Học thuyết Kinh tế của Trường phái Tân cổ điển Học thuyết Kinh tế của Trường phái Tân cổ điển THIS ARE SLIDE TITLES I Hoàn cảnh lịch sử đặc điểm II Học thuyết kinh tế của trường phái TCĐ ở Anh III H.
Trang 1phái Tân cổ điển
Trang 2THIS ARE SLIDE TITLES
I.Hoàn cảnh lịch sử & đặc điểm
II Học thuyết kinh tế của trường phái TCĐ ở Anh
III Học thuyết kinh tế của trường phái Áo
IV Học thuyết kinh tế của trường phái Mỹ
V Học thuyết kinh tế của trường phái Thụy Sĩ
2
Trang 3đặc điểm Trường phái
Cổ điển mới
Trang 4HOÀN CẢNH RA ĐỜI
Đòi hỏi phải có sự phân tích Kinh tế mới
4
Kinh tế tư sản cổ điển tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ chủ nghĩa tư bản và khắc phục những khó khăn về kinh tế
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX: CNTB tự do cạnh tranh chuyển sang CNTB độc quyền, những khó khăn
về kinh tế và những mâu thuẫn vốn có của CNTB tăng lên gay gắt
Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác chỉ ra xu hướng vận động tất yếu của xã hội loài người
Trang 5Ủng hộ tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, tin tưởng cơ chế thị trường sẽ tự điều tiết nền kinh tế
Dựa vào tâm lí chủ quan để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế
Đối tượng nghiên cứu là các đơn vị kinh tế riêng biệt
Chuyển sự nghiên cứu kinh tế sang lĩnh vực lưu thông, trao đổi và nhu cầu
Tích cực áp dụng toán học vào phân tích kinh tế, phối hợp phạm trù kinh tế với phạm trù toán học để đưa ra khái niệm mới
Trang 62 Thuyết “Ích lợi giới hạn” trường phái thành Viên (Áo)
Trang 7Được phát triển từ tư tưởng của nhà kinh tế học người Đức Herman Gossen
(1810-1858)
Đưa ra định luật nhu cầu và tư tưởng về ích lợi giới hạn
Lí thuyết kinh tế “ích lợi giới hạn”
Trang 8Thuyết “Ích lợi giới hạn”
của trường phái thành Viên (Áo)
8
Lí thuyết sản phẩm kinh tế
Các đại biểu: Carl Menger, B.Bawerk, V Wiser
Đưa ra khái niệm “sản phẩm kinh tế” thay cho phạm trù “hàng hóa” có đủ 4 tính chất:
1 Có khả năng thỏa mãn nhu cầu hiện tại của con người
2 Công dụng con người phải biết rõ
3 Phải ở trong tình trạng có khả năng sử dụng được
4 Số lượng có giới hạn
Sản phẩm kinh tế có hai đặc tính: “Ích lợi giới hạn” và
“Giá trị giới hạn”,
Trang 9Lí thuyết ích lợi giới hạn và giá trị
LÍ THUYẾT ÍCH LỢI GIỚI HẠN
- Ích lợi là đặc tính cụ thể của vật ,thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
- Ích lợi kết quả: ích lợi vốn có của vật chất
- Ích lợi chủ quan: ích lợi được sử dụng theo yêu cầu con người
- Ích lợi cụ thể: ích lợi của số lượng vật phẩm có thể đo lường được
Theo đà thỏa mãn nhu cầu, ích lợi có xu hướng giảm dần cùng với đà tăng lên của vật phẩm
Ích lợi của vật có xu hướng giảm: vật phẩm sau đưa ra thỏa mãn nhu cầu có ích lợi ít hơn vật phẩm trước
Trang 10Thuyết “Ích lợi giới hạn”
của trường phái thành Viên (Áo)
10
Với số lượng vật phẩm nhất định, vật phẩm cuối cùng để thỏa mãn nhu cầu sẽ là “vật phẩm giới hạn”
Ích lợi giới hạn là ích lợi của vật phẩm cuối cùng đưa ra thỏa mãn nhu cầu, ích lợi đó là nhỏ nhất, nó quyết định ích lợi của tất cả
các vật phẩm khác
Nội dung quy luật “ích lợi giới hạn” ngày càng giảm
Số lượng sản phẩm kinh tế càng ít thì “ích lợi giới hạn” càng lớn Sản phẩm kinh tế tăng thì tổng ích lợi tăng còn “ích lợi giới hạn” giảm,
có thể dẫn tới 0
Thể hiện quan điểm tách rời giá trị và ích lợi
Trang 11Lí thuyết giá trị: (Giá trị giới hạn)
Lí thuyết giá trị: (Giá trị giới hạn)
LÍ THUYẾT GIÁ TRỊ ( GIÁ TRỊ GIỚI HẠN )
Lí thuyết giá trị-ích lợi (giá trị - chủ quan): “ích lợi giới hạn” quyết định giá trị của sản phẩm kinh tế, đó là “giá trị giới hạn” quyết định giá trị của tất cả các sản phẩm khác Muốn có nhiều giá trị phải tạo ra sự khan hiếm
Giá trị trao đổi (GTTĐ): Menger cho rằng GTTĐ là chủ quan, hai người trao đổi sản phẩm vì tin rằng sản phẩm mà mình bỏ
ra ít giá trị hơn sản phẩm mà mình thu về
Hai điều kiện để hành vi trao đổi được thực hiện:
-Cả hai đều có lợi trong trao đổi
-Sản phẩm dư thừa của người này là khan hiếm của người kia và ngược lại
Trang 12Thuyết “Ích lợi giới hạn”
của trường phái thành Viên (Áo)
12
Các hình thức giá trị
Giá trị khách quan: xuất phát từ tác dụng của một vật mang lại kết quả cụ thể, biểu hiện mối quan hệ của vật phẩm và kết
quả xuất phát từ việc sử dụng vật phẩm, không bao hàm những phán đoán chủ quan của con người
Giá trị chủ quan: xuất phát từ sự tiêu dùng những kết quả mà sản phẩm mang lại cho con người quy định sử dụng nó như thế
nào
GTSD chủ quan, GTTĐ chủ quan, GTSD khách quan, GTTĐ khách quan
Trang 13Học thuyết kinh tế của
trường phái TCĐ ở Anh
Trang 14Học thuyết kinh tế của W.S.Jevons
Jevons William Stanley (1835 - 1882) là nhà khoa học, nhà triết học người
Anh Ông chính là người đã xây dựng lý thuyết ích lợi trong cuốn Theory of
Political Economy (Lý thuyết kinh tế chính trị), được công bố năm 1871.
14
Jevons là người bác bỏ quan điểm cho rằng giá trị trao đổi của hàng hóa phụ thuộc vào
chi phí bỏ ra để sản xuất nó Ông lập luận rằng giá trị phụ thuộc vào đánh giá chủ quan
của người tiêu dùng về ích lợi của hàng hóa và theo ông, hàng hóa có giá trị khi nó đem
lại ích lợi và lao động cũng như các nhân tố sản xuất khác đã trở nên có giá trị khi chúng
được sử dụng để sản xuất ra những hàng hóa này Đặc biệt ông đã chỉ ra rằng, người
tiêu dùng tăng mức mua hàng khi lợi ích cận biên thu được từ đồng xu cuối cùng chi cho
một hàng hóa bằng lợi ích cận biên thu được từ đồng xu cuối cùng chi ra để mua hàng
hóa khác.
Jevons cũng rất quan tâm tới việc gắn phương pháp phân tích thống kê với phương
pháp phân tích lý thuyết trong kinh tế học Ông đã thiết lập các dãy số thống kê về sản
xuất ở Anh trong một thời kỳ dài để tìm ra cách xác định nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh
doanh
Trang 15Alfred Marshall (1842-1924) là một nhà kinh tế học người Anh, sinh ra trong gia đình có bố là thư kí
ngân hàng Anh.
Ông là giáo sư Đại học Cambridge.
Tác phẩm nổi bật: Các quy luật của kinh tế học (1890), đưa ra ý tưởng về cung và cầu, độ thỏa dụng
biên và chi phí sản xuất thành một khối tổng thể
Ông được coi là một trong những nhà sáng lập Kinh tế học
Trang 16A.Marshall là người theo chủ nghĩa thực chứng, phương pháp của ông là sự
tổng hợp các phương pháp của các nhà cổ điển và lấy đó làm tư tưởng chủ
đạo cho việc nghiên cứu.
Học thuyết giá cả của A Marshall: Tính chất của các hàm số cung cầu có ý
nghĩa quyết định đối với quá trình hình thành giá trị.
Học thuyết kinh tế của A Marshall
Hàm số cầu tương ứng với cung được A Marshall trình bày như là hai hạng số gắn liền
với nhau
Giá cả được xác lập ở điểm gặp nhau của hai đường cong , nghĩa là ở mức đại lượng
cầu ngang với đại lượng cung.
A Marshall cũng buộc phải thừa nhận rằng những biến động của cung và cầu chỉ ảnh
hưởng giá cả trong ngắn hạn, còn dài hạn thì giá cả trung bình có khuynh hướng nhích
dần đến chi phí sản xuất.
16
Trang 17Francis Isodoro Edgeworth (1845-1926) là giáo sư kinh tế tại Đại học Oxford, đã từng giữ chức
phó Chủ tịch Hội kinh tế học Hoàng gia, từng cùng Keynes làm biên tập chính tờ Kinh tế
Tác phẩm chính: Tâm lí học Toán học, Những đường cong vô tính, Những đường cong hợp
đồng,…
Trang 18Học thuyết kinh tế của F.Edgeworth
18
Đường cong vô tính: là những đường cong nói lên những kết hợp
khác nhau về số lượng của 2 sản phẩm có cùng một mức độ hữu
dụng đối với một người tiêu dùng
Trang 19Hộp Edgeworth đã đặt nền móng phát triển kinh tế học vi mô sau
này
Hộp mô tả trao đổi giữa hai người tiêu dùng A, B và mỗi người có
một bản đồ vô hình và cả 2 được trình bày trong một hình chữ nhật
ngược nhau Với những số lượng nhất định ban đầu về hai vật
phẩm, qua trao đổi, dần dần họ có thể đạt tới sự thỏa mãn tối ưu
Trang 20Học thuyết kinh tế của trường
phái Mỹ
20
4
Trang 21- Trên cơ sở lý thuyết “ba nhân tố sản xuất” của J.B.Say, lý thuyết “năng suất bất tương xứng” của D.Ricardo, lý thuyết “ích lợi giới hạn” của thành Viên Áo, Clark đưa ra lý thuyết năng suất giới hạn.
- Theo D.Ricardo : “Năng suất bất tương xứng” đó là khi tăng thêm 1 nhân tố sản xuất nào đó (trong 3 nhân tố lao động, đất đai, tư bản) mà các nhân tố khác không đổi thì sẽ giảm năng suất của nhân tố tăng thêm Phối hợp với lí thuyết “ích lợi giới hạn”, Clark đã nghiên cứu về quy luật năng suất lao động (NSLĐ)
- Lợi của lao động thể hiện ở NSLĐ Nhưng NSLĐ của các yếu tố sản xuất là giảm sút , do vậy đơn vị yếu tố sản xuất được sử dụng sau cùng là đơn vị yếu tố sản xuất giới hạn - sản phẩm của nó là sản phẩm giới hạn, năng suất của nó là năng suất giới hạn, nó quyết định năng suất của tất cả các đơn vị yếu tố sản xuất khác
Trang 22Lý Thuyết Phân Phối Clark
22
Lý thuyết phân phối Clark
Dựa vào lí thuyết năng suất giới hạn, sử dụng lí thuyết năng lực chịu trách nhiệm của các yếu tố sản xuất theo đó, thu nhập là năng lực chịu trách nhiệm của các yếu tố sản xuất
Ông đưa ra lí thuyết về tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô
Cụ thể: - Người lao động nhận tiền lương = Sản phẩm giới hạn của lao động
- Nhà tư bản - Lợi tức = Sản phẩm giới hạn của tư bản
- Chủ đất - Địa tô = Sản phẩm giới hạn của đất đai
- Nhà kinh doanh - Lợi nhuận = Thặng dư của người sử dụng các yếu tố sản xuất
=> Từ đó: Phân phối là bình đẳng, không còn bóc lột nữa
Trang 23- Là sự tiếp tục nghiên cứu của Clark (cha)
– Phân tích kinh tế trong trạng thái động - Để sản xuất hàng hóa phải sử dụng máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, LĐ, Đó chính là chi phí sản xuất (còn gọi là chi phí toàn bộ)
- Có 2 loại: (2 bộ phận) hợp thành chi phí toàn bộ
+ Chi phí bất biến: Những chi phí không biến đổi so với quy mô sản xuất sản phẩm (dù quy mô sản xuất có thay đổi nó cũng không thay đổi) Ví dụ: thuế đất, thuế nhà, trả lương ban giám đốc - thậm chí không sản xuất cũng phải chi phí
+ Chi phí khả biến: là chi phí thay đổi theo quy mô sản xuất sản phẩm Ví dụ: nguyên vật liệu, lao động trực tiếp sản xuất,
+ Chi phí giới hạn: chi phí tăng thêm để sản xuất một đơn vị sản phẩm cuối cùng
Chi phí giới hạn = Chi phí đứng sau – Chi phí đứng trước
Trang 24Lý thuyết kinh tế của trường phái thành
Lausene (Thụy Sĩ)
24
5
Trang 25+ Thị trường tư bản (TTTB): Nơi hỏi và vay tư bản, lãi suất tư bản cho vay là giá tư bản
+ Thị trường lao động (TTLĐ): Nơi thuê mướn công nhân, tiền lương (tiền công) là giá lao động
Ba thị trường độc lập với nhau, nhưng nhờ hoạt động của doanh nhân nên có quan hệ với nhau
Trang 26Lý Thuyết Chi Phí Bất Biến, Khả Biến
26
Mối quan hệ: Khi bán sản phẩm trên thị trường được giá cao hơn chi phí sản xuất nhà tư bản có lãi vì thế mở rộng sản xuất muốn vậy phải vay thêm tư bản, thuê thêm công nhân làm cho sức cầu trên TTTB và TTLĐ tăng kéo theo giá cả của tư bản và lao động tăng kết quả là chi phí sản xuất tăng Khi giá cả của hàng hóa sản xuất tăng thêm ngang bằng chi phí sản xuất ra chúng thì doanh nhân không có lời trong việc sản xuất thêm nên họ không mở rộng sản xuất (không vay thêm tư bản và thuê thêm công nhân nữa)
Từ đó làm cho giá cả tư bản và lao động ổn định dẫn đến giá hàng hóa ổn định (tiền công, lãi suất, giá hàng tiêu dùng đều ổn định) Cuối cùng ba thị trường đều đạt được trạng thái cân bằng và nền kinh tế ở trạng thái cân bằng tổng quát
- Điều kiện để có cân bằng tổng quát là: có sự cân bằng giữa thu nhập bán hàng hóa sản xuất thêm và chi phí sản xuất ra chúng (Sự cân bằng giữa giá hàng hóa và chi phí sản xuất).
Trang 27for Listening!