Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh của ngành/lĩnh vực sản xuất lúa gạo ở nước ta trong thời gian tới...19 2.3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả cạnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀIQuy luật cạnh tranh và liên hệ đến cạnh tranh của ngành sản xuất gạo ở
nước ta
LỚP: L01 NHÓM: 08
HK221
GVHD: THS NGUYỄN TRUNG HIẾU
SINH VIÊN THỰC HIỆN
% ĐIỂM BTL
ĐIỂM BTL CHÚ GHI
Trang 2STT Mã số
SV
Họ và tên Nhiệm vụ được
phân công
% Điểm BTL
Điểm BTL
Ký tên
2 2115182 Nguyễn Thanh
Tuấn
Khái quát và thực trạng của ngành lúa nước
Những mặt tích cực, nguyên nhân
Thành
Những mặt tiêu cực, nguyên nhân
5 2112105 Trần Võ Lê Quang Phương hươngvà giải pháp
Họ và tên nhóm trưởng: Tạ Thanh
Hào
Số ĐT: 0366263212 Email: hao.ta123@hcmut.edu.vn
Nhận xét của GV:
GIẢNG VIÊN
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Nguyễn Trung Hiếu
NHÓM TRƯỞNG
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Tạ Thanh Hào
Trang 3Mục lục
Mở đầu 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Đối tượng nghiên cứu 4
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu 5
Nội dung 6
Chương 1: Quy luật cạnh tranh 6
1.1 Các khái niệm cơ bản 6
1.2 Nội dung của quy luật cạnh tranh 7
1.3 Ý nghĩa của quy luật cạnh tranh 8
Chương 2: Liên hệ đến cạnh tranh của một ngành sản xuất gạo ở Việt Nam hiện nay 9
2.1 Khái quát về ngành sản xuất gạo 9
2.2 Thực trạng cạnh tranh của ngành sản xuất lúa gạo ở nước ta 10
2.2.1 Những mặt tích cực trong cạnh tranh của ngành/lĩnh vực sản xuất X và nguyên nhân 11
2.2.1.1 Tích cực 11
2.2.1.2 Nguyên nhân 13
2.2.2 Những mặt tiêu cực trong cạnh tranh của ngành/lĩnh vực sản xuất lúa và nguyên nhân 14
2.2.2.1 Những mặt tiêu cực 14
2.2.2.2 Nguyên nhân 16
2.3 Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh của ngành/lĩnh vực sản xuất lúa gạo ở nước ta trong thời gian tới 18
2.3.1.Phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh của ngành/lĩnh vực sản xuất lúa gạo ở nước ta trong thời gian tới 18
2.3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh của ngành/lĩnh vực sản xuất lúa gạo ở nước ta trong thời gian tới 19
2.3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh của ngành sản xuất lúa gạo 21
KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
- Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cạnh tranh trở thành yêu cầu tất yếu đối với tất cả các ngành kinh tế và quốc gia Cạnh tranh được coi là yếu tố cần thiết để phân bổ lại nguồn lực xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua việc điều tiết cung trên thị trường, kích thích hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng công nghệ
- Nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp ngành là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu kinh
tế và hoạch định chính sách quan tâm Việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh không chỉ giúp các doanh nghiệp, ban ngành và quốc gia hiểu được xu hướng hoạt động của thị trường mà còn giúp họ đưa ra chiến lược phát triển trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Đối với doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh giúp họ tạo được vị thế trên thị trường, chiếm lĩnh được thị trường Đối với các ngành, nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngành từ đó góp phần nâng cao vị thế của quốc gia
- Trong những năm gần đây, các nghiên cứu trong chủ đề nâng cao năng lực cạnh tranh tại Việt Nam khá nhiều nhưng các nghiên cứu chuyên sâu về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo của Việt Nam trên thị trường quốc tế khá hạn chế Hầu hết các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các yếu tố và giải pháp liên quan tới chính sách của Nhà nước, nâng cao năng lực lao động, đổi mới công nghệ, Tuy nhiên, những nghiên cứu tập trung vào yếu tố năng lực marketing còn hạn chế, trong để nâng cao năng lực cạnh tranh, ngành lúa gạo Việt Nam cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu rất cần yếu tố này Chính vì những lý do trên nghiên cứu sinh đã quyết định lựa chọn đề tài: ―Năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam làm đề tài nghiên cứu
2 Đối tượng nghiên cứu
- Năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
- Cạnh tranh trong ngành sản xuất lúa gạo ở Việt Nam, giai đoạn 2011-2021
4 Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu
- Một là Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực canh tranh nói chung và
năng lực canh tranh của ngành lúa gạo nói riêng
- Hai là Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế trong giai đoạn 2011- 2021
- Ba là Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạoViệt Nam trong giai đoạn 2021-2030
Trang 5Phương pháp nghiên cứu: Phép biện chứng duy vật, Trừu tượng hóa khoa học,
Logic kết hợp với lịch sử, Thống kê, So sánh, Phân tích tổng hợp, Quy nạp diễn dịch,
5 Kết cấu
Đề tài gồm các phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo Nội dung được kết cấu thành 2 chương:
- Chương 1: Quy luật cạnh tranh
- Chương 2: Liên hệ đến cạnh tranh ngành sản xuất lúa gạo ở nước ta
Trang 6Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những chủ thể kinh tế với nhau nhằm có được những
ưu thể về sản xuất cũng như tiêu thụ mà thông qua đó thu được lợi ích tối đa
Kinh tế thị trường càng phát triển thì cạnh tranh trên thị trường càng trở nên thường xuyên, quyết liệt hơn
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có thể diễn ra giữa các chủ thể trong nội bộ ngành, cũng có thể diễn ra giữa các chủ thể thuộc các ngành khác nhau
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trong cùng một ngành hàng hóa Đây là một trong những phương thức để thực hiện lợi ích của doanh nghiệp trong cùng một ngành sản xuất
Biện pháp cạnh tranh là các doanh nghiệp ra sức cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động để hạ thấp giá trị cá biệt của hàng hóa, làm cho giá trị hàng hóa của doanh nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa đó
Kết quả của cạnh tranh trong nội bộ ngành là hình thành giá trị thị trường của từng loạihàng hoá Cùng một loại hàng hóa được sản xuất ra trong các doanh nghiệp sản xuất khác nhau, do điều kiện sản xuất (điều kiện trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất,trình độ tay nghề của người lao động ) khác nhau, cho nên hàng hoá sản xuất ra có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường các hàng hoá được trao đổi theo giá trị thị thị trường chấp nhận
Trang 7Theo C.Mác, "Một mặt phải coi giá trị thị trường là giá trị trung bình của những hàng hoá được sản xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó Mặt khác, lại phải coi giá trị thị trường là giá trị cá biệt của những hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiệntrung bình của khu vực đó và chiếm một khối lượng lớn trong tổng số những sản phẩmcủa khu vực này".
Biện pháp cạnh tranh giữa các ngành là các doanh nghiệp tự do di chuyển nguồn lực của mình từ ngành này sang ngành khác, vào các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau
1.2 Nội dung của quy luật cạnh tranh
Trong nền sản xuất hàng hóa, sự cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa người sản xuất và người tiêu dùng là một tất yếu khách quan, là yêu cầu thường xuyên đối với những người sản xuất hàng hóa
Quy luật cạnh tranh xuất phát từ bản chất của nền sản xuất hàng hóa, của quy luật giá trị
Trang 8Quy luật cạnh tranh tạm dịch sang tiếng Anh là Competition law.
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hànghóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình
Cạnh tranh có thể diễn ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng
1.3 Ý nghĩa của quy luật cạnh tranh
- Đối với một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
Cạnh tranh là một điều bất khả kháng trong nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh dịch vụ khi tham gia thị trường buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh
Cạnh tranh có thể coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể lẩn tránh và phải tìm mọi cách để vươn lên, chiếm ưu thế
Cạnh tranh khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại , tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao
Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm cho doanh nghiệp thể hiện được khả năng “ bản lĩnh” của mình trong quá trình kinh doanh Nó sẽ làm cho doanh nghiệp càng vững mạnh và phát triển hơn nếu nó chịu được áp lực cạnh tranh trên thị trường
Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường
Như vậy cạnh tranh buộc các nhà dịch vụ phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng dịch
vụ, đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng, của thị trường Canh tranh gây nên sức ép đối với các doanh nghiệp qua đó làm cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn
- Đối với người tiêu dùng
Nhờ có cạnh tranh, người tiêu dùng nhận được các dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú hơn Chất lượng của dịch vụ được nâng cao trong khi đó chi phí bỏ ra ngày càng thấp hơn Cạnh tranh cũng làm quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng và quan tâm tới nhiều hơn
Trang 9Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng diễn ra gay gắt thì người được lợi nhất là khách hàng Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng không phải chịu một sức
ép nào mà còn được hưởng những thành quả do cạnh tranh mang lại như: chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn…
Đồng thời khách hàng cũng tác động trở lại đối với cạnh tranh bằng những yêu cầu về chất lượng hàng hoá, về giá cả, về chất lượng phục vụ… Khi đòi hỏi của người tiêu dùng càng cao làm cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt hơn để giành được nhiều khách hàng hơn
- Đối với nền kinh tế – xã hội.
Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã hội Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh nghiệp phát triển có khảnăng cạnh tranh cao Tuy nhiên ở đây cạnh tranh phải là cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triển, cùng đi lên thì mới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững Còn cạnh tranh độc quyền sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh tế không ổn định
Vì vậy, Chính phủ cần ban hành lệnh chống độc quyền trong cạnh tranh, trong kinh doanh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Cạnh tranh hoàn hảo sẽ đào thải các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả Do đó buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn phương án kinh doanh có chi phí thấp nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Như vậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại sự tăng trưởng kinh tế
Kết luận: Mặc dù quy luật cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế
thị trường hiện nay, nhưng nó không chỉ toàn là những ưu điểm, mà nó còn có cả những khuyết tật cố hữu mang đặc trưng của cơ chế thị trường Cơ chế thị trường bắt buộc các doanh nghiệp phải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn tại và phát triển
Chính điều này đòi hỏi cần phải có sự quản lý của nhà nước, đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể tự do cạnh tranh một cách lành mạnh có hiệu quả
Trang 10Chương 2: Liên hệ đến cạnh tranh của một ngành sản xuất gạo ở Việt Nam hiện nay
2.1 Khái quát về ngành sản xuất gạo
Sản xuất kinh doanh lúa gạo đóng vai trò quan trọng trong nền phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam
Sản xuất lúa gạo là nguồn thu nhập và cung cấp lương thực chính của các hộ nông dân nên chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông dân và nông thôn gắn liền với phát triển ngành hàng lúa gạo
Trong gần ba thập kỷ qua nhờ đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo, không những góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà hàng năm còn tham gia xuất khẩu với kim ngạch đáng kể và đóng góp không nhỏ cho ngân sách quốc gia
Ngành sản xuất lúa gạo là ngành đóng vai trò quan trọng trong về kinh tế, chính trị - xãhội, và môi trường ở Việt Nam Lúa gạo chiếm 88,6% tổng sản lượng lương thực có hạt và chiếm khoảng 7,3% tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam (MARD, 2017) Năm 2017, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,9 triệu tấn gạo, đạt 2,66 tỷ USD, tăng 22,4% về khối lượng, và 23,3% về giá trị so với năm 2016 Giai đoạn 2013-
2017, xuất khẩu gạo Việt Nam tăng trưởng âm -2,77%/năm về lượng và -2,32%/năm
về giá trị do ảnh hưởng của chính sách xả kho dự trữ của Thái Lan (bắt đầu từ tháng 4/2015) và nhu cầu nhập khẩu một số thị trường truyền thống giảm
2.2 Thực trạng cạnh tranh của ngành sản xuất lúa gạo ở nước ta
Những năm gần đây, sản xuất lúa gạo gặp nhiều khó khăn vì dịch bệnh, thiên tai, điềukiện tự nhiên…Nhưng vẫn đảm bảo năng suất và chất lượng
Diện tích lúa năm 2020 ước tính đạt 7,28 triệu ha, giảm 192 nghìn ha so với năm trước
do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất; năng suất lúa ước tính đạt58,7 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha, do diện tích gieo trồng giảm nên sản lượng lúa ước tính đạt42,69 triệu tấn, giảm 806,6 nghìn tấn Như vậy, sản lượng lúa năm 2020 tuy giảm sovới năm 2019 chủ yếu do giảm diện tích gieo trồng bởi tác động của hạn hán, xâmnhập mặn và chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyểnđổi mùa vụ nhưng đánh dấu một năm sản xuất lúa thắng lợi với năng suất cao hơn nămtrước ở tất cả các mùa vụ Sản lượng lúa giảm nhưng đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụtrong nước, chế biến và xuất khẩu Sản xuất lúa tiếp tục xu hướng tăng tỷ lệ sử dụng
Trang 11giống lúa chất lượng cao lên trên 74% (cao hơn so với mức 50% của năm 2015) nhằmnâng cao giá trị “Thương hiệu gạo Việt” Tỷ trọng gạo chất lượng cao chiếm trên 85%
gạo xuất khẩu đã góp phần nâng giá gạo xuất khẩu bình quân từ 440 USD/tấn năm
2019 lên 496 USD/tấn năm 2020
Sang năm 2021, diện tích lúa cả năm tuy đạt 7,24 triệu ha, giảm 38,3 nghìn ha so vớinăm trước do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất nhưng năng suất lúa
ở mức cao đạt 60,6 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha Sản lượng lúa năm 2021 tăng 1,1 triệu tấn sovới năm 2020, tiếp tục đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đảm bảo an ninh lươngthực, phục vụ chế biến và xuất khẩu Xuất khẩu gạo năm 2021 đạt 6,2 triệu tấn tươngđương 3,3 tỷ USD, tăng 5% so với năm 2020, trong đó tỷ trọng gạo chất lượng caochiếm trên 89%, giá gạo xuất khẩu tăng từ 496 USD/tấn năm 2020 lên 503 USD/tấnnăm 2021
Có được những thành công trong sản xuất lúa gạo, bên cạnh sự chỉ đạo sát sao và ứngphó kịp thời trước những diễn biến phức tạp của thời tiết nhằm điều tiết mùa vụ hợp
lý Thời gian qua, ngành lúa gạo cũng đã có chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng thựchiện quy trình sản xuất lúa tiên tiến được ứng dụng hiệu quả ở nhiều địa phương Theo
đó, hiện nay hầu hết các hộ trồng lúa đã ứng dụng chương trình “một phải, năm giảm”
– tức là: Phải sử dụng giống lúa có chứng nhận và thực hiện năm giảm: Giảm lượnggiống gieo sạ, giảm phân bón, giảm nước tưới qua kỹ thuật ngập – khô xen kẽ, giảm sốlần sử dụng thuốc trừ sâu, giảm thất thoát sau thu hoạch Ðây được xem là chiến lượcchính để cải thiện tính bền vững của ngành sản xuất lúa gạo ở Việt Nam; Chương trình
“ba giảm, ba tăng” – giảm lượng giống, giảm thuốc bảo vệ thực vật và giảm phân bónnhưng vẫn tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh tế và tăng chất lượng sản phẩm
Cùng với đó, ngành Nông nghiệp luôn đôn đốc các địa phương huy động mọi nguồnlực về lao động, máy móc để làm đất, gieo trồng đảm bảo thời vụ; đẩy mạnh đầu tư,thâm canh cây trồng, kiểm tra, quản lý chặt chẽ nguồn nước từ các công trình thủy lợi,
sử dụng nguồn nước tưới đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả và có kế hoạch tích nước đểphục vụ sản xuất Ngoài ra, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đang chỉđạo các địa phương triển khai các đề án quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), đề án liênquan tới các biện pháp sinh học sử dụng trong sản xuất nông nghiệp để bảo đảm hướngtới nền nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ Đây là những hướng đi đúng đắn giúpcho ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam ngày càng phát triển đạt được những thắng lợivừa qua
Trong bối cảnh nông nghiệp đang được đẩy mạnh, tính cạnh tranh trong nước tăng nên
cơ cấu lại ngành lúa gạo theo hướng nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững làhướng đi cần thiết Với mục tiêu: Đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, bảođảm an ninh lương thực quốc gia; nâng cao chất lượng, giá trị dinh dưỡng, bảo đảm vệ
Trang 12sinh an toàn thực phẩm; hình thành và nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị lúa gạo; nângcao thu nhập của nông dân và lợi ích cho người tiêu dùng; xuất khẩu gạo đạt chấtlượng và giá trị cao
Ngoài ra ngành còn cạnh tranh với các nước sản xuất lúa gạo lớn khác như Phi-líp-pin,Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan…
2.2.1 Những mặt tích cực trong cạnh tranh của ngành/lĩnh vực sản xuất X và nguyên nhân
2.2.1.1 Tích cực
Trong quý I/2022, gạo là một trong 8 mặt hàng nông, lâm, thủy sản đạt giá trị xuất khẩu cao hơn so với cùng kỳ, khối lượng gạo xuất khẩu 3 tháng đầu năm nay đạt gần 1,48 triệu tấn, tương đương 715 triệu USD, tăng 24% về khối lượng và tăng 10,5% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái
Trên thị trường thế giới, giá gạo Việt Nam vẫn duy trì vị trí dẫn đầu trong các nước xuất khẩu gạo Điển hình, đầu tuần tháng 4/2022 giá gạo 5% tấm xuất khẩu đã tăng 12-15 USD/tấn so với đầu năm và khoảng 10 USD/tấn so với đầu tháng 3, lên mức
415 USD/tấn - cao nhất trong hơn 3 tháng qua Nhờ nhu cầu tăng và lợi thế về sản lượng, chất lượng, các doanh nghiệp như Lộc Trời, Tân Long cũng đang đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường phân khúc cao, giá gạo ổn định
Là doanh nghiệp chuyên xuyên khẩu gạo chất lượng cao sang thị trường khó tính như
Mỹ, châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm khoảng 15% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới Hạt gạo Việt đã có mặt trên 150 nước và vùng lãnh thổ