PHẦN ĐỌC- HIỂU 4 điểm Đọc văn bản sau và trả lời những câu hỏi: TIẾNG CƯỜI LÀ LIỀU THUỐC BỔ Một nhà văn đã từng nói: "Con người là động vật duy nhất biết cười".. Bởi vì khi cười, tốc đ
Trang 1TRƯỜNG THCS HẠ LỄ
(Đề thi gồm có 02 trang)
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10
Năm học 2019 – 2020
Môn: Ngữ văn 9
Thời gian làm bài: 120 phút
I PHẦN ĐỌC- HIỂU( 4 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời những câu hỏi:
TIẾNG CƯỜI LÀ LIỀU THUỐC BỔ
Một nhà văn đã từng nói: "Con người là động vật duy nhất biết cười" Theo một thống kê khoa học, mỗi ngày, trung bình người lớn cười 6 phút, mỗi lần cười kéo dài 6 giây Một đứa trẻ trung bình mỗi ngày cười 400 lần.
Tiếng cười là liều thuốc bổ Bởi vì khi cười, tốc độ thở của con người lên đến 100 ki-lô- mét một giờ, các cơ mặt được thư giãn thoải mái và não thì tiết ra một chất làm người ta có cảm giác sảng khoái, thỏa mãn Ngược lại, khi người ta ở trong trạng thái nổi giận hoặc căm thù, cơ thể
sẽ tiết ra một chất làm hẹp mạch máu.
Ở một số nước, người ta đã dùng biện pháp gây cười để điều trị bệnh nhân Mục đích của việc này là làm rút ngắn thời gian chữa bệnh và tiết kiệm tiền cho nhà nước.
Bởi vậy, có thể nói: ai có tính hài hước, người đó chắc chắn sẽ sống lâu hơn.
(Theo báo Giáo dục thời đại)
Câu 1: (0,5đ) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?
Câu 2: (1đ) Văn bản trên bàn về vấn đề gì? Tìm câu chủ đề của đoạn văn 2.
Câu 3: (0,5đ) Câu văn : Một nhà văn đã từng nói: "Con người là động vật duy nhất biết cười"
sử dụng cách dẫn gì? Nêu dấu hiệu của cách dẫn ấy
Câu 4: (1đ) Đoạn văn số 2 trong văn bản sử dụng phép tu từ nào? Chỉ ra tác dụng của phép tu từ
ấy
Câu 5: (1đ) Qua văn bản, em rút ra được bài học gì cho bản thân mình Hãy trình bày ngắn gọn
từ 3 đến 5 câu văn
II Phần làm văn (6 điểm)
Câu 1: (2đ) Viết đoạn văn diễn dịch từ 10 đến 12 câu có sử dụng phép nối và thành phần tình thái
(gạch chân và chỉ rõ) triển khai câu chủ đề sau : “Tinh thần lạc quan là liều thuốc quý giá đối với cuộc sống của chúng ta”.
Câu 2:(4đ) Cảm nhận về đoạn thơ sau:
Trang 2“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
Đồng chí!”
(Trích “Đồng chí”- Chính Hữu- Sách hướng dẫn học Ngữ văn 9, tập 1)
……… Hết………
HƯỚNG DẪN CHẤM
Trang 3Câu Yêu cầu Điểm
I ĐỌC - HIỂU ( 4 điểm)
2
Văn bản bàn về tác dụng của tiếng cười đối với con người
Câu chủ đề trong đoạn văn 2: “Tiếng cười là liều thuốc bổ.”
0.5 0.5
3
Câu văn sử dụng cách dẫn trực tiếp: "Con người là động vật duy
nhất biết cười"
- Dấu hiệu: đây là lời dẫn được trích nguyên văn, không chỉnh sửa,
đặt trong dấu ngoặc kép
0.5
0.5
4
Phép tu từ được sử dụng trong đoạn văn 2 là: so sánh
Tiếng cười đươc so sánh với liều thuốc bổ
Tác dụng: Làm nổi bật tác dụng của tiếng cười đối với con người
Tiếng cười làm người ta có cảm giác sảng khoái, thỏa mãn Từ đó
con người sẽ sống lâu hơn
0.5
0.5
5
- Hình thức: học sinh trình bày thành 1 đoạn văn ngắn gọn từ 3 đến
5 câu.
- Nội dung: đây là phần mở, học sinh có thể liên hệ theo nhiều
hướng khác nhau, miễn là phù hợp với chủ đề của văn bản là được
- Gợi ý:
+ Tiếng cười có nhiều lợi ích cho sức khỏe của con người
+ Chúng ta nên sống vui vẻ, cởi mở luôn nở nụ cười thân thiện với
mọi người xung quanh
+ Luôn suy nghĩ tích cực, lạc quan
+ Không nên nổi nóng, cáu giận, cư xử thô bạo với mọi người Điều
đó vừa làm cho chúng ta mệt mỏi, vừa khiến mọi người xung quanh
không vui, các mối quan hệ rạn nứt
1 - Hình thức:
+ Đoạn văn diễn dịch, đủ số câu (0.25đ)
Trang 4+ Đoạn văn sử dụng phép nối và thành phần tình thái (0.25đ)
- Nội dung:
+ Câu chủ đề (0.25 đ)
+ Tinh thần lạc quan là sự tin tưởng vào những điều tốt đẹp như mơ
ước, dự định của mình (0.25 đ)
+ Người có tinh thần lạc quan là người luôn tin tưởng vào khả năng
của bản thân, suy nghĩ đúng đắn, tích cực, sống vui vẻ, tràn đầy hi
vọng
+ Ý nghĩa của lạc quan: giúp tâm trạng ta thoải mái, tràn đầy năng
lượng, nhiệt huyết Ta không cảm thấy yếu đuối, luôn nỗ lực phấn
đấu, khắc phục khó khăn để đạt được dự định của mình Giúp ta
được mọi người yêu mến, gần gũi (0.5 đ)
+ Phê phán những kẻ bi quan, thối chí, hay than vãn, buồn phiền, nản
chí nản lòng Những kẻ như vậy sẽ không bao giờ có được thành
công, cuộc sống u uất, bế tắc (0.25 đ)
+ Liên hệ bản thân: luôn giữ tâm trạng vui vẻ, suy nghĩ tích cực,
sống cởi mở, chân thành Nếu gặp khó khăn, buồn phiền cần tìm
cách khắc phục theo hướng tích cực, không kêu ca, than vãn (0.25 đ)
2 - Hình thức: học sinh trình bày thành bài văn
- Nội dung: Đầy đủ bố cục 3 phần MB, TB, KB
MB: Giới thiệu tác giả Chính Hữu, tác phẩm bài thơ Đồng chí
TB:
Luận điểm: Hoàn cảnh sáng tác:
Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác vào đầu năm 1948 – sau chiến
dịch Việt Bắc ( thu đông 1947 ) Bài thơ được in trong tập “Đầu
súng trăng treo” ( 1966) – tập thơ phần lớn viết về người lính trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Luận điểm: Hai câu đầu:
- Hai câu thơ mở đầu bằng lối cấu trúc song hành, đối xứng như làm
hiện lên hai gương mặt người chiến sĩ Họ như đang tâm sự cùng
nhau.Giọng điệu tự nhiên, mộc mạc, đầy thân tình “Quê
anh” và “làng tôi” đều là những vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ, là
0.5
1.0
Trang 5nơi “ nước mặn đồng chua” – vùng đồng bằng ven biển, là xứ sở
của “đất cày lên sỏi đá” – vùng đồi núi trung du.
- Tác giả đã mượn thành ngữ, tục ngữ để nói về làng quê, nơi chôn
nhau cắt rốn thân yêu của những người chiến sĩ Điều ấy đã làm cho lời thơ mang đậm chất chân quê, dân dã đúng như con người vậy –
những chàng trai dân cày chân đất, áo nâu lần đầu mặc áo lính lên
đường ra trận! Như vậy, sự đồng cảnh, cùng chung giai cấp chính là
cơ sở, là cái gốc hình thành nên tình đồng chí
Luận điểm 4 câu thơ tiếp:
Năm câu thơ tiếp nói lên một quá trình thương mến: từ chỗ “đôi
người xa lạ” rồi thành “ đôi tri kỉ” để kết thành “đồng chí” Câu thơ
có độ dài ngắn khác nhau, cảm xúc thơ như dồn tụ, nén chặt lại
Những ngày đầu, đứng dưới lá quân kì, những chàng trai ấy còn
là “đôi người xa lạ”, mỗi người một phương trời “chẳng hẹn quen
nhau” Nhưng rồi cùng với thời gian kháng chiến, đôi bạn ấy gắn bó với nhau bằng biết bao kỉ niệm: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu –
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” “Súng bên súng” là cách nói
hàm súc,giàu hình tượng, đó là những con người cùng chung lí tưởng chiến đấu Họ cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê
hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống còn của dân tộc – “Quyết
tử cho Tổ quốc quyết sinh” Còn hình ảnh “đầu sát bên đầu” lại diễn
tả sự đồng ý, đồng tâm, đồng lòng của hai con người đó Và câu
thơ “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” lại là câu thơ ắp đầy kỉ
niệm về một thời gian khổ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi “Bát cơm sẻ
nửa – Chăn sui đắp cùng” Và như thế mới thành “đôi tri kỉ” để rồi đọng kết lại là “ Đồng chí!” “Đồng chí” – hai tiếng ấy mới thiêng
liêng làm sao! Nó diễn tả niềm tự hào, xúc động, cứ ngân vang lên
mãi Xúc động bởi đó là biểu hiện cao nhất của một tình bạn thắm
thiết, đẹp đẽ.Còn tự hào bởi đó là tình cảm thiêng liêng, cao cả của
những con người cùng chung chí hướng, cùng một ý nguyện, cùng
một lí tưởng, ước mơ
=> Ở đây, trong những câu thơ này, tác giả đã sử dụng những từ ngữ
rất giản dị, nhưng rất chân xác: “bên”, “sát”,”chung”,”thành” đã
thể hiện được sự gắn bó tha thiết của mối tình tri kỉ, của tình cảm
đồng chí Cái tấm chăn mỏng, hẹp mà ấm nóng tình đồng đội ấy mãi mãi là kỉ niệm đẹp của người lính không bao giờ quên
Luận điểm câu thứ 7: Đồng chí
- Dòng thơ thứ bảy trong bài thơ “Đồng chí” là một điểm sáng
tạo,một nét độc đáo qua ngòi bút của Chính Hữu Dòng thơ được tác riêng độc lập, là một câu đặc biệt gồm từ hai âm tiết đi cùng dấu
chấm than, tạo nốt nhấn vang lên như một sự phát hiện, một lời
1.0
0.5
Trang 6khẳng định đồng thời như một bản lề gắn kết đoạn thơ đầu với đoạn
thơ sau Sáu câu thơ đầu là cội nguồn, là cơ sở hình thành tình đồng
chí; mười câu thơ tiếp theo là biểu hiện, sức mạnh của tình đồng
chí “Đồng chí” - ấy là điểm hội tụ, là nơi kết tinh bao tình cảm đẹp:
tình giai cấp, tình bạn,tình người trong chiến tranh Hai tiếng “đồng
chí” bởi vậy mà giản dị, đẹp đẽ, sáng ngời và thiêng liêng.
Luận điểm: Đánh giá nghệ thuật, nội dung
Với nhiều hình ảnh chọn lọc, từ ngữ gợi cảm mà lại gần gũi thân
thuộc, với biện pháp sóng đôi, đối ngữ được sử dụng rất thành công,
Chính Hữu đã viết nên một bài ca với những ngôn từ chọn lọc, bình
dị mà có sức ngân vang Bài thơ đã ca ngợi tình đồng chí hết sức
thiêng liêng, như là một ngọn lửa vẫn cháy mãi, bập bùng không bao
giờ tắt, ngọn lửa thắp sáng đêm đen của chiến tranh
0.5
KB: Khẳng định lại nội dung đoạn thơ, liên hệ bản thân 0.25
- Hết -