1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định về tài sản trong bộ luật dân sự 2015 và ảnh hưởng của nó đến các quy định khác của pháp luật việt nam

144 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi thế, quy định về chiếm hữu đối với tài sản trong BLDS 2015 đã ra đời trong bối cảnh cần có sự thừa nhận của pháp luật đối với sự tồn tại thực tế của tình trạng chiếm hữu, và cần có s

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐH LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

TÀI LIỆU HỘI THẢO KHOA HỌC

QUY ĐỊNH VỀ TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC QUY ĐỊNH KHÁC CỦA PHÁP LUẬT

VIỆT NAM

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO

QUY ĐỊNH VỀ CHIẾM HỮU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÁC QUY ĐỊNH KHÁC TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

TS.Lê Minh Hùng 1

NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI TÀI SẢN VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỘT SỐ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN

ThS.Nguyễn Nhật Thanh 21 QUYỀN VỀ LỐI ĐI QUA THEO BLDS VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC CHẾ ĐỊNH, NGÀNH LUẬT KHÁC CÓ LIÊN QUAN

CN Nguyễn Tấn Hoàng Hải 27

MỐI LIÊN HỆ CỦA QUYỀN VỀ LỐI ĐI QUA BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ VÀ CÁC CHẾ ĐỊNH KHÁC THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

ThS.Lê Thị Hồng Vân 69

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ - SO SÁNH VỚI QUY ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN THEO BLDS NĂM 2015

CN.Nguyễn Phương Thảo 75

BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

2015

ThS Lê Thị Diễm Phương 88

QUYỀN KHỞI KIỆN CỦA CHẤP HÀNH VIÊN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH, XỬ LÝ TÀI SẢN CHUNG ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TS Nguyễn Văn Tiến 92

Trang 3

2

BÀN VỀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH QUA BA TRƯỜNG HỢP THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TS.Lê Vĩnh Châu 98 BÀN VỀ KHÔNG ÁP DỤNG THỜI HIỆU KHỞI KIỆN ĐỐI VỚI YÊU CẦU BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

TS Đặng Thanh Hoa 114

QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

CN.Lường Minh Sơn 125 QUY ĐỊNH VỀ TÀI SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI

KỲ HÔN NHÂN

ThS Ngô Thị Anh Vân 133

Trang 4

TRƯỜNG ĐH LUẬT TP.HCM

KHOA LUẬT DÂN SỰ

CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO QUY ĐỊNH VỀ TÀI SẢN TRONG BLDS 2015 VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ

ĐẾN CÁC QUY ĐỊNH KHÁC CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25/4/2017

-

*Chủ trì: TS Lê Minh Hùng và PGS.TS Đỗ Văn Đại

7g30-7g40 Giới thiệu đại biểu, lý do BTC & MC Nguyễn Tấn Hoàng Hải

TÀI SẢN, QUYỀN SỞ HỮU VÀ CÁC QUYỀN KHÁC

8h00 - 8h10 Phân loại tài sản, ảnh hưởng của

nó đối với quy định về quyền

Trang 5

4

quyền bề mặt và ảnh hưởng của nó đến các lĩnh vực pháp luật khác 8h40 – 9h40 Thảo luận Chủ tọa, các đại biểu tham gia HT

10h00 – 10h10 Quyền khởi kiện của chấp hành

viên trong việc xử lý tài sản chung

để thi hành án

TS Nguyễn Văn Tiến

10h10 – 10h20 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba

ngay tình trong 03 trường hợp thi hành án

TS Lê Vĩnh Châu

10h20-10h30 Bảo vệ QSH TT; Quy định về tài

sản và quyền sở hữu trong các lĩnh vực lao động, hôn nhân gia đình

ThS Nguyễn Phương Thảo, ThS Ngô Thị Vân Anh và thầy Lường Minh Sơn

Trang 6

QUY ĐỊNH VỀ CHIẾM HỮU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÁC

QUY ĐỊNH KHÁC TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Lê Minh Hùng *

1 Đặt vấn đề

Chiếm hữu là một khái niệm pháp lý mới được đưa vào trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 Trong các BLDS năm 1995, BLDS 2005 chưa tồn tại khái niệm này Sở dĩ BLDS 2015 bổ sung quy định về chiếm hữu là vì, trong thực tiễn, có những trường hợp chủ thể chiếm hữu tài sản mà họ không có quyền sở hữu, thậm chí việc chiếm hữu của họ cũng không dựa trên căn cứ pháp luật nào, nhưng cũng không trái pháp luật Thực trạng này dẫn đến sự xung đột quyền lợi giữa người thực tế chiếm hữu tài sản với những người xung quanh, thậm chí là xung đột với cả quyền lợi của chủ sở hữu đích thực của tài sản Trong một xã hội văn minh, mọi xung đột về lợi ích cần phải được điều chỉnh, xử lý bằng những quy định cụ thể của pháp luật Bởi thế, quy định về chiếm hữu đối với tài sản trong BLDS 2015 đã ra đời trong bối cảnh cần có sự thừa nhận của pháp luật đối với sự tồn tại thực tế của tình trạng chiếm hữu,

và cần có sự sắp xếp trật tự pháp lý giữa việc chiếm hữu tài sản với quyền sở hữu và các quyền khác một cách hợp lý, đảm bảo trật tự pháp luật và ổn định xã hội

Nội dung bài viết này nghiên cứu về khái niệm chiếm hữu, bản chất của chiếm hữu, hiệu lực của việc chiếm hữu, những ảnh hưởng của quy định về chiếm hữu đối với các chế định khác trong pháp luật dân sự

2 Khái niệm, đặc điểm của chiếm hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Bên cạnh việc công nhận quyền chiếm hữu với tính chất là một trong ba quyền

năng của chủ sở hữu đối với tài sản, BLDS 2015 còn có quy định mới về sự “chiếm

hữu” của các chủ thể đối với tài sản Theo BLDS 2015, chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản (khoản 1 Điều 179) Theo đó, bản chất của chiếm hữu là việc nắm giữ, chi

phối tài sản Sự nắm giữ, chi phối ở đây được hiểu là những hoạt động cụ thể chủ thể đối với tài sản, diễn ra bình thường trong đời sống, thể hiện ở việc cầm nắm, giữ gìn, trông coi, quản lý, kiểm soát thực tế đối với các động sản; hoặc cư ngụ, sinh sống trong ngôi nhà; hay tiến hành xây dựng nhà cửa, trồng tỉa cây cối trên đất; nuôi trồng các cây, con trên mặt nước

* Tiến sĩ luật học, GV Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

2

Chiếm hữu là một tình trạng thực tế, tồn tại độc lập, bên ngoài so với quyền sở

hữu và các quyền khác đối với tài sản Sở dĩ có sự thừa nhận sự chiếm hữu bên cạnh quyền sở hữu và quyền chiếm hữu đối với tài sản, là bởi vì sự chiếm hữu là một hiện

tượng khách quan, một hoàn cảnh thực tế, thể hiện việc chủ thể đang nắm giữ, chi phối tài sản một cách yên ổn, bình yên trong một xã hội Thực tế đó giống như việc một chủ thể có quyền trên tài sản đang thực hiện quyền đối với tài sản của mình một cách bình thường trong đời sống hàng ngày, mà không cần xét tới việc chiếm hữu đó

là hợp pháp hay trái pháp luật Ở khía cạnh này, sự thừa nhận và bảo vệ sự chiếm hữu chính là để duy trì và bảo vệ trật tự công cộng Ví dụ: một người đang sử dụng một chiếc điện thoại thì bị cướp và và kẻ cướp đó bị bắt quả tang Lúc này, tên cướp đó đã xâm phạm đến trật tự công, đó là dùng hành vi bạo lực bất hợp pháp để tước đoạt tài sản ra khỏi sự chiếm hữu bình thường, yên ổn của chủ thể Người chiếm hữu chỉ cần chứng minh là mình đang thực tế chiếm hữu chiếc điện thoại đó thì bị cướp, mà

không cần phải chứng minh mình có quyền sở hữu, quyền chiếm hữu (chiếm hữu hợp

pháp hay chiếm hữu có căn cứ pháp luật) đối với chiếc điện thoại (dù có thể anh ta có được chiếc điện thoại này là do đã lấy trộm của một người khác)

Bên cạnh đó, quy định về chiếm hữu còn là căn cứ để giải quyết các hệ quả pháp lý phát sinh từ việc chiếm hữu Cho đến khi chủ thể đang thực tế chiếm hữu tài sản, nếu chưa bị phán xử bởi bản án, quyết định có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền được lập thông thủ tục luật định, thì không ai được kết luận việc chiếm hữu đó trái là pháp luật, và cũng không ai được phép tước đoạt tài sản ra khỏi sự chiếm hữu của chủ thể, trừ trường hợp chủ thể này đã đoạt lấy tài sản bằng hành vi phạm pháp quả tang, hoặc hành vi chiếm đoạt rõ ràng là vi phạm pháp luật (đủ dấu hiệu cấu thành để có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật) Mặt khác, việc pháp luật thừa nhận sự chiếm hữu còn nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội, mà còn hướng đến việc xác lập hiệu lực của các quyền mà người chiếm hữu có thể được hưởng trong hiện tại hoặc trong tương lai

Qua khái niệm trên, có thể thấy chiếm hữu có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, chiếm hữu là hành vi thực tế của chủ thể, là hoạt động có tính chất

chủ quan thể hiện sự kiểm soát, quản lý thực tế của chủ thể đối với tài sản Đây là những việc làm thể hiện sự trông nom, nắm lấy, giữ lấy đối với tài sản Có thể nói, về mặt chủ quan, qua sự chiếm hữu cho thấy, chủ thể đã thực hiện những hành vi, hoạt động cụ thể nhằm nắm giữ, chi phối tài sản Những hoạt động, hành vi này chưa được coi là hành vi pháp lý mà chỉ là hành vi cụ thể, mang tính thực tế Đó có thể là hành

vi, hoạt động hợp pháp của chủ thể có quyền chiếm hữu (chủ sở hữu thực hiện quyền chiếm hữu đối với tài sản của mình, hoặc người có quyền chiếm hữu được chủ sở hữu

Trang 8

giao hoặc do pháp luật quy định); Đó cũng có thể là tình trạng chiếm giữ tài sản không dựa trên các căn cứ luật định (như người thứ ba chiếm hữu ngay tình đối với tài sản); hoặc thậm chí, đó cũng có thể là việc chiếm hữu trái pháp luật (lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, trộm, cướp, cướp giật, cưỡng đoạt…) đối với tài sản của người khác Như vậy, chiếm hữu chỉ có thể được coi là một “hoàn cảnh thực tế”, một hoạt động của con người đối với tài sản mà những người khác trong xã hội nhìn thấy, nhận biết được, chứ chưa phải là hành vi pháp lý hay là quan hệ pháp luật về sở hữu

Thứ hai, chiếm hữu là một sự kiện thực tế, một hiện tượng khách quan, hay cũng có thể hiểu đây là biểu hiện bề ngoài của quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, chi

phối đối với tài sản Hiện tượng này “giống như là” việc chủ sở hữu đích thực của tài sản hoặc chủ thể có quyền hợp pháp đối với tài sản đang thực hiện quyền sở hữu, quyền hợp pháp khác của mình đối với tài sản Ở khía cạnh này, người đang chiếm hữu tài sản “được suy đoán như là” chủ sở hữu, người có quyền chiếm hữu đối với tài sản Ví dụ: khi chúng ta thấy một người đang sử dụng điện thoại, hoặc đang sử dụng một thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận, thì có thể suy đoán hay xem như người

đó là người có quyền đối với chiếc điện thoại hoặc thửa đất nói trên Đó là hiện tượng khách quan, là một sự thật, cần được pháp luật duy trì trong tình trạng yên ổn, đảm bảo phù hợp với trật tự công cộng Vì thế, thực tế đó được pháp luật thừa nhận và bảo

vệ, trừ trường hợp sự chiếm hữu đó là hành vi bạo hành, chiếm đoạt tài sản của người khác trái với pháp luật hình sự, hành chính đang chờ bị truy cứu trách nhiệm pháp lý

Ví dụ: khi một người đang chạy xe đạp trên đường, những người xung quanh, kể cả cảnh sát đều nhìn thấy hiện tượng này Không ai, kể cả cảnh sát, có thể xác quyết được rằng người đang chạy xe (nắm giữ, chi phối) chiếc xe đạp nói trên có phải là chủ sở hữu đích thực của chiếc xe đó hay không Tuy nhiên, nếu có ai đó sử dụng hành vi bạo lực trái pháp luật để đoạt lấy hoặc gây ra thiệt hại đối với chiếc xe này, thì người đang người chiếm hữu chiếc xe được pháp luật bảo vệ, tức là người chiếm hữu được đòi người chiếm đoạt phải trả lại chiếc xe, hoặc đòi người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại do làm hỏng xe

Vì chiếm hữu là sự kiện thực tế, là hiện tượng khách quan thể hiện qua việc

chủ thể nắm giữ, chi phối đối với tài sản như là chủ thể có quyền, cho nên chiếm hữu khác với quyền chiếm hữu và cũng khác với quyền sở hữu

Chiếm hữu khác với quyền chiếm hữu Chiếm hữu cũng được pháp luật thừa

nhận, nhưng đó không phải là quyền, mà đó chỉ là một sự kiện, một hoàn cảnh thực

tế, hay một sự thật khách quan mà thôi Còn quyền chiếm hữu là khả năng xử sự của

Trang 9

4

chủ thể được pháp luật thừa nhận.1 Vì quyền chiếm hữu là một quyền năng dân sự nên việc xác lập quyền chiếm hữu luôn được dựa trên căn cứ do pháp luật quy định.2Hơn nữa, quyền chiếm hữu là một khả năng xử sự do pháp luật quy định, nên không phải ai cũng có quyền chiếm hữu, mà chỉ có những chủ thể xác định mới có quyền

chiếm hữu đối với tài sản, gồm: chủ sở hữu có quyền chiếm hữu tài sản của mình;

hoặc chủ thể khác có quyền chiếm hữu đối với tài sản do được chuyển giao quyền

chiếm hữu hoặc do pháp luật quy định, như người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý, người được chiếm hữu tài sản thông qua các giao dịch có kèm theo nghĩa vụ giao tài

sản để chủ thể đó quản lý, kiểm soát hoặc người có quyền quản lý tài sản theo quy định của pháp luật (Chẳng hạn người nhận cầm cố, người có quyền cầm giữ tài sản, người quản lý tài sản vắng chủ, quản lý di sản chưa chia thừa kế, quản lý tài sản theo pháp luật về phá sản doanh nghiệp, pháp luật thi hành án…) Quyền chiếm hữu chỉ cho phép chủ thể có quyền được cầm nắm, chi phối đối với tài sản phù hợp với quy định của pháp luật, chứ không làm phát sinh các hiệu lực pháp lý cụ thể, ví dụ: quyền chiếm hữu không tạo ra hiệu lực đối kháng hay loại trừ quyền sở hữu, thậm chí cũng không có hiệu lực xác lập quyền sở hữu hay quyền theo đuổi đối với tài sản, trừ những trường hợp pháp luật có quy định.3

Chiếm hữu cũng khác với quyền sở hữu Chiếm hữu là một sự tình trạng thực

tế, còn quyền sở hữu là một quan hệ pháp luật dân sự, trong đó chủ sở hữu là bên có quyền còn mọi người (phần còn lại của thế giới) là bên có nghĩa vụ Trong quan hệ pháp luật về sở hữu, thường nhà làm luật không quy định chủ sở hữu phải có nghĩa vụ tương ứng với bên kia, mà chỉ có trách nhiệm trước xã hội Đây không phải là nghĩa

vụ đối ứng trong quan hệ pháp luật hay nghĩa vụ do các bên chủ thể thỏa thuận đặt ra,

mà là nghĩa vụ pháp định, nghĩa vụ mang tính tự thân của chủ sở hữu trong khi thực hiện quyền sở hữu của mình đối với tài sản Pháp luật của Việt Nam quy định các nghĩa vụ này trong quy định liên quan đến việc hạn chế quyền sở hữu.4

Chiếm hữu là sự nắm giữ, chi phối thực tế đối với tài sản thì quyền sở hữu là một quyền năng dân sự được pháp luật thừa nhận Việc xác lập quyền, nội dung của quyền, khách thể của quyền đều do pháp luật quy định cụ thể Quyền sở hữu tài sản

1 Điều 186 BLDS 2015 quy định: “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi

phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”

4 Các nghĩa vụ của chủ sở hữu được ghi nhận trong phần hạn chế quyền sở hữu, từ các Điều 171 – 178 BLDS

2015

Trang 10

mang tính trừu tượng (vô hình) và có thể được chứng minh bằng nhiều cách mà không cần chủ sở hữu phải cầm nắm, chi phối tài sản Quyền sở hữu là quyền năng dân sự mang tính tổng quát, vì chủ sở hữu có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản (từ bỏ hay tiêu hủy tài sản, sử dụng tài sản làm vật bảo đảm,

để lại thừa kế tài sản sau khi chết…) Quyền sở hữu còn là một vật quyền rất mạnh,

có hiệu lực đối kháng với toàn thể xã hội, và hiệu lực loại trừ đối với mọi quyền khác của các chủ thể khác trong trường hợp có sự xung đột với quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định thứ tự ưu tiên (lấy trước, thanh toán trước) cho các quyền khác theo những căn cứ và điều kiện nhất định Chủ sở hữu tài sản còn các quyền theo đuổi, quyền truy đòi tài sản bị người khác chiếm giữ trái pháp luật…

Còn chiếm hữu là một thực tế, nó có thể là chiếm hữu có căn cứ hoặc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Khi chủ thể có quyền chiếm hữu dựa trên các căn cứ

luật định, như vừa phân tích ở trên, thì việc chiếm hữu đó được coi là chiếm hữu có căn cứ pháp luật, và chủ thể chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật là người có quyền chiếm hữu (chủ sở hữu của tài sản, người có quyền chiếm hữu do được chủ sở hữu

giao hoặc do pháp luật quy định) Còn nếu việc chiếm hữu tài sản không dựa trên các căn cứ luật định như quy định tại khoản 1 Điều 165 BLDS 2015, thì việc chiếm hữu

đó là không có căn cứ pháp luật.5 Việc chiếm hữu của chủ thể đối với tài sản, cho dù

là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, nhưng vẫn được pháp luật bảo vệ Trong nhiều trường hợp, việc chiếm hữu của một chủ thể (người chiếm hữu thực tế) đối với tài sản có thể độc lập với chủ sở hữu, người có quyền chiếm hữu đối với tài sản Ví dụ: người thứ ba chiếm hữu ngay tình đối với tài sản Sự chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình còn có hiệu lực đối kháng, hiệu lực loại trừ cả đối quyền

sở hữu, quyền chiếm hữu của chủ thể có quyền, thậm chí việc chiếm hữu còn có hiệu lực xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu đối với tài sản trong trường hợp pháp luật có quy định (người chiếm hữu ngay tình trong những trường hợp luật định)…

3 Hiệu lực của chiếm hữu

Hiệu lực của chiếm hữu là những hệ quả pháp lý do pháp luật quy định dựa trên sự thừa nhận tình trạng chiếm hữu thực tế đối với tài sản trong những trường hợp

cụ thể, theo những điều kiện luật định Thông thường, việc chiếm hữu có thể tạo ra những hệ quả pháp lý sau đây:

3.1 Người chiếm hữu tài sản được suy đoán là người có quyền đối với tài sản

5 Khoản 2 Điều 165 BLDS 2015

Trang 11

6

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu có căn cứ pháp luật thực hiện việc chiếm hữu đối với tài sản thì đương nhiên họ là người có quyền chiếm hữu Nhưng đối với người đang trực tiếp chiếm hữu tài sản một cách công khai, thì rất khó có thể phân biệt người nào là người có quyền chiếm hữu, và người nào thì không có quyền chiếm hữu Hơn nữa, việc đánh giá, chứng minh người đang chiếm hữu có phải là người có quyền hay không, là vấn đề phức tạp, mất nhiều công sức và thời gian Do đó, trong hoàn cảnh bình thường cũng như khi có tranh chấp, người chiếm hữu được suy đoán

là người có quyền đối với tài sản Theo khoản 2 Điều 184 BLDS 2015: “Trường hợp

có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người

có quyền đó Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền”

Chiếm hữu là một tình trạng thực tế, không cần biết là có căn cứ hay không Khi chủ thể đang chiếm hữu tài sản, thì sự chiếm hữu thực tế đó có thể được coi là biểu hiện “bề ngoài” của quyền sở hữu, quyền chiếm hữu đối với tài sản Bởi vậy, khi chủ thể đang thực tế chiếm hữu tài sản, thì pháp luật suy đoán họ là người có quyền đối với tài sản “Suy đoán” có quyền và „coi như‟ có quyền là hai khái niệm khác nhau Suy đoán, tức là khả năng có thể có quyền hoặc không có quyền, còn „coi như‟

có quyền nghĩa đã khẳng định việc chủ thể đương nhiên có quyền

Xét về mặt thực tế, sự chiếm hữu là bằng chứng để chứng minh người chiếm hữu chính là người có quyền Ví dụ: A đang đeo chiếc đồng hồ tên tay thì bị B tranh chấp Cho dù A có phải là chủ sở hữu (đích thực) của chiếc đồng hồ hay không, thì A cũng không cần phải chứng minh Việc chiếm hữu chiếc đồng đồ trên thực tế đã đủ

để suy đoán rằng, A chính là chủ (hoặc ít ra, A là người có quyền chiếm hữu) chiếc đồng hồ đó

Nhìn từ góc độ tố tụng, thì sự „suy đoán‟ có quyền không đương nhiên được hiểu là chủ thể đã có quyền, mà chỉ là tình trạng thực tế chiếm hữu được bảo vệ khi

có tranh chấp Sở dĩ pháp luật suy đoán người đang chiếm hữu tài sản là người có quyền là bởi lẽ, việc chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản là quá trình lâu dài và khó khăn, có thể phải thông qua những thủ tục tư pháp phức tạp, mất nhiều thời gian, công sức và nhiều rủi ro, thậm chí có nguy cơ người chiếm hữu tài sản không bảo vệ được sự chiếm hữu của mình

Cho dù người có tranh chấp có đúng là chủ sở hữu của tài sản hay không, thì khi có tranh chấp với người chiếm hữu tài sản, người có tranh chấp phải đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết bằng phương thức luật định, đồng thời phải đưa ra bằng chứng

để chứng minh người chiếm hữu không có quyền đối với tài sản tranh chấp Điều này

có nghĩa, không ai có thể tự cho rằng mình là người có quyền đối với tài sản mà

Trang 12

không dựa trên bằng chứng xác đáng, hoặc sử dụng bạo lực để đòi tài sản từ người chiếm hữu, mà không qua những thủ tục tư pháp Tuy vậy, cũng cần lưu ý, để được suy đoán có quyền, thì người chiếm hữu phải là người chiếm hữu ngay tình (Điều

181, khoản 2 Điều 182, khoản 2 Điều 183 BLDS 2015)

Như vậy, với quy định này, pháp luật đã thừa nhận chiếm hữu có hiệu lực đối kháng với bất kỳ ai, kể cả với chủ sở hữu Sự chiếm hữu chỉ có thể bị vô hiệu nếu người có tranh chấp chứng minh được rằng người chiếm hữu không có quyền Quy định này đảm bảo an toàn pháp lý đối với việc chiếm hữu, đồng thời cũng loại trừ khả năng lạm dụng bạo lực trong việc đòi lại quyền sở hữu tài sản, qua đó giúp duy trì trật

tự - trị an của xã hội, sự ổn định và bình yên của cuộc sống

3.2 Người chiếm hữu được khai thác, sử dụng tài sản và có thể được hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản

Nếu việc chiếm hữu tài sản là có căn cứ pháp luật thì người chiếm hữu đương nhiên được thực hiện các quyền của mình đối với tài sản, và quyền này có hiệu lực đối kháng với bất kỳ ai Nhưng nếu việc chiếm hữu tài sản là không có căn cứ pháp luật, thì người chiếm hữu có được thực hiện các quyền đối với tài sản hay không, là một vấn đề pháp lý cần được xem xét Như vừa phân tích ở tiểu mục 3.1 ở trên, người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền, nên họ cũng có thể thực hiện các quyền của người có quyền đối với tài sản mà họ đang chiếm hữu Đó có thể là hành vi quản

lý, sử dụng, khai thác, định đoạt tài sản… giống như người có quyền thực thụ

Thường thì người chiếm hữu tài sản, được sử dụng, khai thác tài sản thì sẽ kéo theo khả năng hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Tuy nhiên, việc hành xử thực tế các hành vi nói trên “giống như” tư cách làm chủ hoặc chiếm hữu tài sản không đồng nghĩa với việc thụ đắc các lợi ích từ tài sản đó BLDS 2015 quy định: người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật chỉ có thể được hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh

từ tài sản nếu việc chiếm hữu đó là ngay tình (khoản 3 Điều 184) Theo quy định này, điều kiện bắt buộc để người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật được hưởng lợi ích phát sinh từ tài sản phải „chiếm hữu ngay tình‟.6 Đây là một quy định có nội dung mới của BLDS 2015, vì có sự sửa đổi so với quy định tương ứng của BLDS 2005.7

Như vậy, người chiếm hữu không ngay tình thì không thể thụ đắc các lợi ích

từ tài sản Nhưng về nguyên tắc, việc chiếm hữu thực tế thì được suy đoán là ngay

6 Điều 180 BLDS 2015: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng

mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”

7 Quy định của BLDS 2015 bỏ đi cụm từ “không có căn cứ pháp luật nhưng” trong thuật ngữ “chiếm hữu

không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình”, mà chỉ sử dụng thuật “chiếm hữu ngay tình” Ngoài ra, nội hàm

của chiếm hữu ngay tình cũng đã có sự thay đổi cơ bản

Trang 13

8

tình (khoản 1 Điều 184) Như vậy, nếu không có bằng chứng nào chứng minh ngược lại, thì sự chiếm hữu thực tế của chủ thể đối với tài sản thường được coi là chiếm hữu ngay tình Từ đó suy đoán rằng, người đang thực tế chiếm hữu thực tế tài sản không

có căn cứ pháp luật, nhưng ngay tình thì được đương nhiên được khai thác, sử dụng tài sản và được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cho đến khi có bằng chứng phản bác theo chiều ngược lại

3.3 Người chiếm hữu tài sản được pháp luật bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp với chủ sở hữu về quyền đối với tài sản

Khi có sự tranh chấp với chủ sở hữu về quyền đối với tài sản, thì người chiếm hữu cũng được pháp luật bảo vệ các quyền lợi liên quan Quyền lợi của người chiếm hữu được đề cập ở đây có thể là được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản; được hưởng hoa lợi hoặc lợi tức phát sinh từ tài sản, được yêu cầu hoàn trả những chi phí hợp lý khi đầu tư vào việc bảo quản, phát triển giá trị của tài sản

Cũng như việc được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, điều kiện để người chiếm hữu được bảo vệ quyền lợi trong trường hợp này là phải chiếm hữu ngay tình đối với tài sản Tất nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 184 BLDS 2015, người thực tế chiếm hữu tài sản được suy đoán là người chiếm hữu ngay tình Ngoài điều kiện này, thì tùy theo hệ quả pháp lý khác nhau, pháp luật có thể yêu cầu người chiếm hữu phải đáp ứng các điều kiện thích hợp khác Các hệ quả pháp lý cụ thể trong trường hợp này có thể là:

3.3.1 Người chiếm hữu được pháp luật công nhận quyền sở hữu đối với tài sản Đây

là trường hợp người chiếm hữu ngay tình được pháp luật bảo vệ ưu tiên hơn chủ sở hữu hoặc người có quyền (sau đây gọi chung là chủ sở hữu) khi giữa người chiếm hữu ngay tình và chủ sở hữu có sự tranh chấp về quyền đối với tài sản Theo đó, BLDS 2015 quy định có hai trường hợp người chiếm hữu ngay tình có thể được hưởng quyền sở hữu đối với tài sản:8

(i) Bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Trang 14

Khi giao dịch bị vô hiệu, thay vì tài sản giao dịch được hoàn trả lại cho các bên như ban đầu, thì theo quy định Điều 133 BLDS 2015, pháp luật sẽ bảo vệ quyền của người thứ ba ngay tình thông qua việc công nhận hiệu lực của giao dịch trong các trường hợp sau:

+ Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao

dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của BLDS 2015 (khoản 1 Điều 133);

+ Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu (đoạn 1 khoản 2 Điều 133);

+ Trường hợp giao dịch vô hiệu và tài sản phải đăng ký vẫn chưa được đăng

ký, nhưng người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không

phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa (đoạn 2 khoản 2 Điều 133)

(ii) Các trường hợp người chiếm hữu ngay tình được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản khi có sự tranh chấp quyền với chủ sở hữu (do bị chủ sở hữu đòi tài sản)

Theo quy định tại các Điều 167 và 168 BLDS 2015, các trường hợp sau đây, người chiếm hữu ngay tình không phải trả lại tài sản khi bị chủ sở hữu yêu cầu:

+ Đối với động sản không đăng ký quyền sở hữu thì người chiếm hữu ngay

tình được pháp luật bảo vệ ưu tiên hơn chủ sở hữu Trường hợp này, chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản, trừ trường hợp người chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản qua hợp đồng không có đền bù; hoặc nếu nhận được tài sản thông qua hợp đồng có đền bù, nhưng tài sản rời khỏi chủ sở hữu là do bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác ngoài ý chí của chủ sở hữu (Điều 167 BLDS 2015)

+ Đối với bất động sản hoặc động sản có đăng ký, thì người chiếm hữu ngay

tình có thứ tự ưu tiên thấp hơn so với chủ sở hữu Theo đó, người chiếm hữu ngay tình chỉ có thể được pháp luật bảo vệ trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 133 BLDS 2015, như vừa trình bày ở trên (Điều 168 BLDS 2015)

3.3.3 Người chiếm hữu ngay tình được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, kể từ khi

chiếm hữu tài sản cho đên khi bị chủ sở hữu kiện đòi, được hoàn trả chi phí hợp lý

Trang 15

10

trong việc bảo vệ, bảo quản hoặc đầu tư làm tăng giá trị tài sản.Về nguyên tắc, khi một người chiếm hữu không có căn cứ đối với tài sản của người khác thì phải hoàn trả lại tài sản, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 580 BLDS 2015) Tuy vậy, nếu người chiếm hữu tài sản là không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, thì có thể được pháp luật bảo vệ các quyền lợi sau đây:

(i) Được hưởng hoa lợi, lợi tức Theo đó, người chiếm hữu ngay tình, khi bị chủ sở

hữu kiện đòi tài sản, thì người chiếm hữu ngay tình không phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản, kể từ khi chiếm hữu cho đến thời điểm phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu Người chiếm hữu ngay tình chỉ trả lại hoa lợi, lợi tức cho chủ sở hữu

từ thời điểm biết hoặc phải biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật (khoản 2 Điều 581 BLDS 2015)

(ii) Được yêu cầu thanh toán, bồi hoàn khi phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu Theo

đó, nếu tài sản bị buộc trả lại cho chủ sở hữu (hoặc người có quyền), thì người chiếm hữu ngay tình được đòi người thứ ba đã chuyển giao tài sản cho mình phải hoàn trả khoản tiền đền bù để nhận được tài sản trong giao dịch chuyển giao tài sản được xác lập giữa họ với nhau trước đây (Điều 582 BLDS 2015)

Ngoài ra, nếu người chiếm hữu ngay tình có đầu tư chi phí để bảo quản, giữ gìn tài sản hoặc làm tăng giá trị của tài sản, thì khi tài sản được trả lại cho chủ sở hữu hoặc người có quyền, thì người chiếm hữu ngay tình còn được đòi thanh toán khoản tiền đầu tư này (Điều 583 BLDS 2015)

3.4 Người chiếm hữu có thể được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản khi đủ các điều kiện luật định

Chiếm hữu là một tình trạng thực tế Người chiếm hữu tài sản có thể không phải là chủ sở hữu hoặc là người có quyền đối với tài sản Tuy nhiên, việc chiếm hữu

đó là một hiện trạng thực tế, cần được duy trì để bảo đảm sự ổn định và trật tự, trị an của xã hội Bởi vậy, pháp luật có những quy định cho người chiếm hữu tài sản được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản trong những trường hợp cụ thể, khi đủ các điều kiện luật định Có hai trường hợp người chiếm hữu được xác lập quyền sở hữu, gồm:

(i) Người chiếm hữu có căn cứ pháp luật được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu

Về nguyên tắc, người chiếm hữu có căn cứ đối với tài sản phải chiếm hữu tài sản đó theo ý chí của chủ sở hữu (hoặc của người có quyền) hoặc phù hợp với quy định của pháp luật, và phải trả lại tài sản đó không quyền chiếm hữu chấm dứt Người

Trang 16

chiếm hữu có căn cứ cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản hoặc được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, trừ những trường hợp ngoại lệ.9 Các trường hợp ngoại lệ

đó là:

+ Người phát hiện tài sản không xác định được chủ sở hữu theo quy định tại khoản 2 Điều 228 BLDS 2015: người chiếm hữu đối với động sản không xác định được chủ sở hữu trong trường hợp này phải đáp ứng được các điều kiện: thông báo công khai, giao nộp cho cơ quan công an hoặc UBND cấp cơ sở…;

+ Người phát hiện tài sản bị chôn, giấu, vùi, lấp, chìm đắm được tìm thấy (Điều 229): thực hiện các yêu cầu luật định và được hưởng quyền theo quy định của pháp luật;

+ Người phát hiện tài sản bị đánh rơi, bỏ quên (Điều 230);

+ Người phát hiện tài sản là gia súc, gia cầm bị thất lạc hoặc vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên (các Điều 231, 232, 233 BLDS 2015)

(ii) Người chiếm hữu ngay tình có thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản theo thời hiệu

Người chiếm hữu tài sản có thể được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu khi

đủ các điều kiện luật định Một trong những hệ quả pháp lý của chiếm hữu là làm cho người chiếm hữu có thể trở thành người có quyền sở hữu đối với tài sản theo thời hiệu Điều kiện để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu là: (a) việc chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình; (b) đủ các điều kiện luật định về tính chất của sự chiếm hữu (liên tục và công khai); và (c) đủ thời hạn xác định cho từng loại tài sản thích hợp Cụ thể bao gồm các trường hợp sau:

+ Đối với việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục10, công khai 10 năm đối động sản và 30 năm đối với bất động sản thì người chiếm hữu được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 236 BLDS 2015), trừ trường hợp BLDS 2015 và luật khác có liên quan có quy định khác Như vậy, quy định này không áp dụng cho mọi trường hợp chiếm hữu Chỉ một số trường hợp chiếm hữu ngay tình và phải đáp ứng các điều kiện luật định thì mới có thể được hưởng quyền sở hữu Ngoài ra, luật cũng đưa ra ngoại lệ là trừ trường hợp có quy định khác Các trường hợp quy định khác ở đây có thể là quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình

9 Xem quy định tại các Điều 179, 187, 188 BLDS 2015

10 Điều 182 BLDS 2015 quy định về chiếm hữu liên tục

Trang 17

+ Người quản lý di sản là người thừa kế, sau khi hết thời hiệu để yêu cầu chia thừa kế (10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản), thì được xác lập quyền sở hữu đối với di sản mà người đó đang quản lý (khoản 1 Điều 623 BLDS 2015);

+ Người quản lý di sản không phải là người thừa kế chỉ có thể hưởng tài sản là

di sản khi hết thời hiệu để yêu cầu chia thừa kế theo quy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu tại Điều 236 BLDS 2015 như vừa nêu trên

3.5 Bảo vệ chiếm hữu

Việc chiếm hữu tài sản không chỉ có hiệu lực bảo vệ đối với người chiếm hữu, đảm bảo thứ tự ưu tiên của người chiếm hữu trước chủ thể khác, mà còn là cơ sở để pháp luật bảo vệ chiếm hữu trước sự xâm phạm của người khác

Không ai, kể cả chủ sở hữu có thể dùng bạo lực hay các hành vi bất hợp pháp khác để cưỡng đoạt tài sản từ người chiếm hữu, trừ trường hợp là người có quyền được lấy lại tài sản do bị người chiếm hữu chiếm đoạt bằng các hành vi bạo lực đang

vi phạm quả tang, hoặc bị người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức hữu quan thu hồi lại để chờ xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác Ví dụ: do tài sản bị chiếm đoạt bởi kẻ trộm cắp đang phạm tội quả tang, hoặc tài sản bị kẻ lừa đảo

bị cơ quan chức năng thu hồi, quản lý theo đúng trình tự, thủ tục luật định để chờ đến lúc trả lại cho người có quyền, thì tài sản mới có thể được tước đoạt từ người chiếm hữu thực tế Còn tài sản bị chiếm hữu trong các trường hợp khác, thì việc chiếm hữu được bảo vệ mà không cần xét tới việc nguyên nhân hay căn cứ của sự chiếm hữu đó

là có hay không có căn cứ

Theo quy định tại Điều 185 BLDS 2015, thì “Trường hợp việc chiếm hữu bị người khác xâm phạm thì người chiếm hữu có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại”

Trang 18

Khác với trường hợp xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu hoặc hưởng các quyền lợi khi trả lại tài sản cho người có quyền, quy định về bảo vệ chiếm hữu không đòi hỏi người chiếm hữu phải đáp ứng các điều kiện cụ thể nào Điều này có nghĩa, ngay cả khi người chiếm hữu tài sản là không công khai, hoặc thậm chí là không ngay tình, thì khi tài sản chiếm hữu bị xâm phạm, thì tình trạng chiếm hữu của chủ thể đốivới tài sản đó cũng được pháp luật bảo vệ Ví dụ: một kẻ trộm (A) đã lấy tài sản của người khác về cất giấu trong nhà của mình, thì bị một kẻ trộm thứ hai (B) đến lấy trộm, nhưng kẻ trộm (B) bị công an bắt và khai báo đã lấy trộm tài sản từ nhà của (A) Trường hợp này, công an không thể và không cần kết luận việc chiếm hữu của A

là có căn cứ hay không, ngay tình hay không Đơn giản chỉ là việc công an cần trả lại tài sản đó cho A vì lúc B trộm tài sản, thì tài sản đó do A chiếm hữu, trừ trường hợp tài sản đó cũng là tang vật trong một vụ án mà công an đang tìm kiếm, thu hồi để trả lại cho người chủ thật đã bị A lấy trộm tài sản đó Tất nhiên việc này cần phải được chứng bằng các bằng chứng rõ ràng, và phải được thẩm xét qua thủ tục tư pháp luật định

Điều kiện bảo vệ chiếm hữu có phần giống với việc bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản Đó là khi tài sản bị người khác chiếm đoạt trái pháp luật,

bị gây thiệt hại hoặc bị cản trở thực hiện một cách trái pháp luật Phương thức bảo vệ chiếm hữu cũng có nét „giống‟ với bảo vệ quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, như quyền (i) đòi lại tài sản; (ii) đòi bồi thường thiệt hại; hoặc (iii) đòi chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản theo các quy định tại các Điều 167, 168, 169, 170 BLDS 2015 Ví dụ khác: A đang sử dụng chiếc xe đạp trên đường bộ, thì bị B cưỡng đoạt hoặc đập phá làm chiếc xe bị

hư hỏng Trường hợp này, A được quyền đòi B trả lại xe (nếu bị chiếm đoạt) hoặc bồi thường (nếu bị đập phá) Trong hoàn cảnh thực tế, không ai, kể cả cảnh sát đều không cần thiết và có nhiều trường hợp là không thể chứng minh A chiếm hữu chiếc xe là có căn cứ pháp luật, hoặc có ngay tình hay không

Sự khác biệt lớn nhất giữa bảo vệ chiếm hữu so với với bảo vệ quyền sở hữu là:

(i) Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản dựa trên cơ sở bảo vệ người có quyền hợp pháp (quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là những quyền pháp lý được pháp luật quy định cụ thể về căn cứ xác lập, căn cứ chấm dứt, đối tượng quyền, nội dung quyền…); Còn chiếm hữu là một thực trạng, một sự kiện thực tế, chứ không phải là một quyền Người chiếm hữu tài sản không phải lúc nào cũng là người có quyền

Trang 19

(iii) Trong quy định bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác thì có quy định đầy đủ về các trường hợp chủ sở hữu được đòi lại tài sản trong những trường hợp nào, và trường hợp nào thì không được đòi lại tài sản Quy định về bảo vệ chiếm hữu không có quy định cụ thể như vậy

(iv) Chủ sở hữu hoặc người có quyền khác được đòi lại tài sản cũng như hoa lợi, lợi tức từ người chiếm hữu, được lợi không có căn cứ pháp luật trừ trường hợp người chiếm hữu, được lợi tài sản là ngay tình Còn quy định về bảo vệ chiếm hữu không có quy định cụ thể về trường hợp này

4 Ảnh hưởng của quy định chiếm hữu đối các quy định khác trong BLDS năm

2015

Quy định về chiếm hữu là quy định mới được bổ sung trong BLDS 2015 Nếu đặt trong mối quan hệ tổng thể, thì quy định chắc chắn có ảnh hưởng tới những quy định, chế định khác, luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam

4.1 Ảnh hưởng đến các quy định trong phần chung

Vấn đề chiếm hữu có ảnh hưởng nhất định đến các quy định của phần chung Trước hết, vấn đề cần đặt ra để xem xét ở đây là, liệu việc chiếm hữu có thể được được thực hiện thông qua người đại diện, người quản lý do luật định hay không? Nếu

có thì cần thiết kế quy định pháp luật như thế nào?

- Đối với việc đại diện qua hình thức giám hộ, Điều 59 BLDS 2015 chỉ quy định về quản lý tài sản của người được giám hộ Điều luật này dường như chỉ quy

định quản lý tài sản thuộc quyền sở hữucủa người được giám hộ, chứ không quy định minh thị việc quản lý tài sản mà người được giám hộ đang chiếm hữu Do đó, (i) cần

có sự giải thích theo nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật; hay là (ii) áp dụng theo hướng giải thích “mở rộng” khái niệm “tài sản của người được giám hộ” bao gồm cả

Trang 20

tài sản thuộc quyền sở hữu của người được giám hộ cũng như tài sản mà người đang chiếm hữu; (iii) hoặc nguyên tắc suy đoán người chiếm hữu là người có quyền theo

khoản 2 Điều 184 BLDS 2015, từ đó quy định quản lý tài sản của người được giám

hộ như quy định tại Điều 59 nói trên cũng bao gồm cả trường hợp chiếm hữu?

- Tương tự, các trường hợp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú (Điều 65 BLDS 2015) hoặc của người bị Tòa án tuyên bố mất tích (Điều 69 BLDS 2015) có bao gồm cả tài sản mà người vắng mặt hoặc người bị Tòa án tuyên bố mất tích đang chiếm hữu hay không? Trường hợp này cần có hướng giải quyết tương đồng với vấn đề quản lý tài sản của người được giám hộ vừa trình bày ở trên

- Vấn đề chiếm hữu cũng có ảnh hưởng cơ bản đến vấn đề giao dịch dân sự, nhất là trường hợp giao dịch dân sự trong trường hợp tài sản đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình chiếm hữu Như đã phân tích ở trên, các khái niệm “chiếm hữu ngay tình”, bảo vệ chiếm hữu, suy đoán có quyền, hiệu lực xác lập quyền của người chiếm hữu… có ảnh hưởng lớn đến quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

- Vấn đề điều kiện liên tục của thời hiệu hưởng quyền (Điều 153 BLDS 2015), nhất là trường hợp khi quyền, nghĩa vụ được chuyển giao cho người khác thì thời hiệu vẫn được coi là có tính liên tục Tuy vậy, vấn đề đặt ra là, chiếm hữu không phải

là một quyền pháp lý mà chỉ là một sự kiện thực tế, thì khi người chiếm hữu chuyển giao tài sản đang chiếm hữu thì có được coi là chuyển giao quyền hay không, và như thế việc chuyển giao tài sản chiếm hữu có thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 153 BLDS 2015 hay không, là vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu

4.2 Ảnh hưởng của quy định về chiếm hữu đối với chế định quyền sở hữu

Các ảnh hưởng này vô cùng cơ bản Như trên đã phân tích, toàn bộ các vấn đề liên quan đến chế định sở hữu có sự đổi mới cơ bản do sự xuất hiện của chế định chiếm hữu

- Ảnh hưởng quan trọng nhất là, sự chiếm hữu là một hoàn cảnh thực tế, có thể tồn tại độc lập, bên ngoài quyền sở hữu tài sản Người thực tế chiếm hữu tài sản có thể không phải là chủ sở hữu tài sản, nhưng có sự đối kháng quyền lợi so với chủ sở hữu, hoặc với người có quyền khác đối với tài sản Các quy định mới về chiếm hữu, nhất là quy định về chiếm hữu ngay tình, suy đoán hiệu lực chiếm hữu, bảo vệ chiếm hữu có tác động to lớn đến hệ quả pháp lý và hưởng xử lý các tranh chấp phát sinh giữ người chiếm hữu với chủ sở hữu, người có quyền khác và các bên liên quan trong việc hưởng hoa lợi, lợi tức hay xác lập quyền sở hữu, bảo vệ người chiếm hữu ngay tình khi chủ sở hữu đòi lại tài sản…

Trang 21

16

- Các quy định về chiếm hữu ngay tình, suy đoán chiếm hữu ngay tình, suy đoán có quyền, quy định về chiếm hữu liên tục, chiếm hữu công khai… có ảnh hưởng trong việc quy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu Theo đó, vấn đề chiếm hữu theo thời hiệu sẽ xuất phát từ việc chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai… 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản…

- Quy định về bảo vệ chiếm hữu và bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản có mối liên hệ mật thiết với nhau Giờ đây, việc tự bảo vệ và khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền

sở hữu không chỉ là câu chuyện riêng của chủ sở hữu, mà còn có quyền bảo vệ của người chiếm hữu tài sản Do đó, khi quy định về vấn đề bảo vệ chiếm hữu, bảo vệ quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản cần được đặt trong mối liên hệ tương quan giữa hai trường hợp này

4.3 Ảnh hưởng đối với các quy định chung về nghĩa vụ và hợp đồng

- Việc xác định chiếm hữu được suy đoán là người có quyền dẫn đến việc người chiếm hữu có thể dùng tài sản đang được chiếm hữu để làm vật bảo đảm trong các giao dịch bảo đảm Trường hợp giao dịch bảo đảm vô hiệu thì có thể xem xét bảo

vệ quyền lợi của người nhận bảo đảm ngay tình hay không? Hay khi xử lý tài sản bảo đảm mà có sự tranh chấp với người thứ ba ngay tình hoặc với chủ sở hữu, người có quyền thật sự đối với tài sản… là những vấn đề đặt ra để nghiên cứu và giải quyết một cách hợp lý

- Khi người chiếm hữu tài sản sử dụng tài sản đang bị chiếm hữu để xác lập các giao dịch hợp đồng liên quan, như mua bán, cho thuê, gửi giữ, vận chuyển, sửa chữa, ủy quyền quản lý v.v thì cũng cần tính đến các điều kiện cần thiết để công nhận hiệu lực của các hợp đồng, khả năng chuyển nhượng tài sản chiếm hữu và bảo đảm tính liên tục của thời hiệu hưởng quyền đối với tài sản, hoặc các cơ sở pháp lý cần thiết để xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu…

- Vấn đề thực hiện quyền kiện đòi lại tài sản bị chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, xử lý hoa lợi, lợi tức phát sinh sau khi tài sản bị chủ sở hữu đòi lại, vấn đề người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đã đầu tư chi phí bảo quản, làm tăng giá trị tài sản… cũng cần được đặt trong những quy định có thay đổi tương ứng về chiếm hữu

4.4 Ảnh hưởng của quy định về chiếm hữu đến các chế định khác trong Bộ luật Dân

sự năm 2015

- Pháp luật về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra có nhiều điểm liên quan đến trách nhiệm bồi thường của chủ thể Trong nhiều trường hợp, nếu tài sản đang

Trang 22

thuộc quyền quản lý của chủ sở hữu mà gây thiệt hại, thì chủ sở hữu là người chịu trách nhiệm bồi thường Vấn đề đặt ra là, khi tài sản đang nằm trong sự chi phối, kiểm soát của người quản lý tài sản hay người thực tế chiếm hữu tài sản, thì ai chịu trách nhiệm bồi thường? Khi xác định trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này, cần phải giải thích hợp lý thế nào là người “chiếm hữu” đối với tài sản? Từ đó, xác định đúng cơ sở pháp lý cho việc phân định trách nhiệm bồi thường giữa chủ sở hữu với trách nhiệm bồi thường của người chiếm hữu

- Đối với chế định thừa kế, việc chiếm hữu sẽ làm phát sinh nhiều hệ quả liên quan đến việc xác định di sản do người chết để lại có bao gồm cả tài sản mà người để lại di sản đang chiếm hữu hay không? Nếu trong khối di sản để lại bao gồm cả tài sản

mà người chết đang thực tế chiếm hữu thì xác định di sản như thế nào? Thời điểm chuyển giao việc chiếm hữu, hệ quả pháp lý của việc chuyển giao chiếm hữu, tính liên tục về thời hiệu hưởng quyền khi tài sản chiếm hữu được chuyển giao thông qua thừa kế ra sao? Ngoài ra, vấn đề xử lý lý di sản hết thời hiệu khi di sản đang được quản lý bởi người chiếm hữu ngay tình thì giải quyết như thế nào v.v.?

5 Một số vấn đề pháp lý đặt ra từ việc thừa nhận, quy định và bảo vệ chiếm hữu tài sản

5.1 Những mâu thuẫn nội tại trong quy định về chiếm hữu

- Một là, khái niệm chiếm hữu còn chưa nhất quán với bản chất chiếm hữu và các quy định liên quan Theo quy định tại khoản 1 Điều 179: “Chiếm hữu là việc chủ

thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền

đối với tài sản” Theo nghĩa này, thì chiếm hữu là một hoàn cảnh thực tế, độc lập với quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và các quyền khác đối với tài sản Cũng theo đó, quy định sẽ “loại trừ” khỏi danh sách của sự chiếm hữu: chủ sở hữu đang chiếm hữu, người chiếm hữu theo ý chí của chủ sở hữu hoặc quy định của pháp luật Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 179, thì có hai loại chiếm hữu là chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải chủ sở hữu Có thể thấy quy định này đã mâu thuẫn với chính khái niệm chiếm hữu nêu trên Ngoài ra, theo một tác giả, quy định này cũng ảnh hưởng tiêu cực đến các trường hợp áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do tài sản gây ra, nhất là trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản, nguồn nguy hiểm cao độ đã giao cho người khác “chiếm hữu”, trong người người được giao chiếm hữu tài sản không phải là chiếm hữu tài sản „như chủ thể có quyền‟.11

11 Đỗ Văn Đại (Cb), Bình luận khoa học về những điểm mới của BLDS 2015, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, năm

2015, tr 129

Trang 23

18

- Hai là, các quy định liên quan đến chiếm hữu ngay tình, chiếm hữu không ngay tình, chiếm hữu liên tục, chiếm hữu công khai và việc suy đoán chiếm hữu ngay tình có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, như pháp luật thực định chưa cho thấy sự “gắn kết” có tính hệ thống và mối liên hệ logic giữa các quy định này Để đảm bảo tính nhất quán giữa các quy định này, thiết nghĩ cần chỉnh sửa lại nội dung của các quy định liên quan tại Điều 180, 181, 182, 183 và khoản 1 Điều 184 BLDS 2015

- Ba là, xem xét lại quy định tại khoản 2 Điều 184 khi quy định về việc suy

đoán có quyền: “Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền”, vì quy định này chưa

đảm bảo logic Thực tế, người chiếm hữu một tài sản thì được suy đoán là người có quyền, mà không cần có việc tranh chấp về quyền đối với tài sản hay không Do đó, người chiếm hữu phải được suy đoán là người có quyền cho dù là trong hoàn cảnh bình thường hay khi tài sản bị tranh chấp Thiết nghĩ quy định này cần được sửa lại theo hướng đó để có tính khái quát cao hơn

5.2 Một số vấn đề pháp lý khác trong các quy định khác có liên quan đến chiếm hữu

- Một là, quy định về tính liên tục của thời hiệu hưởng quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 153 BLDS 2015: khi việc hưởng quyền [miễn trừ nghĩa vụ] được chuyển giao hợp pháp cho người khác Quy định đòi hỏi chuyển giao hợp pháp đặt ra nhiều vấn đề: (i) chuyển giao này có bao gồm cả việc để lại thừa kế hay không (vì pháp luật thừa kế không có quy định về thừa kế chiếm hữu do chiếm hữu không phải

là một quyền pháp lý, mà chỉ là một tình trạng thực tế khách quan); (ii) yêu cầu hợp pháp này được hiểu như thế nào, khi mà tài sản đang chiếm hữu không phải là tài sản hợp pháp của bên chuyển nhượng, và tất nhiên việc chuyển giao sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng không hợp pháp do thiếu những điều kiện cần thiết về tài sản chuyển nhượng (ví dụ thiếu giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu để đủ điều kiện giao dịch), hoặc thiếu điều kiện về chủ thể (có tư cách để giao dịch), điều kiện về hình thức (nếu pháp luật có quy định bắt buộc về hình thức)?

- Hai là, quy định về bảo vệ chiếm hữu cần được đặt trong mối liên hệ mật thiết với quy định về bảo vệ quyền sở hữu Vấn đề bảo vệ chiếm hữu theo Điều 185 chưa có sự kết nối và chưa phân lập rõ ràng với quy định về bảo vệ quyền sở hữu Qua quy định về hai nội dung này, chúng ta chưa thể biết được là, người chiếm hữu nào thì có quyền bảo vệ chiếm hữu, trường hợp nào thì không; và một khi chủ thể kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, nhưng không đòi được tài sản… thì hệ quả có làm cho người chiếm hữu trở thành chủ sở hữu, hay chỉ đơn giản là bị bác đơn kiện

và bảo vệ nguyên trạng sự chiếm hữu? Bởi lẽ, trên thực tế, đã có trường hợp nguyên

Trang 24

đơn kiện đòi lại tài sản từ bị đơn là người chiếm hữu Nguyên đơn thắng kiện, được công nhận quyền sở hữu và bản án đã được thi hành, tài sản đã được giao cho nguyên đơn làm chủ Sau đó, bản án bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm để xử lại theo thủ tục chung, thì nguyên đơn rút đơn kiện, Tòa cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ vụ án, nhưng tài sản thì vẫn trong tay của người kiện nhưng đã rút đơn Vấn đề là, hậu quả pháp lý của tài sản trong trường hợp này sẽ được giải quyết như thế nào?12

- Ba là, quy định về quyền đòi lại tài sản của người chiếm hữu chưa tương thích với quy định về quyền đòi lại hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản Ngoài ra, khi quy định người chiếm hữu được đòi tài sản bị xâm phạm nhưng chưa giải quyết toàn diện vấn đề chủ sở hữu tài sản đòi lại tài sản bị chiếm đoạt, cũng như quyền đòi lại tài sản của những người chiếm hữu khác không phải là chủ sở hữu, nhưng họ là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật???

- Bốn là, quy định về chiếm hữu tài sản và điều kiện về chiếm hữu tài sản (nguồn nguy hiểm cao độ) để tự người chiếm hữu tài sản phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường là chưa tương thích với nhau…

6 Kết luận

Chiếm hữu là một hiện tượng khách quan, một sự kiện thực tế, chứ không phải

là một sự kiện pháp lý, một hành vi pháp lý hay một quyền hợp pháp Khi xem xét hiệu lực của chiếm hữu, người ta không cần xem xét nguồn gốc của sự chiếm hữu là

có căn cứ hay không có căn cứ, mà chỉ cần xác định việc chiếm đó có diễn ra trên thực tế hay không Do đó, có thể nói, sự kiện thực tế này là tiền đề để pháp luật thừa nhận và bảo vệ việc chiếm hữu Có thể nói, pháp luật thừa nhận và bảo vệ sự chiếm hữu không chỉ thuần túy duy trì trật tự xã hội, mà xa hơn là để điều chỉnh lợi ích khi

có sự xung đột quyền lợi giữa người chiếm với chủ sở hữu đích thực của tài sản, hoặc

để tính đến khả năng xác lập quyền của người chiếm hữu khi đủ các điều kiện nhất định Tuy vậy, vấn đề chiếm hữu không chỉ là một quy định độc lập, tách biệt mà có

12

Trong thực tiễn, đã có nhiều vụ Tòa án đưa ra phán quyết hoặc giữ nguyên tình trạng chiếm hữu (Quyết định

số 138/2013/DS-GĐT – HĐTP ngày 11/11/2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, hủy bản án phúc thẩm

số 209/2010/DS-PT ngày 24/9/2010 và bản án dân sự sơ thẩm số 1048/2009/DS-ST ngày 29/4/2009; giao cho TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo hướng nếu đơn kiện bị bác, thì bị đơn cũng không đương nhiên được thừa nhận là có quyền sở hữu), nhưng cũng có phán quyết lại đưa ra hướng giải quyết, buộc các bên đều phải có nghĩa vụ chứng minh quyền của mình; nếu cả nguyên đơn và bị đơn không ai chứng minh thuyết phục, thì vẫn có thể công nhận quyền của nguyên đơn, theo hướng chia đôi quyền sở hữu tài sản tranh chấp (xem Quyết định giám đốc thẩm số 24/2014/DS-GĐT (HĐTP) ngày 11/11/2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xử hủy bản án phúc thẩm số 209/2010/DS-PT ngày 24/9/2010 và bản án dân sự sơ thẩm số 1048/2009/DS-ST ngày 29/4/2009; giao cho TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo hướng nếu

cả hai bên đều không chứng minh được có tài sản chung hay không, và nếu có thì tỷ lệ bao nhiêu, thì Tòa cần xem là các bên có quyền sở hữu chung và tỷ lệ mỗi bên được hưởng ½ giá trị tài sản)

Trang 25

20 liên quan mật thiết với các quy định khác Việc nhận thức, áp dụng và hoàn thiện quy định này cần được đặt trong mối liên hệ biện chứng với các quy định có liên quan

Trang 26

NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI TÀI SẢN VÀ ẢNH

HƯỞNG ĐẾN MỘT SỐ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN

Nguyễn Nhật Thanh *

Dẫn nhập

Quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực dân sự vốn rất đa dạng, phong phú và phát triển liên tục với nhiều sự thay đổi theo thời gian, được điều chỉnh không chỉ bởi Bộ luật dân sự mà còn bởi nhiều luật chuyên ngành khác Vì vậy, để quyền dân sự của các chủ thể được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện thì đòi hỏi phải có sự đồng bộ, thống nhất của cả hệ thống pháp luật “tư”, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của

Bộ luật dân sự Bộ luật này không chỉ đóng vai trò là bộ luật nền, có tính định hướng cho việc hình thành và phát triển của toàn bộ hệ thống pháp luật dân sự mà còn là cơ

sở pháp lý để giải quyết các quan hệ dân sự trong trường hợp không có quy định của luật chuyên ngành Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015) được quốc hội thông qua ngày 24/11/2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2017 đã thay thế Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005) với nhiều quy định mới sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ các quy định trong BLDS 2005 Những sự thay đổi này tất yếu sẽ tác động không nhỏ đến các pháp luật liên quan và trong nhiều trường hợp sẽ là cơ sở cho các thay đổi trong tương lai của pháp luật liên quan

Những quy định về tài sản đã có sự dịch chuyển về mặt vị trí trong BLDS

2015 so với BLDS 2005 Trước đây, theo bố cục của BLDS 2005, mục “Tài sản” nằm

trong Phần thứ hai quy định về Tài sản và quyền sở hữu Ngày nay, theo bố cục của

BLDS 2015, mục quy định về “Tài sản” đã được chuyển sang Phần thứ nhất về “Quy định chung” Sở dĩ có sự dịch chuyển là vì những quy định trong mục “Tài sản” này không chỉ đơn thuần áp dụng cho các quy định về quyền sở hữu mà còn được áp dụng phổ biến ở các phần khác như “Hợp đồng” “Thừa kế”, “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Chính vì thế những thay đổi trong khái niệm và phân loại tài trong trong mục này sẽ có ý nghĩa tác động lớn hơn đối với các pháp luật liên quan So với BLDS

2005 đối với quy định về tài sản và phân loại tài sản, BLDS 2015 đã có hai sự thay đổi lớn về quy định quyền tài sản (Điều 115) và hai dạng tài sản là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai (Điều 105, Điều 108) Bài viết sẽ tập trung phân tích những ảnh hưởng của sự thay đổi này đến một số pháp luật liên quan

1 Quyền tài sản trong BLDS 2015 và sự tác động đến một số pháp luật liên quan

Quyền tài sản là một dạng tài sản và có quy định đặc thù trong BLDS 2005

Cụ thể, theo Điều 181 BLDS 2005, “quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và

* Thạc sĩ luật học, Giảng viên Trường đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh

Trang 27

22

có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Điều 181 BLDS 2005 quy định một trong những điều kiện để trở thành quyền tài sản thì đối tượng đó phải có khả năng chuyển giao trong giao dịch dân sự Điều này dẫn đến nhiều quyền có giá trị về vật chất nhưng pháp luật có những quy định không cho phép chuyển giao (như quyền mua nhà ở tái định cư) hoặc quyền đòi bồi thường do xâm phạm tới yếu tố nhân thân nên gây ra những khó khăn cho việc áp dụng pháp luật Quy định này đã mở rộng hơn nội hàm của tài sản nói chung và quyền tài sản nói riêng và kéo theo đó sẽ là những tác động đến một số pháp luật liên quan, cụ thể:

Thứ nhất, cơ sở tiền đề để thừa nhận tính tài sản của một số đối tƣợng

Mở rộng nội hàm của quyền tài sản sẽ là cơ sở pháp lý tiền đề cho một số đối tượng hiện nay mặc dù có giá trị trên thực tế nhưng do đặc thù nên pháp luật không cho phép chuyển giao trên thực tế và vì thế các đối tượng này không được coi là tài sản, khi bị xâm phạm thì cách thức pháp luật bảo vệ của người có quyền là rất hạn chế Ví dụ: tài sản “ảo” trên mạng internet nói chung và tài sản “ảo” trong trò chơi trực tuyến nói riêng hiện nay khá phổ biến trên thực tế, đem lại những lợi ích không chỉ về tinh thần mà còn những giá trị lợi ích về vật chất Tuy nhiên, vì tính chất đặc thù nên pháp luật hiện hành lại có những quy định không cho phép chuyển giao những đối tượng này và kèm theo đó là sự “bác bỏ” giá trị tài sản của nó13

Hay như đối với quyền mua nhà tái định cư hiện nay trên thực tế đã và đang diễn ra khá phổ biến Tuy nhiên, dưới góc nhìn về tài sản theo BLDS 2005 thì quyền được mua suất nhà tái định cư hiện hay không được xem là quyền tài sản vì pháp luật không cho phép chủ thể có quyền này được phép chuyển nhượng cho chủ thể khác

Vì vậy, khi có những xâm phạm đến quyền mua nhà tái định cư thì người có quyền không được bảo vệ như đối với tài sản bị xâm phạm Tuy nhiên, sự mở rộng nội hàm trong khái niệm quyền tài sản là cơ sở tiền đề để những xâm phạm đối với loại quyền này được bảo vệ bằng các phương thức bảo vệ quyền sở hữu mà không lo đến khả năng chuyển giao của nó

Khi BLDS 2005 còn có hiệu lực thì một số đối tượng mặc dù không hội đủ có điều kiện để được xem là quyền tài sản nhưng trên thực tiễn nhiều Tòa án vẫn theo hướng ghi nhận và bảo vệ nó như đối với tài sản Ví dụ, A bị xâm phạm tới danh dự nhưng chưa kịp yêu cầu bồi thường thì chết Theo BLDS 2005 (khoản 1 Điều 309) cũng như BLDS 2015 (Điều 396), quyền yêu cầu bồi thường này không thể được chuyển giao: “Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thoả thuận, trừ trường hợp sau đây: Quyền yêu

13 Khoản 4 Điều 7 của Thông tư số 24/2014/TT-BTTTT khẳng định “Vật phẩm ảo, đơn vị ảo, điểm thưởng chỉ

được sử dụng trong phạm vi trò chơi điện tử và theo đúng mục đích mà doanh nghiệp đã báo cáo Vật phẩm

ảo, đơn vị ảo, điểm thưởng không phải là tài sản, không có giá trị quy đổi ngược lại thành tiền, thẻ thanh

toán, phiếu thưởng hoặc các hiện vật có giá trị giao dịch bên ngoài trò chơi điện tử.” và khoản 5 Điều 7 cũng

quy định “Không mua, bán vật phẩm ảo, đơn vị ảo, điểm thưởng giữa những người chơi với nhau”

Trang 28

cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín” Do các quyền này không thể được chuyển giao nên, theo quy định của BLDS 2005, không thể là quyền tài sản và, do đó, không thể là tài sản theo quy định ở đoạn trên Và vì không là tài sản nên, theo quy định của BLDS

2005, chúng ta không có cơ sở để coi đây là di sản Tuy nhiên, để bảo vệ người thừa

kế cũng như để buộc người chịu trách nhiệm bồi thường, Tòa án vẫn cho phép những người thừa kế yêu cầu bồi thường14

(tức coi quyền bồi thường là di sản nên là tài sản) Hơn nữa, có những thứ không bao giờ được chuyển giao nhưng vẫn là tài sản như đất đai (theo BLDS 2005 là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và không thể được chuyển giao vì chỉ Nhà nước mới là chủ sở hữu) nên việc đưa thêm điều kiện trên là không thuyết phục, có sự nhầm lẫn giữa khái niệm tài sản (thế nào là tài sản) và cơ chế điều chỉnh tài sản (một khi là tài sản thì có được chuyển giao hay không)

Thứ hai, sự tác động đến pháp luật bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản Sự mở rộng nội hàm của quyền tài sản kéo theo việc mở rộng các đối

tượng thuộc phạm vi mở rộng được bảo vệ theo chế định bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản Tất nhiên, theo việc được bảo vệ theo chế định bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho chủ thể có quyền khi tài sản của mình bị xâm phạm Chủ sở hữu có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.15

Ngoài ra, khoản 2 Điều 155 BLDS 2015 quy định các yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện

Ngoài ra, Điều 115 BLDS 2015 khẳng định quyền sử dụng đất là quyền tài sản

và đây là điểm mới so với quy định tại Điều 181 BLDS 2005 Thực ra, việc BLDS

2015 coi quyền sử dụng đất là quyền tài sản không thực sự mới so với BLDS 2005

Bởi lẽ, Điều 322 BLDS 2005 về Quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đã liệt kê quyền sử dụng đất trong những quyền tài sản nên đã coi quyền sử

dụng đất là quyền tài sản Điểm mới ở đây là BLDS 2015 ghi nhận một cách rõ ràng trong quy định chung, chứ không ghi nhận trong một chế định cụ thể giống như BLDS 200516

Chúng ta biết là bên cạnh “quyền tài sản” như đã trình bày ở trên, BLDS 2005 và BLDS 2015 đều ghi nhận

“vật” là một dạng tài sản (bên cạnh tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản) Dự thảo trình Quốc hội thông qua năm 2015 muốn làm rõ cả khái niệm “vật” như đối với khái niệm “quyền tài sản”, Cụ thể, Dự thảo đã theo hướng “Vật được định hình ở dạng thể rắn, thể lỏng, thể khí và các dạng khác mà con người có thể nắm giữ,

Trang 29

24

2 Tài sản hiện có, hình thành trong tương lai và sự tác động đến một

số pháp luật liên quan

Trong khoản 2 Điều 105 BLDS 2015 có thêm quy định về loại tài sản, theo đó: “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” Kế tiếp, Điều 108 BLDS 2015 quy định “tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch” (khoản 1) và

“tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: a) Tài sản chưa hình thành; b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch” (khoản 2)

Sự tác động đến pháp luật liên quan đến các biện pháp bảo đảm Thực ra,

loại tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai đã manh nha tồn tại trong BLDS 2005 Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng BLDS 2005 chỉ có một vài quy định đơn

lẻ ghi nhận các tài sản hình thành trong tương lai trong phần “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” như khoản 2 Điều 32017, khoản 1 Điều 34218, khoản 6 Điều 35119BLDS 2005 Tuy nhiên, BLDS 2005 vẫn không có bất kỳ quy định nào khái niệm tài sản hình thành trong tương lai Vì thế, khoản 2 Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 11/2012/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm đã quy

định “Tài sản hình thành trong tương lai gồm:

a) Tài sản được hình thành từ vốn vay;

b) Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm;

c) Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật

Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất.”

Như vậy, có thể thấy khái niệm về tài sản hình thành trong tương lai trong BLDS 2015 rộng hơn so với các quy định về tài sản hình thành trong tương lai của BLDS 2005 Với quy định tại BLDS 2015 thì việc không coi quyền sử dụng đất có

chi phối” Tuy nhiên, trong quá trình chỉnh lý Dự thảo tại Quốc hội, quy định này không được giữ lại vì mang nhiều tính “giáo trình” và không lý giải được một số tài sản như điện: Điện bán được nên là tài sản nhưng không là “tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” và rất khó được coi là “vật” theo nội hàm đề xuất trên

17 Khoản 2 Điều 320 BLDS 2005: “Vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết.”

18 Khoản 1 Điều 342 BLDS 2005: “ Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai”

19 Khoản 6 Điều 351 BLDS 2005: “Giám sát, kiểm tra quá trình hình thành tài sản trong trường hợp nhận thế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lai”

Trang 30

thể là tài sản hình thành trong tương lai là không còn phù hợp Trong trường hợp tài sản hình thành trong tương lai là đất, tài sản gắn liền với đất: tùy từng trường hợp cụ thể mà giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng có thể là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà nhưng cũng có thể là hợp đồng góp vốn, quyết định giao thuê đất

Sự bổ sung quy định theo hướng mở rộng về tài sản hình thành trong tương lai tại Điều 108 BLDS 2015 sẽ kéo theo việc thay đổi của pháp luật liên quan tài sản hình thành trong tương lai trong giao dịch bảo đảm Sẽ có nhiều hơn những đối tượng được coi là tài sản hình thành trong tương lai trong giao dịch bảo đảm nhưng cũng kéo theo đó là những thách thức đáng kể Bởi lẽ, với quy định về tài sản hình thành trong tương lai tại khoản 2 Điều 108 BLDS 2015, chúng ta thấy dường như sự mở rộng loại hình tài sản này có vẻ hơi quá mức cần thiết khi không hề có bất kỳ điều kiện nào để xác định giới hạn cho tài sản hình thành trong tương lai Điều này tạo tự

do nhưng sẽ gây khó khăn cho các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự trong việc xác định liệu một đối tượng có khả năng được coi là tài sản hình thành trong tương lai hay không khi khả năng tài sản này được hình thành trong tương lai là không cao Về chủ đề này, chúng tôi cho rằng cần phải có những văn bản hướng dẫn cụ thể điều kiện

để xác định các loại tài sản hình thành trong tương lai

Sự tác động đến pháp luật bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

Việc đưa hai loại tài sản này vào phần Những quy định chung là thuyết phục, đảm bảo tính khái quát cũng như phạm vi áp dụng của các loại tài sản này BLDS 2005 không quy định về phân loại tài sản hình thành trong tương lai trong các quy định về tài sản mà chỉ quy định manh nha ở phần liên quan đến giao dịch bảo đảm Chính vì thế việc xác định một đối tượng có là tài sản hình thành trong tương lai để áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu lại phụ thuộc vào các văn bản pháp luật khác có ghi nhận đó là tài sản hình thành trong tương lai hay không Ví dụ: khoản 19 Điều 3

Luật Nhà ở 2015 quy định: “Nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng.”

Ngoài ra, trước đây BLDS 2005 có xu hướng đề cập đến tài sản hình thành trong tương lai là Vật20

mà không phải là tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Cũng chính quy định tại khoản 2 Điều 230 BLDS 2005 mà Nghị định 163/2006/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 11/2012/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm đã quy định không coi quyền sử dụng đất – một loại quyền tài sản có thể là tài sản hình thành trong tương lai Tuy nhiên, BLDS 2015 đã không còn giới hạn tài sản hình thành

20 Khoản 2 Điều 320 BLDS 2005 quy định: “Vật dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có

hoặc được hình thành trong tương lai Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”

Trang 31

26

trong tương lai ở Vật nữa mà đã mở rộng đối với tài sản nói chung Điều này cho thấy nhiều đối tượng hơn như tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản mà đáp ứng được các điều kiện tại khoản 2 Điều 108 BLDS 2015 được coi là tài sản dưới dạng tài sản hình thành trong tương lai Đồng nghĩa với việc khi có hành vi xâm phạm đến các đối tượng này thì chủ thể có quyền có thể được bảo vệ bằng các biện pháp bảo vệ quyền

sở hữu, quyền khác đối với tài sản trong pháp luật dân sự

Tóm lại: những thay đổi trong khái niệm và phân loại tài sản của BLDS 2015

theo hướng mở rộng hơn nội hàm của tài sản Điều này đã góp phần làm tăng các giao lưu dân sự liên quan đến tài sản cũng như tạo hành lang pháp lý để các chủ thể

có quyền đối với tài sản bảo vệ quyền lợi tốt hơn khi tài sản bị xâm phạm

Trang 32

QUYỀN VỀ LỐI ĐI QUA THEO BLDS VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC

CHẾ ĐỊNH, NGÀNH LUẬT KHÁC CÓ LIÊN QUAN

Nguyễn Tấn Hoàng Hải * Dẫn nhập

Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế

xã hội cũng như trong pháp luật dân sự Nó là một trong những tiền đề vật chất cho

sự phát triển kinh tế, vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản

Về nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt số phận thực tế hay số phận pháp

lý tài sản của mình Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhằm bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu và lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của người khác, quyền định đoạt có thể bị hạn chế theo những điều kiện cụ thể do pháp

luật quy định Cụ thể, trên thực tế, do vị trí tự nhiên hoặc do sự phân chia bất động

sản trong quá trình chuyển dịch quyền sở hữu, quyền sử dụng có rất nhiều trường hợp bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau Chủ sở hữu bất động sản, người có quyền sử dụng sẽ rất khó khăn trong việc khai thác, sử dụng bất động sản, thậm chí không thể sử dụng các bất động sản bị vây bọc đó nếu

không có sự can thiệp của pháp luật Vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 (“BLDS năm 2005”) cũng như Bộ luật Dân sự năm 2015 (“BLDS năm 2015”) quy định trong

những trường hợp đó, chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc có quyền yêu cầu một trong các chủ sở hữu bất động sản vây bọc thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của họ

mà trong số đó là nhu cầu có lối đi qua bất động sản vây bọc Đây là một vấn đề hết sức nhạy cảm bởi lẽ việc mở một lối đi ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của các chủ sở hữu, nó không chỉ tác động trực tiếp đến quyền lợi của chủ bất động sản vây bọc với việc mất diện tích đất mà còn ảnh hưởng thường xuyên, liên tục đến cuộc sống cũng như điều kiện kinh doanh, sản xuất của họ trong suốt quá trình tồn tại lối

đi BLDS năm 2015 cũng đã có rất nhiều sự thay đổi liên quan đến quy định này, không những vậy những sự thay đổi này còn tác động đến không chỉ quyền sở hữu đối với loại tài sản này mà còn tác động đến các luật khác có liên quan Trong phạm

vi bài viết này tác giả chủ yếu tập trung vào sự ảnh hưởng của quyền về lối đi qua đến quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản là bất động sản vây bọc cũng như sự ảnh hưởng đến luật đất đai

* Giảng viên Trường đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh

Trang 33

28

1 Quy định pháp luật về quyền về lối đi qua

1.1 Theo quy định BLDS năm 2005 21

Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề là một trong những quyền quan trọng nhất đối với quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề theo quy định của BLDS năm 2005 Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới không định nghĩa quyền về lối đi qua bất động sản liền kề mà chỉ quy định những căn

cứ, điều kiện, quyền và nghĩa vụ cụ thể của chủ thể Theo đó, quyền về lối đi qua bất động sản liền kề là quyền của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc sử dụng phần diện tích trên bất động sản liền kề để đi vào bất động sản của mình Quyền này chỉ là quyền sử dụng một cách hạn chế trên tài sản của người khác Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc có quyền sử dụng lối đi, nhưng quyền này không làm mất quyền năng

sở hữu của chủ sở hữu bất động sản liền kề Người này vẫn có quyền trên tài sản của mình Lối đi tạo lập trên bất động sản của chủ sở hữu, người sử dụng liền kề làm cho người này phải tự hạn chế những quyền năng nhất định trên tài sản nhưng điều đó không làm mất đi quyền sở hữu, sử dụng của họ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 275 BLDS năm 2005, chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không

có thỏa thuận khác Điều luật quá ngắn gọn và có nhiều điểm bất hợp lý, do đó khi áp

dụng trên thực tế đã xuất hiện nhiều bất cập, hạn chế, gây khó khăn cho quá trình giải quyết tranh chấp Những bất cập đó có thể được kể đến như:

(i) Thứ nhất, khái niệm bất động sản liền kề

Theo quy định tại khoản 1 Điều 275 BLDS năm 2005, để mở lối đi thì “chủ sở

hữu bất động sản bị vây bọc… có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất

21 Ðiều 275 Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

1 Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra,

có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ

sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thỏa thuận khác

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có

mở lối đi

2 Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định

3 Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Ðiều này mà không có đền

Trang 34

động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó …” Mặc dù BLDS năm 2005 không quy định

một khái niệm cụ thể về bất động sản liền kề Thế nhưng, theo từ điển Tiếng Việt phổ

thông: “liền” là “Ở kề, sát ngay, không cách”22; “kề” là “Ở vào hoặc làm cho vị trí rất gần, không còn hoặc coi như không có khoảng cách”23 Tức là những bất động sản ở ngay cạnh bên nhau có chung với nhau một ranh giới Bất động sản liền kề có thể được hiểu là những bất động sản có chung nhau ranh giới Theo cách định nghĩa của

thuật ngữ pháp lý phổ thông, đất liền kề là: “Khu đất liền nhau, tiếp nối nhau với khu đất đã được xác định”24

Như vậy, bất động sản liền kề “được hiểu là bất động sản có sự tiếp giáp nhau về ranh giới giữa các bất động sản”25 Phải xác định được bất động sản liền kề mới biết được bất động sản phải hạn chế quyền để phục vụ cho một bất động sản khác

Tuy nhiên, yếu tố liền kề không nên được hiểu theo một cách máy móc, rập

khuôn, “liền kề” phải là bất động sản có chung ranh giới như cách hiểu nêu trên Bởi

lẽ trong quá trình khai thác, sử dụng bất động sản bị vây bọc không chỉ cần đến sự nhượng quyền của bất động sản có chung ranh giới mà còn có cả những bất động sản khác Đó là những bất động sản tiếp nối với bất động sản liền kề Chúng ta nhận thấy rằng, để một bất động sản bị vây bọc có thể thông thương với đường công cộng cần phải có một lối đi Lối đi này có thể không chỉ đi xuyên qua một mà còn có thể qua nhiều bất động sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau Trong khi đó, bất động sản bị vây bọc chỉ giáp ranh với một bất động sản Nghĩa là, sẽ có những bất động sản không liền kề nhưng vẫn phải hạn chế quyền để tạo lập lối đi Bởi vì, từ bất động sản

bị vây bọc để có thể đi ra đến đường công cộng nhất thiết phải đi qua những bất động sản này Nếu quyền về lối đi chỉ được áp dụng trên bất động sản liền kề thì sẽ gây ra khó khăn, bất cập, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất trong thực tiễn26 Thậm chí còn có rất nhiều vụ án mà đồng nguyên đơn khởi kiện mở lối đi nhưng thực

22

Viện Ngôn ngữ (2010), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Thanh Niên, Hà Nội, tr 508

23 Viện Ngôn ngữ (2010), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Thanh Niên, Hà Nội, tr 520

24 Nguyễn Ngọc Điệp (2009), 3450 Thuật ngữ pháp lý phổ thông, NXB Giao thông vận tải, tr 219

25 Phạm Công Lạc (2006), Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 56

26

Theo Bản án số 454/2007/DS-PT ngày 14/06/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang: Đất của anh Thuận nằm ở phía ngoài và giáp đường công cộng, đất của ông Trọng nằm phía trong và cách đất anh Thuận một con kinh Trước đây anh Thuận cho ông Trọng đi qua đất của anh để ra đường công cộng nhưng nay anh không cho tiếp tục thực hiện lối đi này Ông Trọng yêu cầu tạo lập lối đi Vấn đề đặt ra là ông Trọng có quyền mở lối đi qua đất anh Thuận hay không khi đất của ông cách đất anh Thuận một con kinh? Trong vụ án này, phán quyết của Tòa sơ thẩm thì chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trọng buộc anh Thuận mở lối đi cho ông Trọng Tuy nhiên, Tòa phúc thẩm thì đảo ngược lại quyết định này khi cho rằng đất ông Trọng và đất anh Thuận không liền

kề nhau vì còn cách nhau một con kinh, nên anh Thuận không có nghĩa vụ mở lối đi cho ông Trọng

Trang 35

30

chất không phải tất cả các nguyên đơn và bị đơn đều có bất động sản liền kề27 Nhưng khi xét xử Tòa án mặc nhiên xem như đủ điều kiện để cho phép mở lối đi Vì vậy thông qua thực tiễn xét xử, Tòa án đã “mở rộng” thêm cách hiểu về yếu tố “liền kề”,

đó là ngoài bất động sản liền kề, trong quá trình sử dụng bất động sản bị vây bọc còn tác động lên những bất động sản khác chính là những bất động sản xung quanh

(ii) Thứ hai, các điều kiện được mở lối đi

Khoản 1 Điều 275 BLDS 2005 quy định: “Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng” Theo quy định này, chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc chỉ có thể

được yêu cầu hưởng quyền về lối đi qua khi thỏa mãn những điều kiện nhất định:

+ Điều kiện cần thiết đầu tiên đó chính là bất động sản phải “bị vây bọc” Tuy

nhiên, BLDS năm 2005 chưa làm rõ các tiêu chí của tình trạng này Một cách hợp lý, bất động sản chỉ được coi là bị vây bọc một khi nó không thể trực tiếp thông thương với đường công cộng hoặc có nhưng lối thông thương quá nhỏ, không đủ để bảo đảm việc khai thác công dụng của bất động sản một cách bình thường

+ Điều kiện thứ hai là “không có lối đi” Không có lối đi được hiểu là không có

bất kì một lối đi nào Khi không có lối đi thì bất động sản đó không thể tiến hành khai thác, sử dụng được Chỉ khi nào chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc thực sự không có một lối đi nào thì mới có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản liền kề cho mở lối

đi Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp đã có lối đi nhưng lối đi này không thể đáp ứng yêu cầu đi lại, phục vụ khai thác sử dụng bất động sản bị vây bọc một cách bình thường (lối đi này không đủ hoặc lối đi quá khó khăn gây ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc) thì họ cũng nên được quyền yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề28 Nếu pháp luật chỉ quy định một cách cứng nhắc khi chỉ cho phép mở lối đi trong trường hợp không có bất kì một lối

đi nào là tạo ra khó khăn trên thực tiễn giải quyết tranh chấp và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc

27 Theo Quyết định số 466/2012/DS-GĐT ngày 21/09/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao: Đất của chị Nhỏ nằm ở phía ngoài sát đường đi công cộng Đồng nguyên đơn gồm 11 hộ ở phía trong Từ trước đến nay các hộ vẫn sử dụng lối đi có một phần diện tích ngang qua đất nhà chị Nhỏ Nay chị Nhỏ rào lại không cho đi Các hộ yêu cầu chị Nhỏ mở lối đi Trong tranh chấp này có 11 hộ yêu cầu tạo lập lối đi nhưng không đồng nghĩa 11 hộ này đều liền kề với đất của chị Nhỏ Vì: “Nằm dọc theo con đường có nhiều hộ nguyên đơn đất của gia đình chị Nguyễn Thị Bé Nhỏ nằm ngay đầu đường giáp với hộ Bà Huê” Như vậy, có những hộ yêu cầu tạo lập lối đi nhưng không liền kề, đây chỉ là những bất động sản xung quanh Tuy nhiên, Tòa án vẫn chấp nhận yêu cầu của các đồng nguyên đơn

28 Xem thêm Bản án số 481/2007/DS-PT ngày 07/9/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; Quyết định số 38/2010/DS-GĐT của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao ngày 18/08/2010

Trang 36

Nếu so sánh với các quy định tại Điều 682 BLDS Pháp29; Điều 620 BLDS Bắc

Kỳ30; Điều 420 BLDS Sài Gòn31, thì quy định tại khoản 1 Điều 275 BLDS năm 2005

có nội dung “hẹp hơn” Sự “hẹp hơn” này được thể hiện ở chỗ khoản 1 Điều 275 BLDS năm 2005 chỉ quy định được quyền yêu cầu “có lối đi ra” đến đường công cộng khi “không có lối đi” mà không quy định trường hợp “không đủ lối đi” Điều đó

có nghĩa là theo quy định tại Điều 275 BLDS năm 2005 thì khi “đã có lối đi” ra

đường công cộng, thì không có quyền yêu cầu bất cứ một ai dành cho lối đi nữa, bất

kể lối đi đã có không đủ hoặc lối đi này quá khó khăn để khai thác sử dụng bất động

bị vây bọc

(iii) Thứ ba, vấn đề đền bù

Việc tạo lập lối đi gây ra những phiền lụy, thiệt hại đối với chủ sở hữu bất động sản liền kề Chính vì vậy, khi được đáp ứng yêu cầu, người được tạo lập lối đi phải:

“đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề” Pháp luật quy định cho họ được hưởng

quyền từ việc nhận sự đền bù của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc Theo khoản 1 Điều 275 BLDS 2005 quy định: “Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công

cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thoả thuận khác”

Chúng ta nhận thấy rằng vấn đề đền bù và yêu cầu mở lối đi được quy định trong cùng một khoản nên đã dẫn tới thực trạng là người được yêu cầu buộc người yêu cầu đền bù trước khi mở lối đi Đây cũng là bất cập của quy định này cần phải được thay đổi cho phù hợp với thực tiễn

Không những vậy, mặc dù pháp luật quy định người được chấp nhận yêu cầu phải đền bù, nhưng không quy định đền bù như thế nào? Mức đền bù bao nhiêu? Nếu không đền bù thì có được hay không? Thực tiễn xét xử cho thấy thông thường, Tòa

án tuyên chủ sở hữu bất động sản liền kề phải dành cho người có bất động sản bị bao bọc bởi bất động sản khác lối đi hợp lý, nhưng về phần đền bù thì không đề cập đến

29Điều 682 BLDS Pháp quy định: “Chủ sở hữu một địa sản bị vây bọc không có hoặc không đủ lối đi ra

đường cái cần thiết cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại hoặc cho việc thực hiện công việc xây dựng, có quyền đòi những người hàng xóm dành cho mình một lối đi thỏa đáng trên phần đất của họ với điều kiện phải bồi thường tổn thất mình gây ra”

Điều 472 BLDS Sài Gòn quy định: “sở hữu chủ một địa sản bị vây bọc không có hoặc không đủ lối đi ra

công lộ hay thủy đạo cần cho sự khai thác địa sản của mình được quyền đòi các địa chủ lân cận để cho mình đi qua trên phần đất của họ, với điều kiện phải bồi thường thiệt hại gây ra”

Trang 37

hay là lối đi dành cho mục đích kinh doanh thương mại? Vì lối đi có bề ngang 2m phục vụ cho việc đi lại thông thường lại sẽ khác với lối đi 5m phục vụ cho việc vừa đi lại vừa kinh doanh thương mại BLDS năm 2005 không quy định rõ về vấn đề này, vì vậy “lối đi thuận tiện, hợp lý” trong trường hợp này chỉ có thể được hiểu là sử dụng cho việc đi lại sinh hoạt hằng ngày.34

Chính vì quy định không rõ ràng như vậy nên trên thực tế đã có những tranh chấp mà chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc muốn khai thác công năng sử dụng bất động sản của mình để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch

vụ nhưng không thể thỏa thuận với các chủ sở hữu bất động sản liền kề để mở một lối

đi rộng hơn, vì BLDS năm 2005 không quy định nghĩa vụ của chủ sở hữu bất động sản liền kề trong vấn đề này Hiện nay, các điều kiện kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi đáng kể, vượt bậc so với trước đây, cho nên việc quy định quyền có lối đi cho các

cơ sở sản xuất, kinh doanh là điều cần thiết, nhất là các vùng đất mới khai hoang, phục hóa, trong kinh tế trang trại Vì vậy cần phải quy định bổ sung quyền yêu cầu về lối đi cho chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc phải bảo đảm cả các nhu cầu sản xuất,

kinh doanh Hơn nữa “lối đi” theo quy định tại Điều 275 BLDS năm 2005 chỉ có thể

được hiểu là lối đi cho người mà không phải là các phương tiện giao thông vận tải,

gia súc và chỉ đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường mà không phải “hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại (Điều 682 BLDS Pháp); cho sự

32 Trần Duy Bình, “Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Bộ luật dân sự 2005 và kiến nghị hoàn thiện”, (xem tại: http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2013/01/10/mot-so-vuong-mac-trong-thuc-tien-p-dung-bo-luat- dn-su-nam-2005-v-kien-nghi-hoan-thien) (Truy cập ngày 12/01/2017)

33 Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện ngôn ngữ (2010), thì “lối đi” được hiểu là “khoảng đất hẹp

dùng để đi vào, ra một nơi nào đó, để đi lại từ nơi này đến nơi khác” Theo định nghĩa này, khái niệm lối đi có

diện tích nhỏ hơn so với đường đi vì đó chỉ là nơi thực hiện giao thông có diện tích “hẹp” Yếu tố hẹp có thể

được hiểu là vừa đủ để đáp ứng một cách thiết yếu nhất nhu cầu đi lại Trong khi đường đi không bị hạn chế bởi yếu tố này, đường đi có thể cho các loại phương tiện giao thông đi lại một cách dễ dàng, thuận tiện Tác giả

Phạm Công Lạc cũng cho rằng: “Lối đi là khoảng đất hẹp dùng để vào một nơi nào đó” Theo cách hiểu thông

thường, lối đi là một đường đi nhỏ phục vụ cho nhu cầu đi, lại Như vậy, lối đi được hiểu là một diện tích đất nhỏ, phục vụ nhu cầu đi lại một nơi nào đó

34 Nguyễn Thị Mân, “Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề - Thực trạng áp dụng pháp luật và hướng hoàn

thiện”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số (7)/ 2012, tr 29

Trang 38

kỉnh lý các việc công, nông (Điều 620 BLDS Bắc Kỳ); cần cho sự khai thác địa sản (Điều 472 BLDS Sài Gòn)”

(v) Thứ năm, về thay đổi hiện trạng lối đi

Lối đi là để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và khai thác, sử dụng bất động sản bị vây bọc, một khi lối đi đã được thiết lập mà diện tích không đủ để sử dụng một cách bình thường thì yêu cầu xin mở rộng là một việc làm cần thiết Nhu cầu xin thay đổi hiện trạng lối đi là đòi hỏi tất yếu từ những thay đổi của cuộc sống xã hội Tuy nhiên, trong các quy định của pháp luật chỉ mới dừng lại ở việc cho chủ thể quyền yêu cầu

mở lối đi mà không có quy định quyền xin thay đổi hiện trạng lối đi khi hiện trạng lối

đi không còn phù hợp với thực tế Đây là một quyền thiết yếu vì khi lối đi không còn hợp lý thì buộc phải có sự thay đổi cho phù hợp

(vi) Thứ sáu, Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề trong trường hợp bất động sản được phân chia thành nhiều thành phần mà có bất động sản bị vây bọc

Pháp luật cần quy định rõ quyền về lối đi qua bất động sản liền kề trong trường hợp phân chia bất động sản thành nhiều phần do mua bán, thừa kế… mà có bất động sản bị vây bọc thì lối đi được xác lập trong phạm vi bất động sản liền kề có cùng nguồn gốc hay với cả các bất động sản liền kề khác? Theo khoản 3 Điều 275 BLDS

năm 2005 quy định: “Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù” Quy định này

chỉ phù hợp trong trường hợp bất động sản bị phân chia (bất động sản gốc) sau khi phân chia còn quỹ đất để tạo lập lối đi Trường hợp ngược lại, bất động sản sau khi phân chia không còn quỹ đất để tạo lập lối đi, hay nói cách khác, nếu lối đi được tạo lập trên chính bất động sản gốc thì khi phân chia cho các chủ sở hữu, bản thân bất động sản này quá nhỏ không thể khai thác và sử dụng công năng của nó Nếu xét về mặt lý thuyết thì một bất động sản chỉ có giá trị khi có lối đi ra đường công cộng, nếu bất động sản bị vây bọc mà không có lối đi ra thì quyền về lối đi là quyền chính đáng đảm bảo khai thác công năng của bất động sản Nhưng bất động sản liền kề nào chịu

sự phiền lụy này? Pháp luật hiện hành chỉ quy định các bất động sản có cùng nguồn gốc phải có nghĩa vụ dành lối đi cho bất động sản phía trong khi phân chia mà không quy định nghĩa vụ này đối với các bất động sản liền kề khác

1.2 Theo quy định BLDS năm 2015 35

35

Điều 254 BLDS 2015 Quyền về lối đi qua

“1 Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối

đi hợp lý trên phần đất của họ

Trang 39

34

So với quy định tại Điều 275 BLDS năm 2005, Điều 254 BLDS năm 2015 đã có một số sự thay đổi cơ bản liên quan đến nội dung của điều luật này:

(i) Thứ nhất, thay đổi đầu tiên dễ nhận thấy nhất đối với điều luật này đó chính là

tên điều luật đã lượt bỏ đi cụm từ gây tranh cãi trong BLDS năm 2005 đó chính là

“bất động sản liền kề”; tên điều luật này hiện nay chỉ còn là “Quyền về lối đi qua”

và khoản 1 Điều 254 BLDS năm 2015 không còn quy định về nội dung “chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc… có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động

sản liền kề…” mà bỏ hẳn cụm từ “liền kề” và thay bằng cụm từ “vây bọc” Như vậy,

có thể nhận thấy, BLDS năm 2015 đã khắc phục được bất cập đầu tiên liên quan đến quyền về lối đi qua mà BLDS năm 2005 gặp phải đó chính là về “bất động sản liền kề” Với việc thay đổi này sẽ giúp cho chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc có thể yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc (có thể là chủ sở hữu của bất động sản liền kề hoặc trong quá trình khai thác, sử dụng bất động sản bị vây bọc còn có thể tác động lên không chỉ bất động sản liền kề mà còn lên chính những bất động sản khác đó là những bất động sản xung quanh)

(ii) Thứ hai, về điều kiện để mở lối đi được thay đổi theo hướng phù hợp với thực

tế cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi cho chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc được quyền yêu cầu mở lối đi Cụ thể, BLDS năm 2015 đã mở rộng thêm trường hợp chủ

sở hữu bất động sản bị vây bọc được quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ khi không đủ lối đi Theo khoản

1 Điều 254 BLDS năm 2015: “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất

động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công

cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ” Như vậy, trong trường hợp bất động sản bị vây bọc hoàn toàn hoặc không đủ hoặc lối đi này quá khó khăn để khai thác sử dụng bất động

bị vây bọc thì đều có thể yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc mở cho mình một lối đi

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có

3 Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù”

Trang 40

(iii) Thứ ba, điểm thay đổi đáng được lưu ý tiếp theo cũng rơi vào khoản 1

Điều 254 BLDS 2015 khi thay thế quy định tại khoản 1 Điều 275 BLDS 200536 với cấu trúc thay đổi là đoạn 1 và đoạn in nghiêng (với nội dung được thay đổi theo đó

“chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”) đã được tách ra thành một đoạn độc lập và giữa đó là một nội dung khác để cho thấy đền bù là một nội dung không liên quan đến điều kiện mở lối đi qua Với quy định mới, việc đền bù chỉ là hệ quả việc mở lối đi chứ không là điều kiện được mở lối đi.37

(iv) Thứ tư, theo quy định tại khoản 2 Điều 254 BLDS năm 2015, “nếu có tranh

chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định” Như vậy, khoản 2 Điều 254 BLDS năm 2015 đã nêu rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp về lối đi, các bên sẽ được quyền lựa chọn Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác để xác định chứ không có nêu chung chung như quy định tại khoản 2 Điều 275 BLDS năm 2005 là “cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định”

2 Một số tác động của quy định quyền về lối đi qua đến các chế định, ngành luật khác có liên quan

Những thay đổi liên quan đến nội dung quyền về lối đi qua theo quy định tại Điều

254 BLDS năm 2015 tác động không chỉ đến vấn đề sở hữu đối với loại tài sản này

mà còn đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết liên quan đến một số ngành luật khác

mà tiêu biểu như luật đất đai

(i) Ảnh hưởng đến quyền sở hữu của các bên:

Luật quy định quyền yêu cầu mở lối đi qua bất động sản vây bọc đối với bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản khác Nếu bất động sản bị vây bọc bởi ba bất động sản và mặt còn lại là sông, hồ… thì có được yêu cầu quyền về lối đi qua hay không? Một mặt sông, biển có được coi là đường giao thông cho chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc sử dụng thuận tiện không bởi không phải lúc nào giao thông đường thủy cũng có thể sử dụng được Luật Dân sự Nhật Bản có quy định rất rõ ràng về vấn

cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu

bất động sản liền kề, nếu không có thoả thuận khác”

37

Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Những điểm mới của BLDS năm 2015, NXB Hồng Đức

– Hội Luật gia Việt Nam, tr 252 – 253

38 Điều 210 BLDS Nhật Bản còn áp dụng cho cả trường hợp “không có lối ra do ao, sông, kênh, biển hoặc do

có sự chênh lệch đáng kể về độ dốc giữa khoảng đất và trục đường công cộng”

Ngày đăng: 01/11/2022, 22:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w