1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luật hiến pháp và luật hành chính bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài

111 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Vệ Quyền Con Người Trong Xét Xử Các Vụ Án Ly Hôn Có Yếu Tố Nước Ngoài - Từ Thực Tiễn Tòa Án
Tác giả Trương Việt Hùng
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Đức Đán
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 352,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, với sự cốgắng của Tòa án, việc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như phápluật về tố tụng dân sự và đảm bảo quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn nóichung

Trang 1

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2021

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8 38 01 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS VŨ ĐỨC ĐÁN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trungthực

Tác giả xin chân thành cảm ơn!

Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2021

Học viên

Trương Việt Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Vũ Đức Đán đãhết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành luận văn này.Tác giả cũng xin cảm ơn chân thành nhất đến Lãnh đạo, các Giảng viên của Học việnHành chính Quốc gia Hà Nội và khoa Sau đại học đã quan tâm, tạo điều kiện thuậnlợi trong quá trình tác giả học tập và tận tình truyền đạt những kiến thức quý báucũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tậpnghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Do hạn chế về thời gian và trình độ chuyên môn nên luận văn tốt nghiệp nàychắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhận được ý kiến phản hồi

từ phía Giảng viên và bạn đọc

Cuối cùng, Tác giả xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạnđồng nghiệp đã hỗ trợ cho Tác giả rất nhiều trong suốt quá trình học tập,và hoànthiện đề tài luận văn thạc sĩ

Trân trọng cảm ơn!

Học viên Trương Việt Hùng

Trang 5

MỤC LỤC Trang bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục các sơ đồ, bảng biểu và biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài luận văn 1

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7

7.Kết cấu của luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 8

1.1 Những vấn đề chung về quyền con người và quyền con người trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 8

1.1.1 Quan niệm về quyền con người và quyền con người trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 8

1.1.2 Quan niệm về ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài 18

1.1.3.Bảo vệ quyền con người trong xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 28 1.2 Những yếu tố tác động và điều kiện đảm bảo quyền con người trong xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 33

1.2.1.Yếu tố khách quan 33

Trang 6

1.2.2.Yếu tố chủ quan 35

1.2.3 Điều kiện đảm bảo quyền con người trong xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 36

Tiểu kết Chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH 38

2.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình 38

2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình 38

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình 40

2.1.3 Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình 41

2.2 Tình hình bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình 44

2.2.1 Tình trạng hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở tỉnh Quảng Bình 44

2.2.2 Tình hình xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài và bảo vệ quyền con người trong quá trình xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình 47

2.2.3 Đánh giá chung kết quả bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình . 73

Tiểu kết chương 2 84

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 85

3.1 Quan điểm bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 85

3.1.1 Yêu cầu bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng 85

3.1.2 Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân do Nhân dân vì Nhân dân 87

Trang 7

3.2 Giải pháp bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có

yếu tố nước ngoài 88

3.2.1 Giải pháp chung cho bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 88

3.2.2 Giải pháp riêng về bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình 93

Tiểu kết chương 3 98

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS Bộ luật Tố tụng Dân sự

HĐTTTP Hiệp định tương trợ tư phápLHNGĐ Luật Hôn nhân và gia đình

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ VÀ CÁC BẢNG

Sơ đồ 2.1.Tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình 39

Biểu đồ 2.1 Kết quả giải quyết các loại vụ án từ năm 2016 - 2020 42

Bảng 2.1: Số liệu xét xử các loại vụ án từ năm 2016 - 2020 41

Bảng 2.2: Số liệu kết hôn có yếu tố nước ngoài 48

Bảng 2.3: Số liệu xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 48

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản mà bất

cứ quốc gia nào cũng phải thừa nhận và được quy định trong Hiến pháp và pháp luậtcủa chính quốc gia đó Ở Việt Nam, bảo vệ quyền con người luôn là truyền thống quýbáu của dân tộc ta từ bao đời nay Truyền thống đó càng được phát triển rực rỡ từkhi Đảng ta lãnh đạo cách mạng của dân tộc, đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho

Tổ quốc, thống nhất đất nước, phá bỏ xiềng xích áp bức bóc lột tàn bạo của chủ nghĩathực dân, đế quốc, xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng và tôn trọng phẩm giá conngười Một trong những tiêu chí rất quan trọng của Nhà nước pháp quyền là bảo đảmcao nhất quyền công dân trong mọi hoạt động của Nhà nước trong đó có hoạt độngxét xử của Tòa án Đặc biệt hiện nay, chế định quyền con người đã được ghi nhận

và được thể chế hóa tại Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”.

Điều 14, Hiến pháp 2013 khẳng định “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xãhội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Trong

đó, quyền con người trong các vụ án ly hôn nói chung, vụ án ly hôn có yếu tố nướcngoài nói riêng đã được ghi nhận

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam nói chung và tại tỉnh Quảng Bình nóiriêng, cùng với việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực nhưchính trị, kinh tế, xã hội…giữa nước ta với các nước khác trên thế giới ngày càngphát triển thì cũng kéo theo nó là vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chungcũng như ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày

Trang 11

một gia tăng Tình trạng kết hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài diễn ra khá phức tạp,kéo theo đó là các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng, do vậy việcnhận thức và vận dụng pháp luật để xét xử loại vụ án này cũng như đảm bảo quyềncon người trong hoạt động xét xử cũng gặp không ít khó khăn Tuy nhiên, với sự cốgắng của Tòa án, việc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như phápluật về tố tụng dân sự và đảm bảo quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn nóichung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng đã đạt được những kết quả đángkhích lệ góp phần giải quyết kịp thời các mâu thuẫn bất hòa trong quan hệ hôn nhân,bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, đồng thời gópphần làm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình xét xử các vụ án ly hôn

có yếu tố nước ngoài, TAND tỉnh Quảng Bình gặp rất nhiều khó khăn, bởi nhiều

lý do khác nhau, như khó khăn trong việc xác định địa chỉ của bị đơn và nhữngngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; trong việc tống đạt giấy tờ, điều tra, thu thậpchứng cứ, nhất là ở các nước không có hiệp định tương trợ tư pháp hoặc không ápdụng nguyên tắc có đi có lại với Việt Nam; vấn đề xung đột pháp luật giữa pháp luậtViệt Nam và pháp luật nước ngoài liên quan; tính khả thi trong thi hành án liênquan đến con cái, tài sản ở nước ngoài; hoặc cần làm rõ việc kết hôn trên có phải làkết hôn giả nhằm mục đích ra nước ngoài sinh sinh sống hay không để áp dụng đúngthủ tục giải quyết Những tồn tại, bất cập trên không chỉ diễn ra ở TAND tỉnh QuảngBình mà đây còn là những bất cập chung đối với Tòa án các tỉnh trên cả nước, vìvậy dẫn đến tình trạng việc thụ lý, giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nướcngoài thiếu sự thống nhất, có biểu hiện tùy tiện trong thụ lý, giải quyết và xét xửphần nào làm ảnh hưởng đến quyền của của nguyên đơn và bị đơn trong các vụ án lyhôn có yếu tố nước ngoài

Trang 12

Mặt khác, do bản thân hiện tại đang công tác tại TAND tỉnh Quảng Bình, đây

là nơi đang trực tiếp thụ lý và xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài vàbản thân tác giả cũng đang rất tâm huyết về vấn đề bảo vệ quyền con người trong vụ

án ly hôn có yếu tố nước ngoài nên đã chọn đề tài này để nghiên cứu Trước khi chọn

đề tài này tác giả cũng đã tham khảo đề tài của các khóa trước đây đã nghiên cứu tạiHọc viện Hành chính Quốc gia cũng như tại các cơ sở đào tạo khác và thấy không có

đề tài nào trùng lặp với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu

Xuất phát từ những lý do trên nên tác giả chọn đề tài “Bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài - từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình” để nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Việc nghiên cứu những nội dung liên quan đến ly hôn có yếu tố nướcngoài ở Việt Nam đã được một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên giapháp lý nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: sách chuyên khảo của

TS Nông Quốc Bình và TS Nguyễn Hồng Bắc: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” NXB

Tư pháp 2006; Luận văn thạc sĩ: “Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiện pháp luật” của tác giả Phạm Trung Hòa; Luận văn thạc sĩ: “Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thanh

Hoa Các công trình nghiên cứu này không đi chuyên sâu và toàn diện vềbảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoàitheo quy định pháp luật Việt Nam và ĐƯQT do Việt Nam ký kết hay gia nhập

mà mới chỉ nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về các quy định của pháp luậttrong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài; thẩm quyền giải quyết lyhôn thep pháp luật Việt Nam

Trang 13

Thực tế hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào phân tíchmột cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống dưới gốc độ lý luận và thực tiễn về bảo

vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài Chỉ có một

số công trình khoa học, bài viết các tác giả đã nghiên cứu về một số khía cạnh lýluận và thực tiễn liên quan đến việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động giảiquyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng chỉ nghiên cứumột hoặc một nhóm quyền đặc trưng về vấn đề bảo đảm quyền con người trong lĩnh

vực ly hôn có yếu tố nước ngoài, đó là các công trình, bài viết như: “Lý luận về quyền con người trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Năm 2013) của T.S Trương Thị Hồng Hà; “Ly hôn có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Tòa án điện tử (ngày 16/01/2019) của Thạc sĩ Đoàn Thị Ngọc Hải; Luận văn thạc sĩ: “Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Nội” của tác giả Đỗ Thị Vân Anh Tất cả các bài viết trên đều đã

đưa ra các quan điểm nhận định về quyền con người trong tố tụng dân sự nói chung,các quyền cơ bản của đương sự; thẩm quyền và điều kiện đảm bảo việc thựchiện các quyền của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng cũng nhưtrách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền của đương sự vànhững người có liên quan trong tố tụng dân sự; thực tiễn đảm bảo quyền con ngườitrong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay và các vấn đề về giải quyết yêu cầu củađương sự về ly hôn có yếu tố nước ngoài…Từ đó, các tác giả đi sâu vào phân tíchlàm rõ lý luận và thực tiễn cũng như thực trạng để giải quyết vụ án

Ở các công trình nghiên cứu trên các tác giả chỉ nghiên cứu vấn đề về quyềncon người nói chung trong tố tụng dân sự và bảo đảm quyền con người đối với nhữngngười tham gia tố tụng nhất định Nhưng vấn đề về chủ thể thực hiện vai trò bảo

vệ quyền con người, thực trạng và các giải pháp bảo vệ

Trang 14

quyền con người trong các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thì lại chưa đượcnghiên cứu.

Như vậy, từ tình hình nghiên cứu trên đây cho phép khẳng định việc

nghiên cứu đề tài: “Bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài - từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình” là đòi

hỏi khách quan, cấp thiết, vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn

Vì vậy đó chính là lý do để tác giả chọn đề tài này làm đề tài luận văn thạc

Phân tích, đánh giá thực trạng bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án

ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Quảng Bình

Đưa ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền con ngườitrong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền conngười (quyền của các bên đương sự) trong các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài -

từ thực tiễn xét xử tại TAND tỉnh Quảng Bình, không nghiên cứu về vấn đề bảo

vệ quyền con người trong giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn trong nước

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền con người trong

xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Quảng Bình

Về thời gian: Nghiên cứu từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 9 năm 2020.

Về nội dung: Luận văn nghiên cứu nội dung bảo vệ quyền con người trong xét

xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài và những thực trạng, vướng mắctrong quá trình xét xử các vụ án ly hôn tại TAND tỉnh Quảng Bình Từ đó đưa ranhững quan điểm, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc để gópphần bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận:

Luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng các phương pháp nghiên cứucủa chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng; cơ sở lý luận vàphương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối,quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc thực hiện bảo

vệ quyền con người thông qua chức năng xét xử của Tòa án

Trang 16

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là phân tích, đốichiếu, so sánh, thống kê và tổng hợp, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sau khi được đánh giá và nghiệm thu tại Hộiđồng bảo vệ luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề bảo vệquyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nóichung và tỉnh Quảng Bình nói riêng

Luận văn có thể sẽ là tài liệu tham khảo có ích đối với các nhà khoa học, cácnhà hoạch định chính sách và đặc biệt là đối với TAND tối cao, TAND cấp cao vàTAND các tỉnh, thành phố; ngoài ra luận văn còn có thể phục vụ cho việc nghiêncứu, giảng dạy tại các Trường đại học Luật, các Học viện như: Học viện Tư pháp;Học viện Tòa án và Đại học Kiểm sát

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về bảo vệ quyền con người trong

xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong xét xử vụ án ly

hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo vệ quyền con người trong xét

xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Trang 17

1.1.1 Quan niệm về quyền con người và quyền con người trong vụ

án ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, tính chất về quyền con người

Từ thời cổ đại, quan niệm về quyền con người đã được các nhà tư tưởng bànđến và không ngừng được phát triển, bổ sung cùng với quá trình phát triển của lịch

sử nhân loại Trên cơ sở các quan niệm về quyền con người, năm 1776, lần đầu tiênquyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ: “Tất cả mọingười sinh ra đều có quyền được bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai

có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnhphúc”

Có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đềquyền con người từ một góc độ khác nhau, khó có thể bao quát đầy đủ các thuộc tínhcủa nó Theo nghĩa chung nhất: Quyền con người là những quyền cơ bản, không thểtước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người Hay,quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhận

và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhânphẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người

Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc thường được trích dẫn bởi cácnhà nghiên cứu, thì: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có

Trang 18

tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặclàm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”.Bên cạnh đó, quyền con người còn được định nghĩa một cách khái quát “lànhững quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng

ta sẽ không thể sống như một con người”

Trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫnnhững lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọingười sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thểxâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyềnmưu cầu hạnh phúc” Đó chính là những biểu hiện của quyền con người một cách

rõ rệt nhất

Trên phương diện nghiên cứu khoa học pháp lý, theo Từ điển Luật học củaNhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 1999, thì Quyền con người là những quyền mặcnhiên khi được sinh ra cho đến trọn đời mà không ai có quyền tước bỏ Đó lànhững quyền cơ bản của con người như: quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng,quyền mưu cầu hạnh phúc Quyền con người là thành quả của quá trình đấu tranhcủa nhân loại chống các lực lượng áp bức xã hội và chế ngự tự nhiên, không phải

tự nhiên mà có hay do thượng đế ban cho như quan niệm của một số người phươngTây

Ở nước ta hiện nay, quyền con người được quy định trong Hiến pháp 2013 vàđược thể chế hóa bằng các luật, đạo luật nhằm ghi nhận và bảo vệ quyền con ngườitrong các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo đó quyền con người được quan niệm làquyền tự nhiên vốn có của con người từ lúc sinh ra (kể cả đối với người quốc tịchnước ngoài, người không quốc tịch, người có quốc tịch Việt Nam đã bị tước hoặc hạnchế một số quyền công dân)

Từ những quan niệm trên theo Tác giả, quyền con người là những nhucầu, lợi ích tự nhiên vốn có của mỗi con người như quyền sống, quyền tự do,

Trang 19

quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc được pháp luật ghi nhận và bảo vệtrong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.

Điều 14, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “các quyền con người, quyền côngdân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ,bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”

Quyền con người mang một số đặc điểm như sau:

Một là, quyền con người được ghi nhận trong hệ thống pháp luật củaquốc gia và được bảo đảm thực hiện

Sự xác lập các quyền nghĩa vụ này tạo thành một chế định quan trọng của LuậtHiến pháp - chế định quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân Ở nhiều nước chế định nàygọi là quyền và nghĩa vụ của công dân (Nhật Bản), quyền và nghĩa vụ của con người

và công dân (Nga) Nhưng với đặc trưng được ghi nhận trong Hiến pháp, tức đượcđiều chỉnh bằng Hiến pháp, mà Hiến pháp là đạo Luật cơ bản nên các quyền và nghĩa

vụ này ở nhiều nước thường gọi là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân TrongHiến pháp Việt Nam hiện hành sử dụng cách gọi quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân Với sự ghi nhận bằng pháp luật các cơ quan Nhà nước có trách nhiệmbảo đảm quyền công dân được thực hiện và có cơ chế xử lý đối với hành vi vi phạmquyền công dân của bất cứ đối tượng nào kể cả cơ quan quyền lực Nhà nước

Hai là, quyền con người mang tính tự nhiên, vốn có

Quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được ápdụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sựphân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính,tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là bản chất của

sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ cácquyền, mà là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người

Trang 20

Ba là, quyền con người là không thể chuyển nhượng.

Thể hiện ở chỗ các quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chếmột cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước,trừ một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác thì cóthể bị tước quyền tự do hoặc quyền sống

Bốn là, quyền con người là không thể phân chia

Thể hiện ở chỗ các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, vềnguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào Việc tước

bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giátrị và sự phát triển của con người Tuy nhiên, cần chú ý là trong thực tế, tùy nhữngbối cảnh cụ thể và với những đối tượng cụ thể, có thể ưu tiên thực hiện một sốquyền nhất định, miễn là phải dựa trên những cơ sở và yêu cầu thực tế của việc bảođảm các quyền đó chứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị của các quyền đó

Ví dụ, trong bối cảnh dịch bệnh Covid- 19 đang lây lan trên khắp thế giới như hiệnnay hoặc với những người bị bệnh tật, quyền được ưu tiên thực hiện là quyền đượcchăm sóc y tế Hoặc ở phạm vi rộng hơn, các Công ước về xóa bỏ tất cả các hìnhthức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Công ước về quyền trẻ em (CRC) đặt

ra một số quyền ưu tiên cần được bảo đảm với phụ nữ, trẻ em Những ưu tiên nhưvậy không có nghĩa là bởi các quyền được ưu tiên thực hiện có giá trị cao hơn, mà làbởi các quyền đó trong thực tế thường bị bỏ qua, có nguy cơ bị đe dọa hoặc bị viphạm nhiều hơn so với các quyền khác

Năm là, quyền con người có tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau

Thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần,nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trựctiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm

Trang 21

các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trựctiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.

Quyền con người xét về nguồn gốc tự nhiên là quyền của tất cả các cá nhân,không liên quan đến việc nó có được ghi nhận trong pháp luật một Nhà nước cụ thểnào không Tuy nhiên khi quyền con người đã được cụ thể hóa bằng pháp luật củamột quốc gia và bảo đảm thực hiện trong một Nhà nước cụ thể thì quyền con ngườichính là quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi một công dân Việc ghi nhận và bảo đảmthực hiện các quyền công dân chính là đã thực hiện nội dung cơ bản của quyền conngười Chính vì vậy quyền con người có các tích chất cơ bản sau:

Một là, quyền con người mang tính phổ biến, thể hiện ở chỗ quyền con người

là quyền bẩm sinh, gắn với bản chất con người, là di sản chung của loài người.Quyền con người mang tính phổ quát vì con người ở đâu trên trái đất này cũng đều làthành viên của cộng đồng nhân loại;

Hai là, quyền con người mang tính đặc thù, thể hiện ở việc quyền con ngườimang những đặc trưng, bản sắc riêng tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xãhội, truyền thống văn hóa, lịch sử ở từng khu vực, quốc gia, vùng lãnh thổ Sự thừanhận tính đặc thù của quyền con người cho phép các quốc gia có quyền đưa ranhững quy định pháp luật cụ thể, không trái với các chuẩn mực quốc tế ghi trongcác ĐƯQT về nhân quyền, như quy định hạn chế đối với một số quyền dân sự, chínhtrị hoặc mức độ bảo đảm các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội;

Ba là, quyền con người mang tính giai cấp, tuy không phải nằm trong nộidung các quyền mà được thể hiện trong việc thực thi quyền con người Với tư cách

là chế định pháp lý, quyền con người gắn liền với nhà nước và pháp luật - là nhữnghiện tượng mang tính giai cấp sâu sắc

Trang 22

Quyền con người vừa có tính phổ biến vừa có tính đặc thù được thể hiện ởtính nhân loại gắn với tính giai cấp và tính dân tộc Quá trình hình thành, phát triểnquyền con người có tính phổ biến toàn nhân loại, chứ không phải là “phát hiện” đặcthù của riêng phương Tây “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dàiqua các thời đại của Nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng

là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, quyềncon người trở thành giá trị chung của nhân loại” Con người thể hiện và khẳngđịnh quyền của mình thông qua các mối quan hệ xã hội cụ thể.Vì thế, quyền conngười, một mặt là giá trị phổ biến của nhân loại, bao hàm những quyền và nguyên tắcđược áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng Mặt khác, quyền con người cònmang tính đặc thù của mỗi giai cấp, dân tộc và quốc gia theo trình độ phát triển kinh

tế - xã hội, đặc điểm văn hoá và truyền thống dân tộc Tuyên bố Viên và Chươngtrình hành động về quyền con người năm 1993 đã khẳng định: “Tất cả các quyềncon người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liênquan đến nhau Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khuvực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, thì các quốc gia, khôngphân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hoá, có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả cácquyền con người và các tự do cơ bản” Do đó, nhất thiết không thể đối lập tính phổbiến với tính đặc thù của quyền con người và ngược lại Trong bối cảnh thế giớihiện đại, quan điểm kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù còn là cơ sở phương phápluận khoa học để nhận thức và giải quyết đúng các vấn đề cụ thể về quyền con ngườitrong quan hệ quốc gia và quốc tế Đây là phương châm cơ bản để bảo đảm “hộinhập” mà “không hòa tan” trong lĩnh vực nhân quyền

Trang 23

1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền con người trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài

Hiện nay, chưa có tài liệu nào nghiên cứu và đưa ra được khái niệm cụ thể vềquyền con người trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên qua phân tíchkhái niệm quyền con người nói chung ở trên ta có thể hiểu khái niệm một cách chungnhất về quyền con người trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài chính là quyền củacác bên đương sự trong tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài mà pháp luật quy địnhcho họ được hưởng như: quyền yêu cầu được ly hôn, quyền được tham gia tố tụng,quyền cung cấp chứng cứ, quyền được nuôi con, quyền được phân chia tài sản, quyềnkháng cáo bản án sơ thẩm… mà Tòa án chính là cơ quan được giao nhiệm vụ thựchiện việc xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật nhằmbảo đảm cho đương sự được thực hiện các quyền đó trong suốt quá trình xét xử vụ ánđúng với quy định của pháp luật

Quyền con người trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài mang những đặcđiểm, nội dung như sau:

Một là, quyền yêu cầu xét xử ly hôn, quy định tại Điều 51 LHNGĐ năm2014

Hai là, quyền đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn, quyền đưa ra yêu cầu củangười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ly hôn, quy định tại Điều 72,Điều 73 BLTTDS 2015

Ba là, quyền thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự, quy định tại các Điều 243, 244 BLTTDS 2015

Bốn là, quyền tự thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đìnhcủa đương sự, quy định tại Điều 5, Điều 10 BLTTDS 2015

Năm là, quyền chấp nhận, bác bỏ yêu cầu của người khác của đương

sự, quy định tại Điều 72 BLTTDS 2015

Trang 24

Sáu là, quyền cung cấp chứng cứ và chứng minh bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp của đương sự, quy định tại khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015.

Bảy là, quyền của đương sự yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng

cứ và yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, quy định tại các Điều 97 và 106BLTTDS 2015

Tám là, quyền được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương

sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ các tài liệu, chứng cứ có liên quanđến bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự, quy địnhtại Điều 70 BLTTDS 2015

Chính là, quyền yêu cầu thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm traviên, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiêndịch, quy định tại các Điều 52, 53, 54, 60, 80, 82 BLTTDS

Mười hai là, quyền khiếu nại của đương sự đối với các quyết định, hành vi tốtụng trái pháp luật: Để bảo đảm việc thực hiện quyền khiếu nại của đương sự đối vớicác quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật; các Điều 499, 500, 501, 504, 505, 506,

Trang 25

1.1.1.3 Quy định của pháp luật về bảo vệ quyền con người trong vụ án

ly hôn có yếu tố nước ngoài

Bảo vệ quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự trongcác vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 121, LHNGĐ năm

2014, cụ thể:

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình cóyếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luậtViệt Nam và ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên.Trong quan hệ hôn nhân và gia đìnhvới công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam có các quyền, nghĩa vụ nhưcông dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dânViệt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luậtViệt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế

Tại khoản 4 Điều 5 của LHNGĐ năm 2014 quy định: danh dự, nhân phẩm, uytín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trongquá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình

Về tài sản, Điều 33, LHNGĐ năm 2014 quy định:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do laođộng, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thunhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản

1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng chochung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất

mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp

vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông quagiao dịch bằng tài sản

Trang 26

riêng Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảođảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang

có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung

Điều 81, LHNGĐ năm 2014 quy định:

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôidưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sựhoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy địnhcủa Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan Vợ, chồng thỏa thuận vềngười trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con;trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bêntrực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trởlên thì phải xem xét nguyện vọng của con Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹtrực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom,chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợiích của con

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự

tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thìTòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuậnnhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyếtviệc ly hôn

Trang 27

1.1.2 Quan niệm về ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.1.2.1 Quan niệm về ly hôn

Theo Lê Nin: “Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã”những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trênnhững cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong xã hội vănminh”

Trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin về tự do hôn nhân, trong đó có

tự do kết hôn và tự do ly hôn, pháp luật của nước ta bảo đảm cho vợ chồng quyền tự

do ly hôn Ly hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân, đồng thời là mặt không thể thiếukhi quan hệ hôn nhân thực chất tan vỡ Khi quan hệ vợ chồng mâu thuẫn đến mức vợchồng không thể tiếp tục sống chung thì họ có quyền yêu cầu ly hôn Quyền ly hônchỉ thuộc về vợ, chồng (tức là thuộc về cá nhân đó) Quan điểm của nhà nước ta làcho phép vợ chồng được tự do ly hôn, nhưng quyền tự do đó được đặt dưới sự giámsát chặt chẽ của nhà nước và tuân theo các quy định của pháp luật, nhằm tránh hiệntượng vợ chồng lạm dụng gây hậu quả xấu cho gia đình và xã hội, đồng thời cũngtránh việc giải quyết ly hôn tùy tiện Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ, chồnghoặc công nhận thuận tình ly hôn của cả hai vợ chồng phải dựa vào thực chất quan hệ

vợ chồng và phải phù hợp với các căn cứ ly hôn mà pháp luật quy định Khi vợ,chồng ly hôn, các quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng về nhân thân và tài sản, quyền

và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đối với con cái sẽ được giải quyết theo pháp luật Kể từngày bản án cho ly hôn hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án cóhiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân chấm dứt trước pháp luật Ly hôn là giảipháp cho những cặp vợ chồng mà cuộc sống chung của họ đã mất hết ý nghĩa và

họ không thể cùng sống chung để xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, bền vững

Trang 28

Theo pháp luật Việt Nam, cơ sở pháp lý để chấm dứt một quan hệ hôn nhânbằng việc ly hôn là một bản án hoặc quyết định của Tòa án Điều 39, BLDS năm

2015 quy định: “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn…” Tuy nhiên, khái niệm ly hônchỉ được quy định rõ tại LHNGĐ Cụ thể, theo quy định tại khoản 14 Điều 3LHNGĐ năm 2014 thì: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án,quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án"

Xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng khoảngtrong mối quan hệ vợ chồng Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng đồng thời nócũng là mặt không thể thiếu khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức vì tìnhcảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có tiếng nói chung Trong quan hệ hônnhân, việc kết hôn giữa nam và nữ được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp màtình cảm và sự đồng cảm giữa hai bên là nguồn cội của sự tự nguyên Khi tình cảm

vợ chồng không còn, kết hợp với nhiều yếu tố khác khiến cho quan hệ hôn nhân rạnnứt thì giải pháp hữu hiệu nhất và cũng là thông dụng nhất mà các cặp vợ chồnghướng tới là ly hôn Như vậy, pháp luật không có quyền yêu cầu nam nữ phải kếthôn khi họ không tự nguyện và cũng không có quyền từ chối khi họ có nhu cầu lyhôn Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ, chồng khỏi cuộc sống chung đầy đaukhổ hiện tại, giúp thoát khỏi những mâu thuẫn sâu sắc mà không thể giải quyếtđược

Về mặt pháp lý, quan hệ vợ chồng được phát sinh kể từ khi vợ, chồng được cơquan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và chỉ chấm dứtkhi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án công nhận về việc ly hôn.Trên thực tế, có nhiều cặp vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không sống cùngnhau, độc lập về kinh tế cũng như các hoạt động cá nhân khác nhưng không có quyếtđịnh hoặc bản án của Tòa án công nhận về việc ly hôn giữa hai vợ chồng thì vềmặt pháp lý quan hệ giữa hai

Trang 29

người vẫn là quan hệ vợ chồng, vẫn bị ràng buộc với nhau bởi các quy địnhcủa pháp luật liên quan đến quan hệ giữa vợ và chồng.

Trên cơ sở đó có thể hiểu một cách tổng quát nhất ly hôn là chấm dứt quan hệhôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợchồng, hủy bỏ trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộcdân sự khác Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứtquan hệ hôn nhân của vợ chồng Phán quyết ly hôn của Tòa án được thể hiện dướihai hình thức: bản án hoặc quyết định Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏathuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thìTòa án công nhận ra phán quyết dưới hình thức Quyết định Nếu vợ chồng có mâuthuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn

1.1.2.2 Quan niệm về ly hôn có yếu tố nước ngoài

Ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được quy định trong LHNGĐ từ năm 1986.Tuy nhiên, trong LHNGĐ năm 1986 đã không quy định như thế nào là ly hôn cóyếu tố nước ngoài và cũng không quy định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết lyhôn có yếu tố nước ngoài theo thủ tục sơ thẩm, trình tự thủ tục giải quyết tại Tòa áncấp sơ thẩm là như thế nào

LHNGĐ trước đây đã dành nhiều điều luật để quy định về vấn đề ly hôn

có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, cho đến nay, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sungLHNGĐ cũng như các văn bản pháp luật khác vẫn chưa có quy định rõ ràng, địnhnghĩa cụ thể thế nào là “Ly hôn có yếu tố nước ngoài"

Tại khoản 2 Điều 663 của BLDS năm 2015 quy định về khái niệm quan hệ dân

sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; các bêntham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng viêc xác lập, thayđổi, thực hiện hoăc chấm dứt quan hệ đó xay ra tại

Trang 30

nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân Viêt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưngđối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

Quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nướcngoài nói riêng thuộc phạm trù quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên có thể ápdụng toàn bộ quy định của BLDS về vấn đề quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

để kết hợp với luật chuyên ngành để giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nướcngoài Tuy nhiên, việc xây dựng được khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài mộtcách đầy đủ, toàn diện và chuẩn mực trong đạo luật chuyên ngành là cần thiết

Khoản 25 Điều 3 LHNGĐ năm 2014 đã quy định rõ về quan hệ hôn nhân vàgia đình có yếu tố nước ngoài

Mặt khác, ly hôn theo quy định tại BLTTDS năm 2015 được xem là một vụviệc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Điều 464 Bộ luật này có quyđịnh rõ thế nào là một vụ việc dân sự: “các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổchức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”

Từ những vấn đề trên theo tác giả “Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấmdứt quan hệ vợ chồng giữa vợ và chồng mà ít nhất một trong hai bên là người nướcngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau

mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nướcngoài, phát sinh tại nước ngoài; hoặc tài sản liên quan đến việc ly hôn ở nước ngoài

Trang 31

ở nước ngoài Pháp luật Việt Nam quy định người nước ngoài là người không cóquốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốctịch.

- Yếu tố làm chấm dứt quan hệ hôn nhân:

Bao gồm căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân Đó chính là

sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân Điều kiện để xác định việc ly hôn

có yếu tố nước ngoài hay không trong trường hợp này là sự kiện pháp lý đó phải theopháp luật nước ngoài hoặc xảy ra ở nước ngoài

Đối với những quan hệ này, yếu tố chủ thể không được đặt ra Nghĩa là, trongtrường hợp các bên chủ thể tham gia đều là công dân Việt Nam, nhưng nếu sự kiệnpháp lý là chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nướcngoài thì quan hệ đó là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

- Yếu tố vị trí của tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn:

Trong trường hợp này, không cần xét đến hai yếu tố trên, nếu tài sản liên quanđến quan hệ ly hôn không nằm trên lãnh thổ Việt Nam mà ở nước ngoài, thì quan hệ

đó cũng được coi là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Bên cạnh đó, một quan hệ ly hôn khi không xét đến cả ba yếu tố trên nhưngnếu quan hệ ly hôn chấm dứt bằng một bản án, quyết định ly hôn của Tòa án hoặc cơquan khác có thẩm quyền của nước ngoài thì đó cũng là một trong những dấu hiệuxác định quan hệ ly hôn đó là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Như vậy, để xác định một quan lệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cần xét đến mộttrong các yếu tố trên, nếu đáp ứng điều kiện đối với ít nhất một yếu tố để quan hệ

ly hôn đó trở thành quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì không cần xét đến cácyếu tố còn lại

Có thể khẳng định ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật ViệtNam là quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài,

Trang 32

giữa công dân Việt Nam với người không quốc tịch; giữa người nước ngoài với nhauthường trú tại Việt Nam; giữa công dân Việt Nam với nhau mà có căn cứ để xác lập,thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài; hoặc tài sản liên quan đếnquan hệ đó ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bênđịnh cư ở nước ngoài.

Tóm lại, ly hôn có yếu tố nước ngoài là chấm dứt quan hệ hôn nhân có yếu tốnước ngoài do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc củachồng hoặc cả hai vợ chồng

1.1.2.3 Xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài

Xét xử nói chung là hoạt động đặc trưng, là chức năng nhiệm vụ của Tòa án.Tòa án là cơ quan duy nhất được đảm nhiệm chức năng xét xử Mọi bản án do Tòa ántuyên đều phải qua xét xử Phán quyết của Tòa án là phán quyết của cơ quan thay mặtNhà nước nhằm khôi phục trật tự nếu nó bị xâm phạm, hoặc nhằm bảo vệ lợi íchhợp pháp và chính đáng của công dân, của tập thể, của quốc gia và xã hội Vì vậy,đây là một hoạt động quyền lực nhà nước đặc thù, nó không đơn thuần chỉ là dànxếp, hòa giải, mặc dù về thực chất, dàn xếp và hòa giải cũng có mục đích nhưvậy và do đó, có mối liên quan khăng khít với hoạt động xét xử

Hoạt động xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước nhằm xem xét,đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luậthay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi íchkhác nhau trong các tranh chấp hay mâu thuẫn đó

Yếu tố “nhân danh quyền lực nhà nước” trong hoạt động xét xử có nghĩarằng, đây không phải là hoạt động của cá nhân công dân, cũng không phải là hoạtđộng xã hội hay nghiệp đoàn Và do đó, khi cần thiết, phán quyết của cơ quan nhândanh Nhà nước được bảo đảm thi hành bởi sự cưỡng chế hợp pháp của Nhà nước;

“xem xét, đánh giá và ra phán quyết” là những yếu

Trang 33

tố đặc trưng của hoạt động xét xử và do đó, có thể gọi hoạt động tư pháp là hoạtđộng xét xử Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Trong tranh chấphay xung đột mà Tòa án xem xét và phán quyết phải có từ hai chủ thể trở lên có vịtrí độc lập đối với nhau về lợi ích, chứ không thể chỉ là sự dàn xếp cho những ngườikhác nhau về địa vị, nhưng không có gì tranh chấp với nhau Do đó, có thể gọi sựtranh chấp của các chủ thể khác nhau về lợi ích này là sự tranh tụng (nên còn đượcgọi là “tố tụng” - tố tụng dân sự, tố tụng hình sự ) Bất kỳ một hoạt động nào cóhàm chứa những nội dung trên thì đều có thể được coi là hoạt động xét xử, dù nóthuộc lĩnh vực nào: hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại,lao động, hành chính.

- Về đặc điểm xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài:

+ Tòa án chỉ thụ lý xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nếu vợ chồngtrong quan hệ đó đã đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của ViệtNam, tuân theo pháp luật Việt Nam hoặc việc đăng ký kết hôn của họ được côngnhận trên lãnh thổ Việt Nam, hoặc việc kết hôn của họ đã được hợp pháp hóa lãnh sự

và đã được ghi chú vào sổ các thay đổi về hộ tịch theo quy định của pháp luật

+ Đơn khởi kiện xin ly hôn của đương sự ở nước ngoài phải được chứng thựchợp pháp, tức là phải được hợp pháp hóa lãnh sự nếu đương sự là người nước ngoài,hoặc phải được xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoàinơi công dân đó đang cư trú nếu đương sự là công dân Việt Nam đang ở nướcngoài

+ Việc tiến hành các bước tố tụng như lấy lời khai của đương sự, tống đạt cácvăn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài, việc điều tra, xác minh, thuthập chứng cứ ở nước ngoài phải được thực hiện qua con đường ngoại giao, Tòa ánUTTP theo quy định chung của Tư pháp quốc tế

Trang 34

+ Thủ tục hòa giải trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đối với đương sựđang ở nước ngoài không được đặt ra, coi như trường hợp không thể hòa giải nênTòa án không phải báo gọi đương sự ở nước ngoài về tham gia phiên hòa giải Tuynhiên đối với đương sự ở nước ngoài về nước trong thời gian Tòa án hòa giải thì Tòa

án vẫn tiến hành hòa giải đối với họ theo thủ tục chung

+ Tòa án không phải triệu tập đương sự ở nước ngoài tham gia tố tụng tạiphiên tòa, trường hợp này Tòa án chỉ thông báo cho họ biết việc Tòa án mở phiêntòa Tuy nhiên pháp luật không quy định Tòa án thông báo cho họ trong thời hạn baolâu từ khi thông báo đến khi mở phiên tòa

+ Sau khi Tòa án xét xử thì việc Tòa án tống đạt bản án, quyết định củaTòa án cho đương sự ở nước ngoài cũng được thực hiện qua con đường UTTP.+ Việc xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài được thực hiện trênnguyên tắc tôn trọng các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kế hoặc tham gia; ngườinước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ tố tụng như công dânViệt Nam, bên cạnh đó nhà nước ta cũng bảo hộ quyền lợi ích hợp pháp của công dânViệt Nam, pháp luật của nước sở tại và tập quán quốc tế trên cơ sở bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của các đương sự trong quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nướcngoài

- Về nội dung, trình tự thủ tục xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài:

Ở Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Tòa án là cơ quan duynhất có thẩm quyền xét xử các vụ án ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài Khixét xử các vụ án ly hôn Tòa án phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và chịutrách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Tòa

án tiến hành các hoạt động tố tụng theo trình tự, thủ tục và những nguyên tắc cơ bảnđược quy định trong luật tố tụng dân sự

Trang 35

Vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng phát sinh tại Tòa án từ khi vợ chồnghoặc cả hai vợ chồng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn Tòa án tiến hành giảiquyết qua nhiều thủ tục tố tụng khác nhau như: nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, điềutra, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải, chuẩn bị xét xử, đưa vụ án ra xét xử, rabản án, quyết định, cụ thể như sau:

Sau khi xem xét đơn khởi kiện của người khởi kiện, Tòa án kiểm tra đơncùng các tài liệu kèm theo để nghiên cứu, nếu thấy đủ điều kiện thụ lý thì Tòa ánthông báo cho họ để họ tiến hành nộp án phí ly hôn Sau khi người khởi kiện đã nộp

án phí ly hôn và nộp biên lai cho Tòa án, trong thời hạn luật định Tòa án phải chotiến hành thụ lý vụ án để giải quyết Tòa án chỉ thụ lý giải quyết các vụ việc ly hônthuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và tiến hành các hoạt động tố tụng theo trình

tự, thủ tục chung

Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thì việc xácđịnh thẩm quyền giải quyết, quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách đương sự

là rất quan trọng, tiền đề cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo

Như vậy xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc Tòa án có thẩmquyền tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật về giải quyết vụ

án theo các giai đoạn tố tụng từ khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, hoà giải và

mở phiên toà xét xử vụ án để ra phán quyết theo đúng quy định của pháp luật Khixét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, Tòa án phải tiến hành theo trình tự, thủtục được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự, một mặt phải đảm bảo lợi ích củachủ thể tham gia quan hệ đó, một mặt phải đảm bảo thực hiện đúng đường lối củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bảo đảm việc mở rộng và phát triển quan

hệ hợp tác quốc tế tốt đẹp giữa nước ta với các nước khác trên thế giới

- Về chủ thể:

Trang 36

Chủ thể của vụ án ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài là những ngườitham gia tố tụng, bao gồm:

+ Nguyên đơn: là người khởi kiện, trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải là vợhoặc chồng, Tòa án chỉ thụ lý vụ án ly hôn trên cơ sở sự tự nguyện yêu cầu ly hôncủa vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng Nếu thiếu sự tự nguyện yêu cầu ly hôn thìTòa án không giải quyết cho ly hôn vì có thể là do bị cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn,thuận tình ly hôn giả để che dấu một nội dung khác

+ Bị đơn: là người bị nguyên đơn khởi kiện, trong vụ án ly hôn bị đơn

có thể là vợ hoặc chồng bị nguyên đơn khởi kiện

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: là trường hợp những người tham gia

tố tụng trong vụ án ly hôn tuy không có đơn khởi kiện, không bị kiện nhưng việcgiải quyết vụ án ly hôn có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ mà Tòa án đưa

họ vào tham gia tố tụng Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan pháp luậtchia thành người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người cóquyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập, họ có thể đứng về phíanguyên đơn hoặc đứng về phía bị đơn

+ Người đại diện của đương sự: cũng giống như các vụ án dân sự khác, trong

vụ án ly hôn có thể xuất hiện tư cách của người đại diện của đương sự có thể là đạidiện theo ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật Khi vợ chồng ly hôn thì họ có thể ủyquyền cho người khác thay mặt họ giải quyết một số quan hệ như về con cái hayquan hệ tài sản Ly hôn là một quan hệ đặc biệt, do vậy có 3 quan hệ trong vụ án lyhôn đó là quan hệ nhân thân, quan hệ con cái và quan hệ tài sản Ở quan hệ thứ nhất

vợ chồng không được phép ủy quyền cho người khác thay mặt họ để giải quyết mà

họ phải tự tham gia, bởi đó là là quyền nhân thân không thể tách rời, do vậy đối vớiviệc ly hôn, đương sự phải tự mình tham gia mà không được ủy quyền cho ngườikhác

Trang 37

Đối với vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nếu đương sự đang ở nước ngoài

mà có ủy quyền cho người khác thay mặt họ tham gia tố tụng thì Tòa án cũng phảikiểm tra xem thủ tục ủy quyền đúng chưa, giấy ủy quyền đó đã được hợp pháp hóalãnh sự chưa, nội dung ủy quyền đến đâu để xác định người được ủy quyền có thựchiện đúng nội dung được ủy quyền không, thực hiện có vượt quá phạm vi được ủyquyền hay không Trong thực tiễn xét xử cho thấy có trường hợp đương sự chỉ ủyquyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ngườiđược ủy quyền lại thực hiện hành vi vượt quá phạm vi được ủy quyền như rút đơnkhởi kiện Có trường hợp đương sự ủy quyền chết, quá trình giải quyết vụ án Tòa ánchỉ báo gọi người đại diện theo ủy quyền của họ đến để giải quyết vụ án và vẫn xácđịnh người đã chết trong vụ án là đương sự, đây là những trường hợp vi phạmnghiêm trọng thủ tục tố tụng

1.1.3 Bảo vệ quyền con người trong xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.1.3.1 Khái niệm bảo vệ quyền con người trong xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài

Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thựchiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyềncông dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của tổ chức cá nhân Vì vậy, bảo vệ quyền con người trong xét xử vụ án ly hôn

có yếu tố nước ngoài đòi hỏi phải tiếp cận trong tổng thể quyền con người đượcquy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác gắn với toàn bộ quá trình

tố tụng dân sự, từ giai đoạn khởi kiện đến thụ lý, đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và rabản án và thi hành án ly hôn, cũng như các thủ tục khác của tố tụng dân sự như thủtục rút gọn, cung cấp và bảo vệ chứng cứ, thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã

có hiệu lực

Trang 38

pháp luật và cả trong các tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thựchiện pháp luật tố tụng.

Từ những nghiên cứu cụ thể của bản thân trong quá trình xét xử các vụ án lyhôn có yếu tố nước ngoại tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, theo quan điểm củatác giả, bảo vệ quyền con người trong xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài làviệc Tòa án có thẩm quyền đưa ra các quyết định theo đúng quy định của pháp luật,phát hiện được những sai sót cần phải sửa, đồng thời bảo đảm quyền hợp pháp củađương sự không bị vi phạm, không bị mất đi trong quá trình xét xử vụ án

1.1.3.2 Hình thức bảo vệ quyền con người trong xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài

Bảo vệ quyền con người trong xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài là mộtphần hợp thành của việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tố tụng dân sự nóichung, vì vậy bảo đảm vệ quyền con người của đương sự trong vụ án ly hôn nóichung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng có cùng đặc điểm giống nhau.Quyền con người ở đây thực chất là những quyền được thể hiện trong quá trình xét

xử một vụ án ly hôn và có những đặc thù riêng về chủ thể, phạm vi và nội dung:

Xét về ngôn ngữ học,“bảo vệ” được hiểu là chống lại mọi sự xâm phạm đểgiữ cho luôn luôn được nguyên vẹn Theo đó, nội dung của việc bảo vệ gồm hai hoạtđộng: một là, chống lại các hành vi xâm phạm; hai là, giữ gìn cho luôn được nguyênvẹn Còn bảo đảm là, “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy

đủ những gì cần thiết”; hoặc là “hứa chịu trách nhiệm về điều gì”, “cam đoan giữđược, làm được đầy đủ” Bảo đảm là điều kiện cần phải có để thực hiện một điều gì,công việc gì Như vậy, bảo đảm và bảo vệ là hai vấn đề khác nhau nhưng có nộidung tiếp giáp nhau và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Bảo vệ chỉ đặt ra khi cácquyền lợi hợp pháp

Trang 39

bị xâm phạm, còn bảo đảm là tạo ra các điều kiện cần thiết để chủ thể thựchiện được các quyền lợi hợp pháp ngay cả khi không có sự xâm phạm.

Từ những phân tích trên, có thể thấy, vấn đề bảo vệ quyền con người trong xét

xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài chỉ đặt ra khi có hành vi xâm phạm tớiquyền Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là năng lực pháp luật

tố tụng dân sự của các chủ thể và mọi chủ thể đều được bình đẳng về quyền Trong tốtụng dân sự, dựa vào tính chất của từng loại quan hệ dân sự mà nhà lập pháp xâydựng các thủ tục phù hợp để giải quyết các quan hệ đó Việc xây dựng các thủ tục tốtụng phù hợp giúp cho việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp được nhanh chóng, hiệuquả và tiết kiệm Hiện nay, thủ tục xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đượcbắt đầu bằng hành vi nộp đơn khởi kiện tại Tòa án Như vậy, quyền yêu cầu Tòa ánbảo vệ được thể hiện qua hình thức là khởi kiện vụ án ly hôn tại Tòa án Điều nàyđược cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 4 BLTTDS năm 2015: “Cơ quan, tổ chức, cánhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyếtviệc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệquyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi íchhợp pháp của mình hoặc của người khác” So với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổsung năm 2011), BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm vai trò của Tòa án trong việcbảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân để phù hợp với quy địnhcủa Hiến pháp năm 2013

Quyền con người, quyền công dân của đương sự thể hiện nổi bật đầu tiêntrong nguyên tắc quy định tại Điều 4 của BLTTDS năm 2015, đó là quyền yêu cầuTòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp So với BLTTDS năm 2004, BL TTDS năm

2015 đã mở rộng quyền công dân tiếp cận Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp bằng quy định “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vìchưa có luật để áp dụng”

Trang 40

Quyền tiếp theo được BLTTDS năm 2015 ghi nhận rất cụ thể tại Điều 5 làquyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Đương sự là chủ thể của quyền và lợiích hợp pháp nên đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án cóthẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Vì vậy, Tòa án chỉ có thể thụ lý để giải quyết

vụ việc dân sự khi có yêu cầu của đương sự, đồng thời Tòa án cũng chỉ được giảiquyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự Không chỉ dừng ở đó, BLTTDS năm

2015 còn quy định rõ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyềnchấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện,không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội

Vì đương sự là chủ thể của quyền, lợi ích nên họ hiểu rõ nhất quyền, lợi íchcủa mình, từ đó họ sẽ là chủ thể chứng minh hiệu quả nhất Nhằm bảo đảmquyền, lợi ích hợp pháp của họ, BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận đương sự vừa cóquyền, vừa có nghĩa vụ chứng minh Quyền bình đẳng giữa các đương sự được quyđịnh tại Điều 8 BLTTDS năm 2015 cũng là một quyền thể hiện rất rõ nguyên tắc bảođảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự Đây không còn làquyền bình đẳng trước pháp luật nói chung mà là quyền bình đẳng, quyền ngangbằng giữa các đương sự trong vụ việc dân sự Ngoài các quyền trên, Điều 9, Điều

10 BLTTDS năm 2015 còn nhấn mạnh những quyền khác của đương sự như quyền

tự mình tham gia tố tụng hoặc nhờ luật sư, người khác hỗ trợ mình tham gia tố tụng;quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự Các quyền này thực sự

là những cơ sở pháp lý vững chắc để đương sự tự tin tham gia tố tụng, thể hiện rất rõquyền con người, quyền công dân của đương sự

BLTTDS năm 2015 quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm thựchiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Tòa án, người tiến hành

tố tụng là một chủ thể trong tố tụng dân sự nên nguyên tắc

Ngày đăng: 01/11/2022, 21:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Vân Anh (2014), Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Nội” , Luận văn thạc sĩ Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Thị Vân Anh (2014), Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài quathực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Nội
Tác giả: Đỗ Thị Vân Anh
Năm: 2014
2. Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc (2006), Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ hôn nhân vàgia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Tác giả: Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2006
3. C.Mác - Ph.Ăngghen (1998), Về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền con người
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốcgia
Năm: 1998
4. Chính phủ (2014), Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hànhLuật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TƯ ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TƯ ngày 02tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
6. Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Ly hôn có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay, Tạp chí Tòa án điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), "Ly hôn có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiệnnay
Tác giả: Đoàn Thị Ngọc Hải
Năm: 2019
7. Trương Thị Hồng Hà (2013), Lý luận về quyền con người trong tố tụng dân sự, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Thị Hồng Hà (2013), "Lý luận về quyền con người trong tố tụngdân sự
Tác giả: Trương Thị Hồng Hà
Năm: 2013
10. Nguyễn Thanh Hoa (2012), “Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thanh Hoa (2012), “"Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tốnước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Nguyễn Thanh Hoa
Năm: 2012
11. Phạm Trung Hòa (2017), “Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiện pháp luật”, Luận văn thạc sĩ Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Trung Hòa (2017), “"Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theoquy định của pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiện pháp luật”
Tác giả: Phạm Trung Hòa
Năm: 2017
13. Quốc hội 13 (2014), Luật Hôn nhân và gia đình, Luật số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội 13
Năm: 2014
14. Quốc Hội 13 (2014), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; Luật số 62/2014/QH13 ngày 24/11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc Hội 13
Năm: 2014
15. Quốc hội 13 (2015), BLTTDS 2015, Luật số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLTTDS 2015
Tác giả: Quốc hội 13
Năm: 2015
16. TAND tỉnh Quảng Bình (2015), Báo cáo tổng kết công tác của TAND hai cấp tỉnh Quảng Bình năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TAND tỉnh Quảng Bình (2015)
Tác giả: TAND tỉnh Quảng Bình
Năm: 2015
17. TAND tỉnh Quảng Bình (2016), Báo cáo tổng kết công tác của TAND hai cấp tỉnh Quảng Bình năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TAND tỉnh Quảng Bình (2016)
Tác giả: TAND tỉnh Quảng Bình
Năm: 2016
18. TAND tỉnh Quảng Bình (2017), Báo cáo tổng kết công tác của TAND hai cấp tỉnh Quảng Bình năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TAND tỉnh Quảng Bình (2017)
Tác giả: TAND tỉnh Quảng Bình
Năm: 2017
19. TAND tỉnh Quảng Bình (2018), Báo cáo tổng kết công tác của TAND hai cấp tỉnh Quảng Bình năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TAND tỉnh Quảng Bình (2018)
Tác giả: TAND tỉnh Quảng Bình
Năm: 2018
20. TAND tỉnh Quảng Bình (2019), Báo cáo tổng kết công tác của TAND hai cấp tỉnh Quảng Bình năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TAND tỉnh Quảng Bình (2019)
Tác giả: TAND tỉnh Quảng Bình
Năm: 2019
21. TAND tỉnh Quảng Bình (2020), Báo cáo tổng kết công tác của TAND hai cấp tỉnh Quảng Bình năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TAND tỉnh Quảng Bình (2020)
Tác giả: TAND tỉnh Quảng Bình
Năm: 2020
23. TAND tối cao (2018), Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 về giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018về giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưngkhông rõ địa chỉ
Tác giả: TAND tối cao
Năm: 2018
8. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992) 9. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1.Tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình - Luật hiến pháp và luật hành chính bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (Trang 48)
Bảng 2.1: Số liệu xét xử các loại vụ án từ năm 2016 - 2020 - Luật hiến pháp và luật hành chính bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Bảng 2.1 Số liệu xét xử các loại vụ án từ năm 2016 - 2020 (Trang 50)
Bảng 2.2: Số liệu kết hôn có yếu tố nước ngoài - Luật hiến pháp và luật hành chính bảo vệ quyền con người trong xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Bảng 2.2 Số liệu kết hôn có yếu tố nước ngoài (Trang 57)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w