1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bình đẳng giới trong tổ chức quốc hội nước ta

7 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 742,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về bình đẳng giới trong tổ chức Quốc hội nước ta Vấn đề bình đẳng giới làmộttrong những chính sách được Đảng và Nhà nước quan tâm; được thể hiện qua những quy định rõ ràng và x

Trang 1

PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐANG giới

TRONG Tổ CHỨC QUÔC HỘI NƯỚC TA

• PHAN KHUYÊN

TÓM TẮT:

Việt Nam đãcómột khungpháplý kháđầyđủ về vấn đề bình đẳng giới trong tổ chức Quốchội nước ta Nhờ đó,phụ nữđã dần đượckhẳng định vịthế, vaitrò của mình trongtổ chứcQuốchội

thôngqua sô'lượng vàchấtlượng thamgia vàoviệcracácquyết sách quan trọng đối vớisự phát triển bền vững của xã hội Mặcdù vậy,các bằng chứng nghiên cứuđã cho thấy, việc thực thi chính

sáchbìnhđẳng giớitrong tổ chức Quốchộinói riêng còn một số bất cập

Từ khóa: bình đẳng giới, pháp luật về bình đẳnggiới, bình đẳng giới trong Quôc hội, thực thi

về bình đẳnggiới

1 Pháp luật về bình đẳng giới trong tổ chức

Quốc hội nước ta

Vấn đề bình đẳng giới làmộttrong những chính

sách được Đảng và Nhà nước quan tâm; được thể

hiện qua những quy định rõ ràng và xuyên suôi

trong các bản Hiến phápcũng như trong hệ thông

pháp luật ViệtNam Trong phạm vi bài viếtnày

tácgiả tập trung nghiêncứu pháp luật về bình đẳng

giới trong tổ chức Quốchội nướcta

Trong Hiếnpháp, vấn đề bình đẳng giới là một

trong những chính sách được Đảng và Nhà nước

quan tâm; được thể hiện qua những quy định rõ

ràngvàxuyên suôi tại các bản Hiến pháp, cũng như

trong hệ thống pháp luậtViệt Nam

Ngay tại bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta,

Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: "Đàn bà

ngang quyền với đàn ông vềmọiphươngdiện”

Trên cơ sởquy địnhvề bình đẳng giới tại Hiến

pháp năm 1946, các bản Hiến pháp 1959, 1980,

1992, 2013 đã có sự kếthừa và hoàn thiệnchế định

bình đẳng giới thànhmột điều luật chi tiết vàcụthể hơn Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980

quy định: “Phụ nữnước Việt Nam dân chủ cộng

hòa có quyền bình đẳng với nam giớivề các mặt

sinhhoạtchính trị,kinh tế, vănhóa, xã hội và gia

đình” Đến Điều 63 Hiến pháp năm 1992quyđịnh:

“Côngdânnữ và namcóquyềnngang nhau vềmọi mặtchínhtrị, kinh tế, vănhóa, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phânbiệt đối xửvới phụ

nữ, xúc phạmnhân phẩm phụ nữ Nhà nước và xã

hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vaitrò của mình trong

xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa

nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để

giảm nhẹgánh nặng gia đình, tạođiều kiện cho phụ

nữ sản xuất, công tác, họctập,chữabệnh, nghỉ ngơi

và làm tròn bổnphận của người mẹ

Vàđến nay, tạiĐiều 26Hiến pháp nãm 2013

chế định bình đẳng giới đã được hoàn thiện hơn một bước:

6 SỐ 22 -Tháng 9/2021

Trang 2

“ỉ Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà

nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình

đẳng giới.

2 Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để

phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của

mình trong xã hội.

3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới

Trong pháp luật chuyênngành,LuậtBình đẳng

giới 2006 được Quốc hội thông qua ngày

29/11/2006 và có hiệu lực ngày01/7/2007 đã từng

bước được triển khai đã góp phần thúc đẩy việc

thựchiện công tác bình đẳng giới; bước đầucókết

quả tích cực, tạo đượcsự bìnhđẳng thực chái của

nam, nữ trong các lĩnh vực của xã hội, cũng như

đóng góp vào sự phát triển của đất nước Luật đã

quy địnhviệcbảođảmbìnhđẳnggiớitrong các lĩnh

vựccủa đời sốngxã hội và gia đình, bao gồm: chính

trị; kinh tế; laođộng; giáo dục và đào tạo; khoa học

vàcôngnghệ; lĩnhvực văn hóa,thôngtin,thể dục,

:hể thao; y tế; gia đình Đây là cơ sởđểxây dựng

các quy định, chính sách, cũng như tạo điều kiện

!honam, nữ có cơ hội ngang nhau được tham gia,

hát huy năng lực, thụ hưởng như nhau về thành

uả của sự phát triển trong cáclĩnh vực Đặc biệt,

Cểgiảm khoảng cách tỉ lệ nữ giới so với nam giới

tham gia tronglình vực chính trị, Luật đã quyđịnh

nội dung cũng như biện pháp để thực hiện bình

đẳng giới trong lĩnhvựcnày

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

nám 2015 được sửađổi bổsung năm 2020 đã quy

định trong các nguyêntắc xâydựng,banhànhvăn

ban quy phạm phápluậtlà bảo đảmlồngghép vấn

đe bình đẳng giới trong văn bản quy phạmpháp

luật1 Quy định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới

trong toànbộ quytrìnhxây dựng vănbảnquy phạm

pháp luật bằng cácquy địnhcụthểvề trách nhiệm,

nộ dung, thủtục, hồ sơvà được bắtđầu ngay từ khi

lậpđề nghị Chương trình xây dưng luật, pháp lệnh

Thông qua việc thực hiện nghiêm túcquy định lồng

ghsp vấn đề bình đẳng giới trong quá trình ban

hành văn bản vi phạm pháp luật, cũng như việc

thay đổinhận thứccủa các cơquan của Chính phủ,

các cơ quan có liên quan trong nhiều luậtchuyên

ngà th đã có những quy định cụ thể đảm bảo

nguyêntắc bình đẳng giới Như vậy,bìnhđẳnggiới

không phải là mộtlĩnhvựcmà làmột nội dung bao trùmvà lồng ghép trong các lĩnh vực khácnhau

Vì vậy, pháp luật về bình đẳng giới hiểu theo nghĩarộng bao hàm tất cả các quy phạm phápluật

nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Theonghĩa hẹp,

pháp luậtvề bình đẳng giớilàtập hợpcác vănbản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp vấn đề bình đẳng giới

Pháp luật về bình đẳng giớitrongtổ chức Quốc hộinước ta được quy địnhtrongLuật Bình đẳng giới năm 2006 và lồng ghép trong Luật Tổ chức Quốc hội 2014, sửa đổi, bổ sung2020, LuậtBầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm

2015.Cụthể:

- Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định tại Khoản Điều 11, nam nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử vàđược giới thiệu ứng cử đại biểu qucíc hội, đại biểu HĐND; tự ứng cử và được giới thiệu ứng

cử vào cơ quanlãnh đạo của tổ chức chính trị - xã

hội - nghề nghiệp, tổ chứcxã hội -nghề nghiệp

Tại Khoản 5 Điều này, Luậtcũngquy định rõ

các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị như bảođảm tỷ lệ thích đáng nữđại

biểu Quốc hội, đạibiểuHội đồng nhândân phù hợp

với mục tiêu quốc giavềbình đẳng giới;bảođảm tỷ

lệ nữ thích đáng trongbổnhiệm các chức danh ở cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêuquốc gia về bìnhđẳng giới

- LuậtTổ chức Quốc hội 2014 sửa đổi,bổ sung

2020 quy định về tiêu chuẩn của đại biểu Quôc hội

tại Điều 22 với 5 tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, baogồm:

(ì) Trungthành với Tổ quốc, Nhân dânvàHiến

pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì

mục tiêu dân giàu,nước mạnh,dânchủ,côngbằng, vănminh,cómột quốc tịchlà quốc tịch ViệtNam;

(ii) Có phẩm chất đạođức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp

luật;có bản lĩnh, kiênquyết đâu tranh chống tham nhũng,lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch,

cửaquyềnvà các hành vi vi phạm pháp luậtkhác;

(iii) Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe,kinh nghiệmcôngtác và uy tín

để thựchiệnnhiệmvụđại biểu Quốchội;

Trang 3

(iv) Liênhệ chặt chẽvới Nhân dân, lắng nghe ý

kiến của Nhân dân, được Nhândân tín nhiệm;

(v) Có điều kiện tham gia các hoạt động của

Quo'c hội

Như vậy, điều luật chỉ quy định tiêu chuẩn

chungcủa đạibiểu Quô'c hội màkhôngcó sự phân

biệt giớitính

Bên cạnh đó, Luật cònquyđịnh Đại biểu Quốc

hội bình đẳng trong thảo luận và quyết định các

vân đề thuộc nhiệmvụ và quyền hạn của Quốc

hội2như: quyếtđịnhthành lập, bãi bỏ Bộ, cơ quan

ngang Bộ; thành lập, giải thể nhập, chia, điều

chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực

thuộc trungương, đơn vịhànhchính-kinh tế đặc

biệt theo đề nghị của Chính phủ; bỏ phiếu tín

nhiệm đốìvớingườigiữ chức vụ do Quốc hộibầu

hoặc phê chuẩn; quyết định mục tiêu, chỉ tiêu,

chính sách,nhiệmvụ cơ bản phát triển kinh tế -xã

hộidài hạn và hằng năm của đất nước; chủ trương

đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan

trọng quốc gia,

- Trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại

biểu Hội đồng nhân dânnăm2015, bìnhđẳnggiới

được thể hiện ở nhữngquy định về đảm bảo tỷ lệ

tốithiểu 35% ứng cử viên là nữ3.Người ứng cử đại

biểu Quốc hội phải đáp ứng cáctiêu chuẩn của đại

biểuQuốc hội quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội4

2 Thực tiễn thực thi pháp luật về bình đẳng

giới trong tổ chức Quốc hội nước ta

Việt Nam đã có một khungpháp lý khá đầyđủ

để đảmbảo quyền của phụ nữ trên các lĩnh vực,đặc

biệt là trong tổ chức Quô'c hội Nhờ đó, phụ nữ đã

dần được khẳng địnhvị thế, vai trò của mình trong

lĩnh vựcnày thông quasố lượng và chấtlượng tham

giavàoviệcra các quyết sách quan trọng đối với sự

phát triểnbền vữngcủa xã hội Có thể nhận thấy

trong Quốc hội, tỷ lệ nữlà đạibiểuQuốc hội tăng

dần qua từng nhiệm kỳ Nếu Quốc hội khóa I

(1946-1960) chỉcó 10đại biểu là nữ, chiếm 3% thì

đến Quốc hội khóa XIV số đại biểu nữ được nâng

lên 133 người, chiếm 26,8% Đặc biệt, tại Quốc hội

khóa XIVđã có nữ Chủ tịch Quốchội đầu tiên tại

Việt Nam Việt Nam đứng thứ65/162 và nằm trong

nhóm 1/3 các quốc gia đứng đầu thếgiới về tỷ lệ nữ

đại biểu Quốc hội5

Số đại biểu trong các cơ quan của Quốc hội

khóa XIV đã thể hiện sự gia tăng, nữđại biểu đã chiếmmộttỷlệnhất định trong cơ cấu tổ chức,như: Tại Hội đồng dântộc, tổng số thànhviên là46 đại biểu trong đó, giớitính namvà nữ cânbằng nhau:

23, tỷlệ nam= tỷ lệ nữ; ủy ban vănhóa, giáo dục, thanh, thiếu niênvà nhi đồng,tổngsốthànhviênlà

43, giới tính nam:22(chiếm 51.2%), nữ: 21 (chiếm

tỷlệ 48,8%) Một số cơ quan còn chiếm tỷ lệ số đại

biểu nữít, như: ủy bankinh tế (tổng sốthành viên

41, giới tínhnam37 (chiếm90.2%); nữ: 4 (chiếm

9.8%); ủy ban Quốc phòng và anh ninh tổngthành

viên 40, giới tínhnam: 37 (chiếm 92.5%),giới tính

nữ:3 (chiếm 7.5%)6

Theo phân tích của cổng thông tin điện tử Quốc hội về thựctrạng hoạt độngcủa nữ đạibiểu trong

các nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, mặc dù chiếm chưa tới 1/3 nhưng các nữ đại biểu hoạt độngkhá

tích cực và đượcđánh giá cao Ban Công tác đại biểu thuộc Úy ban Thường vụ Quốc hội nêu vídụ

cụ thể tạicácphiên thảoluận kinh tế - xã hội của

Kỳ họp thứ Hai (tháng 10/2016) có 86 lượt ý kiến phát biểu, trong đó ý kiến của đại biểu nữ là 19

(22,10%); tại Kỳ họp thứTư(năm 2017) tỷ lệ này

là 21/94lượt ý kiến(22,34%) và tạiKỳ họp thứ Sáu

(năm 2018)la 21/88 (23,86%)7 Chất lượng nữ đại biểu Quốc hội cũng được

nâng cao dần - hàm lượng khoa học, chuyên môn trong các bài phát biểu của nữ giới trong những khóaQuốchội gần đây tươngđương vớinam giới

Khóa Quốc hội nàocũng có nhữnggương mặt nữ

nổi trội, thảo luận sôinổi, chấtvấn thẳng thắn, giải quyết đến cùng sự việc Khi trỏ thành đại biểu Quốc hội, phụ nữ có điều kiện tham gia xây dựng

chínhsách, nhất lànhững chính sách liên quan đến

nữ giới, nhằm bảo đảmcho những phụ nữ kháccó

đủ điềukiện được bảo vệ quyền lợi và cơ hộitham

gia hoạt động chính trị Điềunàysẽ tạođà cho việc tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng hoạt động của nữ giới, góp phần vào thành công của chiến lượcbình đẳng giớivề thực chất

Tuy nhiên, chính sách bình đẳng giới trong tổ

chức Quốc hội cònmột sô'bấtcập Cụthể:

Thứ nhất, nhìn vào những sô' liệu nêu trên có thể nhận thấy, mặc dù khung pháp lý về bình đẳng

8 SỐ 22-Tháng 9/2021

Trang 4

giới trong tổ chức của Quốc hội đã đượcđảm bảo

đầy đủ quyền củaphụ nữ trong công tác tổ chức

của Quốc hội; song trong quá trình thực thi này,

cáncân sô' lượng đạibiểunữ trong Quốc hội là ít,

cáccơquan của Quốchộicó sô' lượng thành viên

có xu hướng thiên vềnam giới Điều này đã tạora

khoảng trống giữa pháp luật về bình đẳng giới

trongtổ chức của Quốc hội và thực thi pháp luật

Vìthế, phụ nữluôn gặp bấtlợi trongbô' trí các vị

trí chủchốt

Việc triển khai chủtrương của Đảng, pháp luật

của Nhà nước vềviệc tăng sốlượng đạibiểu Quốc

hội là nữ chưa đạt Trong cuộc bầu cử đại biểu

Quô'c hội khóa XIV,trêntinh thần thựchiện quy

định tại khoản 2 Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu

Quô'c hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015:

“Sô'lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu

Quô'c hội do Úy ban thường vụ Quô'c hội dự kiến

trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch BanChấp

hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam,

bảo đảm có ít nhất 35% tổng sô' người trong danh

sách chính thứcnhữngngười ứng cửđại biểu Quốc

hội là phụ nữ” Thực tế triển khai thực hiệnquy

định này cho thây, nhiều tỉnh không đạt tỷ lệ nữ

ứng cử viên tô'i thiểu theo luật định Song, do

khôngcó chế tàiràngbuộc nên khôngcó cơquan,

đơn vị, tổ chứcnào phải chịutrách nhiệm về kết

quảnày

Thứ hai, theo quy định của Luật Bầu cử đại

biểuQH,đạibiểu HĐND, tỷ lệ nữ ứng cửviên đại

biểu QH, đại biểu HĐND phải bảo đảm ít nhâ't

35% Theo Chủ nhiệmúy ban về các vâ'n đề xã

hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh, nhiệm kỳ

Quô'chội khóa XV, đặt mục tiêu phải đạthơn 30%

nữ đại biểu Quốc hội trúng cử Đâylà tháchthức

râ't lớn, đòi hỏi cácnữứngcử viên phải nỗ lực cao

trong quá trình tiếpxúc cửtri, vận động bầu cử, để

có được niềm tincủa cử tri8 Để đạt đượctỷ lệ nữ

trúng cửlà 30%, tỷ lệ nữ ứng cửviên được quy

định trong Luật ítnhâ't 35%là chưa phù hợp,cần

nângtỷ lệ nữ ứng cử viênít nhâ'tphải đạt 45% Để

đạt tỷ lệ ít nhất 30% như mục tiêu mongmuôn là

thách thức râ't lớn

Thứ ba, khi rà soát các văn bản pháp lý liên

quan đến quyền tham chínhcủaphụ nữ cho thẩy

dù ở câ'p quô'c gia hay ở cấp địa phương đã có

những quy định pháp lý nhằm đảm bảo quyền

tham chính của phụ nữ, song nhìn chung những quy địnhđó còn nặng về tínhđịnh hướng mà thiếu vắng những giải pháp cụ thể, chi tiết, đặc biệt

nhằm hỗ trợ và thúc đẩy phụ nữ dân tộc thiểu sô' tham gia các hoạt động chính trị, đặc biệtlà ứng

cử vào các vị trí lãnh đạo quản lý Ví dụ, Luật Bình đẳng giới 2006; Hiếnpháp 2013; LuậtBầu

cử đại biểu Quôchội, đạibiểuHội đồng nhân dân

2015, quy định đảm bảo quyềnbầu cử và ứng cử, như: Quy định tỷ lệ nữứng cử đạibiểu Quô'chội

trong Luật Bầu cửđại biểuQuô'chội,đạibiểu Hội đồng nhân dân năm2015.Các câ'p, các ngành khi xây dựng các kế hoạch, tiêu chí, cơcâ'u, bầu cử,

hầu hết mới chỉ dừng ở sô' lượng cơcâ'u mà chưa

có giải pháp thực sự hữu hiệu đảm bảo cho nữ trúng cử (nói chưa có giải phápcũng không đúng, thực ra Trung tâmBồidưỡng Dân cửcủa Quốc hội

luôn có các lớp tập huân cho nữ ứng cử viên ĐBQH và HĐNDcâ'p tỉnh trước bầu cử, rèn luyện

các kỹ năng vận động tranh cử, Tuy nhiên, cần thêm nhiềugiải pháp hữuhiệu khác

Thứ tư, tỷ lệ nữ đại biểu Quốchội thiếusựổn

định Theo các báocáogửi Quốc hội và các báo cáo quốc gia về bình giới hàng năm của Chính phủ thì: Quốc hội khóa XI tới Quô'c hội khóa XIV

tỉlệ sô' lượngnữ đại biểu Quốchộicógiảm Tỷ lệ

nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII cho thây sự sụt giảm đáng kể và thâ'p nhâ't trong 4 nhiệmkỳ gần

đây và trong vòng 14 năm(từnăm 2002 đến năm 2016), đại biểu Quô'c hội là nữ giảm0,51% Điều này phản ánh, tỉlệ nữ tham gia Quốc hộithiếu sự

ổnđịnh Cụ thể: Nhiệm kỳ khóa XI (2002-2007), sô' lượng nữđại biểu: 136; khóa XII(2007-2011): 127; khóa XIII (2011-2016): 122; khóa XIV (2016-2020): 133 Quốc hội khóa XV (2021-

2026): 151, lần đầu tiên từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa VI trở lại đây, tỷ lệ đạibiểuQuốc hội làphụ

nữ đạt trên 30%.Như vậy, sô' liệu trên thể hiện những khóa Quốc hộigần đây, tỷ lệ nữ đại biểucó lúctăng,lúc giảm

Thứ năm, sô' lượng nữ đại biểu đủ tuổi tái cử khóa tiếp theo không nhiều, tuổi đời trungbìnhcủa

cán bộ nữkhá cao Điềunày sẽ dẫn đến một thực

Trang 5

trạng đólà ở nhiệm kỳ tiếp theocó không nhiều đại

biểu nữ đủ điều kiện về tuổi để tái cử, dẫn đến

những kinh nghiệm của đạibiểukhông được phát

huy.Đây cũng làđiều hạn chế, bởi như đãphân tích

ở trên, đa số nữ đại biểu hoạt động sắc sảo, chát

vân “tới cùng” là những đại biểu hoạt động từ

nhiệm kỳ thứ haitrở đi

Nguyên nhâncủa hạnchế trênlàdo:

- LuậtBầucử đại biểu Quốc hội, đạibiểu Hội

đồng nhân dân năm 2015 cũng mới chỉ quy định

“bảođảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh

sách chính thức những người ứng cử đại biểuQuốc

hội là phụ nữ”, mà chưa quy định cụ thểtại Luật Tổ

chức Quốchội, tỷ lệ cơ câu nữ đại biểu Quốc hội

chiếm tỷ lệ bao nhiêu Do vậy, quy định trên tại

Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểuHội đồng

nhân dân năm2015 chỉ mangtính định hướng, nên

cần phải quy định rõ về tỷlệnữ trong Quốc hội là

chỉ tiêu bắt buộc

- Việc giới thiệuứng cử viên nữtrong bầu cử đại

biểu Quốc hội, đạibiểuHĐNDcác cấp ở nhiều nơi

vẫn còn hình thức, chưa tương xứng (về trình độ,

chức vụ, bằng cấp, ) so với nhân sự nam

- Bản thân phụ nữ chưa đủ kiến thức, kinh

nghiệm, phươngpháp,kỹ năng, sự tự tin, bản lĩnh

để tự bảo vệ quyềnvà lợiích hợp pháp, chínhđáng

củabản thân

- Việt Nam vẫn đang là nước chịu sự ảnh

hưởng rấtlớn củanhững tưtưởng văn hóa truyền

thống phương Đông, coi phụ nữchỉ nên làmviệc

gia đình là chính, không nên tham gia nhiều vào

công việc xã hội Chính vì vậy, bản thân phụ nữ

cũng dễ dàng tự hài lòng với việc phục vụ gia

đình, ít chí hướng theo con đường chính trị và

chính người thâncủa phụ nữ cũng ít ủnghộ phụ nữ

phấnđấu (vì nếutham gia chính trị, phấn đấu sẽ

mất nhiều thời gian, công sức, không thể dành

nhiều thời gian để loviệcgia đình

3 Mộtsốgiải pháp nâng cao tỷ lệ nữ đại biểu

Quốc hội ở nước ta hiện nay:

Một là, rà soát, sửa đổi,bổsung và hoàn thiện

các quy định pháp luật về vân đề bình đẳng giới

trong tổ chức của Quốc hội

Hai ỉà, tuyêntruyền, giáo dục nângcao nhận

thức về vaitrò của phụ nữ, thayđổi nhận thứccủa

người dân, cộng đồng và xã hội về giới trong lĩnh vựcchính trị Từ đó, hành vi giới sẽ thay đổi theo

hướng tiến bộ bình đẳng nam, nữ thực chất Khi cộng đồngdâncư và gia đình tôntrọng và ủnghộ

phụ nữ tham gia vào cáccơ quan nhà nướcthìvai trò của phụ nữ sẽ được phát huy Không chỉ tôn trọng và quantâmmà chính xã hội vàgia đình cần

phảinhận thức đúng đắn vaitrò của phụ nữtrong quátrình phát triển củacộng đồng và toàn xã hội Nângcao nhậnthức của người dân, của các thành

viên trong gia đình về vai trò, vị trí của phụ nữ

trong lãnh đạo, quản lý cũng chính là để người

dân nhận thức được quyền lợi, nghĩavụ và trách nhiệm của họ trong thực hiện bình đẳng giới và tiến bộ xã hộilà biện pháp hữu hiệu và cấp thiết

hiện nay

Ba là, nâng cao ý thức, nhận thức và nỗ lực vươn lên của chính phụ nữ Trên thực tế, một bộ

phận không nhỏ phụ nữ vẫn còn tự ti, an phận, chưa có ý chí phấnđấu vươnlên Ánh hưởng lâu dài của các định kiến xã hộivề giới không chỉ ăn

sâu, bén rễtrongnhậnthứccủa namgiới, mà còn

in đậm trong tâmtưởng của nữgiới ở Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ nông thôn và miền núi Bản

thân phụ nữ chưa thay đổi cách nghĩ về vai trò của mình tronggiađìnhvà xãhội Ngaycảnhững

phụ nữ có trình độ chuyênmôn cao cũng có tâm

lý e ngại khi luân chuyển công tác xa gia đình

Mặt khác, trong cơ chế thịtrường, đòi hỏi phụnữ phải cố gắng phấn đấu trong chuyên môn như

nam giới, songbản thân phụ nữ phải gánh thêm

vaitròlàmmẹ, cộngvới quanniệm “đàn ôngxây nhà, đànbà xây tổếm”, nên một bộ phận phụ nữ

ít nhận được sự chia sẻ củanam giới, cũng như sự ủng hộcủa gia đình khi thamgiacông tác

Trong thời kỳ đổi mới, yêucầu phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi phụ

nữmuôn được giao và đảm nhiệm vị trílãnh đạo,

quản lý cần phải luôn có ý thức nỗ lực phân đấu

vươn lên trong công việc, có chí tiến thủ,chú trọng

việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong; biết cách khắc phục những khó khăn, thu

xếp công việc gia đình hợp lý, cân đốiđể hài hòa

việc gia đình và việc lãnh đạo,không để ảnhhưởng lẫn nhau; biết cách thuyết phục các thành viên

10 SỐ22-Tháng 9/2021

Trang 6

trong gia đình, nhấtlà người chồng quan tâm, chia

sẻgánh nặng gia đình và ủng hộ chosự nghiệp của

bảnthân; luôn cố gắngphânđấuhọctập, rèn luyện,

tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên

môn - nghiệp vụ và năng lực quản lý; dũng cảm

vượt quanhững định kiến xã hội và vượt qua chính

mình, mạnh dạn, tựtin, phát huy thếmạnh của bản

thân,sẵn sàng đảmnhận những công việckhókhăn

và bảođảm hoàn thành ỉốt nhiệmvụ

Điều này đòi hỏi phải có các giải pháp mạnh

mẽ, đồng bộ,hiệu quả, quyết tâm chính trị cao và

sự cốgắng, nỗ lực của chính các nữ ứng cử viên

Cần tiếp tục nghiêm túc quán triệt nhận thức,

trách nhiệm của các cấp ủy, nhât là vai trò của

người đứng đầu, tránh bệnhthành tích, quan tâm

tới tính đặcthù Phảicó chính sáchquan tâm, tạo

mọi điều kiện để phụ nữchủ động vươn lên, khắc

phục khókhăn, tựtin khẳngđịnh mình trong cuộc

sông và công tác Tăng cường côngtácthanh tra,

kiểm tra, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm tình

hình thực hiện các quyđịnh củaphápluậtvề bình

đẳng giới Theo đó, trước hết là quy định về độ

tuổi đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, kịp thời phát hiện những hạn chế, nguyên nhân để có những giải pháp kịp thời về công tác cán bộ nữ

Như vậy, nước ta đã xây dựng lên có một

khung pháplý khá đầyđủ để thực hiện bình đẳng giới trong tổ chức Quốc hội Nhờ đó, phụ nữ đã dần được khẳng địnhvị thế, vaitrò trong lĩnh vực này Mặc dù vậy, các bằng chứngnghiên cứu đã cho thấy, việc thực thi chính sách bìnhđẳng giới nóichung, bình đẳnggiớitrong tổchức Quốc hội nói riêng còn một số bất cập Chính điều đó đã khiến sựtham gia của phụ nữ trong tổ chức Quốc

hội chưa thật sự bền vững ■

TÀI LIỆU TRÍCH DANÍ

'Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2020

:Điều 21, Luật Tổ chức Quốc hội 2014, sửa đổi, bổ sung 2020.

3Khoản 3, Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015;

4Điều 3 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015;

5html https://dangcongsan.vn/thoi-sn/khang-dinh-vai-tro-quan-trong-cua-nu-dai-bieu-quoc-hoi-trong-su-phat-trien- cua-viet-nam-574299.html.

'https://baucuquochoi.vn/nu-dai-bieu-quoc-hoi-nhiem-ky-20162021-dau-an-cua-binh-dang-tien-bo/549.vnp

https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ỉtemlD=56001

í\https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=55774

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

11 Quốc hội, (1946), Hiến pháp năm 1946.

2 Quốc hội, (1959), Hiến pháp năm 1959.

3 Quốc hội, (1980), Hiến pháp năm 1980.

4 Quốc hội, (1992), Hiến pháp năm 1992.

5 Quốc hội, (2013), Hiến pháp năm 2013.

7 Quốc hội, (2015), Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

8 Quốc hội, (2020), Luật ban hành văn bản quỵ phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2020.

Trang 7

9

.

https://dangcongsan.vn/thoi-su/khang-dinh-vai-tro-quan-trong-cua-nu-dai-bieu-quoc-hoi-trong-su-phat-trien- cua-viet-nam-574299.html

10 https://baucuquochoi.vH/Hu-dai-bieu-quoc-hoi-nhieHi-ky-2016202l-dau-an-cua-binh-dang-tien-bo/549.vnp

Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID-55774.

https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.asp.x?ỉtemID=5600112 https://quochoi.vn/tintuc/

Ngày nhận bài: 8/7/2021

Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 8/8/2021

Ngày chấp nhận đăng bài: 18/8/2021

Thông tin tác giả:

PHAN KHUYÊN

Học viên cao học luật

Phân viện Học viện hành chính Quốc gia TP Hồ Chí Minh

GENDER EQUALITY POLICIES IN THE ORGANIZATION

OF THE NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM

• Master's student PHAN KHUYEN

National Academy of Public Administration

-Ho Chi Minh City Campus

ABSTRACT:

Vietnam already has a fairly completed legal framework on gender equality in the organization of the National Assembly of Vietnam As a result, women have gradually affirmed

theirpositions and roles in the National Assembly by taking part in thedecision-makingprocess

of many social sustainable development policies However, it shows that there are some obstacles for the adoptionof gender equality policies in the NationalAssembly

Keywords: genderequality, the Law on Gender Equality, gender equality in the National Assembly,enforcing regulations ongender equality

12 Số22-Tháng 9/2021

Ngày đăng: 02/11/2022, 07:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w