ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÁO CÁO DUNG SAI VÀ KỸ THUẬT ĐO ĐỀ TÀI MEASUREMENT OF MOTION Thành viên nhóm Họ và tên MSSV Trương Vũ Đình Khoa 1810728 Hồ Mai Triết 1810604 Võ Hoàn.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÁO CÁO DUNG SAI VÀ KỸ THUẬT ĐO
ĐỀ TÀI
MEASUREMENT OF MOTION
Thành viên nhóm:
Trương Vũ Đình Khoa 1810728
Nguyễn Thành Nghĩa 1810352
GV hướng dẫn: ThS Bành Quốc Nguyên
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
I GIỚI THIỆU 3
II RUNG ĐỘNG KẾ VÀ GIA TỐC KẾ 4
III RUNG ĐỘNG KẾ SƠ CẤP VÀ CÁCH XÁC ĐỊNH RUNG ĐỘNG 4
IV THIẾT BỊ ĐO GIA TỐC SƠ CẤP 4
V CÔNG CỤ ĐO ĐỊA CHẤN 5
VI LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CÔNG CỤ ĐO ĐỊA CHẤN 5
VII CẢM BIẾN GIA TỐC 5
1 ĐỘ TRỄ PHA TRONG MÁY ĐO GIA TỐC 6
2 THIẾT KẾ THỰC TẾ CỦA CÁC THIẾT BỊ ĐỊA CHẤN 6
VIII HIỆU CHUẨN 7
IX TÍNH TOÁN CỦA MÁY ĐO RUNG CHẤN 7
X HIỆU CHỈNH MÁY ĐO GIA TỐC 7
XI PHẢN ỨNG CỦA CÔNG CỤ ĐỊA CHẤN ĐỐI VỚI CHUYỂN GIAO 8
XII ĐO VẬN TỐC BỞI BỘ CHUYỂN ĐỔI TỐC ĐỘ LASER 8
XIII RUNG ĐỘNG VÀ KIỂM TRA SỐC 8
XIV HỆ THỐNG KÍCH THÍCH RUNG ĐỘNG 9
XV CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA RUNG ĐỘNG 9
XVI THÍ NGHIỆM SỐC 10
XVII SỐC RIGS 10
XVIII KIỂM TRA THỰC TẾ SỐC 10
LỜI KẾT 11
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Báo cáo này nhằm mục đích cung cấp các kiến thức về phương pháp đo lường các đại lượng trong chuyển động cơ học Nội dung phục vụ cho sinh viên khối ngành kỹ thuật thuộc các trường đại học Đồng thời cũng giúp ích cho sinh viên các chuyên ngành khác và cán bộ kỹ thuật có quan tâm đến lĩnh vực chuyển động cơ học Khi viết báo cáo này, chúng tôi có tham khảo sách Mechanical Measurements 6th, đồng thời sử dụng các nguồn tài liệu khác để hoàn thiện báo cáo Tuy các tác giả đã nhiều cố gắng khi biên soạn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những sai sót Chúng tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các độc giả để báo cáo được hoàn thiện hơn
Sau hết chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp đáng kể của Khoa Cơ khí, Trường Đại học Bách Khoa- Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành báo cáo này
Tác giả
Trang 4I.GIỚI THIỆU
Chuyển động học là một nhánh của cơ học cổ điển, có mục đích mô tả chuyển động của các điểm, vật thể và hệ vật trong khi bỏ qua nguyên nhân dẫn đến các chuyển động đó Chuyển động học là một lĩnh vực nghiên cứu, thường được gọi là "hình học của chuyển động" và đôi khi được xem là một nhánh của toán học
Vấn đề về chuyển động học được phát sinh bằng việc mô tả lại hình dạng của hệ và khai báo các điều kiện ban đầu của bất kỳ giá trị đã biết nào về vị trí, vận tốc và/hoặc gia tốc các điểm trong hệ (Bảng 1) Mỗi một giá trị có thể là hằng số, hàm số theo chu kì hoặc thay đổi một cách phức tạp Hàm ý rộng hơn, nếu sự thay đổi vị trí - thời gian được lặp đi lặp lại có tính liên tục, nó được gọi là sự rung động Mặt khác, nếu
sự thay đổi mang tính tạm thời, với chuyển động thường phân rã hoặc tắt dần trước khi thay đổi tiếp theo xảy ra, nó có thể được gọi là cú sốc Dù “cú sốc” có thể được lặp đi lặp lại, và trong mọi trường hợp, sự thay đổi vị trí - thời gian thông thường đều
sẽ mang các đặc điểm của “rung động”, còn cú sốc phải sở hữu tính chất không liên tục
Trong mọi trường hợp, sốc cơ học và rung động cơ học đều sẽ liên quan đến các thông số tần số, biên độ và dạng sóng Các phương pháp đo cơ bản thường sự dụng các thiết bị đo đạc ghi lại độ dịch chuyển, vận tốc hoặc gia tốc theo thời gian Sau quá trình phân tích, có thể xác định thêm thông số của các sóng thành phần và tương quan về thời gian giữa các bước sóng thành phần, từ đó dẫn suất ra các đại lượng không thể đo trực tiếp được
Xác định quan hệ
chuyển
động Đối với chuyển động tuyến tính Đối với chuyển động góc
Vị trí di
𝑑𝜃 𝑑𝑡
𝑑𝑡 =
𝑑2𝑠
𝑑𝑡 =
𝑑2𝜃
𝑑𝑡2
𝑑𝑡
𝑑𝛼 𝑑𝑡 Bảng 1 Các đại lượng thành phần trong chuyển động cơ học
Trong nhiều trường hợp, thiết bị dùng để đo rung động – rung động kế có thể được
sử dụng để đo độ sốc Mặc dù vậy, việc thử nghiệm vẫn có sự khác biệt so với
Phép đo vận tốc và gia tốc có thể xác định bằng các thiết bị đơn giản như tốc kế, hoặc đầu dò địa chấn
Trang 5II RUNG ĐỘNG KẾ VÀ GIA TỐC KẾ
Rung động kế là cách gọi thiết bị áp dụng nguyên lý nhận rung động ở đầu vào, sau
đó đưa ra một tín hiệu kết quả ở đầu ra, thường là chỉ số điện áp, độ dịch chuyển hoặc vận tốc Kết qua hiển thị được xác định thông qua các phép biến đổi thứ cấp
từ kết quả đo được
Thuật ngữ gia tốc kế được áp dụng cho những thiết bị đo có đầu ra là các hàm của gia tốc Có sự khác biệt cơ bản về thiết kế và ứng dụng giữa rung động kế và gia tốc
kế
III RUNG ĐỘNG KẾ SƠ CẤP VÀ CÁCH XÁC ĐỊNH RUNG ĐỘNG
Một trong những thiết bị phát hiện rung động nhạy nhất chính là cảm ứng của con người Các thử nghiệm được thực hiện bởi một công ty chuyên về máy cân bằng đã xác định rằng một người bình thường có thể phát hiện, bằng đầu ngón tay của mình, các dao động hình sin có biên độ thấp tới 0,3 µm (12 µin.) Khi bộ phận rung được nắm chặt, biên độ trung bình có thể phát hiện được chỉ lớn hơn 0,025 µm (1 µin) một chút Trong cả hai trường hợp, bằng cách chạm vào đầu ngón tay và bằng cách nắm chặt, độ nhạy lớn nhất xảy ra ở tần số khoảng 300 Hz
Khi biên độ chuyển động lớn hơn, chẳng hạn, 1
32 inch hoặc khoảng 1 mm, một công
cụ xác định đơn giản và hữu ích là nêm rung, được thể hiện trong hình 1(a) Đây chỉ đơn giản là một mảnh giấy hoặc vật liệu mỏng khác có tông màu tương phản, thường
có màu đen, được gắn vào bề mặt của bộ phận rung Trục đối xứng của nêm đặt vuông góc với chuyển động Khi dao động, nêm liên tiếp giả định hai vị trí dao động cực đại, như được chỉ ra trong Hình 1 (b)
Bằng cách quan sát vị trí của điểm mà các ảnh trùng nhau, được đánh dấu X, người
ta có thể thu được biên độ dao động Lúc này bề rộng của nêm bằng gấp đôi của biên độ chuyển động Thiết bị này không mang lại bất kỳ thông tin nào về dạng sóng của chuyển động Một thiết bị đơn giản để đo tần số bao gồm một chùm công xôn nhỏ có tần số cộng hưởng có thể thay đổi bằng cách thay đổi chiều dài hiệu dụng của nó Khi sử dụng, hộp thiết bị được giữ dựa vào bộ phận có tần số được đo và chiều dài chùm tia được điều chỉnh từ từ, tìm kiếm độ dài chùm tia mà tại đó cộng hưởng sẽ xảy ra Khi điều kiện này được tìm thấy, phần cuối của chùm tia quay trở lại và được tìm thấy với biên độ đáng kể Thiết bị này khá nhạy, với độ chính xác chỉ
bị giới hạn bởi độ phân giải của cân
IV THIẾT BỊ ĐO GIA TỐC SƠ CẤP
Có nhiều thiết bị đo gia tốc nhưng cơ bản nhất là báo mức gia tốc Gia tốc kế sử dụng tiếp điểm điện, khi tác dụng lực quán tính lên vật và lò xo, nếu vượt quá mức thì tiếp điểm bị vỡ làm thay đổi mức chỉ thị Loại thứ 2 thuộc loại trực tiếp và được xác định bằng bộ phận căng thẳng có gãy hay không Vật liệu giòn được sử dụng cho loại này
Trang 6V CÔNG CỤ ĐO ĐỊA CHẤN
Máy đo độ rung và máy đo gia tốc thường có dạng "khối lượng địa chấn" như trong hình Một khối lượng được đỡ bằng lò xo được gắn trong một vỏ thích hợp, với một
bộ phận cảm biến được cung cấp để phát hiện chuyển động tương đối giữa khối lượng và vỏ
Về cơ bản, hoạt động của khí cụ địa chấn là một hàm của gia tốc thông qua quán tính của khối lượng Tuy nhiên, đầu ra bị giảm đi do chuyển động tương đối giữa khối lượng và vỏ Nguyên tắc này tạo ra hai loại dụng cụ đo khối lượng địa chấn, máy đo
độ rung và máy đo gia tốc
Một số loại tăng rung được sử dụng phổ biến hơn sử dụng bộ chuyển đổi điện trở thay đổi, trong đó chuyển động tương đối giữa cuộn dây và trường thông lượng từ nam châm vĩnh cửu được sử dụng Trong trường hợp này, thiết bị cảm ứng với vận tốc bởi vì dòng chảy ra tỷ lệ với tốc độ cắt các dòng từ thông
Bằng cách lựa chọn tần số tự nhiên và độ tắt dần thích hợp, có thể thiết kế thiết bị
đo địa chấn sao cho chuyển vị tương đối giữa khối lượng và vỏ là một hàm của gia tốc
VI LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CÔNG CỤ ĐO ĐỊA CHẤN
Hình trên là mô tả một hệ thống một bậc tự do với giảm xóc nhớt, được kích thích bởi một chuyển động điều hòa được cung cấp cho giá đỡ
𝑆𝑟0 = 𝑆𝑠0 (Ω/𝜔𝑛)
2
√[1 − (Ω/𝜔𝑛)2]2+ [2ξ(Ω/𝜔𝑛)2]2
Trong đó:
+ 𝑆𝑟0 : biên độ dịch chuyển tương đối giữa khối lượng và giá đỡ
+ 𝜔𝑛 : tốc số góc
+ Ω : tần số
+ ξ : Hệ số giảm chấn
VII CẢM BIẾN GIA TỐC
Bây giờ chúng ta hướng sự chú ý đến một loại thiết bị sóng địa chấn tương tự là cảm biến gia tốc Về cơ bản, cấu tạo của máy đo gia tốc cũng giống như cấu tạo của máy
đo độ rung Ngoại trừ việc các thông số thiết kế của nó được điều chỉnh để đầu ra tương ứng với sự gia tốc
Công thức mục 6 viết lại như sau:
𝑆𝑟0 = 𝑆𝑟0𝛺
2
𝜔𝑛2√[(1 − (𝜔𝛺
𝑛)
2
]2+ [2𝜀𝛺𝜔
𝑛 ]2
𝜔𝑛2√[(1 − (𝜔𝛺
𝑛)
2
]2+ [2𝜀𝛺𝜔
𝑛 ]2
Biến 𝜔𝑛2 ở mẫu số được cố định cho một công cụ và không thay đổi theo ứng dụng
Vì thế, nếu căn là một hằng số, các độ dịch chuyển tương đối sẽ tỷ lệ thuận với gia tốc
Trang 71 ĐỘ TRỄ PHA TRONG MÁY ĐO GIA TỐC
Tham khảo lại phạm vi hoạt động của gia tốc kế giới hạn vừa được chỉ ra, 𝛺
𝜔𝑛 = 0 đến 0.4 và 𝜀 = 0.7 qua đó chúng tôi thấy rằng pha thay đổi rất gần tuyến tính với tần số Mối quan hệ này là tình cờ, vì như chúng ta đã thấy nó dẫn đến phản ứng pha tốt
2 THIẾT KẾ THỰC TẾ CỦA CÁC THIẾT BỊ ĐỊA CHẤN
Về mặt khái niệm, một gia tốc kế hoạt động như một khối ẩm ướt trên một lò xo Khi gia tốc kế trải qua gia tốc, khối lượng được dịch chuyển đến điểm mà lò xo có thể tăng tốc khối lượng ở cùng tốc độ với vỏ Sự dịch chuyển sau đó được đo để tăng tốc
Trong các thiết bị thương mại, áp điện, piezoresistive và dung thành phần thường được sử dụng để chuyển đổi các chuyển động cơ học thành tín hiệu điện
Gia tốc kế áp điện dựa trên gốm áp điện (ví dụ titanate titanate) hoặc tinh thể đơn (ví
dụ thạch anh, tourmaline) Chúng không thể so sánh về dải tần số cao hơn, trọng lượng đóng gói thấp và dải nhiệt độ cao Gia tốc kế Piezoresistive được ưa thích trong các ứng dụng sốc cao
Gia tốc kế điện dung thường sử dụng phần tử cảm biến gia công silicon Hiệu suất của chúng vượt trội trong dải tần số thấp và chúng có thể được vận hành trong servo chế độ để đạt được sự ổn định và tuyến tính cao
Gia tốc kế hiện đại thường là các hệ thống cơ điện nhỏ (MEMS), và thực sự là các thiết bị MEMS đơn giản nhất có thể, bao gồm ít hơn một chùm đúc hẫng với khối lượng bằng chứng (còn gọi là khối địa chấn)
Một loại gia tốc kế dựa trên MEMS tương đối mới khác là gia tốc kế nhiệt (hoặc đối lưu) có chứa một lò sưởi nhỏ ở dưới cùng của một vòm rất nhỏ, làm nóng không khí / chất lỏng bên trong vòm, tạo ra bong bóng nhiệt đóng vai trò là khối lượng chứng minh
Hầu hết các gia tốc kế vi mô hoạt động trong mặt phẳng, nghĩa là chúng được thiết
kế chỉ nhạy với một hướng trong mặt phẳng của khuôn Bằng cách tích hợp hai thiết
bị vuông góc trên một khuôn, một gia tốc kế hai trục có thể được thực hiện
Bằng cách thêm một thiết bị ngoài mặt phẳng khác, ba trục có thể được đo Sự kết hợp như vậy có thể có lỗi sai lệch thấp hơn nhiều so với ba mô hình rời rạc kết hợp sau khi đóng gói
Tốc Micromechanical có sẵn trong một loạt các máy đo dao động, nó có thể tính hàng ngàn gia tốc trên giây Nhà thiết kế phải thực hiện một sự thỏa hiệp giữa độ nhạy và gia tốc tối đa có thể đo được
Trang 8VIII.HIỆU CHUẨN
Có hai cách tiếp cận cơ bản để hiệu chỉnh đầu dò địa chấn: (1) bằng phương pháp tuyệt đối (dựa trực tiếp vào các khái niệm vật lý về khối lượng, chiều dài và thời gian),
và (2) bằng kỹ thuật so sánh
Cách tiếp cận thứ hai sử dụng một "tiêu chuẩn" để so sánh bộ chuyển đổi đối tượng Mặc dù phương pháp này có vẻ khá đơn giản và chắc chắn là một trong những cách được sử dụng phổ biến nhất nhưng có nhiều cạm bẫy cần tránh
• Các chuyển động ấn tượng thực sự phải giống hệt nhau
• Thiết bị đọc phải liên quan đến tiêu chuẩn tốt nhất và là một một phần của tiêu chuẩn, đồng thời toàn bộ hệ thống phải được hiệu chuẩn có thể truy nguyên
• Thiết bị đọc liên kết trong cả hai mạch phải có phản hồi giống hệt nhau
• Tiêu chuẩn phải có độ tin cậy lâu dài
Không có yêu cầu nào trong số này có thể dễ dàng đạt được
Hai phần sau thảo luận về một số phương pháp cơ bản hơn được áp dụng để hiệu chuẩn các đầu dò kiểu địa chấn
IX TÍNH TOÁN CỦA MÁY ĐO RUNG CHẤN
Rung chấn thường được hiệu chỉnh bằng cách đưa chúng vào chuyển động điều hòa
ở trạng thái ổn định của biên độ và tần số đã biết Đầu ra của bộ thu khi đó là điện
áp hình sin được đo bằng vôn kế đáng tin cậy hoặc máy hiện sóng tia âm cực Tất nhiên là thu được một chuyển động điều hòa với biên độ và tần số đã biết
Máy kích thích loại này có khả năng tạo ra các biên độ có thể sử dụng ở tần số đến vài nghìn chu kỳ mỗi giây
X HIỆU CHỈNH MÁY ĐO GIA TỐC
Phương pháp hiệu chỉnh máy đo gia tốc có thể được phân loại như sau:
a Hiệu chuẩn tĩnh:
- Phương pháp doanh số cộng trừ 180o: Máy đo gia tốc tầm thấp có thể được hiệu chuẩn bước 2 g bằng cách chỉ cần xoay trục nhạy từ một vị trí thẳng đứng 180 "đến
vị trí thẳng đứng khác (tức là chỉ cần xoay ngược gia tốc kế)
- Phương pháp ly tâm: Các giá trị thực tế không giới hạn của gia tốc tĩnh có thể được xác định bằng máy ly tâm hoặc bàn quay Gia tốc đối với tâm quay được biểu
(2 )
n
a = r f
Trong đó:
an= gia tốc của khối địa chấn
r = bán kính quay được đo từ tâm bàn đến trọng tâm của khối địa chấn
f = tốc độ quay bảng rev/s
Trang 9b Hiệu chuẩn định kỳ trạng thái ổn định:
- Hiệu chuẩn gia tốc kế lưng: Để hiệu chỉnh một máy đo gia tốc rung là xác định độ nhạy của nó (tính bằng m V / g hoặc pC / g) ở các tần số khác nhau Việc hiệu chuẩn lưng liên quan đến việc ghép nối trực tiếp gia tốc kế thử nghiệm với gia tốc kế chuẩn hiệu chuẩn hai đầu, có thể theo dõi NIST và điều khiển cặp này bằng máy kích thích rung ở các mức g khác nhau Nếu không có sẵn gia tốc kế chuẩn hiệu chuẩn hai đầu
có thể theo dõi NIST, thì có thể thay thế một gia tốc kế thứ cấp Các gia tốc kế được nối ngược trở lại Có thể điều chỉnh tần số và biên độ của bộ chuyển đổi rung động
và có thể so sánh đầu ra của "chuẩn hiệu chuẩn" và gia tốc kế Khi máy đo gia tốc (hoặc máy đo độ rung) được hiệu chuẩn bằng phương pháp này, khối lượng của đơn
vị thử nghiệm so với tiêu chuẩn thử nghiệm phải được xem xét Nếu khối lượng đơn
vị thử nghiệm lớn hơn 30% khối lượng tiêu chuẩn thử nghiệm thì việc bù khối lượng phải được xem xét
XI PHẢN ỨNG CỦA CÔNG CỤ ĐỊA CHẤN ĐỐI VỚI CHUYỂN GIAO
Bằng cách chế tạo bộ phận thu nhận rung động với một khối địa chấn nhẹ, chúng ta
có thể đáp ứng tốt hầu hết mọi dải tần số Đối với gia tốc kế, các thành phần tần số trên giá trị gần đúng 40%, đầu vào tần số cao hơn bị suy giảm
XII ĐO VẬN TỐC BỞI BỘ CHUYỂN ĐỔI TỐC ĐỘ LASER
Trong một dạng dịch chuyển laser đơn giản, gương phản xạ di động được gắn với một bộ rung bề mặt Chùm tia phản xạ phía sau kết hợp với chùm tia tách ban đầu, gây ra một số vân tối liên tiếp mà bộ tách sóng quang học có thể nhìn thấy được Số lượng vân tối trên một đơn vị thời gian thể hiện vận tốc bề mặt Vận tốc được cảm nhận bởi bộ chuyển đổi này là thành phần vận tốc của gương phản xạ di động dọc theo hướng của mỏ laser Khoảng cách hoạt động hoặc chờ của thiết bị này thường
là 1 m hoặc ít hơn Cách sử dụng điển hình của bộ chuyển đổi này như sau:
a Khảo sát vận tốc của bề mặt nóng như ống góp của động cơ đốt
b Khảo sát vận tốc của màng rung
c Phân tích quỹ đạo của trục quay trong máy quay
d Đo vận tốc của các phần tử máy mà không thể gắn đầu dò địa chấn
XIII.RUNG ĐỘNG VÀ KIỂM TRA SỐC
Hệ thống kiểm tra rung động và kiểm tra sốc có vai trò đặc biệt và quan trọng trong việt nghiên cứu và phát triển của nhiều thiết bị Do đó để thử nghiệm chính xác về
nó, chúng ta cần các thiết bị đo phù hợp và chuyên dụng đáp ứng được các thông
số kỹ thuật nhất định cho việc đo kiểm tra này
Trong các trường hợp cụ thể khác nhau thì kết quả sẽ cho khác nhau, do đó để xác định chính xác là việc khó có thể đạt được vì thế để đảm bảo kết quả chính xác nhất định này ta có thể thử nghiệm kiểm tra tại nơi mà tai nó là khu vực yếu nhất trong điều kiện xác định để thực hiện việc đo lường và kiểm tra
Trang 10XIV.HỆ THỐNG KÍCH THÍCH RUNG ĐỘNG
Để thực hiện việc kiểm tra rung động xác định, cần phải có nguồn chuyển động hay gọi đơn giản là thiết bị cung cấp kích thích dao động như máy lắc, mát kích thích Đa
số ta sử dụng chuyển động là các dạng chuyển động sóng đều hòa, ngoài ra một số trường hợp có thể sử dụng các dạng chuyển động dạng sóng phức tạp Để cung cấp các dạng sóng này có nhiều nguồn để kích thích chuyển động được sử dụng như:
hệ thống điện từ, cơ học, điện, thủy lực- khí nén hoặc âm
Ta cùng tìm hiểu về hiểu về thiết bị và cách hoạt động của hệ thống kích thích rung động bằng điện từ
Hình 5 là một mặt cắt qua bộ kích điện từ Các bộ phận bao gồm: cuộn dây, tấm bìa, khuôn từ trường, và một số bộ phận trên hình Cuộn dây chuyển động quanh trục (phần ứng) được tạo bởi dòng điện, lực rung sẽ được tạo ra bởi tương tác giữa dòng điện chạy qua phần ứng và từ trường tĩnh (do nam châm tạo ra) Khi dòng điện biến thiên theo thời gian, lực cũng sẽ thay đổi do đó lực tạo ra cũng thay đổi tạo ra tần số gây rung động khác nhau
Điểm mạnh và điểm yếu của hệ thống kích thích gồm một số điểm như sau: dải tần
số, giới hạn lực, độ lêch, từ trường, …
Dải tần số: thường có sẵn trong các máy lắc có thể thử nghiệm với nhiều giá trị tần
số khác nhau, tuy nhiên ta thấy việc thay đổi các tần số để thử nghiệm rất khó đạt được độ chính xác lớn nhất, để có các tần số cao cần phải cấp cho máy sô vòng rất lớn nên rất khó để thực hiện
Giới hạn lực: một số thiết bị không thể cung cấp lực theo đúng yêu cầu, chi phí để tạo ra các thiết bị và bảo trì sửa chữa nó rất tốn kém và khó có thể làm được như bánh răng, ổ trục, các van thủy lực…
Độ lệch: trong quá trình tạo ra các thiết bị thì không thể không có các sai số, một số thiết bị có sai lêch rất nhỏ nhưng cũng có mọt số thiết bị không đạt được độ chính xác cao
XV CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA RUNG ĐỘNG
Hai phương pháp cơ bản được sử dụng để kiểm tra rung động bằng cách tác dụng một lực hình sin lên vật thử là: phương pháp lực cưỡng bức và phương pháp cộng hưởng
1 Phương pháp lực cưỡng bức
Phương pháp này được thực hiện bằng cách đặt thiết bị cần kiểm tra trên máy lắc
và máy lắc sẽ cung cấp một lực đúng với yêu cầu của thiết bị Qua quá trình kiểm tra
đó thông qua các thông số, dữ liệu thu được sẽ cho người dùng đanh giá được thiết
bị có đảm bảo được yêu cầu hay không
Phương pháp cộng hưởng
Phương pháp sử dụng bàn được gắn với lò xo và được kích thích tạo một tần số bởi máy lắc này Phương pháp này có thể thử nghiệm được một thiết bị có tần số cao hơn mà máy lắc có thể tạo ra, đó là nhờ các lò xo có thể cấp các lực gia tốc để tạo
ra một tần số cộng hưởng Hình 6 là hình bàn điều khiển chuyển động ngang sử dụng phương pháp cộng hưởng