội trong hỗ trợ hạnh phúc
Di cư và hạnh phúc Cộng đồng và hạnh phúc Môi trường, xã hội đô thị và hạnh phúc Covid-19 và hạnh phúc
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ 09 WHR.
3 Mối quan hệ giữa bình đẳng giói và hạnh phúc
Helliwell và cộng sự trong các Báo cáoHạnhphúcthế giớinăm 2012, 2013,
2015 khẳng định: hạnh phúc là sản phẩm cùa nhiều khía cạnh xã hội, trongđó có khía cạnhbìnhđẳnggiới(Helliwell, Richard Layard, Jeffrey Sachs, 2015) Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2016 nhấn mạnh bình đẳng giới là mộttrong cácmục tiêu phát triển bềnvững hướng tới hạnh phúc toàn diện Điều này không chỉ đượcxem
xét trong mỗi quốc gia mà còn cần được xem xét giữacác quốc gia Mối quan hệ
giữa bình đắnggiớivà hạnh phúc the hiện ở bốn chiềucạnh sau: (1) Cóbình đẳng
Trang 4Bùi Thị Hương Trầm 133
giới, có hạnhphúc; (2) Có bìnhđẳnggiới nhưngkhông có hạnh phúc; (3) Cóhạnh phúc mà không có bình đẳng giới;(4) Bấtbình đẳng giới là bấthạnh
Trongphạm vicủabài viết này,tác giả chỉ đề cập tới hai chiều cạnh củamối quanhệ: (1) Cóbìnhđẳnggiới, có hạnh phúcvà (2) Có bình đẳng giớinhưng không
có hạnh phúc
3.1 Có bình đẳng giới, có hạnh phúc
Nghiên cứu của Holter được thựchiện năm 2014 chỉ rarằng: cả phụ nữ và nam giớiđều hạnh phúc hơn trongcác xã hội bình đăng giới hơn Nam giới không
hềbị thua thiệt (mất quyền lực) khi xãhội bình đẳng Haynói cách khác, cảnam
giới vàphụnữđều được hưởng lợi (được hạnh phúc) từ bình đẳng giới Ở Châu Àu,
tỷ lệ phụnữvà nam giớiở ba quốc gia cóchỉ số bình đẳng giới caonhấtcảmthấy hạnh phúc cao gấpđôi so vớibaquốc giacó chỉsố bình đẳng giới thấp nhất Ở Mỹ,
cơ hội hạnh phúc cùa một cánhân cao gấp đôiở bang có điểm bìnhđăng giới cao
nhất so với bang cóđiểm bình đẳng giớithấp nhất (Holter,2014: 521)
Tại Việt Nam, bình đẳng giới là mụctiêuđược xác định trong rất nhiều văn bảnluật Văn kiện Đại hội đại biểutoànquốc lần thứ XIIIcủa Đảng xác định bình
đăng giới làđịnh hướng quản lý phát triền xãhội: Quản lý phát triển xâhội có hiệu
quả, nghiêm minh, bảo đảman ninh xã hội, anninhcon người; thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội (trong đó có công bằng giới) (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021: 116) Rõ ràng, xétvềmặt giá trị, bình đẳng giới được ủnghộ trên hành trình
kiếm tìmhạnhphúc Bêncạnhđó, nếu xemxét bộ chỉ sốbinh đẳng giới và bộchỉ
sốhạnhphúcsẽnhận thấy chúnggặp nhau ở một số chì báo/chỉ tiêu nền tảng Như
vậy, xétvềcấu trúc, binh đẳng giới và hạnh phúc cómối liên hệ tương tác và giao
thoa với nhau
Có thể điểm03 chỉ báo/chỉ tiêu giao thoa sau:
(1) về thu nhập - Bộ chỉ tiêu thốngkê giới của Việt Nam có chi tiêu số 20 liên quan đến thu nhập bình quân một lao động có việc làm và chỉ tiêu số 34 liên
quan đến khoảng cách thu nhập theo giới (Danh mục Chỉ tiêuthốngkêphát triển giới của quốcgia, 2019) Trong khi đó, thunhập(cánhân)vàGDP (quốc gia) làchỉ báo quan trọngtrong đo lường hạnh phúc Dođó, thu nhập đượccoi là một chỉ số quantrọng ưong cả khía cạnh bình đẳng giới và hạnh phúc Hạnh phúcthường đi kèm sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế Phụ nữ và nam giới hạnhphúc hơnkhi được trả lươngcao hơn và không bị phân biệt đối xử liên quan đến thu nhập (World
Database on Happiness, 2017) Tiền là một phương tiện để tạo điều kiện hạnhphúc (Robeyns,2003; Sen, 1992) và quan trọng đối vớicông bằng xã hội (Fraser, 2000,
2007) Việc phân bổ lại các nguồn lực là chìa khóa đề đảm bảo rằng phụ nữ có
Trang 5quyềnđộc lậpvà tiếng nói, đồng thờiduytrì sự độc lập vàtiếng nói (Fraser, 2007)
Ngoài ra, việc phân bồ lại các nguồn lực sè cho phép phụ nữ tiếp cận các cơ hội khác như giáo dục và công việcđượctrả lương cao hơn, dođó tạo điều kiệnthuận
lợicho sựbình đẳng có sự tham gia và đạtđược ngưỡng năng lực tối thiểu
(2) về thamgia lãnh đạo, quản lý - Bộ chỉ tiêu thống kê giới của Việt Nam
có 11 chỉ tiêu (từ chỉtiêu 35 đến chỉ tiêu45) liên quan đến tỷ lệ phụ nữ tham gia
lành đạo, quảnlý (Danh mục Chỉ tiêu thống kê phát triểngiới của quốc gia,2019)
Trong nghiên cứu hạnh phúc,quyền tựquyết(tronglãnh đạo,quản lývà trong đời sống cá nhân) không chỉ là trung tâmcủa hạnh phúcmà còn làkhảnăng theo đuổi
cácmục tiêuvàgiá trị mà con người cho là quantrọng Điều kiện dànhchophụnữ
và namgiới sẽ được càithiện khicó thêm nhiều phụ nữ giữ vị trílãnh đạo, quản lý, cất lên tiếngnói mạnh mẽ và quyền lực đòi hỏi đáp ứng nhu cầu, giảiquyết quan
ngại và đảm bảo hạnhphúc Mối liênhệ đángkểđược quan sát thấy giữaquyền tự quyết của phụ nữ và hạnh phúc, với sự hài lòng của phụ nữ với cuộc sốngvà ảnh
hưởng ngày càng tăng khi quyền tự quyết của họtănglên (Carmine Rustin, 2018) (3) về bình đẳng tại nơilàm việc - Bộchỉ tiêu thốngkêgiới của Việt Nam có
chi tiêu số 23 về số giờ trung bình làm công việc chămsóc không được trả công và chi tiêu số 24 về số giờ trung bìnhcông việc tạo thu nhập và công việc chăm sóc
không được trả công (Danh mục Chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia,
2019) Bình đắng giớitạinơi làm việcđượcthể hiện bằng số giờlàm công việcđược trả lương đi đôi với số giờ làm việc không được trả công Trong nghiên cứuhạnh
phúc, vấn đềnày được đo bằng tínhcân bằng,tựchù trong công việcvà an sinh xã hội.Hạnh phúc thường đi kèm sự cân bàng và chính sách an sinhxãhội hiệu quà Khicác chínhsáchan sinh xãhội được thiết kế tốt sẽ làm tăng các lựa chọn cósẵn
cho cả phụ nữ và nam giới Do đó, sẽ làm tăngphúc lợi giađìnhvàxã hộivàtăng hạnh phúctổng thể
Như vậy, bình đẳng giới và hạnh phúc được liênkết với nhau, đôi khi giao thoa và bộc lộ mối quan hệ chặt chẽ giữacác chi báo Bình đẳng giới là lợi ích xã
hộivà là một phần không thể thiếu cùa hạnh phúc.Các mối quanhệ bình đẳng hơn
vàgiải quyết các vai trò giớikhácbiệt đượccoi là có cuộc sống hạnh phúc hơn
3.2 Có bình đẳng giới nhưng không có hạnh phúc
Theo tácgiả Betsey Stevenson vàJustin Wolfers (2009):trên thực tế, tồn tại
một khoảng cách giới trong thụ hưởng hạnh phúc Betsey Stevenson and Justin Wolfers đưara một “nghịch lý suy giảm hạnhphúccủaphụ nữ” (paradox of declining
female happiness) Hai tác giảphân tíchhạnh phúc của phụnữ trong35 nămbằng việc phân tích bộ số liệu Khảo sátXã hội của Mỳ (GSS- General Social Survey)
Trang 6Bùi Thị Hương Trầm 135
Khảo sát nàybắtđầu thực hiệntừnăm 1972 và được lặplại hàng năm.Khoảngthời gian dàicủa GSSvà việc sử dụngphương án khảo sát phù họp để đo lường hạnhphúc
làrất lý tưởngcho việc phân tích xu hướng hạnhphúc theothời gian.Ketquả chỉ ra
rằng: mặc dù cuộcsống củaphụ nừđược cải thiện do tác động của các chính sách bình đẳng giới nhung hạnh phúc của phụ nữ đã giảm vềmặt tuyệt đốiso với nam giới
Nhữngnăm 1970, phụnữ hạnh phúchonnamgiới Nhưng đến những năm 1990, phụ
nữ hạnh phúc íthontrongkhi hạnhphúccủa nam giới giữở khoảng ổn định.Phong trào giải phóng phụ nữ,quyềntự do kinhtế,chính trị, xã hội đã thúc đẩysự tiến bộ củaphụ nữvà kỳ vọng phụ nữ sẽ hạnh phúchon Nhưng thực tế không hoàn toàn như
vậy(Stevenson & Wolfers, 2009) “Vai trò kép”đãlàmsuy giảm hạnh phúc của phụ
nữ Nhiều sự lựa chọn cũng làm cuộc sống của phụ nữtrởnênphức tạp hon và việc
gia tăng cơ hội việc làm của nữ giới trênthị trường đã dẫnđến sự giatãng tổng số lượng công việc mà phụ nữ phảiđảm nhiệm Người phụnữ vừa phải nồlựckiếm tiền
ngoài xãhộivừa phảichăm sóc concáivà làm việc nhà Áp lực nàylà nguyên nhân
suygiảmhạnhphúc của người phụ nữ
Người phụnữ Mỹ giữa thế kỷXXđã“bịmắcbẫy” giữa quanniệmxãhội về
“bà nội trợ Mỹ hạnh phúc” (thực hiện 13 vai trò gồm: làm vợ, làm bồ, làm mẹ, làm
y tá, người tiêu dùng,đầu bếp, láixe, chuyên gia về trangtrí nội thất, chăm trẻ, sửa
thiết bị,làm mói đồgồ,dinh dưỡng vàgiáo dục) với quanniệm của chính bảnthân
họ về hạnh phúc Mộtbà mẹ bốn con, bỏ học đại học năm 19tuổi để lấychồngvà
“đã thửmọi thứ mà người ta cho làphụ nữ hay làm-có thú vui riêng, làm vườn,
muối dưa,làm đồ hộp, giaoduvớihàng xóm, tham gia các úy ban, tổ chứcnhững buổi tiệc trà bên Hội phụ huynh nhưng tôi tuyệtvọng Tôi bắt đầu thấy mình
không có tính cách Tôi chỉ là người bưng đồ ãn, mặc quần áo cho bọn trẻ, dọn giường, ai đóđượcgọi đếnkhi muốn có thứ gì đó Nhưng tôi là ai mới được chứ?”
(BettyFriedan, 2015: 37)
Việt Nam được ghi nhậnlàmột trongnhững quốcgia có khung pháp lý tiến
bộ theo xu hướng đảm bảo các quyền con người và không phân biệt đối xử Mối quan tâm và tiếng nói của phụ nữ đã được lắng nghe Tuy nhiên, sự phát triển tích cựcnày tác động đến cuộc sống hàng ngày củaphụnữ và namgiới nhưthếnàolại
làmột vấn đềkhác Phụ nữtiếp tục mang gánh nặng củakhuôn mẫugiới Phụnữ thành côngtrong trật tự xã hội giatrưởng có thể không hạnh phúcvì bị quá tải và căng thẳng Phụ nữtham gialãnhđạoquảnlý cóthể gâyranhững cãng thẳng trong cuộc hôn nhân vì người chồng cảm thấy bị giảm “nam tính”, cókhảnăng dẫn tới
bạolực giađìnhvà hônnhântan vỡ
Những nghiên cứu về gia đình từ lâuđã nhấnmạnhsự tham gia củaphụnữ vào lực lượng lao động được trả lương không phải là sựchuyển đổi vị trí từ công
Trang 7việc nhà, vì thế phụnữ làm các côngviệc chăm sóc khôngđượctrảcônglàlàm “ca
thứ hai” Việc nhà ít khiếnđàn ông bị trầm cảmnhưngđóng góp vào sự trầm cảm củaphụ nữ và khiến phụnữ cảm thấy không hạnh phúc, về cơ bản,phụnữ vẫnchịu tráchnhiệmvề công việc sinh sản.Sự lựachọn giữa tham gialực lượng lao động và công việc sinh sản đã tạo thêm gánh nặng cho phụnữvà ảnh hưởngđến hạnhphúc
của họ.Áp lực, căng thẳng docông việc sinh sản gây ra tácđộng đen khả năngtận
hưởng thời gian vuichơi giải trí vàtiếng cười củaphụ nữ - những chỉ báo dự đoán
về mức độhạnhphúc
Phụ nữcoi trọngbình đẳng giới và có thể muốn giànhlấy các cơ hội bình đẳng giới Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, khó cócơ hội nắm bắt hoặc tậndụng
cơ hội này cỏthể dẫn đến thách thức khác đối với phụ nữ Phụ nữ vần phải chịu trách nhiệmvề các hoạt động chăm sóc, đặc biệtlà liên quanđến trẻ em Vì vậy, phụnữ không chỉ phải cân bằng vàđiềuhướng thờigianvànguồn lực của họ mà
cònphảiđối mặt với những xáotrộn về cảm xúc mà công việc có thểdẫn đến,nếu
họtinrằng con cái của họ đang phải chịu đựng Do đó, lập luận có thể được đưa ra
rằngkhi phụ nữ đảm nhận các vị trí ngang bằng vớinam giới,nhưng trong một trật
tựxãhộitiếptụcđượcđịnh hình bởi sự phân biệt giới, họ thậmchícó thểbị trừng phạtbằngcách nhận thấy mình có nhiều gánh nặng và bị xãhội bất bìnhdầnđến
bất hạnh
Những chuẩnmực truyền thống về nam tính cũng tácđộng nhiều chiều tới nam giới Những tiêu chí về hình mầu “người đànôngđíchthực” cho thấy xã hội
đã đặtranhững kỳvọng quá cao (là trụcột gia đình, kiếm đủ tiền nuôi vợ con,có
vị trí trongcơquannhànước,khả năngtình dục cao ) buộc nam giới phảicố gắng khôngngừngđể đạt được những điều đó(Viện Nghiên cứu Phát triển xãhội, 2020)
Nam giới cũng bị mắc kẹt ưong bối cành xã hội hướng đến bình đẳng giới Nam
giới được kỳ vọng vừaphảiđápứngnhững chuẩn mực truyền thống (làtrụ cột trong
gia đình, thành công ngoài xã hội) vừaphảiđáp ứng chuẩnmực bình đẳng giới (chia
sẻvai trò chăm sóc trong gia đình, tôn trọng, binhđẳng ở nơi làm việc) Điều này khiếnnam giới bị áplực, căng thẳng và không hạnh phúc Từ đó, họ có xu hướng thực hiện các hành vi bấtbình đắng giới, cản trởsự pháttriển củaphụ nữ Đây là
nguyênnhân quan trọng khiến mục tiêubình đẳnggiớithựcchấtvần chưa đạt được, khiển mục tiêu nâng cao hạnh phúc tổng thể vẫn còn gặpnhiều khó khăn
4 Kết luận
Các vấnđề đã phântích phàn ánh sự phứctạp và sắc thái đadạng giữa bình đắng giới và hạnhphúc: giao thoa và có mối liên hệ với nhau Tuynhiên, mối liên
hệ giữa bình đẳng giới và hạnh phúc khôngphảilà tuyếntính.Bình đẳng giới làcần
Trang 8Bùi Thị Hương Trầm 137
thiết trong cả lĩnh vực công và lĩnh vực tư để có được hạnh phúc nhưng giữa bình
đẳng giới vàhạnh phúc chưa xác định được mối quan hệ nhânquả một cách chặt chẽ Chỉriêng phápluật sẽ không đảmbảođược bình đẳng giới thực chất vàhạnh phúc một cách tổng thể Pháp luật tạo ra các cơ hội bình đẳng giới nhưng trong thực tiễn, cácràocản khiến cảphụ nữ vànam giới khónắmbắtđượccơ hội lại khiến dẫn
đến những thách thức khác
Chính vì phụ nữ chọn cách tận dụngcác cơ hội bình đẳng giới trong bối
cảnhcòn tồn tại định kiến giới khiến phụ nữ không hạnh phúc Không chỉ nam
giới,ngay cả phụnữ cũng “đầu tư vào chế độ phụ hệ” (Helman& Ratele, 2016; Sen, 1995; Worl Bank, 2012) khi nội tâm hóa niềm tin rằng nam giới làm lãnh
đạo tốt hơn và phụ nữ làm các công việc chăm sóc tốt hơn Các tập quán xã
hội bất công thường đượcduy trì và tái tạo thông quacác hành vi vàthực hành
hằng ngày Bằng cáchnày, phụ nữ đã tái tạo,duy trì các tậpquán bấtbình đẳng giới Khiđịnhkiếngiới khôngbị phávỡ, phụnữ và nam giới sẽ tiếp tục phải đối
mặt với bất công giới ngay cả khi có cơ hội bình đẳng Và điều này làm ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc
Các chính sách xãhộicầnphảitínhđến những phứctạp này hơn nữa khixây dựngcác chiến lược bình đẳnggiới vàthúcđẩyhạnh phúc.Chúng ta cần có nhiều biện pháp can thiệp để đảm bảo phụ nữvà namgiới có thể chuẩnbị đầy đủ điều
kiện (kỹ năng,trìnhđộ ) nhằm đón nhận cơhội bình đẳng và pháttriển Chúng ta khôngchỉ đặt mục tiêu giảmkhoảngcách giới về thu nhập, không chỉ mong đợi công việc đượctrảlương tốthơn mà còn cầnchú trọngtới một sốkhía cạnh khác
của công việc có liên quanmạnh mẽ đến hạnh phúc lớnhơn-sự cân bằng cuộcsống
và công việc, tự chủ, đa dạng, vốnxã hội, sức khoẻvàan toàn.Việc nângcaothu nhập (cá nhân, quốc gia) sẽ không nhất thiết và cũng khôngtự động chuyển thành bình đẳng thựcchấthay nâng cao mức độhạnhphúc(cá nhân, quốc gia)
Bên cạnh đó,cáctrở ngạivề thể chế cũng cần phải được giải quyết.Các chuẩn
mực xã hội,hành vi và thái độ cản trở tiếntrìnhbìnhđẳng giới cần phải bịthách thức và phá vỡ Sự đảm bảo rằng khi các cơ hội bình đẳng giới đượctận dụng sẽ
dẫn đến hạnh phúc chứkhông phải bất hạnhcần được hướng tới một cách riết róng
hơn Để cócơsở khoa họcchođảmbảo này, việcnghiên cứumối quan hệgiữa bình đẳng giới và hạnh phúc từ 4 chiều cạnh sau làrất cần thiết: (i) Bình đẳnggiới là hạnh phúc; (ii)Bình đẳng giớikhông cóhạnh phúc; (iii) Hạnhphúc không có bình
đẳnggiới;(iv)Bất bình đẳng giớilà bất hạnh
Bàiviết mang tínhgợi mởbước đầu nhằm mụcđích đóng góp vào sựhiếu
biếtvà sự phức tạpcủa mối quanhệ giữa bìnhđẳng giới và hạnh phúc- có liên
quan đặc biệt đến canthiệp chính sách và chương trình Rõ ràng, các quốc gia
Trang 9trên thế giớinói chung và Việt Nam nói riêng vẫn còn phải đi một chặng đường
dài để khám phá mối quanhệ giữa bình đẳng vàhạnhphúc cũng như sựbiến đổi
của nó theo thờigian
Tài liệu trích dẫn
Betty Friedan. 2015 Bi ẩn nữ tính Nguyễn Vân Hà (dịch) Đại học Hoa Sen và Nxb.Hồng Đức
Carmine Rustin 2018 Gender equality ’ and happiness among South Africa women.
Danh mục Chỉtiêu thống kêphát triểngiới của quốc gia 2019 Banhành kèm theo
Thông tư số 10/2019/TT-BKHĐT ngày 30tháng 7 năm2019 củaBộ trưởng
Bộ Ke hoạch và Đầu tư http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-toanvan.aspx? Item
ID 137315
Fraser, N 2000 Rethinking recognition New Left Review, 3,pp 107-120
Fraser, N 2007 “Feminist politics in the age of recognition: A two-dimensional approachto genderjustice” Studies in Social Justice, 7(1), pp.23-35
Helliwell, Richard Layard, Jeffrey Sachs WHR 2015.https://worldhappiness.report/
Helman, R., & Ratele, K 2016 “Everyday (in)equality at home: complex
constructions of gender in South African families” Global Health Action,
9(1), 31122 doi: 10.3402/gha.v9.31122
Holter, O.G 2014 “What’s in it for men?”: Old question, new data” Men and
Masculinities, 17(5),pp.515-548
Robeyns, I 2003 Sen’s capability approach and gender Inequality: selecting
relevant capabilities Feminist Economics 9(2-3), pp 61-92
Sen, A 1992 Inequality re-examined New York, NY: Russell SageFoundation Sen, A 1995 Gender inequality and theories of justice In M Nussbaum & J Glover (Eds.), Women, culture, development A study of humancapabilities
(pp 259-273) Oxford: Oxford University Press
Stevenson, B., & Wolfers, J 2009 “The paradox of declining femalehappiness”
American Economic Journal: Economic Policv, 7(2), pp 190-225
Tran Thị Minh Thi (Chủ biên) 2017 Bình đẳng giới trong chính trị từ chiều cạnh thê chế, văn hoá và hội nhập quốc tế Nxb Khoa học xã hội,Hà Nội
Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội 2020.Nam giới và nam tính trong một Việt Nam
hội nhập Báo cáo
WorldBank 2012 Worlddevelopment report on gender equality and development.
Washington: The International Bank for Reconstruction and Development/
The World Bank
World Database on Happiness(n.d.).Archive of research findings on subjective enjoyment
of life. RetrievedDecember 9,2017, fromhttps://worlddatabaseofhappiness.eur.nl
World Happiness Report (WHR) 2012,2013,2015,2016,2017,2018,2019,2020,2021 https://worldhappiness.report/