Trong mỗi nhàtrường,đánh giá được coi là một yếu tố cấu thành của đổimới toàn diện, đánh giá cótác dụng xem xét vàđiều chỉnh các hoạt động giáo dục, khẳng định kếtquả đạt được,đưa ra nhữ
Tổngquanmộtsố vấnđềliên quan
Một sốtổngquansơlượcvềkiểmtrađánhgiátrênthếgiới
Ngay từ khi xuất hiện hình mẫu trường học hiện đại, cách thức đánh giá trong giáo dục cũng ra đời và phát triển Ở mỗi giai đoạn lịch sử và mỗi quốc gia, tồn tại những hình thức đánh giá khác nhau nhưng đều có những quy định chuẩn phù hợp với yêu cầu của giáo dục và xã hội đương thời Chẳng hạn, thời phong kiến dùng thi cử và kiểm tra theo các quy định hà khắc để đánh giá kết quả học tập; thời kỳ tiền công nghiệp thi kiểm tra phải phù hợp với trình độ người học và được xem như một phương thức dạy và học, có vai trò khuyến khích học sinh tích cực, tự giác học tập; thời kỳ hậu công nghiệp đánh giá phát triển theo tiêu chí và mục tiêu của chương trình giảng dạy Đầu thế kỷ XVI, nhà giáo dục vĩ đại J A Comenius (1592–1670) đề ra mô hình trường học được nhiều nước trên thế giới áp dụng, đó là trường học được phân cấp theo bậc học ở những độ tuổi nhất định; các môn học có chương trình, nội dung thống nhất và được quy định chặt chẽ, thời gian đào tạo được ấn định, và cách đánh giá học sinh được quy định rõ ràng Đến thế kỷ XVIII, hệ đánh giá chất lượng đầu tiên được áp dụng phổ biến trong trường học; ban đầu có 3 bậc: Tốt, Trung bình, Kém, nhưng để đánh giá chính xác và phù hợp với đối tượng học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, nhiều nước đã chuyển sang hệ thống 5 bậc và công tác kiểm tra cần phù hợp với mục tiêu chương trình giảng dạy.
Hiện nay, những nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới luôn ưu tiên quantâm choGDMN, trong đó đánh giá trẻ mầm non ở những nước đóđ ư ợ c c o i l à m ố i quan tâm số một của toàn xã hội Ở Singapore, CTGDMN là chương trình khung.ViệcbanhànhkhungCTGDMNcủaBộGiáodụclàmộtthànhtựuquantrọngcủaSingapore.Kh ungchươngtrìnhđượcthiếtkếđểgiảithíchquanđiểmcủachúngtavề điều gì sẽ tạo ra một nền GDMN có chất lượng dựa theo những đánh giá cụ thể vớiriêng từng trẻ Chương trình chỉ ra cách học phù hợp với trẻ ở giai đoạn mẫu giáo, vàcũng quan trọng không kém, chương trình chỉ ra việc dạy cần phải tiến hành như thếnào trong những năm đầu của trẻ để có Việc dạy trẻ và đánh giá trẻ tiến hành songsonghaichiều,đảmbảosựpháttriểntoàndiệnchotrẻmầmnon.[14] Ở Na Uy, chớnh phủ nước này đó dựng ẳtổng ngõn sỏch chi cho giỏo dục để đầutư choGDMN Các loại hình GDMN ở nước này phát triển đa dạng Ở đó, khi mộttrường mầm non được mở ra phải có sự kiểm định chặt chẽ của nhà nước về CSVC,chất lượng GV…Về CTGDMN của NaUy:Mỗi trẻ được xây dựng riêng một chươngtrình học tập, kết quả phát triển của trẻ được đánh giá sát sao, cụ thể theo các tiêu chíphù hợp với chương trình học tập Việc đánh giá trẻ được kết hợp giữa giáo viên vàphụhuynh.[14]
Cácnghiêncứutrongnước
Trong nước, các nhà khoa học đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống lý luận quản lý giáo dục (QLGD), tập trung vào quản lý giáo dục đại học, quản lý nhà trường và quản lý chất lượng giáo dục; đồng thời xây dựng cơ sở lý luận cho hoạt động đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá của người học Những công trình này cung cấp khung khái niệm, nguyên tắc và phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng giáo dục ở các cấp học Kết quả nghiên cứu này làm nền tảng cho việc hoạch định chính sách, triển khai các chương trình đổi mới và cải thiện chất lượng giáo dục Việt Nam.
Trong cuốn “Quản lý giáo dục”,tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã bàn đến sự khácbiệtc ủ a q u ả n l ý g i á o d ụ c v ớ i q u ả n l ý k i n h t ế x ã h ộ i : “ T r o n g g i á o d ụ c , r ấ t k h ó đ o lường, đánh giá việc đạt được các mục đích Trong các trường học có khá nhiều nhântố cản trở việc đánh giá trực tiếp thành tựu hay mức độ đạt được mục tiêu.Việc thiếunhững căn cứ chấp nhận được trong việc đánh giá sẽ tạo nên những khó khăn nghiêmtrọngtrongquảnlý”. [15,tr.24-25]
Trong cuốn Quản lý chất lượng trong giáo dục-đào tạo, Nguyễn Đức Chính nêu rằng kiểm soát chất lượng là hình thức quản lý phù hợp với cơ chế tập trung; ngược lại, quản lý chất lượng tổng thể phản ánh trình độ phát triển cao của các trường học, và vì vậy bảo đảm chất lượng phải phù hợp với cơ chế chuyển đổi trong quản lý giáo dục ở nước ta.
Trong cuốn 'Đo lường - đánh giá trong giáo dục', Nguyễn Đức Chính cho rằng đánh giá giáo dục là một lĩnh vực nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục và là một công cụ hữu hiệu của quản lý giáo dục Mục tiêu của đánh giá là phán đoán giá trị của sự nghiệp giáo dục nhằm điều chỉnh, kiểm nghiệm trình độ phát triển của sự nghiệp giáo dục và cải tiến để giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng xã hội.
Trong tài liệu “Các kỹ thuật đánh giá trong lớp học” của Nguyễn Thị Ngọc Bích và nhóm nghiên cứu, đánh giá trong giáo dục được khẳng định có giá trị không chỉ đối với người dạy và người học mà còn là công cụ quản lý chất lượng Việc kiểm tra đánh giá khách quan, nghiêm túc và đúng hướng đóng vai trò động lực mạnh mẽ, thúc đẩy sự tiến bộ trong học tập và khơi dậy tư duy sáng tạo cùng tinh thần tự chủ của người học Ở chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay, mục tiêu đánh giá được phân thành ba lĩnh vực: kiến thức, kỹ năng và thái độ; mỗi lĩnh vực được cụ thể hóa bằng các chuẩn kiến thức, kỹ năng tương ứng Bên cạnh các mục tiêu nêu trên, cần hướng tới đánh giá theo cách tiếp cận năng lực nhằm bảo đảm đánh giá phản ánh đúng năng lực của người học và phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục.
Trong công trình nghiện cứu “Về việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo đến trường phổthông” do phòng Tâm lý-Viện nghiên cứu trẻ em trước tuổi học tiến hành năm 1992- 1993đãsửdụngbộtest“Đếntuổihọc”vàmộtsốtrắcnghiệmthíchhợpđểđánhgiásự chuẩn bị của trẻ đã học mẫu giáo với việc đến trường phổ thông Tác giả NguyễnThị Hồng Nga với đề tài nghiên cứu “Góp phần hoàn thiện bộ trắc nghiệm đo lườngmức độ sẵn đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1” đã xây dựng bộ trắc nghiệm dựa trên mụctiêu, nội dung, yêu cầu của mẫu giáo và giáo dục tiểu học, cụ thể là lớp 1 Bộ trắcnghiệm tỏ ra hiệu quả và có khả năng để đánh giá sẵn sàng đi học của trẻ đầu lớp 1 ởcác thành phố, thị xã Trong 2 năm 1996-1997, Trung tâm nghiên cứu giáo dục mầmnon thuộc viện khoa học giáo dục đã nghiên cứu đề tài “Xây dựng bộ công cụ đánh giáchất lượng chăm sóc-giáo dục trẻ ở trường mầm non trọng điểm (khối nhà trẻ)”.Bộcông cụ này đã được xây dựng một cách khoa học, hệ thống có sự kế thừa và phát triểnnhững nghiên cứu trước và đã được thử nghiệm ở các trường mầm non điểm của nộithànhHàNội.[19]
Mộtsốkháiniệmcơbản
Quảnlý
Quản lý không chỉ là một hoạt động cụ thể mà đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật và là một trong những nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại – nghề quản lý Chính vì vậy lý luận về quản trị ngày nay phong phú và đa chiều, kết hợp giữa các phương pháp khoa học, phân tích dữ liệu và kinh nghiệm thực tiễn để đưa ra các quyết định chiến lược Trong bối cảnh kinh tế và công nghệ thay đổi nhanh, quản trị không chỉ đảm bảo vận hành mà còn thúc đẩy đổi mới, tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu suất làm việc của đội ngũ Lãnh đạo quản trị chịu trách nhiệm thiết lập mục tiêu rõ ràng, xây dựng hệ thống tổ chức linh hoạt và tạo động lực cho sự hợp tác giữa các phòng ban Ứng dụng lý thuyết quản trị vào thực tế đòi hỏi sự kết hợp giữa quản trị chu trình, quản trị rủi ro và quản trị thay đổi nhằm thích nghi với biến động thị trường và công nghệ mới Để đạt hiệu quả tối ưu, nội dung quản trị cần nhấn mạnh các khía cạnh như lập kế hoạch chiến lược, tổ chức nguồn lực, giám sát hiệu quả và đánh giá hiệu suất, đồng thời tối ưu hóa các từ khóa liên quan như quản trị, khoa học quản trị, nghệ thuật quản trị, lãnh đạo và quản trị hiện đại.
QL ngày càng phong phú và phát triển.
Theo Harold Koontz (Mỹ) thì: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phốihợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của cả nhóm Mục tiêu của nhà QLlà hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhómvới thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tưcách thực hành thì QL làmộtnghệthuật,cònvớikiếnthứcthìQLlàkhoahọc”.[26,tr.8]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí-Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong tài liệu “Đại cương vềkhoa học QL” cho rằng “QL là hoạt động đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vậndụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểmtra”.[12,tr.9]
Quản lý là hoạt động có mục đích của con người và là một quá trình tác động có tổ chức nhằm hướng tới mục tiêu chung của tổ chức Nó bao hàm sự tác động có hướng đích từ chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để khai thác hiệu quả tiềm năng và cơ hội của tổ chức, điều chỉnh hoạt động và đạt được mục tiêu đã đề ra Quản lý gồm các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong một hệ thống các đơn vị, đồng thời sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phù hợp nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Quảnlýgiáo dục
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "QLGD là hệ thống tác động có mục đích, cókế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theođường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xãhội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ,đưahệthốngGDtới mụctiêudự kiến tiếnlên trạngtháimớivềchất".[17,tr.31]
Theo Bush T, quản lý giáo dục ở mức khái quát là quá trình tác động có tổ chức và có mục tiêu của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục, thông qua việc sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Quản lý giáo dục (QLGD) là quá trình tác động có kế hoạch và có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục ở các cấp lên các yếu tố của quá trình dạy học và giáo dục nhằm bảo đảm hệ giáo dục vận hành hiệu quả và đạt được mục tiêu giáo dục mà nhà nước đề ra Quá trình này chú trọng điều phối nguồn lực, nội dung và phương pháp giảng dạy, đồng thời tổ chức các hoạt động quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục và sự phục vụ của hệ thống giáo dục tới người học Vì vậy, QLGD liên kết các cấp quản lý, tổ chức và thực thi chương trình dạy học thành một chu trình liên tục, giúp tăng tính đồng nhất và hiệu quả của toàn bộ quá trình giáo dục.
Qua các nhận xét trên, có thể kết luận rằng quản lý giáo dục (QLGD) là tập hợp các tác động có hệ thống và có ý thức chấp hành các quy định của chủ thể quản lý, nhằm đảm bảo sự phát triển liên tục của hệ thống giáo dục ở mọi cấp độ và nâng cao cả quy mô lẫn chất lượng Nói cách khác, QLGD là hệ thống các tác động có chủ đích, có kế hoạch và được thực thi theo các quy luật của chủ thể quản lý nhằm thực hiện chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục.
Đánhgiá
Đánh giá giáo dục là quá trình đưa ra nhận định về năng lực và phẩm chất của sản phẩm giáo dục dựa trên thông tin định tính và định lượng từ các phép đo, đồng thời là quá trình thu thập thông tin về năng lực và phẩm chất của một cá nhân và sử dụng những thông tin đó để quyết định về từng cá nhân và dạy học trong tương lai Đánh giá bao gồm việc phán xét cá nhân theo các hệ thống quy tắc hoặc tiêu chuẩn nhất định Có một số loại đánh giá khác nhau.
Đánh giá đầu vào (placement) là bước đánh giá ban đầu nhằm xác định đặc điểm và trình độ hiện tại của đối tượng học tập, từ đó giúp xác định mức độ phù hợp của nội dung và phương pháp quản lý, giáo dục Thông qua đánh giá này, người làm giáo dục có thể nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và nhu cầu cụ thể của học viên để thiết kế chương trình giảng dạy và tài liệu phù hợp, từ đó tối ưu hóa hiệu quả học tập Quá trình đánh giá đầu vào hỗ trợ cá nhân hóa quá trình học, đảm bảo nội dung và cách tiếp cận được điều chỉnh phù hợp với mục tiêu và ngữ cảnh học tập của từng người.
Đánh giá chẩn đoán (diagnostic) dựa trên các dữ kiện nhất định nhằm đưa ra nhận xét về đối tượng, xác định các khó khăn của đối tượng và các nguyên nhân dẫn đến hành vi hiện tại hay hành vi khác; dự báo các kết quả có thể xảy ra và từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp phù hợp để đảm bảo sự phát triển tiếp theo.
Đánh giá tiến trình (formative assessment) là quá trình thu thập và cung cấp thông tin phản hồi liên tục từ giáo viên và học sinh nhằm điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy và học Thông tin này giúp học sinh hiểu rõ tiến bộ của mình, nhận diện khó khăn và cải thiện kiến thức cũng như kỹ năng, đồng thời cho giáo viên điều chỉnh phương pháp giảng dạy, nội dung và mức độ khó sao cho phù hợp với từng người học Nhờ vậy, đánh giá tiến trình không chỉ đo lường sự tiến bộ mà còn tạo động lực cho người học và nâng cao hiệu quả quá trình giáo dục.
Đánh giá tổng kết là một hình thức đánh giá quan trọng được thực hiện vào cuối kỳ giáo dục để tổng kết chặng đường đã qua Cách đánh giá này nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu của giáo dục và nhận diện những khó khăn hoặc điểm bất cập của chương trình và quá trình học tập Nhờ kết quả của đánh giá tổng kết, chúng ta có thể nhận định mức độ phù hợp và hiệu quả của quá trình giáo dục, từ đó điều chỉnh nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
(Tham khảo: Bài giảng“Đo lường đánh giá trong giáo dục”của tác giảNguyễnĐứcChính).[11,tr.12-13].
Chứcnăng,yêucầucủađánhgiátrong giáodục
Đánh giá trong giáo dục đóng vai trò định hướng, cho thấy bức tranh thực trạng giáo dục và sự phát triển của cá nhân trong nền giáo dục ấy; từ đó xác định các bước đi tiếp theo Chức năng định hướng của đánh giá được đảm bảo ở mức khách quan, không bị ý chí cá nhân chi phối, có khả năng tác động và bảo đảm tính thông suốt cho quá trình thực hiện các mục tiêu và chính sách giáo dục Đánh giá trong giáo dục có khả năng chỉ ra mục tiêu và tôn chỉ để các trường, các giáo viên lập kế hoạch dạy và học, đồng thời gợi mở cho mỗi cá nhân ở mọi vị trí cách phấn đấu và phát triển Đánh giá được tiến hành trên cơ sở mục tiêu giáo dục, nhằm đo lường và phán đoán mức độ lệch giữa hiện trạng thực tế và mục tiêu đã đề ra, từ đó rút ngắn khoảng cách và nâng cao hiệu quả giáo dục.
Chức năng kích thích và tạo động lực của đánh giá là một phần không thể thiếu trong mọi hoạt động xã hội và giáo dục Mọi cá nhân đều có nhu cầu được công nhận và nhận phản hồi về kết quả công việc, nên đánh giá mang lại sự thỏa mãn nhu cầu đó và kích thích họ tìm kiếm thành tựu khi hoàn thành nhiệm vụ Sự đánh giá đi kèm với hình thức củng cố có ý nghĩa thúc đẩy hành vi và tạo động lực cho sự phát triển tiếp theo Trong giáo dục, đánh giá có thể kích thích tinh thần học hỏi và khẳng định ý chí vươn lên của người học, từ đó hình thành một môi trường học tập cạnh tranh chính thức và phi chính thức.
Trong quá trình quản lý dạy và học, căn cứ vào đặc điểm công việc và quy định hoạt động của ngành giáo dục, có thể sử dụng công cụ đánh giá để nâng cao tinh thần cạnh tranh giữa các đối tượng được đánh giá, từ đó hỗ trợ đạt được các mục tiêu phát triển giáo dục và chuẩn bị cho thành công trong tương lai.
Chức năng sàng lọc và lựa chọn là nền tảng cho cá nhân hóa giáo dục, bởi mỗi người có con đường phát triển riêng với tốc độ và nhịp độ khác nhau, và nhân cách không bao giờ lặp lại Vì vậy giáo dục và dạy học cần mang tính cá biệt hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của từng học sinh Để thực hiện hiệu quả vai trò cá biệt hóa trong giáo dục, hệ thống đánh giá được dùng để sàng lọc và lựa chọn học sinh theo mục tiêu giáo dục phù hợp, như nhận diện học sinh có năng khiếu về Toán hoặc Văn và xác định mức phát triển ở độ tuổi hiện tại Đánh giá còn giúp nhận diện người học đã đạt được các mốc phát triển hay còn chậm ở một mặt nào đó Đánh giá nên dựa trên các mục tiêu của nhà giáo dục và các chuẩn đánh giá được xác định một cách khoa học, đảm bảo quá trình sàng lọc và lựa chọn diễn ra một cách thực tiễn và có cơ sở.
Chức năng cải tiến và dự báo của đánh giá giáo dục cho thấy dù mục tiêu giáo dục ở một giai đoạn có thể đúng đắn, quá trình thực hiện vẫn có thể không đạt được mục tiêu do nhiều nguyên nhân Kết quả đánh giá từ nhiều góc độ và ở nhiều giai đoạn có thể cung cấp dự báo về xu hướng phát triển của giáo dục Nhờ đánh giá mới, các vấn đề tồn tại được phát hiện, từ đó chọn và triển khai các biện pháp thích hợp để bù đắp thiếu hụt hoặc loại bỏ sai sót Đó chính là chức năng cải tiến và dự báo của đánh giá giáo dục Ví dụ, qua phân tích và nghiên cứu từng khâu trong quản lý giáo dục và kiểm tra tính chính xác, sự phù hợp của từng hoạt động giáo dục, chúng ta có thể phán đoán hoặc dự báo các vấn đề hoặc điểm yếu trong dạy và học Kết quả là có căn cứ đáng tin cậy để tiến tới điều chỉnh mục tiêu và phương pháp giáo dục cho phù hợp với thực tế.
( Tham khảo: Bài giảng“ Đo lường đánh giá trong giáo dục”của tác giảNguyễnĐứcChính).[11,tr.30-31]
1.2.4.2 Nhữngyêucầuđốivớiviệc đánhgiá tronggiáo dục Để đánh giá thực hiện được các chức năng quan trọng như đã nêu trên, việc đánhgiáphảiđápứngcácyêucầusau:
Tính chuẩn hóa trong giáo dục đặt ra mục tiêu lớn nhất cho đánh giá là tạo động lực cho sự phát triển toàn diện nhân cách người học Vì vậy, dù ở bất kỳ hình thức nào, đánh giá cũng phải đảm bảo lợi ích cho người được đánh giá và đóng góp cho hoạt động dạy học và giáo dục nói chung Để thực hiện điều này, đánh giá phải dựa vào các chuẩn nhất định Chuẩn đánh giá có thể được xây dựng ở nhiều cấp độ tùy mục đích đánh giá, gồm cấp độ quốc gia và cấp độ lớp học Chuẩn cấp quốc gia được ghi rõ trong văn bản pháp quy, trong khi chuẩn cấp lớp học có thể được thể hiện trong đề cương môn học, trong cam kết giữa người dạy và người học, hoặc giữa người dạy với phụ huynh.
Dù ở cấp độ nào, các chuẩn đánh giá phải được công bố công khai đối với người được đánh giá hoặc người bảo hộ, nhằm bảo đảm tính minh bạch và quyền lợi của đối tượng Những quy định này phải cung cấp cho đối tượng được đánh giá (hoặc người bảo hộ) đầy đủ, chi tiết và rõ ràng từ mục tiêu đến hình thức đánh giá cũng như cách thức tổ chức và thực hiện quá trình đánh giá, giúp họ nắm rõ tiêu chí, tiến trình và các bước cần chuẩn bị.
Tính khách quan là yêu cầu đương nhiên của mọi hình thức đánh giá; đánh giá khách quan mới có thể kích thích, tạo động lực cho người được đánh giá và cung cấp những kết quả đáng tin cậy làm cơ sở cho các quyết định quản lý Nếu đánh giá thiếu khách quan, kết quả sẽ mất ý nghĩa giáo dục, có thể làm cho giáo dục đi chệch hướng và triệt tiêu động lực phát triển, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ sự phát triển xã hội Để đánh giá trở nên khách quan và phù hợp, người cầm cân nảy mực cần thấm nhuần tư tưởng đạo đức nghề nghiệp và đặt tiến bộ của từng cá nhân lên hàng đầu, đồng thời không bị chi phối bởi các yếu tố lệch lạc khác Trước khi công bố kết quả, cần đặt đối tượng trong tổng thể các mối quan hệ và điều kiện mà họ đang sống và làm việc Bên cạnh đó, công tác quản lý đánh giá đòi hỏi xây dựng một quy trình đánh giá chặt chẽ, minh bạch và đảm bảo mọi khâu của quy trình được thực hiện đúng quy định.
Đánh giá mang tính xác nhận và phát triển, chỉ rõ sự phù hợp giữa hiện trạng của đối tượng và mục tiêu đã đề ra, chỉ ra nguyên nhân của các lệch và đề xuất biện pháp khắc phục Nếu đánh giá được chuẩn hóa và khách quan, kết quả sẽ xác nhận mức độ phát triển của người được đánh giá tại thời điểm hiện tại và cho biết khả năng dự báo cho các bước tiến triển tiếp theo, dù kết quả không mang tính vĩnh hằng Trong giáo dục, đánh giá còn mang tính phát triển: không chỉ giúp người được đánh giá nhận ra hiện trạng đã đạt được mà còn hình thành con đường phát triển, tạo niềm tin và động lực để khắc phục các điểm chưa phù hợp, đạt tới trình độ cao hơn và phát triển tố chất cá nhân.
Tính toàn diện: Tính toàn diện là một yêu cầu của giáo dục, nhằm phát triển mộtcách toàn diện các đối tượng giáo dục, do vậy kiểm tra đánh giá cũng phải quán triệtnguyên tắc này Tính toàn diện được hiểu là nội dung của việc kiểm tra đánh giá phảiđáp ứng toàn bộ mục đích của đánh giá, các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá trong các lĩnhvực nhận thức, tình cảm cũng như kỹ năng Tính toàn diện trong kiểm tra đánh giánhằm phản ánh tính toàn diện của giáo dục, đồng thời định hướng để mọi hoạt độnggiáodụcphảiđượctiếnhànhmộtcáchtoàndiện.
(Thamkhảo:Bàigiảng“Đolườngđánhgiátronggiáodục”củat á c g i ả NguyễnĐứcCh ính).[11,tr.31-32]
Đánhgiásựphát triểncủatrẻmẫugiáo
Theo CTGDMN (Ban hành theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7năm
2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định: “Đánh giá sự phát triểncủa trẻ mẫu giáo là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống, phân tíchvà đối chiếu với mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non, nhằm theo dõi sự pháttriển của trẻ và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ, đảm bảo sự phát triển củatrẻphùhợpvớimụctiêugiáodục”. Đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo trong quá trình CS-GD có thể chia thành2loại:Đánhgiátrẻ hàngngàyvàtheogiaiđoạ n(đánh giá cuốichủ đề và đán hgiá cuốiđộtuổi) Cụthể:
GD.Nhữnghoạtđộngtrongngàycủatrẻmẫugiáobaogồm:hoạtđộngchơi,hoạtđộnghọc,hoạtđộng laođộng.
Hàng ngày, thông qua những hoạt động trên, GV chú ý phát hiện ra những trẻ cócác biểu hiện tích cực hoặc tiêu cực (có khả năng xếp hình hay vẽ rất tốt hoặc tỏ ra mệtmỏi, chán ăn ) trong nhóm/ lớp có những tác động CS-GD thích hợp với các trẻ đó(hoặc trao đổi với phụhuynh để có sự phốih ợ p g i ữ a n h à t r ư ờ n g v ớ i g i a đ ì n h t r o n g việcCS-GDtrẻ). Đồng thời qua những biểu hiện của trẻ, GV có thể nhận ra những điểm mạnh,điểm yếu trong quá trình CS-GD của mình để từ đó điều chỉnh việc tổ chức, việc CS-GDtrẻ chophùhợphơn.
Căn cứ vào mục đích yêu cầu về tổ chức hoạt động CS-GD trẻ, GV đánh giá trẻtheonhữngvấnđềsau:
+ Tình trạngsứckhỏecủatrẻ:đặcbiệt chúý theodõi, chămsócnhững trẻmới đihọcsaukhinghỉốm,trẻcóbiểuhiệnmệtmỏi,ăn,ngủkém…
+Trạngtháicảmxúc,hànhvi:Tinhthần,tháiđộcủatrẻthamgiacáchoạtđộngtrongngàyởtrư ờngmầmnon.
- Phương phápđánhgiá: Quansát, theodõi, trò chuyện,s ử d ụ n g t ì n h h u ố n g , đánh giá qua bài tập, phân tích sản phẩm của trẻ trong các hoạt động và trao đổi vớiphụhuynh.
+ Đối với những trẻ đạt mục đíchy ê u c ầ u t r o n g c á c h o ạ t đ ộ n g , G V t h e o d õ i , đánhgiáđểbiết,khôngnhấtthiếtphảighichépkếtquả.
Đối với những trẻ có biểu hiện đặc biệt như vượt yêu cầu một cách rất tốt hoặc những trẻ không đạt yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ, hoặc trẻ có biểu hiện sức khỏe yếu, giáo viên sẽ ghi chép và đánh giá bằng nhận xét chi tiết vào cột lưu ý hoặc ở phần cuối kế hoạch giáo dục, đồng thời cập nhật hàng ngày trên sổ theo dõi của lớp (sổ bài làm, sổ nhật ký lớp) Những ghi chú này giúp nhà trường và phụ huynh nắm bắt kịp thời mức độ tiến bộ của từng học sinh và từ đó điều chỉnh phương pháp giảng dạy, hoạt động giáo dục để hỗ trợ trẻ phát triển toàn diện.
+ Những vấn đề cần lưu ý trong việc tổ chức hoạt động CS-GD trẻ và những thayđổiphùhợptrongnhữngngàysau.
*Loại2: Đánh giátheogiaiđoạn(đánhgiá cuốichủ đềvàcuốiđộtuổi) Đánhgiá cuốichủđề:Thựchiệnởcác lớp mẫugiáokhikếtthúcmỗichủđề.
- Mục đích đánh giá: Xác định độ đạt được của trẻ ở các lĩnh vực phát triển cuốichủđề, trên cơ sởđóđiều chỉnhkế hoạchCS-GDtrẻ ở chủđềtiếptheo.
- Nội dung đánh giá: Căn cứ vào mục tiêu và đối chiếu với kết quả thực hiện chủđề, GV tổng hợp, nhận xét đánh giá trẻ và một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình thựchiệnchủđề:
+ Đánh giá kết quả của trẻ (kiến thức, kỹ năng, thái độ) cần nêu rõ tên cá nhân trẻđạtrấttốthoặcchưatốttrongtừnglĩnhvựcpháttriểncủatrẻ.Nêurõmụctiêulĩnh vựcnàotrẻđạtrấttốthoặcchưađạt,lýdochưađạt.
+ Những vấn đề cần lưu ý về phương tiện, học liệu, đồ chơi và hình thức tổ chứchoạtđộngGDđểGVrútkinhnghiệmthựchiệnchủđềsautốthơn.
+ Tổng hợp thông tin đánh giá trong thời gian thực hiện chủ đề, phân tích sảnphẩmcủatrẻvàtraođổivớiphụhuynh.
+ So sánh, phân tích, đánh giá kết quả của chủ đề so với mục tiêu đề ra hoặc cóthểsosánhkếtquảcủachủđềnàyvớichủđềtrước.
Để lưu kết quả đánh giá, ghi chép nhận xét tổng hợp được ghi trong sổ theo dõi nhằm tổng hợp các chủ đề đã hoàn thành Đánh giá cuối độ tuổi cho trẻ mẫu giáo được thực hiện 1 lần mỗi năm học, tại thời điểm cuối tháng 4 hàng năm (kết thúc kỳ 2 của năm học).
- Nội dung: Đánh giá theo các chỉ số đánh giá trẻ ở cuối các độ tuổi (Theo các chỉsốtrongcuốntàiliệu“Hướngdẫntổchứcthựchiệnchươngtrìnhgiáodụcmầmnon”).
+Quansát,theodõi,tròchuyện,phântíchsảnphẩmcủatrẻ,traođổivớiphụhuynh.
+Sửdụng mộtsốbài tập,tìnhhuốngđểkhảosát,đánhgiátrẻ.
Quảnlýđánhgiá trẻmẫugiáo
Dựa trên khái niệm QL và đánh giá trẻmẫugiáo,thôngquac á c k h á i n i ệ m v ề QL, đánh giá, đánh giá sự phát triển trẻ mẫu giáo, có thể xác định QL đánh giá trẻ mẫugiáolà:
- QL việc hiểu và triển khai thực hiện quy định đánh giá của đội ngũ CBQL, củaGVchủ nhiệmlớp,sựphốihợpcủaphụhuynhtrong đánhgiá.
- QL việc thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn, nghiệp vụ theo đúng quy địnhđánhgiátrẻmẫugiáovànhữngquyđịnhcụthểhóacủatừngnhàtrường.
Quản lý đánh giá trẻ mẫu giáo là quá trình có tác động hệ thống và được tổ chức theo kế hoạch, do nhà trường mầm non đảm nhận vai trò chủ thể quản lý Quá trình này xác định rõ cách thức, phương pháp, hình thức và nội dung đánh giá, đồng thời quy định cách sử dụng kết quả đánh giá để phục vụ giáo dục và chăm sóc trẻ một cách có hiệu quả Việc thực hiện cần tuân thủ nghiêm túc các quy định được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do ngành giáo dục ban hành, nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng và minh bạch của việc đánh giá trẻ mẫu giáo tại trường mầm non.
Bộchuẩnpháttriểntrẻem5tuổi
Chuẩnpháttriểntrẻem
Bộ Chuẩnbaogồm câcChuẩn vềsựphát triểncủatrẻ5 tuổi theo 4lĩnh vực.Mỗilĩnhvựcpháttriểnbaogồmcácchuẩnphảnánhnộidung củalĩnhvực.
Trongmỗi chuẩncócácchỉ số phảnánhnộidung củachuẩn Bộ chuẩnphát triểntrẻ5tuổi có28chuẩnvà120chỉsố.
MụcđíchbanhànhBộchuẩnpháttriểntrẻem5tuổi
1 Hỗtrợthựchiệnchươngtrìnhgiáodụcmầmnon,nhằmnângcaochấtlượngch ămsóc,giáodục,chuẩnbịtâmthếchotrẻem5tuổivàolớp 1.
+Bộchuẩnpháttriển tr ẻ em5t uổ i làcơsởđểcụthểhóamụctiêu ,nộidungc hămsóc,g iáo dục,l ự a chọnvàđiềuchỉnhhoạtđộngchăm sóc,g i á o dụcchophùhợp vớitrẻmâu giáo5tuổi.
+Bộchuẩnpháttriển trẻ em5tu ổi làcơsởđểxâydựngbộcôngcụtheodõi đánhgiásựpháttriểncủatrẻmâugiaó 5tuổi.
2 Bộchuẩnpháttriểntrẻem5tuổilàcăncứđểxâydựngchươngtrình,tàiliệutuyên truyền, hướng dẫn các bậc cha mẹ và cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dụctrẻ em 5 tuổi nhằm nâng cao nhận thức về sự p hát triển của trẻ em Trên cơ sở đó tạosự thốngnhấttrongchămsóc,giáodụctrẻgiữanhàtrường,giađìnhvàxãhội.
Nội dungBộchuẩnpháttriểntrẻem5tuổi
ChuẩnPTTE5tuổiViệtNamgồm4lĩnh vực,28chuẩn,120chỉsố.
Bốn lĩnh vực thể hiện sự phát triển toàn diện của trẻ dựa trên cơ sở của các nghiên cứu khoa học Trong Bộ chuẩn PTTE5T, bốn lĩnh vực được trình bày tách biệt nhau, nhưng trên thực tế chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; sự phát triển ở mỗi lĩnh vực vừa tác động vừa bị phụ thuộc vào sự phát triển ở các lĩnh vực khác, và không có lĩnh vực nào vượt trội so với lĩnh vực kia.
HoạtđộngđánhgiásựpháttriểncủatrẻtheoBộchuẩnpháttriểntrẻem5tuổi
CácnguyêntắckhisửdụngBộchuẩnpháttriểntrẻem5tuổiđểđánhgiátrẻ26 1.4.2 Bộcôngcụtheodõisựpháttriểntrẻmẫugiáo5tuổi
Nguyên tắc 2: Đánh giá trẻ trong môi trường gần với môi trường sống của trẻ.Nguyêntắc3:Đánhgiátrẻtronghoạtđộng.
Nguyêntắc5:Đảmbảotínhkháchquan,nhấtquán,kếthợpgiữaphântíchđịnhtínhvàđịnhhư ớng.
Bộ công cụ đánh giá dựa trên Bộ chuẩn PTTE5T của Việt Nam gồm các công cụ xác định mức độ đạt các chỉ số để lập kế hoạch giáo dục hướng tới sự phát triển của trẻ theo các lĩnh vực, chuẩn và chỉ số Đối với trẻ mẫu giáo 5 tuổi, bộ công cụ có hình thức phi chuẩn hóa, được sử dụng thường ngày hoặc theo chu kỳ năm học, tháng, tuần và dần được hoàn thiện trong quá trình sử dụng Nó không đòi hỏi hình thức và cấu trúc thật chặt chẽ như các công cụ chuẩn hóa Có nhiều dạng phương pháp phản ánh sự phát triển của trẻ tương ứng với các chỉ số, như phiếu quan sát, bài tập theo dõi, đề cương trò chuyện, đề cương phân tích sản phẩm, bảng liệt kê các chỉ số theo dõi của cá nhân và của lớp, hoặc theo nhóm Các dạng của bộ công cụ đều nêu rõ chỉ số, minh chứng, phương pháp, phương tiện, thời gian, hướng dẫn thực hiện, nhận xét, đánh giá và kết quả.
Cácyêucầuphát triểncủatrẻmẫugiáo 5tuổi theoBộchuẩn
Người có khả năng kiểm soát vận động tốt, có thể thực hiện các động tác cơ bản một cách vững vàng và giữ tư thế đúng trong mọi hoạt động Họ phối hợp nhịp nhàng giữa các giác quan và vận động, giúp cơ thể di chuyển chính xác và ổn định Khả năng vận động nhịp nhàng còn giúp họ định hướng trong không gian một cách rõ ràng, linh hoạt ở nhiều tình huống Đồng thời, họ sở hữu kỹ năng khéo léo của đôi tay trong một số hoạt động đòi hỏi sự tinh tế và điều khiển nhanh nhẹn các thao tác Những yếu tố này phản ánh sự phát triển toàn diện về vận động, tư duy không gian và kỹ năng thao tác của cơ thể.
Hiểu biết về thực phẩm và lợi ích của ăn uống đối với sức khỏe là nền tảng cho chế độ ăn cân bằng và lối sống lành mạnh Đồng thời, hình thành các thói quen ăn uống tốt và rèn luyện kỹ năng ăn uống phù hợp giúp giữ gìn sức khỏe và đảm bảo an toàn cho bản thân.
-Cómộtsốkỹnăngsống:tôntrọng,hợptác,thânthiện,quantâm,chiasẻ
- Thựchiệnmộtsốquytắc,quy địnhtrongsinhhoạtởgiađình,trườnglớpmầmnon,cộngđồnggầngũi.
- Yêuthích, hàohứngthamgiavào các hoạt độngnghệthuật
- Cókhảnăngbiểuđạtbằngnhiềucáchkhácnhau(lờinói,nétmặt,cửchỉ,điệubộ ).Th amgiacósángtạocáchoạtđộngngônngữ:đóngkịch,kểchuyện
- Nhậnbiếtcácchữin,hoa,thường Viếtđược têncủamình
- Hamhiểubiết,thíchkhámphá,tìmtòicácsựvật,hiệntượngxung quanh
- Cókhảnăngquansát,sosánh,phânloại,phánđoán,chúý,ghichớcóchủđịnh
- Cók h ả n ă n g d i ễ n đ ạ t s ự h i ể u b i ế t b ằ n g c á c c á c h k h á c n h a u ( b ằ n g h ì n h ả n h , hànhđộng,lờinói…)vớingônngữ nóilàchủyếu.
Hoạtđộngđánhgiásựpháttriểncủatrẻmẫugiáo5 tuổitheoBộchuẩn
Việc đánh giá sự phát triển của trẻ được thực hiện qua nhiều hình thức: đánh giá hàng ngày, đánh giá theo chủ đề ở cuối mỗi chủ đề và đánh giá theo từng giai đoạn phát triển Đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi là tập hợp các hoạt động mà giáo viên xây dựng kế hoạch thực hiện, lựa chọn và sắp xếp các chỉ số đánh giá trong hoạt động học và trong các hoạt động khác của ngày, đồng thời đưa những chỉ số này vào từng chủ đề cho phù hợp với trẻ ở lớp để hình thành bộ công cụ và áp dụng các phương pháp đánh giá nhằm đo lường kết quả đạt được của trẻ 5 tuổi Đối với trẻ mẫu giáo 5 tuổi, cần có bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi; giáo viên tiến hành hoạt động đánh giá trẻ theo một quy trình gồm quan sát, ghi nhận bằng chứng và tổng hợp kết quả để đánh giá sự phát triển của trẻ.
- Xác định mục tiêu: Căn cứ vào mục tiêu chung cuối độ tuổi; kết quả mong đợitrẻ theo từng lĩnh vực; chỉ số Bộ chuẩnphátt r i ể n t r ẻ 5 t u ổ i ; k h ả n ă n g n h u c ầ u , h ứ n g thúcủatrẻ;thờigianthựchiệnchủđề……
+Cácphươngtiện:Cácdụngcụhỗtrợnhưđồ dùng,đồchơi,học liệucóliênquan…
+Tínhđến tầnsuất GVsửdụngcông cụ,cácvùngmiền/bốicảnh khácnhau.
Bước2:Thốngnhấtthangđiểm:đánhdấu +/-;có/không.
Bước 3:Nghiên cứu minh chứng của các chỉ số để lựa chọn phương pháp theo dõi,kiểmtra,dụngcụhỗtrợ.
Ở Bước 4, cần thảo luận chi tiết về danh mục kiểm tra để đánh giá xem các phương pháp được áp dụng có cho kết quả chính xác hay không, đồng thời xem xét tính phù hợp của các dụng cụ kèm theo và mức độ dễ sử dụng Việc đánh giá này giúp nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết quả, xác định độ nhạy và độ chính xác của công cụ đo lường, cũng như đảm bảo các yếu tố đầu vào phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Cần đánh giá tính dễ sử dụng để giảm thiểu sai lệch do người thực hiện và tối ưu hóa quá trình thu nhận dữ liệu Đồng thời, xem xét khả năng sử dụng và chỉnh sửa khi gặp vấn đề nhằm đảm bảo quy trình có thể điều chỉnh linh hoạt để đạt được kết quả tốt nhất Người làm dự án nên ghi nhận mọi nhận định từ danh mục kiểm tra để điều chỉnh phương pháp và công cụ cho các bước tiếp theo, từ đó nâng cao hiệu quả và khả năng tái lập của nghiên cứu.
Bước 5:Thử nghiệm danh mục kiểm tra bằng các đóng vai trẻ và người kiểm tra đểthốngnhấtcáchthựchiệnđốivớitừngchỉsố.
Bước1:Chuẩn bịthời gian,khônggianvàcácphươngtiện đo
Bước2:Chuẩnbịbảngghikếtquảtheolớp/ nhóm(bảng1)vàtheotừngcánhân(bảng2)Bảng1.Bảngtheodõi sự pháttriểncủalớp/nhómtrẻ5tuổi
Bảng2.Bảngtheo dõi sựpháttriểncánhântrẻmẫugiáo5tuổi
Giáo viên dựa vào bằng chứng từ các chỉ số đánh giá, áp dụng các phương pháp theo dõi và đánh giá thông qua các hoạt động giáo dục hàng ngày để đo lường tiến bộ của trẻ Mỗi chỉ số đánh giá được xác định ở hai mức độ: đạt và chưa đạt, giúp làm rõ những kỹ năng đã có của trẻ cũng như những lĩnh vực cần hỗ trợ thêm để phát triển toàn diện.
+ Đạt: Trẻthường xuyênlàm được/ đạtđược/biết được (biểu hiện năng lực củatrẻổnđịnhvàkhôngphụthuộcvàomôitrường),kýhiệulà(+)
+ Chưa đạt: Trẻ chưa làm được/ chưa đạt được/ chưa biết được (biểu hiện nănglựccủatrẻcònchưađạt,cầnđượcgiáodụchỗtrợthêm,kíhiệulà(-).
Thống kê kết quả của từng trẻ theo bảng 2 bằng cách tính tổng số chỉ số đã đạt vàchưađạt.
Căn cứ vào Bảng tổng hợp theo dõi, đánh giá sự phát triển của lớp/nhóm theo Bộchuẩn PTTE5T, GV xem xét điều chỉnh kếh o ạ c h G D c ủ a t h á n g / c h ủ đ ề , t u ầ n , n g à y tiếptheo.
+ Đối với những chỉ số có tổng số trẻ đạt (+) dưới 70% GV tiếp tục đưa vàomụctiêuGDcủachủđềtiếptheo
Đối với các chỉ số có tổng số trẻ đạt trên 70%, giáo viên xác định số trẻ chưa đạt và lên kế hoạch rèn luyện cho các em ngay trong quá trình giáo dục Việc này giúp trẻ được hỗ trợ liên tục và hiệu quả ở mọi lúc, mọi nơi Đồng thời, giáo viên phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để cùng đẩy nhanh sự tiến bộ và giúp trẻ đạt được các chỉ tiêu mong muốn.
Do đó, mục tiêu GD chủ đề tiếp theo sẽ gồm các chỉ số mới cộng thêm các chỉ sốđượcchuyểntừchủđềtrướcsang(nhữngchỉsốcósốtrẻđạtdưới70%)
+ Những chỉ số trẻ chưa đạt (-) GV điều chỉnh các hoạt động GD chop h ù h ợ p vớinhucầu,hứngthú vàkhảnăngcủatrẻtrongkếhoạchngày.
Bảng đánh giá trẻ được sử dụng để thông báo và phối hợp với PHHS rèn luyệnthêm cho trẻ khi ở nhà Đồng thời, GV cũng sử dụng bảng này để trao đổi với đồngnghiệpvềviệcđiềuchỉnhkếhoạchGD.
QuảnlýhoạtđộngđánhgiásựpháttriểncủatrẻtheoBộchuẩnpháttriểntrẻem5 tuổi
Xâydựngkếhoạchđánhgiátrẻmẫugiáo5tuổi
Kế hoạch đánh giátrẻ mẫu giáo 5 tuổi là một loại kế hoạch QLGD ở các nhàtrường mầmnondànhchotrẻ5tuổi.
Kế hoạch đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi là văn bản mô tả chi tiết các công việc cần thực hiện nhằm đánh giá sự phát triển và năng lực của trẻ ở độ tuổi năm tuổi Nội dung kế hoạch được sắp xếp hợp lý theo thời gian, dựa trên mục tiêu yêu cầu, các nhiệm vụ và hình thức tiến hành, đồng thời nêu rõ các điều kiện cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đánh giá trình độ của trẻ và phục vụ cho công tác giáo dục mẫu giáo 5 tuổi Kế hoạch cũng làm rõ các phương pháp và tiêu chí đánh giá, giúp giáo viên ghi nhận kết quả và điều chỉnh hoạt động giảng dạy để hỗ trợ sự phát triển của trẻ.
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục và sự ra đời của Thông tư 23/2010/TT-BGDĐT, kế hoạch đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi được xây dựng gồm ba phần chính: kế hoạch đánh giá hàng ngày, kế hoạch đánh giá cuối chủ đề và kế hoạch đánh giá cuối năm cho từng lĩnh vực phát triển, đồng thời căn cứ trên các hoạt động giáo dục khác nhau để bảo đảm sự phù hợp với Bộ chuẩn PTTE5T.
Việc xây dựng kế hoạch đánh giá sự phát triển của trẻ theo Bộ chuẩn PTTE5Tgiúp cho
GV và các nhà quản lý tập trung chú ý, cố gắng đạt mục tiêu đánh giá trẻ nhằm giúp quá trình đánh giá diễn ra đúng dự kiến và kịp thời, tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc cho từng cán bộ, đơn vị; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm tra và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi cá nhân và của toàn đơn vị.
Kế hoạch đánh giá khoa học được thiết kế để tạo điều kiện cho các nhà quản lý tổ chức sắp xếp và phân công nhiệm vụ cho các cán bộ quản lý phụ trách, bảo đảm sự phù hợp giữa khả năng và năng lực chuyên môn của họ với trách nhiệm được giao Việc phân bổ nhiệm vụ dựa trên năng lực giúp tối ưu hóa hiệu quả quản trị và nâng cao chất lượng đánh giá khoa học Kế hoạch cụ thể xác định phân công tương ứng, tối ưu nguồn lực và thiết lập tiêu chí đánh giá minh bạch, công bằng, nhằm thúc đẩy sự phát triển chuyên môn và hiệu suất làm việc của đội ngũ quản lý.
Kế hoạch đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi cần được cụ thể hóa thành thời gian biểu cho từng nội dung công việc, quy định trách nhiệm và phối hợp thực hiện; đồng thời đánh giá từng nội dung và chỉ rõ cách thức tiến hành, hình thức tổ chức, cũng như quyền lợi của tổ chức và thành viên Kế hoạch nên xác định rõ nội dung đánh giá, người chịu trách nhiệm, các tiêu chí và công cụ đánh giá, thời hạn hoàn thành, và quy trình triển khai nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch và đồng bộ giữa các thành viên Việc thống nhất các yếu tố trên giúp nâng cao chất lượng giáo dục và tăng cường sự tham gia của toàn bộ tổ chức, đáp ứng các yêu cầu quản lý và tiêu chuẩn giáo dục hiện hành.
Xây dựng kế hoạch thực hiện hoạt động đánh giá trẻ cho cả năm học, xác định mục tiêu rõ ràng và dự kiến phân phối các nội dung giáo dục của chương trình theo lứa tuổi trẻ nhằm bảo đảm sự phù hợp và tiến bộ liên tục Nội dung kế hoạch bao gồm đặc điểm tình hình, mục tiêu – nội dung cần đạt, biện pháp thực hiện và kế hoạch triển khai hoạt động đánh giá trẻ theo các chỉ số của Bộ chuẩn PTTE5T, giúp chuẩn hóa đánh giá và nâng cao chất lượng giáo dục Kế hoạch này hướng tới tổ chức đánh giá đồng bộ suốt năm học và dễ dàng theo dõi, điều chỉnh dựa trên dữ liệu thực tế.
- Thông qua kế hoạch thực hiện hoạt động đánh giá với các chỉ số của Bộ chuẩnPTTE5TcủaGV theotừngchủ đề.
Từkếhoạchchungcủanhàtrường,GVlớpmẫugiáo5tuổichủđộngxâydựngkếhoạchcủachủđề,cụthể hóamụctiêu,chỉsố,nộidung,hoạtđộng,phươngtiện,cáchtổchức đánhgiátrẻchophùhợpvớitrẻcủ alớpmìnhphụtrách.
Thông qua kế hoạch của GV, CBQL có thể hỗ trợ GV trước khi tiến hành cáchoạt động đánh giá trẻ, hỗ trợ các ý tưởng sáng tạo của GV và tạo điều kiện để họ thựchiện Tuyên truyền, hướng dẫn các bậc cha mẹ và cộng đồng trong việc CS-GD trẻ 5tuổi, tạo sự thống nhất trong công tác CS-
GD trẻ giữa gia đình và nhà trường, tạo điềukiệnchoGVtraođổikinhnghiệm,họctậplẫnnhau.
Có thể nói, việc lập kế hoạch thực hiện hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻtheo Bộ chuẩn PTTE5T là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động đánhgiá trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong trường mầm non Kết quả của việc thực hiện kế hoạch làcơ sở để GV đưa ra các quyết định thích hợp để nâng cao chất lượng hoạt động đánhgiátrẻ,nhằmtăngcườngkhảnăngsẵnsàngđihọccủatrẻmẫugiáo5tuổi.
Chỉ đạođánhgiá trẻmẫugiáo5tuổi
Công tác chỉ đạo đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi là một khâu quan trọng trong côngtác
Quản lý chỉ đạo thực hiện đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi bằng cách truyền tải nội dung đánh giá đến những người thực hiện và huy động các lực lượng tham gia, trong đó CBQL (cán bộ quản lý giáo dục) làm công tác chuyên môn nhằm đảm bảo quá trình đánh giá diễn ra đầy đủ, kịp thời và nhất quán.
GV chủ nhiệm lớp trẻ mẫu giáo 5 tuổi, PHHS vào việc thực hiện kế hoạch, điềuhànhmọicôngviệcđểđảmbảochokếtquảđạtđượcnhưmụctiêuđềra.
Trong quá trình chỉ đạo đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi, người quản lý điều hành thực hiện các nhiệm vụ: chỉ đạo chuẩn bị kiến thức lý luận và kỹ năng; thao tác với các phương tiện hiện đại phục vụ đánh giá; nghiên cứu và thực hiện Quy định đánh giá trẻ 5 tuổi theo Bộ chuẩn PTTE5T (Thông tư 23/2010/TT-BGDĐT và văn bản hướng dẫn thực hiện); chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị; hướng dẫn các bước thực hiện theo quy trình đánh giá trẻ 5 tuổi, thông báo, sử dụng và lưu giữ kết quả đánh giá; chỉ đạo rút kinh nghiệm, tổng kết và quản lý kết quả đánh giá trong nhà trường Đồng thời, giám sát tiến trình của từng nội dung công việc để đánh giá mức độ triển khai, nhận diện trục trặc và kịp thời đề xuất thay đổi, bổ sung hay điều chỉnh cần thiết; tổng thể quá trình đánh giá được hoàn tất và báo cáo đúng thời hạn, đảm bảo tính khách quan, minh bạch và sự phù hợp với yêu cầu của hệ thống giáo dục mầm non.
QL cần động viên khuyến khích kịp thời, thường xuyên các đơn vị, các cá nhânlàmtốtcôngtácnày.
Để nâng cao chất lượng đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi, cần nghiên cứu tài liệu hướng dẫn nhằm chỉ đạo giáo viên thực hiện có hệ thống các hoạt động đánh giá; đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông về trách nhiệm và vai trò của giáo viên trong quá trình đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi, nhằm tăng cường nhận thức và thống nhất trong đội ngũ Ý nghĩa của việc tuyên truyền và phối hợp với cha mẹ trẻ là yếu tố then chốt giúp thu thập thông tin khách quan và đầy đủ, từ đó điều chỉnh kế hoạch giáo dục phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của từng trẻ.
- Chỉ đạo, hướng dẫn GV xây dựng kế hoạch chủ đề, xây dựng bộ công cụ đánhgiátrẻ,thiếtkếbàitập,phiếuđánhgiátrẻ,cáchtuyêntruyềnvàphốihợpvớiPHHS khithựchiệnhoạtđộngđánhgiátrẻ.
- Chỉ đạo GV lớp mẫu giáo 5 tuổi xây dựng góc tuyên truyền tại lớp về hoạt độngđánhgiátrẻ
Từ kết quả đánh giá trẻ, giáo viên được chỉ đạo điều chỉnh kế hoạch giáo dục cho phù hợp với từng trẻ, đồng thời bộ công cụ đánh giá trẻ cũng được điều chỉnh để phản ánh đúng tiến bộ và nhu cầu học tập của các em Từ các điều chỉnh này, nhà trường thực hiện cập nhật kế hoạch chung và điều chỉnh bộ công cụ kiểm tra đánh giá của trường nhằm đồng bộ hóa quá trình giảng dạy và đánh giá kết quả học tập.
Từ sự chỉ đạo, hướng dẫn của BGH nhà trường, GV lớp 5 tuổi triển khai thựchiệnviệcđánhgiátrẻmẫugiáo5tuổitheokếhoạchđãđược đềra.
Có thể nói, công tác chỉ đạo đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi là một công việc vôcùng quan trọng trong hoạt động đánh giá trẻ mầm non Người QL, điều hành có chỉđạo tốt công tác này thì mới giúp cho việc đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong nhàtrường mầmnonđạt đượctốthơn,kháchquanhơn,cóý nghĩavàgiátrịhơn.
Tổchứchoạtđộngđánhgiátrẻmẫugiáo5tuổi
Quy định đánh giá sự phát triển của trẻ theo Bộ chuẩn PTTE5T là văn bản quy phạm có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của việc áp dụng phương pháp đánh giá trẻ Dựa trên văn bản này, các trường mầm non cần chủ động, sáng tạo và linh hoạt rà soát, cập nhật và tiến hành triển khai chi tiết các hoạt động đánh giá, từ thiết kế công cụ đo lường, xác định tiêu chuẩn phát triển đến tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo sự chuẩn hóa, chính xác và nhất quán trong kết quả đánh giá và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.
Thông tư 17/2009/BGD&ĐT quy định đánh giá, xếp loại trẻ mầm non dựa trên 5 lĩnh vực phát triển (thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ) với 33 chỉ số; tuy có 5 lĩnh vực nhưng hệ thống này chưa dựa trên chuẩn rõ ràng và lĩnh vực phát triển ngôn ngữ chưa được liên kết chặt chẽ với phát triển giao tiếp, đồng thời các chỉ số đánh giá còn mang tính chất định tính, chưa cụ thể Thời điểm đánh giá chủ yếu là vào cuối năm học khiến kết quả khó kịp thời để giáo viên điều chỉnh kế hoạch hoạt động và thiết kế phù hợp với nhu cầu của trẻ; người quản lý cấp trường cũng không thể dựa vào kết quả đánh giá để kịp thời xây dựng, điều chỉnh kế hoạch chung của nhà trường như đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi và bồi dưỡng giáo viên nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 5 tuổi Do đó, cách đánh giá hiện tại không còn phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục và cần phải thay đổi cách đánh giá cho phù hợp với sự phát triển của trẻ và đường lối chỉ đạo trong giai đoạn mới.
Hiện nay, trong bối cảnh đổi mới giáo dục và sự ra đời Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT ban hành văn bản quy định đánh giá trẻ mẫu giáo dựa trên Bộ chuẩn phát triển, hệ thống đánh giá cho trẻ 5 tuổi được tổ chức trên bốn lĩnh vực phát triển, trong đó lĩnh vực ngôn ngữ gắn với phát triển giao tiếp để phản ánh đúng đặc điểm của trẻ Các chỉ số đánh giá đã được xây dựng đầy đủ, chi tiết và phù hợp với thực trạng phát triển của trẻ mầm non 5 tuổi, giúp giáo viên và ban giám hiệu thực hiện các bước đánh giá một cách thống nhất theo quy định và theo sách Chương trình GDMN Nhà trường mầm non cần tham khảo các văn bản cụ thể hóa Quy định đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi và xây dựng các nội dung đánh giá chất lượng cao, cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của trường.
Dựa trên nội dung của Thông tư 23/2010/TT-BGDĐT quy định đánh giá sự phát triển của trẻ theo Bộ chuẩn PTTE5T do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, trường học tiến hành thành lập Hội đồng đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi Hội đồng này được thành lập nhằm thực hiện đánh giá toàn diện và khách quan các mặt phát triển của trẻ ở độ tuổi 5; từ kết quả đánh giá, nhà trường có cơ sở để lên kế hoạch giáo dục, chăm sóc và can thiệp kịp thời khi cần thiết.
Tiến hành soạn thảo văn bản quy định hướng dẫn chi tiết hoạt động đánh giá dựa trên Bộ chuẩn PTTE5T áp dụng trong nhà trường, nhằm quy định rõ nguyên tắc và tiêu chí đánh giá ở các cấp học Lấy ý kiến góp ý từ các đơn vị liên quan trong và ngoài nhà trường để bảo đảm tính phù hợp, khách quan và khả thi khi triển khai Sau khi tổng hợp các ý kiến đóng góp, văn bản sẽ được hoàn thiện và ban hành, làm khuôn khổ quản lý và hướng dẫn thực hiện hoạt động đánh giá giáo dục một cách thống nhất trên toàn trường.
Việc tuyên truyền, phổ biến nội dung các văn bản quy định và hướng dẫn công tác được triển khai một cách đồng bộ nhằm giúp đối tượng liên quan nắm vững yêu cầu, mục tiêu và quy trình thực thi Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về đánh giá sự phát triển của trẻ theo Bộ chuẩn PTTE5T là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực nhận diện các mốc phát triển và thực thi các hoạt động giáo dục phù hợp với từng giai đoạn Nội dung truyền thông nên rõ ràng, ngắn gọn và có ví dụ minh hoạ, tài liệu tham khảo chất lượng để mọi người có thể tra cứu và áp dụng đúng quy trình đánh giá Các hoạt động đào tạo và phổ biến cần được tích hợp vào chương trình giáo dục và công tác quản lý tại cơ sở giáo dục, đảm bảo sự nhất quán giữa các văn bản quy định và thực tiễn triển khai.
Chú trọng mục tiêu của công tác đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi dựa trên Bộ chuẩn phát triển và các hình thức tổ chức thực hiện, vì đây là cơ sở quan trọng nhất để đánh giá đúng đối tượng và đáp ứng nhu cầu của trẻ 5 tuổi trong từng môi trường giáo dục.
Để nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ 5 tuổi, cần phân công giáo viên có trình độ trên chuẩn và nhiều kinh nghiệm phụ trách lớp trẻ mẫu giáo 5 tuổi Trách nhiệm của từng giáo viên khi thực hiện hoạt động đánh giá trẻ và điều chỉnh kế hoạch giáo dục dựa trên kết quả đánh giá phải được xác định rõ, nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ Việc phân công rõ ràng giúp tăng cường sự phối hợp giữa giáo viên, theo dõi tiến bộ của trẻ và cập nhật kế hoạch giáo dục phù hợp với nhu cầu thực tế của từng trẻ, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy và đánh giá.
Đầu tư cơ sở vật chất và CSVC là nền tảng để nâng cao chất lượng giáo dục tại trường, đảm bảo môi trường học tập an toàn và hiện đại cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi Nhà trường sẽ xây dựng góc tuyên truyền tập trung vào hoạt động đánh giá trẻ 5 tuổi và Bộ chuẩn PT TE5T, nhằm nâng cao nhận thức của phụ huynh, giáo viên và học sinh về quy trình và mục tiêu đánh giá Đồng thời, các điều kiện thuận lợi được thiết lập để tạo điều kiện cho việc triển khai các hoạt động đánh giá trẻ một cách hiệu quả, khách quan và phù hợp với chuẩn giáo dục.
Kiểmtra,đánhgiáhoạtđộngđánhgiátrẻtrẻmẫugiáo5tuổi
Việc kiểm tra, đánh giá việc thực hiện theo Bộ chuẩn PTTE5T là nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi tổ chức kiểm tra và đánh giá thường xuyên, liên tục Trước hết, cần thành lập đoàn kiểm tra, tổ kiểm tra và nhóm kiểm tra được phân công nhiệm vụ trong chương trình kiểm tra, đánh giá định kỳ Thành viên tham gia là cán bộ quản lý và giáo viên, đồng thời phải là người nghiên cứu kỹ Thông tư 23/2010/TT-BGD&ĐT, nắm vững các văn bản quy định đánh giá đối với trẻ 5 tuổi theo Bộ chuẩn phát triển và hiểu được ý nghĩa, tác dụng của việc đánh giá đối với nhà trường và trẻ mẫu giáo 5 tuổi Từ đó, họ đề xuất biện pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với quy định của ngành và trường Hoạt động này mang lại giá trị thực tiễn và tinh thần cho nhà trường và trẻ 5 tuổi; kiểm tra, đánh giá một cách công khai, minh bạch sẽ nâng cao giá trị của hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong các trường mầm non.
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục toàn diện và căn bản hiện nay, công tác kiểm tra, đánh giá không phải là việc làm đối phó xong thủ tục mà cần đầu tư và suy nghĩ để xây dựng các yêu cầu, quy định cụ thể, chi tiết cho hoạt động đánh giá trẻ 5 tuổi tại các trường mầm non Nhờ đó, sau mỗi đợt kiểm tra, đánh giá, chúng ta rút ra bài học kinh nghiệm quý báu và có thể điều chỉnh tiêu chí, phương thức đánh giá, từ đó đề xuất hoạch định và định hướng giáo dục phù hợp với sự đổi mới giáo dục và sự phát triển chung của xã hội Việc kiểm tra, đánh giá là trách nhiệm chung của từng cá nhân, đơn vị và tổ chức trong nhà trường, đặc biệt là của các thành viên tham gia tổ kiểm tra, đánh giá.
Trong trường mầm non, có ba hình thức đánh giá sự phát triển của trẻ: Đánh giátìnhhìnhcủatrẻhàngngày;Đánhgiásựpháttriểncủatrẻsauchủđềgiáodục(gọitắtlàđánhgiátheoc hủđề);Đánhgiásựpháttriểncủatrẻcuốiđộtuổi(saumộtnămhọc).
Sau khi kiểm tra kết quả đánh giá hàng ngày của giáo viên, BGH nhà trường tiến hành phân tích để xác định nguyên nhân và đề xuất các giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng đánh giá trẻ Quá trình này bao gồm chỉ đạo giáo viên điều chỉnh bộ công cụ đánh giá trẻ, lựa chọn điều kiện và phương pháp đánh giá phù hợp, và đề xuất nội dung, hình thức tổ chức hoạt động phù hợp với từng trẻ, giúp trẻ tiến bộ và phát triển toàn diện.
Dựa trên kết quả kiểm tra hoạt động đánh giá trẻ sau chủ đề giáo dục, Ban giám hiệu nhận định kết quả trẻ đạt được so với mục tiêu đề ra, làm căn cứ để chỉ đạo giáo viên xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch chủ đề giáo dục tiếp theo và kế hoạch thực hiện hoạt động đánh giá trẻ ở giai đoạn tiếp theo Đồng thời, cần bổ sung thêm các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, đồ chơi, nhân lực và thời gian nhằm triển khai có hiệu quả các hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và đánh giá trẻ một cách toàn diện.
Việc kiểm tra, đánh giá và phân loại GV trong hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi được thực hiện bằng nhiều hình thức: kiểm tra hoạt động đánh giá trẻ hàng ngày; kiểm tra định kỳ ở cuối chủ đề giáo dục; kiểm tra đột xuất; và đánh giá kết quả phát triển của trẻ về thể chất, tình cảm, trí tuệ và thẩm mỹ dựa trên các chỉ số theo Bộ chuẩn PTTE5T.
Kiểm tra đánh giá GV từ kết quả thực hiện công việc nhằm phát hiện những sailệch, xác định những tác động điều chỉnh để đảm bảo việc hoàn thành mục tiêu quản lýđề ra Kiểm tra đánh giá GV trong việc thực hiện hoạt động đánh giá trẻ hàng năm vừađảmbảosựkhíchlệvừakịpthờiđiềuchỉnhvà hỗtrợnhững điềukiệncầnthiếtđể nângcaochấtlượngCS-
Yếut ố t á c đ ộ n g đ ế n q u ả n l ý h o ạ t đ ộ n g đ á n h g i á s ự p h á t t r i ể n c ủ a t r ẻ t h e o B ộ chuẩnpháttriểntrẻ 5tuổitrongtrường mầm non
Đặcđiểmpháttriểntâmlýcủatrẻmẫugiáo5tuổi
Học tập ở mẫu giáo 5 tuổi vẫn là "Học bằng chơi, chơi mà học" Học theo nghĩalà chơi theo một trình tự hành động gần giống như học còn gọi là “hoạt động học”, nộidung hoạt động học vừa nhẹ nhàng, vừa hấp dẫn trẻ, đối tượng là những kiến thức rấtcụthể,trực quansinhđộng.Trẻ tậplàmquenvớicáctiếthọcđểlĩnh hộinhững t rithứcđơngiảngầngũiđốivớitrẻ,nhưnglàtiềnđềđểtrẻvàolớp1.
Trẻ có khả năng điều hướng ý thức và tập trung vào các đối tượng cần cho vui chơi, học tập và lao động tự phục vụ Khả năng chú ý có chủ định của trẻ kéo dài từ 37–51 phút, tập trung vào những đối tượng hấp dẫn và kích thích sự tò mò, ham hiểu biết Trẻ có thể phân bổ chú ý vào 2–3 đối tượng cùng lúc, nhưng thời gian phân bổ chú ý chưa bền vững và dễ dao động.
Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển Trẻ có nhu cầu nhận sự giải thích và cũngthích giải thích cho các bạn Câu nóic ủ a t r ẻ t h ư ờ n g n g ắ n g ọ n , r õ r à n g
Tính địa phương tồn tại trong ngôn ngữ mang bản sắc văn hóa của địa phương và cộng đồng, và điều này được thể hiện rõ qua ngôn ngữ của trẻ em, kể cả khi trẻ nói ngọng hoặc nói mất dấu Tính cá nhân của trẻ được bộc lộ qua các sắc thái giọng điệu khác nhau, đặc biệt là ở chức năng ngôn ngữ biểu cảm Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp và các đặc tính của ngôn ngữ ở trẻ phụ thuộc phần lớn vào sự hướng dẫn và gương mẫu về lời nói từ người lớn, cũng như sự mô phỏng và luyện tập của trẻ trong môi trường gia đình và xã hội.
Ở lứa tuổi 4–5, các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ và tưởng tượng bắt đầu có sự nối tiếp và chất lượng phát triển ở mức mới; sự phát triển tư duy mạnh mẽ về loại hình và thao tác, cho phép trẻ phân tích tổng hợp không chỉ với đồ vật và hình ảnh mà cả với từ ngữ Tư duy của trẻ dần hướng tới sự khách quan, vượt qua tính chủ quan và hiện tượng hiện hữu của bản thân; trẻ bắt đầu phân biệt được thực tại và ý thức được các mối quan hệ xung quanh Đồng thời trẻ đã có khả năng tư duy trừu tượng về các phạm trù như số, không gian, thời gian và các quan hệ xã hội, và ý thức rõ về các suy nghĩ và cảm xúc của mình, cũng như trách nhiệm đối với hành vi Các phẩm chất của tư duy được thể hiện đầy đủ qua cấu trúc và chức năng hoạt động như có mục đích, độc lập sáng tạo, tính linh hoạt và sự mềm dẻo Ở trẻ 5–6 tuổi, cả ba loại tư duy đều được phát triển mạnh, trong đó tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế.
Quá trình phát triển trí tuệ cảm xúc và tình cảm ở trẻ bắt đầu từ sự tiến bộ của nhận thức; mỗi nhận thức mới kích thích niềm vui, hứng thú và sự say mê khám phá Thông qua các hoạt động vui chơi và giao tiếp với mọi người, cùng với những thói quen sống tốt được gia đình và lớp mẫu giáo bồi đắp, trẻ dần ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp để làm vui lòng người khác và nuôi dưỡng các mối quan hệ tích cực Trẻ cũng hình thành nhận thức về cái đẹp, sự cân nhắc thẩm mỹ và cảm xúc thẩm mỹ, từ đó phát triển khả năng đánh giá vẻ đẹp và thể hiện nó trong cuộc sống hàng ngày.
Sự phát triển ý chí ở trẻ diễn ra khi trẻ dần xác định rõ mục đích của hành động và nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ một cách có kế hoạch Trẻ bắt đầu tách động cơ khỏi mục tiêu và hình thành thói quen lập kế hoạch, biết sắp xếp giữa công việc và vui chơi, và làm các việc như quét nhà, nhặt rau để khi mẹ về có thể hoàn thành mọi việc và khiến mẹ hài lòng Tinh thần trách nhiệm tự thân được hình thành ngày càng vững chắc; mức độ mạnh yếu của ý chí phụ thuộc phần lớn vào sự giáo dục và các biện pháp giáo dục mà cha mẹ, thầy cô và những người lớn quanh trẻ thực hiện.
Ở cuối tuổi mầm non, trẻ bắt đầu hiểu bản ngã của mình: mình là ai, có những phẩm chất gì, và cách người xung quanh đối xử ra sao, từ đó lý giải tại sao mình cư xử theo cách này hay cách khác Sự tự đánh giá về thành công và thất bại, ưu điểm và khuyết điểm, cùng với nhận thức về khả năng và sự bất lực, trở thành nội dung quan trọng của quá trình phát triển bản ngã Ở mẫu giáo lớn, ý thức tự thân được làm rõ hơn qua sự phát triển giới tính: trẻ không chỉ nhận biết mình là trai hay gái mà còn hiểu rằng hành vi nên thể hiện như thế nào để phù hợp với giới tính của mình Những khía cạnh này hình thành nền tảng cho sự tự tin, khả năng tự điều chỉnh hành động và tương tác xã hội, từ gia đình đến bạn bè và môi trường xung quanh.
Đến khi trẻ tròn 6 tuổi, đây là một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của trẻ Ở độ tuổi mẫu giáo lớn, trẻ bước vào thời kỳ có sự biến đổi về hoạt động chủ đạo, khi hoạt động vui chơi vẫn giữ vai trò chính nhưng các yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu xuất hiện Mặc dù vui chơi vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong phần lớn thời kỳ mẫu giáo, cuối giai đoạn này đã đánh dấu sự hình thành của những yếu tố chuẩn bị cho việc học ở trường Tới cuối giai đoạn mẫu giáo lớn, trẻ đã có các tiền đề cần thiết để chín muồi cho việc nhập học, ở các mặt tâm sinh lý, nhận thức, ngôn ngữ và tâm thế để thích nghi với điều kiện học tập ở lớp một.
Việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 là quá trình xây dựng những tiền đề và yếu tố nền tảng cho hoạt động học tập, giúp trẻ thích nghi nhanh và hiệu quả với môi trường lớp học Có thể có hai lĩnh vực cần chuẩn bị: một là chuẩn bị về năng lực nhận thức và ngôn ngữ, bao gồm nhận diện chữ cái, số học căn bản, khả năng chú ý và tư duy logic; hai là thiết lập thói quen và kỹ năng tự lập như tự chăm sóc bản thân, quản lý thời gian, thói quen học tập, giao tiếp và làm việc nhóm với bạn bè Cha mẹ và người chăm sóc có thể tham gia bằng cách rèn luyện thói quen đọc sách, luyện tập viết chữ, đồng hành cùng trẻ trong các hoạt động khám phá và thể dục, đồng thời tạo một môi trường học tập tại nhà thoải mái, kích thích sự tò mò và giúp trẻ tự tin bước vào lớp 1.
Chuẩn bị cho trẻ ở mức chung gồm ba yếu tố: thể lực, trí tuệ và nhân cách Về thể lực, đảm bảo trẻ khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, có sự dẻo dai, linh hoạt và năng lực phối hợp các vận động cơ bản Về trí tuệ, nuôi dưỡng sự tò mò ham hiểu biết, óc tưởng tượng, khả năng chú ý và trí nhớ, cùng với tư duy phản biện và sáng tạo Về nhân cách, phát triển các nét ý chí như tính chủ động, tự lập và kiên trì, đồng thời hình thành thái độ tích cực với xã hội và bản thân thông qua lòng tự trọng, tự đánh giá và tinh thần hợp tác.
Chuẩn bị chuyên biệt là quá trình phát huy những năng lực và phẩm chất riêng biệt ở trẻ, nhằm trực tiếp hỗ trợ trẻ dễ dàng và nhanh chóng thích nghi với việc tham gia các tiết học và môn học ở lớp 1 Nội dung của chuẩn bị này tập trung vào việc giúp trẻ dễ làm quen và thích ứng với hình thức giảng dạy, nhịp học và môi trường lớp học, từ việc quản lý thời gian và rèn thói quen học tập đến tăng cường sự tự tin, tập trung và kỹ năng giao tiếp Nhờ đó, trẻ có khả năng hòa nhập tốt với bạn bè và giáo viên, tham gia tích cực vào hoạt động học tập và đạt được hiệu quả cao hơn trong quá trình tiếp thu kiến thức.
"tiếthọc" ở lớp 1 và cấp tiểu học sau này Chuẩn bị về động cơ học tập Chuẩn bị về nhậnthứcnhiệmvụhọctập.Chuẩnbịvềcáchhọc.
Hiểu được đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5 tuổi giúp xác định cách đánh giá phù hợp với Bộ chuẩn phát triển tuyệt đối; trong quá trình đánh giá, không nên xếp loại trẻ, cũng không đòi hỏi ở trẻ những điều không thể làm được và cũng không được đánh giá thấp khả năng thật sự của trẻ Mặc dù Bộ chuẩn phát triển tuyệt đối không đặt ra yêu cầu quá khó, sự khác biệt về tâm sinh lý giữa các trẻ khiến có trẻ nhanh nhẹn, khôn ngoan và đáp ứng yêu cầu, còn có trẻ vẫn chưa đáp ứng đầy đủ Vì vậy, người quản lý, giáo viên và cha mẹ cần hiểu đúng khả năng của trẻ, hỗ trợ để trẻ phát triển tối đa tiềm năng của mình và theo dõi sự tiến bộ để điều chỉnh các tác động kích thích sự phát triển Cần tìm nguyên nhân gây hạn chế và điều chỉnh các biện pháp tác động nhằm thúc đẩy sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi một cách bền vững.
Gia đình
Gia đình là môi trường quan trọng giúp trẻ mẫu giáo 5 tuổi thể hiện hành vi và quan điểm sống của mình về các vấn đề, sự kiện hay hoạt động, từ đó trẻ điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực chung của tập thể và xã hội Khi trẻ có thói quen hoặc hành vi chưa phù hợp, các thành viên trong gia đình nên áp dụng nhiều hình thức điều chỉnh nhằm hình thành các thói quen tích cực Đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi là nhiệm vụ của phụ huynh và gia đình, do đó cần có các nhận xét và đánh giá từ phía gia đình Thông tư 23/2010/TT-BGDĐT nhấn mạnh việc chăm sóc học sinh được khuyến khích phối hợp giữa gia đình và nhà trường để hỗ trợ sự phát triển toàn diện của trẻ.
Trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ 5 tuổi, GV và nhà trường phối hợp chặt chẽ để thực hiện CS-GD bằng cách hướng dẫn giáo viên cách quan sát và động viên các hoạt động của học sinh, thậm chí tham gia cùng học sinh vào các hoạt động Việc trao đổi với giáo viên về nhận xét, đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi được thực hiện bằng các hình thức phù hợp và thuận tiện nhất, như trao đổi trực tiếp hoặc viết thư Trong hệ thống đánh giá gồm 120 chỉ số, giáo viên lựa chọn 30-40 chỉ số ở các lĩnh vực phù hợp để xây dựng bộ công cụ đánh giá, nhằm kết hợp với phụ huynh quan sát, theo dõi và đánh giá trẻ tại nhà thông qua các phiếu đánh giá.
Gia đình là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi dựa trên Bộ chuẩn phát triển Các công tác đánh giá liên quan đến trẻ 5 tuổi cần được tổ chức trao đổi, thảo luận và lấy ý kiến của cha mẹ nhằm đảm bảo đánh giá chính xác, phù hợp với mức độ trưởng thành của trẻ Sự tham gia tích cực của cha mẹ học sinh giúp con em được đánh giá một cách toàn diện, từ đó hỗ trợ trẻ phát triển tốt hơn Vì vậy, phụ huynh cần phối hợp với nhà trường, xem xét và hỗ trợ công tác tìm hiểu, nghiên cứu về sự phát triển tâm lý, sinh lý và nhu cầu của trẻ mẫu giáo 5 tuổi Từ đó, công tác đánh giá nên được điều chỉnh để phù hợp với lứa tuổi và các chỉ số của Bộ chuẩn phát triển.
Tóm lại, đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi là nhiệm vụ của mọi phụ huynh Họ cần phối hợp chặt chẽ với giáo viên trong quá trình đánh giá để hỗ trợ nhà trường trong công tác giáo dục và đào tạo, đồng thời thống nhất với nhà trường về chăm sóc – giáo dục trẻ nhằm giúp con cái họ phát triển toàn diện và chuẩn bị tâm thế sẵn sàng vào lớp một.
Nhà trường
Nhà trường đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi, vì đây là đối tượng giáo dục và chăm sóc mà trường chịu trách nhiệm và sự phát triển của trẻ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nhà trường Việc đánh giá dựa trên Bộ chuẩn phát triển đòi hỏi sự tham gia đồng bộ và nhịp nhàng của các đơn vị liên quan trong nhà trường Trách nhiệm đầu tiên thuộc về Ban giám hiệu, đặc biệt hiệu trưởng của các trường mầm non, người chịu trách nhiệm đề xuất kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra công tác đánh giá, đồng thời sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh hoạt động giáo dục phù hợp với mục tiêu của nhà trường Hiệu trưởng là người theo dõi tiến độ và đánh giá hiệu quả của công tác đánh giá nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ và nâng cao chất lượng giáo dục tại trường.
GV thực hiện đúng chủ trương của ngành, nắm vững Thông tư 23/2010/TT-BGD&ĐT và các chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về công tác này Hiệu trưởng chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi, báo cáo kết quả về Phòng GD&ĐT; xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng, duyệt kết quả đánh giá trẻ mầm non cuối năm học; quản lý hồ sơ học bạ trong thời gian trẻ học tại trường; chỉ đạo nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục mầm non và tăng cường CSVC để đáp ứng công tác đánh giá trẻ Hiệu trưởng tiếp nhận, giải quyết ý kiến thắc mắc, đề nghị của giáo viên và cha mẹ học sinh về nhận xét, đánh giá, khen thưởng theo phạm vi và quyền hạn của hiệu trưởng Đặc biệt, trong 120 chỉ số đánh giá trẻ, ban giám hiệu phải lựa chọn 30-40 chỉ số ở các lĩnh vực phù hợp và xây dựng bộ công cụ đánh giá để theo dõi đánh giá xác suất trên trẻ Chính vì vậy, người CBQL của mỗi nhà trường cần xác định rõ công việc đánh giá là cần thiết và tổ chức kế hoạch triển khai tại trường cho phù hợp Đối với đội ngũ giáo viên mầm non, đặc biệt là giáo viên khối mẫu giáo 5 tuổi, họ trực tiếp tham gia thực hiện các hoạt động đánh giá và chăm sóc trẻ.
Đánh giá trẻ là hoạt động do giáo viên mầm non trực tiếp thực hiện và chịu trách nhiệm trước nhà trường, đóng vai trò then chốt trong chất lượng giáo dục mầm non Vai trò của giáo viên mầm non được xem là lực lượng chủ yếu quyết định chất lượng trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non, vì họ trực tiếp thực hiện công tác giảng dạy và đánh giá Dựa trên Bộ chuẩn phát triển, khi đánh giá trẻ 5 tuổi, các chỉ số đạt được giúp giáo viên chọn biện pháp tác động tích cực, tổ chức lớp học phù hợp và sử dụng phương pháp giáo dục phù hợp để đáp ứng yêu cầu bài học Các chuẩn này đồng thời cung cấp khung tham chiếu cho giáo viên và cha mẹ nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và giúp trẻ 5 tuổi có tâm thế chuẩn bị vào lớp 1 Giáo viên mầm non có trách nhiệm lập kế hoạch giáo dục trẻ, thực hiện kế hoạch, điều chỉnh nội dung giáo dục theo các chủ đề sau cho phù hợp; cuối chủ đề, cuối năm học hoặc khi được yêu cầu, họ công bố kết quả đánh giá quá trình học tập dựa trên Bộ chuẩn phát triển cho cha mẹ và duy trì mối liên hệ với cha mẹ để phối hợp công tác giáo dục trẻ mẫu giáo 5 tuổi.
GV chủ nhiệm lớp mẫu giáo 5 tuổi làngười hướng dẫn, gợi mở trẻ tham gia các hoạt động GD, thực hiện chương trình CS-GD trẻ theo đúng Quy chế và Điều lệ trường mầm non cũng như tổ chức cho trẻ thamgia các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động ngày hội ngày lễ, giúp trẻ hình thành kỹnăngtựphụcvụlaođộng,kỹnăngvệsinhcánhân vàpháttriểntoàndiệnđầyđủc ácm ặt : đức, tr í thể, m ỹ D ođiềuk iệ nkinht ế , xã hộinhiều v ùn g m i ề n k h ác nhau, điều kiện thực tế của từng trường, từng lớp cũng khác nhau, do đó khả năng nhận thứccủa trẻcũngkhácnhau, chínhvìvậy ngườiGV cần nghiên cứukỹ hướngdẫnB ộ chuẩn PTTE5T, nắm được các nguyên tắc thực hiện và trao đổi trong trường đề xuấthìnhthứcthựchiện,phùhợp,hiệuquả,tránhhìnhthứcthì mớiđápứngđượcyêucầu.
GV mầm non đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định việc học tập và sựpháttriểncủatrẻ5tuổi.GVđượcđàotạotốtsẽcó nhiềutươngtácvớitrẻtíchcựch ơn, nhanh nhạy hơn, thích ứng hơn, cung cấp những trải nghiệm về phát triển nhậnthức và ngôn ngữ phong phú hơn Tuy nhiên, trên thực tế trình độ chuyên môn nghiệpvụ, kiến thức và kỹ năng đánh giá trẻ 5 tuổi của
GV lớp mẫu giáo 5 tuổi trong cáctrườngm ầ m n on là k h ô n g đ ồ n g đ ề u Đ iều nà y cũnggây ảnhh ư ở n g kh ôn g n h ỏ đ ến chấtlượnghoạtđộngđánhgiátrẻmẫugiáo5tuổi.
Như vậy, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp mẫu giáo 5 tuổi đóng vai trò rất quan trọng trong nhà trường tham gia nghiên cứu, tham mưu, đề xuất và triển khai các kế hoạch, quy trình cũng như cách thức tổ chức đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi một cách chính xác và cụ thể nhất CSVC, thiết bị phục vụ cho hoạt động đánh giá là điều kiện thiết yếu để triển khai và hoàn thành nhiệm vụ đánh giá và quản lý kết quả dựa trên Bộ chuẩn, bao gồm các đồ dùng, đồ chơi thiết yếu và các công cụ, vật dụng như bộ công cụ đánh giá trẻ, phiếu đánh giá của giáo viên và của phụ huynh, sổ tay chuyên môn của giáo viên, sổ chất lượng tổng hợp kết quả đánh giá cho từng lớp và sổ tổng hợp kết quả đánh giá trẻ mầm non trên toàn trường Các thiết bị như máy tính, bảng tuyên truyền ở các lớp mẫu giáo 5 tuổi, bảng thông tin của trường, sổ tay hướng dẫn hoạt động đánh giá và các yêu cầu đối với từng đối tượng cũng cần được đầu tư, nhằm lưu trữ chứng cứ, tăng tính thuyết phục, công khai và minh bạch, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý CS-GD trẻ mầm non trong nhà trường.
Trong chương 1, tác giả trình bày cơ sở lý luận về bản chất của quản lý và kiểm tra đánh giá, đồng thời tập trung vào quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ theo Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi tại trường mầm non Tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa quản lý và công tác đánh giá nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục và kết quả phát triển của trẻ, đảm bảo việc theo dõi sự tiến bộ đúng chuẩn và kịp thời điều chỉnh chương trình giảng dạy Bài viết nêu ra các nguyên tắc quản lý cho quá trình đánh giá, cũng như vai trò của người quản lý trong xây dựng hệ thống kiểm tra đánh giá phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trẻ 5 tuổi Tác giả rút ra một số kết luận chính nhằm làm sáng rõ vai trò của quản lý trong công tác đánh giá, sự phù hợp của Bộ chuẩn phát triển 5 tuổi với thực tiễn trường mầm non và những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ.
Hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống, sau đó phân tích và đối chiếu với mục tiêu của CTGDMN nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ để đảm bảo sự phát triển phù hợp với mục tiêu giáo dục Quá trình này cho phép đánh giá toàn diện các mặt phát triển như ngôn ngữ, vận động, nhận thức và kỹ năng xã hội, đồng thời cung cấp dữ liệu cho giáo viên và gia đình để xây dựng các hoạt động phù hợp với từng trẻ Nhờ vậy, hoạt động đánh giá hỗ trợ thực hiện chương trình GD mầm non một cách hiệu quả, đảm bảo trẻ 5 tuổi đạt được mức phát triển tương ứng với chuẩn và mục tiêu GD đã đề ra.
Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi đòi hỏi một kế hoạch có hệ thống và được tổ chức bởi Hiệu trưởng trường mầm non, từ việc xác định cách thức, phương pháp, hình thức và nội dung đánh giá đến cách sử dụng kết quả đánh giá để hỗ trợ chăm sóc, giáo dục và phát triển của trẻ Việc thực hiện nghiêm túc các quy định nêu trong các văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo của ngành Giáo dục và nhà trường về hoạt động đánh giá theo Bộ chuẩn PTTE5T là nền tảng đảm bảo tính khách quan, khoa học và phù hợp với chuẩn phát triển ở lứa tuổi 5 Nội dung đánh giá tập trung vào các lĩnh vực phát triển cơ bản của trẻ mẫu giáo 5 tuổi và nhấn mạnh vai trò của việc áp dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh kế hoạch giáo dục và hỗ trợ phát triển cá nhân.
- Nội dung quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ theo Bộ chuẩnPTTE5Tgồmcác côngviệc:
Yếu tố ảnh hưởng tới quản lý đánh giá trẻ mẫu giáo tại trường mầm non theo Bộ chuẩn PTTE5T được xác định bởi đặc điểm tâm sinh lý - xã hội của trẻ 5 tuổi, đồng thời bao gồm yếu tố gia đình và yếu tố nhà trường Việc nhận diện và phân tích đầy đủ những yếu tố này cho phép nhà trường điều chỉnh phương pháp đánh giá, phù hợp với sự phát triển cá nhân của từng trẻ, từ đó nâng cao chất lượng quản lý đánh giá và hỗ trợ quá trình giáo dục mầm non.
Dựa trên cơ sở lý luận đã trình bày, tác giả tiếp tục phân tích thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ 5 tuổi theo Bộ chuẩn phát triển trẻ em tại trường mầm non Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Đoạn phân tích nhấn mạnh cách thức tổ chức và quản lý quá trình đánh giá phát triển ở trẻ 5 tuổi, chỉ ra những thuận lợi và thách thức tại cơ sở giáo dục này và từ đó đề xuất các biện pháp cải thiện Mục tiêu này được thể hiện rõ ràng trong chương 2.
1 BộGD- ĐT(1997),chiếnlượcGDMNtừnayđếnnăm2020(Lưuhànhnộibộ),HàNội
BGDĐT,ngày13/02/2014củaBộtrưởngBộgiáodụcvàĐàotạo,Điềulệtrường mầmnon.
5 BộGiáodụcvàđàotạo,Côngvănsố481/BGDĐT-GDMNngày29/1/2011về việcHướngdân triểnkhaithựchiệnBộchuẩnpháttriểntrẻemnămtuổidothứ trưởngNguyễnThị Nghĩaký.
8 Chínhphủ(2 3/ 6/ 20 06 ), Qu yế tđ ịn h phê du yệt Đềá n:“P há t triển g iá od ụcm ầm nongiaiđoạn2006-2015”,HàNội.
9 Chínhphủ(9/2/2010),QuyếtđịnhphêduyệtĐềán“Phổcậpgiáodụcmầmnongi aiđoạn2006 –2015”,HàNội.
10 NguyễnĐứcChính(2014),Bàigiảng:Quảnlýchấtlượngtronggiáodục– đàotạo.TrườngĐHGD.
12 NguyễnQuốcChí,NguyễnThịMỹLộc(2010)Đạicươngkhoahọcquảnlý.NxbĐạihọcQ uốcgia,HàNội.