Khái niệm vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của con người trái với quy định của pháp luật, có lỗi do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại
Trang 1
TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI:
Vi phạm pháp luật của sinh viên hiện nay – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Họ và tên: Trần Quang Minh
Mã số sinh viên: 47.01.101.097 Lớp học phần: 2111POLI190345
Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Ngọc Hoa Đăng
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu đề tài 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1 Cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật 5
1.1 Khái niệm và các dấu hiệu vi phạm pháp luật 5
1.2 Phân loại vi phạm pháp luật 7
Các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm pháp luật 8
Chương 2 Vi phạm pháp luật ở sinh viên hiện nay 13
2.1 Các yếu tố tác động đến tình trạng vi phạm pháp luật ở sinh viên 13
2.2 Thực trạng vi phạm pháp luật ở sinh viên hiện nay 14
2.3 Giải pháp khắc phục vi phạm pháp luật ở sinh viên hiện nay 14
Chương 3 Kết luận 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội tiến bộ, pháp luật không chỉ là công cụ để điều chỉnh hành vi của cá nhân mà còn thể hiện ý chí của nhân dân, đem lại sự an toàn và hạnh phúc cho người dân Do đó, việc thực hiện pháp luật được đông đảo nhân dân tôn trọng, ủng hộ và tự giác thực hiện Trong những năm vừa qua, công tác xây dựng pháp luật ở nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, một trong số đó là nâng cao hiểu biết của người dân Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trong xã hội vẫn có nhiều trường hợp vi phạm pháp luật, dù là vô ý hay cố ý Do đó, việc nghiên cứu vấn đề vi phạm pháp luật thực sự quan trọng và cần thiết
Xã hội ngày càng phát triển, càng có nhiều những vụ án từ nhỏ đến nghiêm trọng xảy ra trong xã hội, mà một bộ phận thủ phạm chính là sinh viên Trước những ảnh hưởng khách quan từ sự phát triển kinh tế - xã hội, cùng với những biến đổi tâm – sinh lý, nhiều sinh viên đã sa ngã và có hành vi vi phạm pháp luật Đây chính là một trong những vấn đề nhức nhối vẫn chưa có cách giải quyết thực sự hiệu quả
Nhận thức được những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài " Vi phạm pháp luật của
sinh viên hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", qua đó có thể tìm hiểu sâu hơn về vi phạm pháp luật, đồng thời tìm hiểu về thực trạng cũng như giải pháp cho
tình trạng vi phạm pháp luật ở sinh viên hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là có cái nhìn đầy đủ về vấn đề vi phạm pháp luật, bao gồm khái niệm, dấu hiệu, phân loại và các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật Bên
cạnh đó, đưa ra một số giải pháp cho vấn đề vi phạm pháp luật ở sinh viên hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào các nội dung liên quan vi phạm pháp luật Các thông tin thực tiễn được tổng hợp từ Internet
Trang 44 Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng các phương pháp phổ biến như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp phân loại và hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp kinh nghiệm…
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, tiểu luận có các phần chính sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu vi phạm pháp luật 1.2 Phân loại vi phạm pháp luật
1.3 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật Chương 2 Vi phạm pháp luật ở sinh viên hiện nay 2.1 Các yếu tố tác động đến tình trạng vi phạm pháp luật ở sinh viên 2.2 Thực trạng vi phạm pháp luật ở sinh viên hiện nay
2.3 Giải pháp khắc phục vi phạm pháp luật ở sinh viên hiện nay Chương 3 Kết luận
Trang 5PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật
1.1 Khái niệm và các dấu hiệu vi phạm pháp luật
1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của con người trái với quy định của pháp luật, có lỗi do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ
Vi phạm pháp luật là trường hợp các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những quy định của pháp luật Tuy nhiên, để bị coi là vi phạm pháp luật, cần phải hội đủ các dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật
1.1.2 Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật
Thứ nhất, vi phạm pháp luật là hành vi xác định của con người gây nguy hiểm cho
xã hội Ví dụ: Một người ngồi dưới gốc cây mít, bị một quả mít rơi trúng đầu và bị thương Ở đây, quả mít rơi xuống đầu người không phải là vi phạm pháp luật vì không phải hình vi xác định của con người, mà là một hiện tượng tự nhiên
Hành vi là sự thể hiện ý chí ra bên ngoài một cách có ý thức nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật Vì vậy, những gì còn trong suy nghĩ của chủ thể không bị chi phối bởi các quy phạm pháp luật Có hai hình thức thể hiện hành vi
vi phạm pháp luật:
▪ Hành vi dưới dạng hành động là sự vi phạm pháp luật qua việc chủ thể làm một việc mà pháp luật cấm hoặc làm một việc được phép nhưng vượt quá giới hạn cho phép Ví dụ: giết người, trộm cắp…
▪ Hành vi dưới dạng không hành động là sự vi phạm pháp luật qua việc chủ thể không làm việc mà pháp luật bắt buộc làm Ví dụ: Thấy người gặp nguy hiểm tính mạng nhưng không cứu giúp, trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế…
Trang 6Thứ hai, hành vi xác định phải trái với pháp luật hiện hành Hành vi đó có thể là
hành động – làm việc không được làm theo quy định của pháp luật, không hành động – không làm những việc phải làm theo quy định của pháp luật hoặc sử dụng quyền hạn vượt quá quy định của pháp luật Ví dụ: Đi xe máy vượt đèn đỏ khi tham gia giao thông (hành động); trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế (không hành động); trưởng thôn bán đất công cho một số cá nhân nhất định (vượt quá giới hạn) …
Thứ ba, chủ thể vi phạm pháp luật phải có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực
hiện
Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng chủ thể tự mình gánh chịu trách nhiệm pháp lý do nhà nước áp dụng khi chủ thể vi phạm pháp luật
Chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý tức là có đầy đủ năng lực nhân thực và năng lực điều khiển hành vi, do đó yêu cầu chủ thể phải đạt một độ tuổi nhất định Ví dụ: Độ tuổi kết hôn của nam là từ đủ 20, của nữ là từ đủ 18 Theo Luật hôn nhân và gia đình, khi cá nhân đạt đến độ tuổi này thì sẽ có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nghĩa là các chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý
Với những trường hợp, những hành vi trái pháp luật được thực hiện bởi những người không có năng lực trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật thì không
bị coi là vi phạm pháp luật Điều 21 Bộ luật Hình sự 2017 quy định: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự
Thứ tư, vi phạm pháp luật phải chứa đựng lỗi của chủ thể
Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi của mình cũng như đối với hậu quả của hành vi đó Để xét xem một người nào đó có lỗi không khi tiến hành một xử
sự nào đó đòi hỏi phải đánh giá được:
• Họ có nhận thức được hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra hay không? (yếu tố lý trí)
• Họ có điều kiện để lựa chọn phương án xử sự theo ý họ hay không? họ có điều khiển được hành vi của mình hay không? (yếu tố ý chí)
Trang 7Ví dụ: A 25 tuổi, khả năng nhận thức bình thường, nhưng bị ép giao dịch bất hợp pháp trong tình trạng bị đe dọa tính mạng thì không được coi là vi phạm pháp luật vì
A không tự do về mặt ý chí
Lỗi là yếu tố không thể thiếu được để xác định hành vi vi phạm pháp luật
1.2 Phân loại vi phạm pháp luật
Căn cứ vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì có thể phân loại vi phạm pháp luật thành tội phạm và các vi phạm không phải là tội phạm
Căn cứ vào đặc điểm của khách thể, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì có thể phân loại vi phạm pháp luật thành:
o Vi phạm hình sự (tội phạm): những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự của Nhà nước do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng,
an ninh, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Chủ thể vi phạm hình sự là cá nhân hoặc pháp nhân Ví dụ: Giết người,
cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe người khác
o Vi phạm hành chính: là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại các quy tắc quản lý của Nhà nước mà không phải là tội phạm hình
sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức Ví dụ: Hành vi trốn thuế, hư hại thất thoát tài sản Nhà nước
o Vi phạm dân sự: là những hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua tài sản: các giao dịch (mua, bán, vay, mượn, thuê, thừa kế…) Quan hệ nhân thân
là quan hệ giữa người với người về một quyền dân sự gắn liền với một chủ thể không
Trang 8thể chuyển giao cho người khác (quyền nhân thân: tên, họ, danh dự, uy tín, quyền, nghĩa vụ vợ chồng, con cái, quyền tác giả) Chủ thể của vi phạm pháp luật dân sự có thể là cá nhân hoặc tổ chức Ví dụ: Bên mua không trả tiền đầy đủ, đúng hạn và đúng phương thức đã thỏa thuận với bên bán hàng
o Vi phạm kỷ luật: là những hành vi có lỗi trái của những chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý trái với những quy định của pháp luật về việc xác lập trật tự trong
cơ quan, tổ chức của nhà nước Vi phạm kỷ luật dẫn đến việc áp dụng các biện pháp thi hành kỷ luật khác nhau như: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương… Chủ thể của vi phạm kỷ luật là Cán bộ - công chức Nhà nước, học sinh – sinh viên, … Ví dụ: công
chức Nhà nước đi trễ giờ làm, làm việc riêng trong giờ làm việc…
Các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm pháp luật
Khái niệm: là tổng thể các dấu hiệu cơ bản đặc thù cho một loại vi phạm pháp luật
cụ thể, được nhà nước quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Trong khoa học pháp lý, về mặt cấu trúc vi phạm pháp luật thường được xem xét trên các yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, mặt chủ thể và mặt khách thể
1.1.3 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Là những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm pháp luật Bao gồm các yếu tố:
❑ Hành vi trái pháp luật: hay còn gọi là hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi trái với các yêu cầu xã hội, gây ra hoặc đe dọa gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội Chủ thể tiến hành hành vi vi phạm pháp luật trong trạng thái có ý thức và ý chí Ví dụ:
A thấy B là người có nhiều đồ đạc đắt tiền nên nảy sinh lòng tham Lợi dụng lúc B không để ý, A ăn cắp đồ của B Hành động của A có nhận thức giá trị đồ đạc của B
và ý chí trộm cắp do lòng tham nên cấu thành mặt khách quan
Em bé vào công viên bẻ cành cây, người tâm thần vượt đèn đỏ không cấu thành mặt khách quan do không có ý thức và ý chí phạm lỗi
Trang 9B giết A bằng súng nhưng bắn hụt Dù chưa gây chết người thì đây vẫn coi là tội giết người vì được xem là đe dọa gây ra hậu quả nguy hiểm
❑ Gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Những thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần do hành vi vi phạm pháp luật gây ra cho xã hội
Thiệt hại về vật chất gồm có tài sản cá nhân, tập thể, Nhà nước, trật tự, an toàn xã hội… Ví dụ: Đi ngược chiều gây tai nạn cho người khác, hư hỏng xe
Thiệt hại về tinh thần gồm có danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền tự do, văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục… Ví dụ: Hành vi vu khống người khác khi chưa
đủ căn cứ xác thực
Thiệt hại cho xã hội có thể xảy ra hoặc là nguy cơ xảy ra Ví dụ: Đe dọa tống tiền chiếm đoạt tài sản dù không thành công thì vẫn cấu thành tội danh
❑ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại cho xã hội: Hành vi đã chứa đựng mầm mống gây ra hậu quả hoặc là nguyên nhân trực tiếp của hậu quả Hành vi phải chứa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả, nói cách khác, hành vi đó chắc chắn sẽ gây ra hoặc
đe dọa gây ra thiệt hại cho xã hội Hậu quả phải là kết quả tất yếu của chính hành vi đó mà không phải là của một nguyên nhân khác Ví dụ:
A đi ngược chiều làm B bị tai nạn gãy chân, trên đường được đưa đi cấp cứu B
bị xe tải tông chết Theo kết quả giám định pháp y, cái chết của nạn nhân không phụ thuộc vào tai nạn gãy chân (vết thương này vẫn có thể được cứu chữa) Do đó, A làm trái pháp luật nhưng không chịu trách nhiệm với các chết của B
❑ Ngoài các yếu tố trên còn có các yếu tố như: thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm pháp luật Ví dụ:
Trong vụ án X, A được xác định là giết B trong khoảng thời gian 9 giờ đến 10 giờ sáng ngày 26/01/20XX, ở tòa nhà N, hung khí được xác định là dao
Khi xem xét mặt khách quan của vi phạm pháp luật thì hành vi trái pháp luật luôn luôn là yếu tố bắt buộc phải xác định trong cấu thành của mọi vi phạm pháp luật, còn các yếu tố khác có bắt buộc phải xác định hay không là tuỳ từng trường hợp vi phạm
Trang 10Có trường hợp hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng là yếu tố bắt buộc phải xác định, có trường hợp địa điểm, thời gian vi phạm cũng là yếu tố bắt buộc phải xác định
Ví dụ: Luật Giao thông đường bộ nghiêm cấm hành vi bấm còi, rú ga liên tục trong thời gian từ 22 giờ đến 5 giờ Nếu anh A thực hiện hành vi trên trong khoảng thời gian này thì anh A vi phạm pháp luật Trong trường hợp này thì thời gian là yếu tố bắt buộc cấu thành mặt khách quan
1.1.4 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Là thái độ tâm lý của chủ thể, là diễn biến bên trong con người mà giác quan người khác không thể cảm giác chính xác được Các dấu hiệu của mặt chủ quan bao gồm:
lỗi, động cơ, mục đích của chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật
❑ Lỗi: Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể VPPL đối với hành vi vi phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Lỗi thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội Lỗi là yếu tố bắt buộc ở tất cả các cấu thành VPPL
Căn cứ vào dấu hiệu ý chí và lý trí, lỗi gồm hai loại lỗi cố ý và lỗi vô ý
Lỗi cố ý gồm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp
Lỗi cố ý trực tiếp: Chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình làm nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng mong muốn điều đó xảy ra
Ví dụ: Khi A giết B bằng cách đâm nhiều nhát dao vào ngực B A nhận thức rõ đây là hành vi trái pháp luật và có thể làm B chết nhưng vẫn thực hiện
Lỗi cố ý gián tiếp: Là lỗi trong trường hợp chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình
là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn nhưng để mặc cho nó xảy ra
Ví dụ: Những người làm thuốc giả dù biết sản phẩm mình làm ra sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng nhưng vẫn làm Những người vì mục đích lợi nhuận mà bất chấp hậu quả không tốt xảy ra