1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH báo cáo tài CHÍNH và các mô HÌNH tài CHÍNH

21 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Mức lời bình quân của vốn kinh doanh, vốn cổ phần của doanh nghiệp là bao nhiêu?Thông qua các câu hỏi trên có thể thấy được ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp đối với chủ đầu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

-šš&šš -BÀI TẬP NHÓM QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Giảng viên hướng dẫn: Hồ Thu Hoài

CHỦ ĐỀ 3 Nhóm 8:

1. Ngô Minh Quân MSSV:31201026048

2. Nguyễn Thanh Tiến MSSV:31201023794

3. Tô Hữu Bằng MSSV:31201024534

4. Đinh Ngọc Tân MSSV:31201025655

5. Đặng Đức Tùng MSSV31201024552

Trang 2

Tài liệu tham khảo: Vũ Việt Quảng (2017), “Tài chính doanh

Trang 3

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC MÔ HÌNH TÀI CHÍNH

Ý nghĩa phân tích báo cáo tài chính với chủ đầu tư

Các câu hỏi chủ đầu tư thường đưa ra bao gồm:

- Giá của cổ phiếu trên thị trường và mệnh giá, so với giá trị ghi trong sổ là như thế nào?

- Mức lời bình quân của vốn kinh doanh, vốn cổ phần của doanh nghiệp là bao nhiêu?Thông qua các câu hỏi trên có thể thấy được ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp đối với chủ đầu tư là đánh giá khả năng kiếm lời, khả năng xảy ra rủi ro trong kinh doanh, từ đó có thể nắm rõ được cơ hội phát triển của doanh nghiệp và đưa ra quyết định đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất

Ý nghĩa với đối tác

Các tổ chức tín dụng khá giống với chủ đầu tư ở việc sử dụng vốn vào các hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên một bên là cho vay và một bên là rót vốn trực tiếp vào

Các tổ chức tín dụng trước khi quyết định cho doanh nghiệp vay vốn cần phải nắm chắc được khả năng thu nợ nếu không muốn dư ra các khoản nợ xấu không đòi được

Thu nhập tài chính của họ chính là lãi suất từ vốn doanh nghiệp đã vay Với các khoảnvay vốn dài hạn và vay vốn ngắn hạn cần những phân tích tài chính khác nhau

- Với các khoản vay vốn ngắn hạn, các quỹ tín dụng thường quan tâm tới khả năngthanh toán của doanh nghiệp khi đến hạn trả nợ vay

- Với các khoản vay vốn dài hạn, các tổ chức tín dụng cấp vốn vay sẽ phải thẩm định

và đánh giá hiệu quả tài chính của dự án đầu tư của doanh nghiệp Họ cần phải quản lýtốt quá trình giải ngân để nắm chắc được khả năng thanh toán nợ vay của doanh nghiệp thông qua khả năng sinh lời của dự án doanh nghiệp

Link: doanh-nghiep-la-gi.html

https://smartrain.vn/khai-niem-va-y-nghia-cua-phan-tich-tai-chinh-3.1 Phân tích báo cáo tài chính

Chuẩn hóa các báo cáo tài chính

Để so sánh báo cáo tài chính của một công ty với công ty khác chúng ta phải chuẩn hóa các báo cáo tài chính Một trong những cách phổ biến và hữu ích là chuyển sang

tỷ lệ phần trăm thay vì sử dụng đơn vị tiền Các báo cáo tài chính sau khi chuyển đổi

được gọi là các báo cáo tài chính theo tỷ trọng.

Bảng cân đối kế toán theo tỷ trọng

Chúng ta xây dựng các báo cáo tài chính theo tỷ trọng bằng cách chuyển từng hạngmục trong bảng thành tỷ lệ phần trăm theo tổng tài sản

Trang 4

Lưu ý: một vài con số tổng cộng không hoàn toàn là chính xác do sai số khi làm tròn,

thay đổi của tổng phải bằng 0 bới vì các con số từ đầu đến cuối tính tổng lại phải bằng

100 phần trăm

Báo cáo thu nhập theo tỷ trọng

Chuẩn hóa báo cáo thu nhập là diễn giải từng hạng mục của báo cáo này theo tỷ lệphần trăm của tổng doanh thu

Báo cáo thu nhập theo tỷ trọng cho chúng ta biết những gì sẽ xảy ra với mỗi đô

la trong daonh thu

Ý nghĩa đối với chủ doanh nghiệp

Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp có những ý nghĩa sau với chủ doanh nghiệp:

- Giúp tạo ra chu kỳ đánh giá hiệu quả của từng hoạt động của doanh nghiệp và thực hiện những nguyên tắc về quản lý tài chính, hiệu quả tài chính (lợi nhuận) và khả nănggiải quyết rủi ro, thanh toán tài chính của doanh nghiệp

- Đảm bảo các quyết định của ban giám đốc về đầu tư và tài trợ cũng như phân

phối các loại nhuận được chính xác và sát với thực trạng của doanh nghiệp

- Lượng thông tin thu nhận được từ việc phân tích tài chính sẽ cung cấp các căn cứ cho nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra và giám sát các hoạt động quản

lý trong doanh nghiệp và các thông tin phục vụ cho việc dự đoán tài chính

3.2 Phân Tích Tỷ Số

Một cách khác để tránh các vấn đề liên quan đến quy mô khi so sánh các công

ty với nhau là tính toán và so sánh các tỷ số tài chính (financial ratios) Những tỷ số

này giúp chúng ta so sánh và tìm hiểu mối quan hệ giữa các mẩu thông tin tài chínhkhác nhau

Đối với mỗi tỷ số được thảo luận, chúng ta cần nhớ một vài câu hỏi sau:

1. Tỷ số này được tính như thế nào?

2. Nó dự kiến được dùng để đo lường cái gì, và tại sao chúng ta quan tâm đến nó?

3. Đơn vị đo lường là gì?

4. Giá trị cao hay thấp cho chúng ta biết cái gì? Làm thế nào những giá trị như vậy có thể gây hiểu lầm?

5. Chỉ tiêu đo lường này có thể được cải thiện bằng cách nào?

*Phân loại: Các tỷ số tài chính thường được nhóm thành các nhóm sau:

Trang 5

2. Các tỷ số thanh toán dài hạn (Long-term solvency ratios), hay đòn bẩy tài chính (financial leverage ratios)

3. Các tỷ số quản trị tài sản (asset management ratios), hay vòng quay (turnoverratios)

4. Các tỷ số khả năng sinh lợi (Profitability ratios)

5. Các tỷ số giá trị thị trường (market value ratios)Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng nhóm Khi tính toán những con số này cho Prudfrock, chúng ta sẽ sử dụng các con số trên bảng cân đối kế toán cuối kỳ (2012)

v CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG THANH KHOẢN HOẶC KHẢ NĂNG

THANH TOÁN NGẮN HẠN (SHORT-TERM SOLVENCY OR LIQUIDITY MEASURES)

Giống như tên gọi, nhóm các tỷ số đo lường khả năng thanh toán ngắnhạn cung cấp thông tin về thanh khoản của một công ty, và những tỷ số này đôikhi được gọi là tỷ số đo lường thanh khoản (liquidity measures) Vấn đề đượcquan tâm hàng đầu là khả năng thanh toán các hóa đơn trong ngắn hạn màdoanh nghiệp không bị căng thẳng qua mức Do vậy, những tỷ số này tập trungvào tài sản ngắn hạn và nợ phải trả ngắn hạn

Một ưu điểm của việc xem xét tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn là giá trị

sổ sách và giá trị thị trường của chúng gần như không khác biệt Thông thường,những tài sản và nợ ngắn hạn này không tồn tại đủ lâu để cả hai giá trị này khácbiệt nhiều với nhau Mặt khác, giống như bất kỳ loại tương đương tiền nào, tàisản và nợ ngắn hạn có thể thay đổi khá nhanh, nên các giá trị của ngày hôm naykhông phải là một chỉ báo đáng tin cậy cho tương lai

Tỷ Số Thanh Toán Hiện Hành (Current Ratio)

Tỷ số thanh toán hiện hành = !à# %ả' '(ắ' *ạ'

,ợ '(ắ' *ạ'

Đối với Prufrock, tỷ số thanh toán hiện hành năm 2012 là:

Tỷ số thanh toán hiện hành =$/01230 = 1,31 lần

Do tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, về nguyên tắc, có thể chuyển thànhtiền trong 12 tháng tới, nên tỷ số thanh toán hiện hành là chỉ tiêu đo lường khảnăng thanh khoản trong ngắn hạn Đơn vị đo lường có thể bằng đô la hoặc số lần

Vì thế, chúng ta có thể nói rằng nợ ngắn hạn của Prufrock được đảm bảo bởi 1,31

Trang 6

lần tài sản ngắn hạn Trừ một vài trường hợp đặc biệt, chúng ta kỳ vọng tỷ sốthanh toán hiện hành ít nhất phải bằng 1; tỷ số thanh toán hiện hành bé hơn 1nghĩa là vốn luân chuyển ròng (tài sản ngắn hạn trừ nợ ngắn hạn) âm.

Tỷ số thanh toán hiện hành bị ảnh hưởng bởi các loại giao dịch khácnhau Ví dụ, giả sử doanh nghiệp huy động vốn bằng vay dài hạn Tác độngngắn hạn sẽ là một sự gia tăng tiền mặt thu được từ doanh thu phát hành và giatăng trong nợ dài hạn Nợ ngắn hạn do đó sẽ không bị ảnh hưởng, vì thế tỷ sốthanh toán hiện hành sẽ tăng lên

Lưu ý rằng tỷ số thanh toán hiện hành thấp có thể không phải là dấu hiệuxấu đối với một công ty có khả năng vay nợ lớn nhưng chưa sử dụng hết khảnăng này

Tỷ Số Thanh Toán Nhanh (Quick Or Acid-Test Ratio)

Hàng tồn kho là tài sản ngắn hạn kém thanh khoản nhất Nó cũng là loạitài sản có giá trị sổ sách ít tin cậy nhất khi đo lường bằng giá trị thị trường bởi

vì không biết chắc về chất lượng hàng tồn

Để đánh giá kỹ hơn về tính thanh khoản, tỷ số thanh toán nhanh (quick ratio) hay (acid-test ratio) được tính giống như tỷ số thanh toán hiện hành, ngoại trừ việc loại hàng tồn kho ra:

Tỷ số thanh toán nhanh = !à# %ả' '(ắ' *ạ' 4 5à'( 6ồ' 8*9

,ợ '(ắ' *ạ'

Lưu ý rằng sử dụng tiền mặt để mua hàng tồn kho không ảnh hưởng đến

tỷ số thanh toán hiện hành, nhưng làm giảm tỷ số thanh toán nhanh Ý tưởngnày cho thấy hàng tồn kho kém thanh khoản so với tiền mặt

Đối với Prufrock, tỷ số này năm 2012 là:

Tỷ số thanh toán nhanh = $/01 4 3:: = 0,53 lần

$230

Tỷ số thanh toán nhanh ở đây cho chúng ta biết một cái gì đó khác với tỷ

số thanh toán hiện hành bởi vì hàng tồn kho chiếm hơn một nửa tài sản ngắnhạn của Prufrock Để nhấn mạnh luận điểm này, hãy giả sử hàng tồn kho là cácnhà máy năng lượng nguyên tử chưa bán được, thì đây sẽ là nguyên nhân củavấn đề chúng ta đang quan tâm

Tỷ Số Tiền Mặt (Cash Ratio)

Tỷ số tiền mặt =

Tỷ số này của Prufrock là 0,18 lần

v CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG KHẢ NĂNG THANH TOÁN DÀI HẠN

(LONG-TERM SOLVENCY MEASURES)

Trang 7

Các tỷ số thanh toán dài hạn được sử dụng để đo lường khả năng đápứng các nghĩa vụ nợ của công ty trong dài hoặc tổng quát hơn, đo lường đòn

bẩy tài chính của công ty Những tỷ số này đôi khi được gọi là các tỷ số đòn bẩy tài chính (financial leverage ratios) hoặc đơn giản các tỷ số đòn bẩy (leverage ratios) Chúng ta sẽ xem xét 3 chỉ tiêu đo lường phổ biến cùng một vài dạng biến hóa của chúng.

Tỷ Số Tổng Nợ (Total Debt Ratio)

Tỷ số tổng nợ (total debt ratio) tính đến toàn bộ nợ của mọi kỳ hạn của

mọi nhà cung cấp tín dụng Nó có thể được định nghĩa theo nhiều cách, cách dễnhất là:

Tỷ số tổng nợ =

=

!ổ'( 6à# %ả' 4 !ổ'( ?ố' Aổ B*ầ'

!ổ'( 6à# %ả'

Trong trường hợp này, một chuyên gia có thể nói rằng Prufrock sử dụng

28 phần trăm nợ Tỷ số này cao hay thấp, hay nó có tạo ra bất kỳ sự khác biệtnào hay không phụ thuộc vào cấu trúc vốn có quan trọng hay không

Prufrock có $0,28 nợ cho mỗi $1 tài sản Như vậy, có $0,72 vốn cổ phầncho mỗi $0,28 nợ Từ đó, chúng ta có thể xác định thêm hai dạng biến hóa của

tỷ số tổng nợ, đó là tỷ số nợ trên vốn chủ sỡ hữu (debt – equity ratio) và bội số vốn cổ phần (equity multiplier).

Tỷ số tổng nợ =

= $0,28/$0,72 = 0,39 lần

Bội số vốn cổ phần =

= $1/0,72 = 1,39 lầnViệc bội số vốn cổ phần bằng 1 cộng với tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu không phải là ngẫu nhiên:

Bội số vốn cổ phần = Tổng tài sản/Tổng vốn cổ phần = $1/0,72 = 1,39 lần

= (Tổng vốn cổ phần + Tổng nợ)/Tổng vốn cổ phần

= 1 + Tổng nợ/Tổng vốn cổ phần = 1,39 lần

Điều cần lưu ý ở đây là cho trước bất kỳ tỷ số nào trong ba tỷ số này, ta

có thể ngay lập tức tính được hai tỷ số còn lại, vì thế cả 3 tỷ số này chính xác đềcập cùng 1 vấn đề

Trang 8

Khả Năng Thanh Toán Lãi Vay (Times Interest Earned)

Một chỉ tiêu phổ biến khác đo lường khả năng thanh toán dài hạn là tỷ số khả năng thanh toán lãi vay (times interest earned – TIE) Có khả năng có một

vài định nghĩa khác nhau, nhưng chúng ta tập trung vào định nghĩa truyềnthống nhất:

Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay = HIJ! Kã# ?MN = $OFG$G3G = 4,9 lần

Tỷ số này đo lường khả năng đảm bảo chi trả chi phí lãi vay của một công

ty tốt như thế nào, và nó thường được gọi là tỷ số chi trả lãi vay (interest coverage

ratio) Đối với Prufrock, chi phí lãi vay được đảm bảo chi trả đến 4,9 lần.

Tỷ Số Đảm Bảo Tiền Mặt (Cash Coverage)

Một vấn đề đối với tỷ số TIE là nó căn cứ vào EBIT, mà không thực sự

đo lường lượng tiền mặt có sẵn để chi trả lãi vay Lý do là các chi phí tiền mặtnhư chi phí khấu hao và chi phí trừ dần, đã được khấu trừ ra khỏi EBIT Bởi vì

chắc chắn lãi vay là dòng tiền ra (chỉ trả cho chủ nợ), một cách để xác định tỷ

số đảm bảo tiền mặt (cash coverage) là:

Tỷ số đảm bảo tiền mặt = HIJ! P (8*ấS *M9 P A*# B*í 6Uừ Wầ')

Có một thước đo khả năng trả nợ dài hạn khác đang ngày càng phổ biếntrong các bản phân tích báo cáo tài chính và trong các hợp đồng vay nợ Thước

đo này sử dụng EBITDA và nợ phải trả lãi Cụ thể, với Prufrock:

Ở đây, bao gồm cả khoản vay ngắn hạn phải trả (hầu hết là nợ vay ngânhang) và nợ dài hạn ở tử số và EBITDA là mẫu số Giá trị này thấp hơn 1 đượcxem là rất mạnh và giá trị này trên 5 được xem là rất yếu Tuy nhiên, để có thểdiễn giải tỷ số này một cách chính xác cần phải so sánh các doanh nghiệp tươngđương khác

v CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI SẢN HAY

VÒNG QUAY (ASSET MANAGEMENT OR TURNOVER MEASURES)

Tiếp đến chúng ta chú ý đến hiệu quả sử dụng tài sản của Prufrock Những

chỉ tiêu đo lường trong phần này đôi khi được gọi là các tỷ số quản lý tài sản

Trang 9

(asset management) hay các tỷ số hữu dụng hóa tài sản (utilization ratios).

Những tỷ số đang thảo luận ở đây có thể được diễn giải như những chỉ tiêu đolường vòng quay Những chỉ số này mô tả xem các doanh nghiệp sử dụng tàisản của mình hiệu quả hay thâm dụng như thế nào trong việc tạo ra doanh thu

Vòng Quay Hàng Tồn Kho (Inventory Turnover) Và Thời Gian Lưu Kho (Days’ Sales in Inventory)

Trong năm, Prufrock có giá vốn hàng bán là $1.344 Hàng tồn kho vào

cuối năm là $422 Với những con số này, vòng quay hàng tồn kho (inventory turnover) có thể được tính như sau:

Vòng Quay Khoản Phải Thu (Receivables Turnover) Và Số Ngày Thu Khoản Phải Thu (Days’ Sales in Receivables)

Chúng ta hãy xem xét chúng ta thu tiền bán hàng nhanh ra sao Vòng quay khoản phải thu (receivables turnover) được định nghĩa giống như vòng quay hàng tồn kho:

Vòng quay khoản phải thu =

=

[9M'* 6*S

e*9ả' B*ả# 6*S

8

Trang 10

Đại khái, chúng ta thu khoản tín dụng thương mại đang lưu hành củamình và tiếp tục cấp lại tín dụng 12,3 lần trong năm.

Tỷ số này có ý nghĩa hơn nếu chúng ta chuyển thành ngày, trong trường

hợp này số ngày thu khoản phải thu (days’ sales in receivables) là:

Số ngày thu khoản phải thu =

=

Do vậy, tính trung bình, chúng ta thu hồi doanh thu bán trả chậm trong

30 ngày Do đó, hiển nhiên tỷ số này thường được gọi là kì thu tiền bình quân (average collection period – ACP).

Vòng Quay Tổng Tài Sản (Total Asset Turnover)

Ngoài các hạng mục như hàng tồn kho, hoặc khoản phải thu, chúng ta có

thể xem xét một số tỷ số quan trọng “tổng quát” hơn, đó là tỷ số vòng quay tổng tài sản (Total Asset Turnover):

Vòng quay tổng tài sản = [9M'* 6*S

!ổ'( 6à# %ả' $:,DGG

$D.211

Nói cách khác, với mỗi đô la tài sản, chúng ta tạo ra $0,64 doanh thu

MEASURES)

Dù ở dạng này hay dạng khác, các tỷ số này dung để đo lường việc công

ty của mình sử dụng tài sản hiệu quả như thế nào và công ty quản lý các hoạtđộng cảu mình hiệu quả ra sao

Biên Lợi Nhuận (Profit Margin)

Các công ty rất chú ý đến các biên lợi nhuận (profit margin) của mình:

Biên lợi nhuận = Kợ# '*Sậ' Uò'(

[9M'* 6*S $DOD

$:.DGG

Con số này cho chúng ta biết rằng Prufrock, ở khía cạnh kế toán, cứ mỗi

đô la doanh thu tạo ra dưới 16 cent lợi nhuận ròng

Biên EBITDA (EBITDA Margin)

Một chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi phổ biến khác là biên EBITDA.Biên EBITDA chú ý đến dòng tiền hoạt động trực tiếp hơn là đến lợi nhuậnròng và không tính đến ảnh hưởng của cấu trúc vốn hay thuế Đối với Prufrock,biên EBITDA là:

9

Trang 11

Nếu các yếu tố khác không đổi, một biên lợi nhuận khá cao hiển nhiên làđiều đáng mong đợi Tình hình này xảy ra khi tỷ lệ chi phí tương đối thấp sovới doanh thu Tuy nhiên chúng ta phải nhấn mạnh rằng các yếu tố khác khôngphải là không đổi.

Ví dụ, giảm giá bán thường sẽ làm tăng khối lượng đơn vị bán ra nhữngcũng thường làm cho các biên lợi nhuận giảm Tổng lợi nhuận (hoặc quan trọnghơn, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh) có thể tăng hoặc giảm, vì thế biên lợinhuận nhỏ hơn không nhất thiết là xấu

Tỷ Suất Sinh Lời Trên Tài Sản (Return On Assets)

Tỷ suất sinh lời trên tài sản (return on assets – ROA) là chỉ tiêu đo lường

lợi nhuận trên mỗi đô la tài sản Định nghĩa phổ biến nhất của ROA là:

Tỷ suất sinh lời trên tài sản =

=

Kợ# '*Sậ' Uò'(

!ổ'( 6à# %ả'

Tỷ Suất Sinh Lời Trên Vốn Chủ Sỡ Hữu (Return On Equity)

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sỡ hữu (return on equity – ROE) là thước đo

chủ sở hữu được hưởng thành quả như thế nào trong năm Do mục tiêu của chúng

ta là mang lại lợi ích cho chủ sỡ hữu, nên ROE, trên phương diện kế toán, chính làthước đo hiệu quả cuối cùng, ROE thường được đo lường như sau:

Tỷ suất sinh lời trênvốn chủ sở hữu

sở hữu theo giá trị sổ sách (return on book equity) Ngoài ra ROE còn được gọi

là tỷ suất sinh lợi trên giá trị tài sản ròng (return on net worth) Dù được gọi là

gì đi nữa thì lãi suất quan sát được trên thị trường tài chính là không phù hợp.

VALUE MEASURES)

Ngày đăng: 02/11/2022, 04:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w