Tuy nhiên, do áp lực từ các hoạt động kinh tế là phải đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, các vấn đề môi trường đang trở nên nghiêm trọng đối với các nguồn tài nguyên, làm giảm đi t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA
Luận văn
Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác bảo tồn tài nguyên rừng nhập mặn Cần Giờ
Trang 2CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Đặt vấn đề 1.2 Tính cấp thiết của đề tài 1.3 Mục tiêu nghiên cứu 1.4 Nội dung nhiên cứu 1.5 Phương pháp nghiên cứu 1.6 Đối tượng nghiên cứu 1.7 Giới hạn của đề tài
Trang 31.1 Đặt vấn đề
Loài người đã bước vào thời đại công nghiệp với dân số lên đến hơn 6 tỷ người cùng với sự phong phú chưa từng có về đa dạng sinh học (tổng số gen, loài và các hệ sinh thái trên trái đất)
Tài nguyên sinh học - một bộ phận của đa dạng sinh học có giá trị sử dụng cho con người - đã từng được khai thác tự do cho quá trình phát triển của loài người
Vào đầu thế kỷ 21, chúng ta đã nhận thấy tài nguyên sinh học là có giới hạn, và chúng ta đang khai thác vượt quá những giới hạn này, do đó đang làm giảm tính đa dạng sinh học Vì vậy, đã đến lúc phải có sự thay đổi triệt để trong mối quan hệ giữa con người và tài nguyên sinh học mà đời sống của con người phụ thuộc vào
Tại Việt Nam, rừng Cần giờ được mệnh danh là “lá phổi xanh” của thành phố Hồ Chí Minh, rừng có tác dụng hấp thụ khí độc hại thải ra từ sản xuất công nghiệp và khói xe máy, đồng thời trả lại cho môi trường dưỡng khí oxy cần thiết cho quá trình sống của con người, lọc nước thải từ các quận nội thành đổ về, làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường của thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận
Người dân sống trong các khu dự trữ sinh quyển vẫn được phép duy trì các hoạt động truyền thống của họ để tạo nguồn thu nhập hàng ngày qua việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật bền vững về môi trường và văn hoá
Tuy nhiên, do áp lực từ các hoạt động kinh tế là phải đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, các vấn đề môi trường đang trở nên nghiêm trọng đối với các nguồn tài nguyên, làm giảm đi trông thấy đa dạng số loài động thực vật, cảnh quan và các hệ sinh thái
Bên cạnh đó, hiện nay lượng tàu bè vào cảng Sài Gòn nhiều nên gây xói lở ven bờ, khói thải làm ảnh hưởng đến môi sinh… Nhiều hộ dân vẫn còn sinh
Trang 4sống, sản xuất trong rừng cũng làm ảnh hưởng đến dòng chảy và nguồn nước, gây
ra dịch bệnh cho cây
Qua thực tế đó, việc xây dựng chương trình nhằm năng cao nhận thức cho cộng đồng trong công tác bảo tồn tài nguyên rừng Cần Giờ là một việc rất cần thiết trong thực tế hiện nay Chương trình sẽ hỗ trợ cho các cán bộ trong công tác bảo tồn rừng Cần Giờ, mặt khác là giúp cho bộ phận dân cư sinh sống nhờ vào các lợi ích do rừng Cần Giờ mang lại hiểu được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và khai thác hợp lí nguồn tài nguyên để bảo tồn hệ sinh thái vốn rất nhạy cảm này Đó là lí do tôi thực hiện đề tài: “Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác bảo tồn tài nguyên RNMCG”
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, mọi người đều có trách nhiệm tham gia Để nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường thì tuyên truyền, giáo dục về môi trường là công tác rất quan trọng
Theo Chỉ thị số 36-CT/TW trong số 8 giải pháp được nêu ra, thì giải pháp đầu tiên là: "Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường"
Hiện nay, đa số các chương trình đã đưa ra để bảo tồn tài nguyên RNM Cần Giờ cũng chỉ dừng lại ở các chương trình du lịch sinh thái, hoặc “Dự án đầu
tư xây dựng Khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ” do Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt năm 2001” Do đó, việc xây dựng 1 chương trình nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng trong việc bảo tồn tài nguyên RNM Cần Giờ là điều rất cần thiết
Chương trình này sẽ giúp người dân sống trong khu vực cần giời hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và giúp nâng cao năng lực quản lí tài nguyên RNMCG cho các Cán bộ chuyên trách lĩnh vực này
Trang 51.3 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác bảo tồn tài nguyên RNMCG Qua đó, chương trình sẽ mang lạiø mang lại những kiến thức môi trường cơ bản giúp mọi người hiểu được tầm quan trọng của RNMCG đối với đời sống, đồng thời cũng phải thiện được đời sống của người dân nơi đây thì chương trình sẽ đạt được mục tiêu đề ra
1.4 Nội dung nghiên cứu
• • Tìm hiểu về vai trò của RNMCG đối với đời sống của người dân
• • Điều tra về nhận thức, thái độ và nguyện vọng bảo vệ tài nguyên RNM của người dân Cần Giờ
• • Xây dựng chương trình giáo dục môi trường
1.5 Phương pháp nghiên cứu 1.5.1 Chọn địa điểm nghiên cứu
Ở huyện Cần Giờ tổng cộng có 6 xã, bao gồm: Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp, Long Hòa, Thạnh An và một thị trấn là Cần Thạnh
Nhưng đề tài này chỉ thực hiện trên địa bàn xã Long Hoà Theo số liệu thống kê tổng điều tra nông thôn 6/ 2006, xã Long Hòa có diện tích là 13.299 ha, phía Đông giáp thị trấn Cần Thạnh, phía Tây giáp xã Lý Nhơn, phía Nam giáp biển Đông và phía Bắc giáp xã An Thới Đông Tổng số dân của xã là 10.152 người
Toàn xã Long Hòa có 4 ấp là:
• Đồng Hoà có 431 hộ gia đình với tổng số dân là 1789 người
• Đồng Tranh có 539 hộ gia đình với tổng số dân là 2322 người
Trang 6• Long Thạnh có 883 hộ gia đình với tổng số dân là 3333 người
• Hoà Hiệp có 664 hộ gia đình với tổng số dân là 2708 người Trong đó, ấp Long Thạnh được coi là trung tâm của xã Mỗi ấp cách nhau từ 1-3 km (theo đường lộ), ngoài ra còn có khu Dần Xây nằm ngay dưới chân câu Dần Xây, nơi đây có thể coi là một khu tự trị vì dân cư sống tập trung với nhau và cách khá xa trung tâm xã ( khoảng 13 km)
Như đã được trình bày ở phần trên thì đề tài này cụ thể chỉ được khảo sát đối với 2 ấp là Long Thạnh, Hoà Hiệp với tồng số phiểu điều tra là 100 phiếu
1.5.2 Lập phiếu trưng cầu ý kiến
Phiếu thăm dó ý kiến được lập cho người dân đang sinh sống hoặc làm việc tại 2 ấp của xã Long Hòa, huyện Cần Giờ (như đã nêu ở phần trên) Các câu hỏi đặt ra phải dựa trên thực tế cuộc sống của người dâng nơi đây và xoay quanh nội dung mà đề tài đặt ra Phiếu này sẽ được trình bày cụ thể trong bảng phụ lục
1.5.3 Ph ương pháp điều tra thực tế 1.5.3.1 Bố trí các điểm điều tra
Chọn ngẫu nhiên 100 người dân sống rải rác tại 2 ấp Long Thạnh và Hoà Hiệp để phát phiếu điều tra Do dân cư ở ấp Long Thạnh sống tập trung và nhiều hơn ấp Hoà Hiệp nên số phiếu phát ra ở ấp Long Thạnh là 60 phiếu và 40 phiếu còn lại là ở ấp Hoà Hiệp
1.5.3.2 Phỏng vấn, trò chuyện trực tiếp với người dân
Tôi đến trực tiếp từng gia đình phát phiếu, hướng dẫn và giải thích cho từng người dân hiểu về các câu hỏi được trình bày trong phiếu trưng cầu mà tôi đã chuẩn bị trước
1.5.4 Phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để vẽ đồ thị biểu diễn những suy nghĩ của người dân về môi trường cũng như là ý thức bảo vệ RNMCG của họ
Trang 71.5.5 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
• Tìm hiểu về vai trò của RNMCG đối với đời sống của người dân và khảo sátnnhận thức, thái độ trong việc bảo vệ tài nguyên rừng của họ thông qua các mẫu phiếu điều tra được phát trực tiếp cho người dân
• Quan sát và thu thập kiến thức thực tế tại RNM Cần Giờ, trong các khu dân
cư, khu du lịch sinh thái…
• Tìm hiểu về hiện trạng RNMCG qua các tài liệu sách vở, mạng internet
• Tham khảo các dự án, chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng đã thực hiện có hiệu quả như “Chương trình nâng cao nhận thức bảo tồn Cúc Phương”,
“chương trình bảo tồn Vịnh Nha Trang”… để có thể đề ra một chương trình cho RNMCG
1.6 Đối tượng nghiên cứu
• Tài nguyên RNMCG
• Người dân sống trong khu vực RNMCG
1.7 Giới hạn của đề tài
Do thời gian thực hiện đề tài hạn chế nên đề tài chỉ dừng lại ở việc xây dựng chương trình, chưa được áp dụng trong điều kiện thực tế nên chưa thể đánh giá được mức độ hiệu quả của chương trình
Trang 8CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ BẢO TỒN
ĐA DẠNG SINH HỌC, DU LỊCH SINH THÁI
VÀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
2.1 Đa dạng sinh học (ĐDSH) 2.2 Bảo tồn đa dạng sinh học 2.3 Du lịch sinh thái
2.3.1 Định nghĩa 2.4 Giáo dục môi trường (GDMT) 2.5 Tâm lí của người dân nông thôn 2.6 Mối quan hệ giữa con người và môi trường
Trang 92.1 Đa dạng sinh học (ĐDSH) 2.1.1 Khái niệm – phân loại
Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên
Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:
• Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm
• Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể
• Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm "Đa dạng sinh học"
(biodiversity, biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống
ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần, ; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái
2.2.2 Giá trị của ĐDSH
Đa dạng sinh học là một nguồn tài nguyên Rõ ràng là đa dạng sinh học ở một mức độ nào đó có vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ sở vật chất cho cuộc sống con người, ở mức độ này, nó duy trì sinh quyển như một hệ thống chức năng, ở một mức độ khác, nó cung cấp các vật liệu cơ bản cho nông nghiệp và và nhu cầu thiết thực khác
• Các HST trong tự nhiên là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài người, chúng đảm bảo sự chu chuyển oxi và các nguyên tố khác trên
Trang 10hành tinh Chúng duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất trên khắp thế giới
Nếu có sự suy thoá và ĐDSH diễn ra mãnh liệt trên trái đất sẽ là tổn thương đến tính ổn định và tính mềm dẻo của môi trường
• Các hệ tự nhiên làm hạn chế sự xói mòn đất và bờ biển Rừng trên các sườn dốc điều tiết dòng chảy và thanh lọc các cặn bã để dòng sông trở nên trong lành khi đến người sử dụng Các RNM và các rặng san hô sẽ luôn là lá chắn hữu hiệu chống lại các đợt sóng biển, chống xói mòn bờ biển và đồng thới cũng là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển
• Các cây lương thực được bổ sung những tính trạng di truyền mới lấy từ các cây sống hoang dã bằng cách lai giống Đó cũng là những đặc tính di truyền mà ta cần có để cải tạo các giống cây trồng của chúng ta
• Các loại dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ sức khoẻ trên phạm vi toàn cầu Ước tính 80% dân số của các nước kém phát triển trông cậy vào các dược phẩm truyền thống trong việc chăm sóc sức khoẻ Mặt khác, tính đa dạng tự nhiên có thể ngày càng có giá trị đối với việc chế tạo ra những dược phẩm nhân tạo mới
• Nhiều hệ sinh thái tự nhiên hoặc bán tự nhiên, một số trong đó có thể có tính đa dạng sinh học cao, có giá trị đáng kể đối với con người, chẳng hạn như:
Vai trò tạo nguồn thu nhập từ du lịch sinh thái của các hệ sinh thái tự nhiên được bảo vệ làm vườn quốc gia
Nhưng nhìn chung, những giá trị này chỉ có quan hệ gián tiếp với đa dạng sinh học Do đó, tuy các hệ sinh thái rừng ngập mặn nhìn chung thường có tính đa dạng thấp hơn hệ sinh thái rừng đất thấp liền kề nhưng xét về mặt tài nguyên thì chúng cũng có giá trị tương đương
2.1.3 Những mối đe dọa đến ĐDSH Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự giảm sút độ đa dạng sinh học là
Trang 11• Khai thác rừng quá mức: việc khai thác gỗ quá mức gây ra sự mất tán che cho đất, hệ thống rễ cây bị mất gây ra sự sói mòn đất và ức chế hoạt động của vi sinh vật làm tăng độ phì của đất … Bên cạnh đó, sự đốt rừng bừa bãi và nạn cháy rừng đã gây hạn hán, thiên tai, để lại thiệt hại to lớn cho hệ sinh thái và nền kinh tế Đồng thời, sự phá hủy hệ sinh thái rừng làm biến đổi nơi sinh sống của các giống loài Qua 4 thế kỷ gần đây, trên toàn cầu có toàn bộ hơn 700 loài bị tuyệt chủng được biết đến, bao gồm một trăm loại động vật có vú 160 loại chim, tất cả đều bị ảnh hưởng bởi nhân tạo (Fisher, 1968, Wood 1972; Soule 1983; Reid 1992)
• Sự chăn thả, săn bắn quá mức và sự du nhập vào địa phương những loài động vật ăn thịt cũng là nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của không ít các loài sinh vật trên trái đất: Việc săn bắn với tỷ lệ không thể chịu dựng được là nguyên nhân nỗi trội nhất của sự tuyệt chủng hay sự nguy hiểm của những chủng loài có giá trị hàng hóa trên thị trường
• Do cạnh tranh với con người và bệnh tật: một vài trường hợp tuyệt chủng nhân tạo bao gồm những loài bị quấy rối và con người nhận thấy chúng là những kẻ cạnh tranh với mình để sử dụng một nguồn tài nguyên thông thường nào đó hay do các dịch bệnh truyền nhiễm
• Mặt khác, hậu quả của chiến tranh trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã sử dụng những loại vũ khí, phương tiện hiện đại đã gây nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhiều loài sinh vật bị huỷ diệt và tồn đọng lại trong tự nhiện qua nhiều thế hệ Tóm lại sự sống trên trái đất này tồn tại phụ thuộc vào mối quan hệ chặt chẽ giữa các loài sinh vật với nhau, cứ một loài trên trái đất này mất đi phải chăng là sự sống trên Trái Đất đã bước thêm một bước tới sự diệt vong
Những mối đe dọa chính đối với nguồn đa dạng sinh học tại Việt Nam là khai thác rừng quá mức, tập quán du canh du cư, diện tích đất trồng cây bị thu hẹp, ô nhiễm nguồn nước, suy thoái các vùng ven biển, và nhu cầu kiếm sống của
Trang 12nông dân trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường Tốc độ tăng dân số nhanh chóng và thâm canh nông nghiệp cũng là những mối đe dọa ngày càng gia tăng Với dân số gia tăng và một nền kinh tế phát triển nhanh chóng, các công trình hạ tầng cơ sở quy mô lớn như đập nước và đường cao tốc cũng đe dọa nguồn
đa dạng sinh học giàu có của Việt Nam nếu không được quy hoạch và quản lý tốt
Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là nhìn nhận nguồn đa dạng sinh học quý giá của mình như một tài sản quốc gia và bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển và bảo tồn
2.2 Bảo tồn đa dạng sinh học 2.2.1 Khái niệm
Bảo tồn đa dạng sinh học ở mọi mức độ về cơ bản là duy trì các quần thể loài đang tồn tại và phát triển Công việc này có thể được tiến hành bên trong hoặc bên ngoài nơi sống tự nhiên Một số chương trình quản lý tổng hợp đã bắt đầu liên kết các hướng tiếp cận cơ bản khác nhau này
Bảo tồn tại chỗ (Bảo tồn In-situ)
- Là hình thức bảo tồn các hệ sinh thái và những nơi cư trú tự nhiên, duy trì và phục hồi các quần thể loài đang tồn tại trong điều kiện sống tự nhiên của chúng
Trong trường hợp các loài được thuần hoá và canh tác, công việc này được tiến hành tại khu vực mà các giống vật nuôi cây trồng đó hình thành nên đặc tính của mình [Theo CBD]
- Là hình thức bảo tồn đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái vận động tiến hoá của nơi cư trú nguyên thủy hoặc môi trường tự nhiên [Theo GBA]
Hiện nay, đối với một bộ phận lớn của đa dạng sinh học trên trái đất, công tác bảo tồn chỉ khả thi khi các loài đó được duy trì trong phạm vi phân bố cũng như ở trạng tự nhiên của chúng Điều này còn có nhiều ý nghĩa khác như cho phép loài
Trang 13tiếp tục quá trình thích nghi trong tiến hoá và về nguyên tắc đảm bảo cho việc tiếp tục sử dụng các loài (mặc dù điều này đòi hỏi phải có sự quản lý)
Bảo tồn Ex-situ
- Là hình thức bảo tồn các thành phần của đa dạng sinh học bên ngoài những nơi
cư trú tự nhiên của chúng [Theo CBD]
- Là hình thức duy trì các thành phần của đa dạng sinh học tồn tại bên ngoài nơi
cư trú nguyên thủy hoặc môi trường tự nhiên của chúng [Theo GBA]
Các quần thể đang tồn tại của nhiều sinh vật có thể được duy trì trong canh tác hoặc nuôi giữ Thực vật có thể được bảo tồn trong ngân hàng hạt giống và các bộ sưu tập mô; các kỹ thuật tương tự cũng được phát triển cho động vật (lưu giữ phôi, trứng, tinh trùng), nhưng khó giải quyết hơn nhiều Trong mọi trường hợp, bảo tồn ex-situ hiện tại rõ ràng chỉ khả thi đối với một tỷ lệ sinh vật nhỏ Công việc này đòi hỏi chi phí rất lớn đối với phần lớn các loài động vật, và mặc dù theo nguyên tắc công việc bảo tồn ex-situ có thể tiến hành với một tỷ lệ lớn các loài thực vật bậc cao, nhưng vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số các sinh vật của trái đất
Công việc này thường dẫn đến suy giảm đa dạng di truyền do những hiệu ứng xói mòn di truyền và do xác suất lai cận huyết cao
2.2.2 Tình hình bảo tồn ĐDSH trên Thế giới và tại Việt Nam
Các vấn đề trong công tác bảo tồn
• Làm thế nào huy động được kiến thức khoa học phục vụ cho công tác bảo tồn?
• Làm thế nào quản lý được các quá trình biến đổi để tài nguyên sinh học có thể đóng góp tối đa cho quá trình phát triển bền vững?
• Cần những thông tin gì để phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học?
• Vấn đề nào cần được chú ý trước tiên?
• Làm thế nào để phối hợp một cách có hiệu quả nhất các hoạt động bảo vệ
đa dạng sinh học?
Trang 14• Có thể tìm được nguồn tài chính từ đâu để đáp ứng những vấn đề này ở một quy mô tương xứng với vấn đề?
2.2.2.1 Thế giới Trong 10 năm qua cộng đồng quốc tế đã chi khoảng 4 tỷ đô la để bảo tồn sự đa dạng sinh học Khoản chi phí này đã được sử dụng cho rất nhiều công việc hữu ích và chúng ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng Nhưng nhìn chung, chúng ta chưa ngăn chặn được tác động huỷ diệt của nạn nghèo khó trầm luân và dân số không ngừng tăng lên, một tác động có sức tàn phá các loài nhanh gấp hàng nghìn lần trước đây Chúng ta cần hành động theo một cách khác để đối phó với tác động có thể rất thảm khốc của những áp lực này đối với những hệ tự nhiên đang hỗ trợ cho sự sống trên trái đất
Châu á và châu Phi cũng cho ta những ví dụ đầy thuyết phục về cách thức hợp tác và xác định các lĩnh vực ưu tiên để đối phó với những làn sóng tàn phá thiên nhiên Những dự án có sự hỗ trợ mạnh mẽ của cộng đồng cho thấy có thể đấu tranh với nghèo đói thông qua việc bảo vệ những hệ sinh thái gắn chặt với các nguồn nước, nông nghiệp và đời sống nông thôn
2.2.2.2 Việt Nam
“Việt Nam có nhiều loài động thực vật rất độc đáo mà nhiều quốc gia trên thế giới không có được, đã làm cho Việt Nam trở thành nơi tốt nhất (trong một số trường hợp là nơi duy nhất) để bảo tồn đa dạng sinh học”- Đây là thông điệp của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhân ngày Môi trường thế giới năm nay (5/6)
Hiện nay, khoảng 25 triệu người Việt Nam sống dựa vào các hệ sinh thái rừng và khoảng 8 triệu người khác có một phần thu nhập từ ngư nghiệp Các hệ sinh thái và đa dạng sinh học đã góp phần quan trọng cải thiện điều kiện sống, cung cấp dinh dưỡng, lương thực, chất đốt, thuốc men, bảo vệ sức khoẻ và cung cấp nước sinh hoạt cho loài người Việt Nam là một trong các quốc gia có tính đa
Trang 15dạng sinh học cao trên thế giới, được công nhận là một quốc gia ưu tiên cao cho bảo tồn toàn cầu
Các hệ sinh thái của Việt Nam rất đa dạng và phong phú, tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% số loài chim và thú trên toàn cầu Việt Nam có nhiều loài động thực vật rất độc đáo mà nhiều quốc gia trên thế giới không có được, đã làm cho Việt Nam trở thành nơi tốt nhất (trong một số trường hợp là nơi duy nhất) để bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học, dẫn đến bảo tồn lợi ích của thiên nhiên, sức khỏe, nông nghiệp, công nghiệp, và một số lãnh vực của nước ngoài; bao gồm:
• Giúp bảo vệ đường dẫn nước (lưu vực sông) đối với nguồn nước tự nhiên và nước sinh hoạt
• Giúp ngăn ngừa và phòng chống lụt bão, đại họa của thiên nhiên gây ra
• Đem đến một nguồn vốn rất lớn cho công nghiệp và hoạt động du lịch
• Và do đó thúc đẩy kinh tế trong vùng; góp phần tạo cảm giác dễ chịu từ một môi trường trong lành, không gian sống và tạo ra nhiều cơ hội khác,;
• Cung cấp những sản phẩm từ gỗ được lấy từ rừng (một cách hợp pháp và đúng tiêu chuẩn) phát triển kinh tế
• Bảo vệ đất nhờ việc quản lý nông nghiệp và nguồn tài nguyên
• Tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và giảng dạy và field stations cho thành tựu về khoa học, và giảng dạy ở nhiều cấp độ
• Duy trì những giá trị về truyền thống văn hóa nhằm đem lại sức khỏe, phúc lợi, nơi ngắm cảnh cho cộng đồng (trích từ Philips, 1998 in Cheppard, 1999)
Tất cả những đóng góp đó nhằm vào chất lượng của cuộc sống và sức khỏe của cộng đồng
Trang 162.3 Du lịch sinh thái 2.3.1 Định nghĩa
“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục mội trường có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồn địa phương”
Khái niệm quan trọng trên đây đã được rút ra từ cuộc hội thảo quốc tế
“Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” vừa được tổ chức ở Hà Nội
• Du lịch sinh thái là một lĩnh vực mới phát triển vài thập kỉ gần đây và đang trở thành một xu hướng tích cực đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững gắn liền với việc bảo tồn thiên nhiên và môi trường, các giá trị nhân văn giàu bản sắc văn hoá của mọi dân tộc, thông qua việc giáo dục nhận thức của xã hội, của cộng đồng
• Muốn phát triển du lịch sinh thái đòi hỏi phải có sự phối kết hợp đồng bộ thể hiện ở ba lĩnh vực chủ yếu là: chủ trương, đường lối chính sách của Nhà nước và sự quản lí, điều hành của chính quyền các cấp, sự tham gia của cộng đồng dân
cư địa phương
Mặc dù là một lĩnh vực mới phát triển song nhiều quốc gia đã đạt được những thành tự to lớn trong lĩnh vực sinh thái, đem lại hiệu quả đáng kể về kinh tế xã hội, bảo vệ, tôn tạo các nguồn tài nguyên du lịch và môi trường, phát triển cân đối đồng đều theo lãnh thổ, đặc biệt ở những vùng sâu vùng xa nơi có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái Các kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái
ở nước ngoài được trình bày ở Hội thảo là những kinh nghiệm quý không chỉ đối với Việt Nam mà còn có thể rút kinh nghiệm cho những nước đang phát triển
2.3.2 Các loại hình DLST hiện có tại Việt Nam
Cùng với xu thế phất triển du lịch sinh thái trên thế giới trong những năm gần đây DLST ở Việt Nam đã và đang phát triển với một số loại hình phù hợp với
Trang 17điều kiện đặc thù của Việt Nam Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, những sản phẩm DLST đích thực ở Việt Nam hiện chưa có, mà mới chỉ là những loại hình du lịch thiên nhiên mang màu sắc của DLST, bao gồm:
Dã ngoại: là hình thức đưa con người về với thiên nhiên, sản phẩm du lịch chủ yếu là tham quan thắng cảnh, hiện khá phổ biến ở Việt Nam
Leo núi: leo núi là loại hình du lịch chinh phục các đỉnh cao như: Fansipan, Bidoup Bạch mã…Ngoài ra còn có thể những tour du lịch hành hương lễ hội đến các điểm di tích liïch sử văn hóa ở các khu bảo tồn thiên nhiên như chùa Hương, Yên Tử…
Đi bộ trong rừng: là Hình thức DLST được ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt nam đi bộ trong rừng là kết hợp hình thức tham quan các cảnh quan tự nhiên ở các vườn quôc gia và khu bảo tồn thiên nhiên đang phát triển
Tham quan nghiên cứu đa dạng sinh học ở các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên: là hình thức DLST phổ biến thu hút sự quan tâm đặt biệt của khách du lịch đến từ nhữnh thị trường khác nhau Tuy vậy hiện nay ở Việt Nam hình thức này còn chưa phát triển
Tham quan mệt vườn: là hình thức DLST với sản phẩm chủ yếu là tham quan nghiên cứu HST nông nghiệp, đặt biệt ở các mệt vườn đồng bằng sông Cửu Long Hình thức này mặc dù mới phát triển trong thời gian gần đây, song đã thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước
Quan sát chim:: Các sân chim ở Việt Nam, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long, Cần Giờ… có số lượng chim lớn thành phần loài phong phú với nhiều loài đặc hữu, qúi hiếm cần được bảo vệ, là nơi thu hút nhiều nhà khao học và du khách tới nghiên cứu, tham quan… Hình thức du lịch quan sát chim ở các sân chim, các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên chưa phổ biến nhiều ở Việt Nam
Thăm bản làng dân tộc: Việc thăm các bản làng dân tộc trong các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên được kết hợp tổ chức trong các tour du lịch mang sắc thái DLST ở Việt Nam
Trang 18Du thuyền: Việt Nam có nhiều sông hồ, cùng với bờ biển dài hơn 3200km Đây là tiền đề thuận lợi để tổ chức loại hình du lịch như đi đến Cần Giờ bằng thuyền buồm…
Mạo hiểm: Ở Việt Nam một số loại hình du lịch mạo hiểm đã bắt đầu phát triển như: du lịch lặn biển, du lịch xuyên Việt bằng xe Jeep…
Săn bắt câu cá: các loại hình săn bắt thường được thực hiện tại các khu vực khoang vùng dành riêng cho các hoạt động này, đối tượng tham gia là khách có tuổi trung niên, trong nội địa và quốc tế
Các loại hình khác: Tổ chức các tour cấp khu vưc hay xuyên quốc gia để tham quan tìm hiểu các thắng cảnh tự nhiên và con người Việt Nam
2.3.3 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam Nước Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng được thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh quan xinh đẹp, đa đạng và độc đáo, vừa mang tính chất văn hoá thế giới vừa có tính lịch sử đặc thù của dân tộc Việt Nam Với xu hứớng phát triển khoa học kĩ thuật như vũ bão, nhu cầu thích tìm về thiên nhiên của con người ngày càng gia tăng, những cảnh thiên nhiên tươi đẹp nên thơ, không khí trong lành là những nơi hấp dẫn của du khách thế giới Do đó du lịch sinh thái giữ vai tró quyết định sự tăng trưởng của ngành du lịch Việt Nam trong những năm gần đây và hứa hẹn nhiều trong tương lai Ngoài ra du lịch sinh thái còn là dịp để giới thiệu về đất nước tươi đẹp và con người Việt Nam anh hùng với thế giới một cách hữu hiệu, đem lại lợi ích trên nhiều phương tiện: văn hoá, kinh tế, xã hội và phát triển bền vững
Nước Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như vịnh Hạ Long
di sản của thế giới, Cần Giờ- khu dự trữ sinh quyển của thế giới, một số vườn quốc gia có hệ sinh thái đa dạng nuôi dưỡng biết bao loài động, thực vật quý hiếm với không gian thoáng đãng rừng xanh ngút ngàn, biển cả êm đềm Bên cạnh thiên nhiên hấp dẫn còn có những nét tín ngưỡng đặc sắc, những di tích khảo cổ, di tích văn hoá lịch sử, gợi tính tò mò ham hiểu biết của con ngừời Tất
Trang 19cả tạo nên một nước Việt nam xinh đẹp rất gần gũi nhưng tinh khôi, rất độc đáo lại hiền hoà, duyên dáng là đểm du lịch sinh thái đầy hấp dẫn, quyến rũ du khách trong và ngoài nước Nhưng mỗi nơi mỗi vẻ thích hợp cho từng loại hình du lịch sinh thái, du khách có thể đến nghiên cứu, tham quan, học tập, hội họp, giải trí
Một số loại hình du lịch sinh thái phổ biến ở Việt Nam như:
• Du lịch dã ngoại, tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng
• Du lịch tìm hiểu, nghiên cứu theo chuyên đề sinh thái, lịch sử, khảo cổ, văn hoá
• Du lịch hội nghị, hội thảo
• Du lịch về thăm chiến trường xưa
Những đặc điểm cơ bản về lịch sử hình thành, vị trí địa lý lãnh thổ và sự đa dạng về các điều kiện địa lý đã tạo ra sự phong phú, đa dạng và có tính chất pha trộn của các HST với tính đa dạng sinh học cao ơ Việt Nam Đây chính là đặc điểm tạo nên tài nguyên DLST đặc sắc, đảm bảo cho phát triển DLST ở nước ta
2.4 Giáo dục môi trường (GDMT) 2.4.1 Định nghĩa
GDMT là một quá trình tạo dựng cho con người những nhận thức và mối quan tâm đối với môi trường và các vấn đề môi trường, sao cho mỗi người đều có đầy đủ kiến thức, thái độ và kỹ năng để có thể hoạt động một cách độc lập, hoặc phối hợp, nhằm tìm ra các giải pháp cho những vấn đề môi trường của hiện tại và ngăn chặn những vấn đề có thể nảy sinh trong tương lai
GDMT là một việc cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và lâu dài
2.4.2 Mục đích của GDMT
GDMT trong nhà trường nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là người học được trang bị:
Trang 20• Một ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với sự phát triển bền vững của trái đất
• Một khả năng cảm thụ, đánh giá vẻ đẹp của nền tản đạo lý môi trường
• Một nhân cách được khắc sâu bởi nền tảng đạo lý môi trường
Là một thực thể mang tính xuyên suốt trong các môn học, GDMT mang lại cơ hội cho người học khám phá môi trường GDMT cũng tạo cơ hội để hình thành, sử dụng các kỹ năng liên quan đến cuộc sống hôm nay và ngày mai của người học
Tất cả điều này cho chúng ta niềm hy vọng người học có nhiều ý tưởng sáng tạo và tham gia tích cực vào quá trình phấn đấu cho một thế giới phát triển lành mạnh
Nói cách khác, GDMT nhằm tới: Giáo dục về môi trường, Giáo dục vì môi trường, giáo dục trong môi trường
2.4.3 Những nguyên tắc chung về GDMT
• GDMT phải coi môi trường là một tổng thể hoàn chỉnh về mặt tự nhiên hay nhân tạo, kỹ thuật hay xã hội (văn hóa, thẫm mỹ, lịch sử…);
• GDMT là một quá trình lâu dài và mang tính liên tục, qua cả giáo dục chính quy hoặc không chính quy;
• GDMT cần mang tính liên ngành nhằm bảo đảm tính hoàn chỉnh và cân bằng về học tập môi trường;
• GDMT cần xem xét các vấn đề trên quan điểm địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế;
• GDMT cần chú trọng đến các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai;
• GDMT phải đề cao giá trị và sự cần thiết của việc hợp tác để ngăn chặn và giải quyết các vấn đề môi trường;
• GDMT cần hỗ trợ để xem xét thấu đáo phương diện môi trường trong quá trình hoạch định phát triển;
• GDMT phải tạo điều kiện để người học thực hành và giúp họ có cơ hội tự ra quyết định cũng như chịu trách nhiệm với các quyết định đó; giải quyết các vấn
Trang 21• GDMT cần giúp cho người học nhận thức những hiện tượng và nguyên nhân sâu xa của các vấn đề môi trường;
• GDMT cần nhấn mạnh mức độ phức tạp của các vấn đề môi trường và phải phát triển kỹ năng suy nghĩ thấu đáo cũng như kỹ năng giải quyết vấn đề môi trường;
• GDMT cần sử dụng môi trường học tập đa dạng với nhiều cách tiếp cận đối với việc dạy và học về môi trường, trong (thông qua) môi trường và vì môi trường;
• GDMT phải bao gồm các nội dung và sự nhạy cảm môi trường, kỹ năng
2.4.4 Phương pháp thực thi GDMT
• Đưa GDMT vào tất cả các cấp bậc học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và các bậc học khác
• Kết hợp GDMT vào tất cả các môn ở tất cả các cấp, bậc tiểu học
• Thực hiện GDMT bằng phương pháp hiện đại đặt trọng tâm ở người học và cách tiếp cận học bằng việc làm
• Cung cấp kiến thức về môi trường và rèn luyện kỹ năng bảo vệ môi trường
Các trường tổ chức và tích cực tham gia cùng với cộng đồng các hoạt động bảo vệ môi trường trong và ngoài nhà trường
• Luôn chú ý tạo ra thái độ đúng và tinh thần trách nhiệm cao đối với việc bảo vệ môi trường
• GDMT không chỉ là cung cấp hiểu biết về môi trường, mà con được thực hiện trong môi trường với thái độ và tình cảm vì môi trường
• Trong GDMT hiện nay dành ưu tiên cho đào tạo giáo viên và các bậc tiểu học, trung học
Trang 222.4.5 Vai trò, nhiệm vụ và phương hướng GDMT 2.4.5.1 Vai trò của giáo dục môi trường
GDMT hiện nay rất cần thiết đặc biệt trong nhà trường phổ thông có một vai trò rất lớn làm chuyển biến ý thức, thái độ và hành vi đối với môi trường và việc bảo vệ môi trường Việc GDMT phải được thực hiện trong suốt quá trình học tập của học sinh, sinh viên ở nhà trường Thông qua hệ thống chương trình và nội dung giảng dạy, giáo viên từng bước trang bị cho học sinh, sinh viên của mình hiểu biết về môi trường, để từ đó giúp các em dần dần có ý thức và từ ý thức sẽ bộc lộ qua thái độ và hành vi trong cuộc sống
2.4.5.2 Nhiệm vụ và phương hướng GDMT Giáo dục môi trường nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết nhất định về môi trường:
• Những nhận thức cơ bản về môi trường: đặc điểm về môi trường và nguồn tài nguyên, vai trò của môi trường và tài nguyên đối với con người, mối quan hệ giữa con người và môi trường…
• Tình trạng môi trường ngày càng biến đổi xấu đi và những hậu quả đó
• Nội dung và biện pháp bảo vệ môi trường, các chủ trương, chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường của nước ta và trách nhiệm của mọi người trong việc bảo vệ môi trường
• Trên cơ sở những hiểu biết đó từng bước bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên có ý thức, thái độ và hành vi đối với môi trường và bảo vệ môi trường Điều đáng chú ý là từ nhận thức lý thuyết đến chuyển biến về ý thức, về thái độ và hành vi là một bước ngoặt đòi hỏi công lao giáo dục của thầy cô giáo
• Trang bị cho học sinh một số kỹ năng và phương pháp bảo vệ môi trường thông thường để khi ra đời các em có thể thực hiện một cách có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ môi trường ở địa phương họ công tác
Trang 23Hiện nay, nhiều học sinh, sinh viên có lối sống phi nhân văn môi trường
Cần thức tỉnh những ý thức của họ trong vấn đề bảo vệ môi trường Cũng cần phải nghiên cứu để soạn thảo một bộ giáo trình từ sơ đẳng đến trung đẳng Từ đó cho học sinh, sinh viên hiểu biết rõ hơn, họ cần làm gì đển bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường nhân văn trong học đường
2.4.6 Hiện trạng công tác GDMT tại Việt Nam
Việc GDMT trong trường phổ thông mới được thực hiện vào thập niên 80 cùng với kế hoạch cải cách giáo dục Để thực hiện nhiệm vụ GDMT trong nhà trường phổ thông, ngay từ thời kỳ đó đã có hai đề tài cấp nhà nước tiến hành nghiên cứu về phương thức nội dung GDMT trong nhà trường, trong đó tập trung chủ yếu là môn sinh vật và địa lý
Từ năm học 1982 - 1983 khoa học địa lý trường ĐHSP Hà Nội đã đưa môn bảo vệ tự nhiên, mà nay là GDMT vào chương trình đào tạo Hiện nay, các họat động GDMT được tiến hành một cách mạnh mẽ Ngoài việc GDMT cho quần chúng nhân dân thông qua phương tiện truyền thông đại chúng rất đa dạng và phong phú, trong nhiều trường đại học đã có các môn học về môi trường Từ năm học 1995 - 1996 trở đi, tất cả trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên (Hà Nội) năm học 1993 - 1994 khoa "Môi trường học" được thành lập và triển khai đào tạo các cán bộ về khoa học môi trường; ở Thành phố Hồ Chí Minh, khoa môi trường cũng được thành lập ở trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Và Đại Học Kỹ Thuật năm
1999
Song song với việc giảng dạy trong nhà trường, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về GDMT cấp nhà nước và cán bộ quản lý, nhiều đề tài luận án phó tiến sĩ và thạc sĩ đã và đang được thực hiện, có tác dụng mở rộng nội dung và nâng cao hiệu quả của việc GDMT
Vào năm 1999-2000, tiểu ban giáo dục môi trường nhân văn thuộc mạng lưới giáo dục môi trường việt nam đã đưa ra một chương trình giáo dục môi trường nhân văn cho tòan xã hội với nội dung như sau:
Trang 24"Chương trình hành động giáo dục môi trường nhân văn trước hết phải tuân theo khuôn khổ hoạt động và mục tiêu chung của mạng lưới giáo dục và đào tạo môi trường Việt Nam, thực hiện nội dung mà tiểu ban giáo dục môi trường nhân văn có thể đạt hiệu quả GDMT nhân văn phối hợp với các ban chuyên đề khác trong mạng lưới quốc gia, đẩy mạnh nội dung họat động môi trường, đối với tất cả các đối tượng trong xã hội, trên những lĩnh vực, vùng ngành khác nhau
Phong trào mang ý nghĩa thiết thực nhất ở nước ta về giáo dục môi trường là ngay từ năm 1962, Bác Hồ đã khai sinh "Tết trồng cây" và cho đến nay, phong trào này ngày càng phát triển mạnh mẽ Năm 1991, Bộ Giáo Dục - Đào Tạo đã có chương trình trồng cây hỗ trợ phát triễn giáo dục đào tạo bảo vệ môi trường (1991 -1995)
Gần đây nhất, ngày 7 tháng 8 năm 2001, thủ tướng chính phủ đã phê duyệt dự án "Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống quốc dân"
Tuy nhiên, có nơi môi trường được xem như là "mode" và ai cũng có thể là chuyên gia về môi trường, cả và thập chí họ còn tham gia vào công tác đào tạo và huấn luyện… cần nhớ rằng, môi trường là ngành khoa học đa liên ngành nhưng có giới hạn Nó có lĩnh vực riêng, có chức năng cấu trúc riêng của nó
2.5 Tâm lí của người dân nông thôn
Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới với hàng loạt khó khăn và thách thức
Tuy nhiên sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đă góp phần quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu của các tầng lớp dân cư và giảm sự lệ thuộc của con người vào tự nhiên (xét riêng trong lĩnh vực sản xuất) Thay vì chỉ biết bóc lột tài nguyên từ giới tự nhiên để sống, sự tiến bộ về mặt nhận thức và trình độ phát triển khoa học kĩ thuật đă giúp cho người dân Việt Nam ngày nay biết tác động lên tự nhiên và biết tạo ra các sản vật để phục vụ nhu cầu của đời sống
Tại nông thôn, việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống cũng như phát triển các làng nghề mới đã dem lại những lợi ích về kinh tế, làm
Trang 25thay đổi bộ mặt nông thôn Tuy nhiên ở khía cạnh khác cũng đă tạo ra một lượng chất thải khá lớn Do công nghệ của các cơ sở sản xuất ở nông thôn phần lớn là lạc hậu nên đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường Thêm nữa, các nguồn chất thải được tạo ra bởi các hoạt động sản xuất từ nông thôn không được quy hoạch và xử lí - phần lớn được đổ thẳng ra môi trường
Cũng vì lợi ích kinh tế một số nhóm dân cư đã hành động bất chấp mọi giá trị môi trường Họ có thể mang máy móc hiện đại vào chặt phá rừng, săn bắt các loại thú quý hiếm tạo nên sự mất cân bằng sinh thái
2.6 Mối quan hệ giữa con người và môi trường Môi trường là không gian sống của con người, là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người và là nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình
Dù hiểu về môi trường như thế nào và dù bất cứ ai đó có vai trò, vị trí gì trong xã hội cũng đồng tình với suy nghĩ: đối với mỗi quốc gia, mỗi vùng của con người cũng như muôn loài sinh vật khác đều (hoặc có thể) có những ranh giới riêng biệt để phân chia quyền sử dụng và kiểm soát của mình Nhưng đối với môi trường thì không, môi trường hoàn toàn không có ranh giới riêng biệt, cố định, hoàn toàn không lệ thuộc và chịu sự "kiểm soát" theo ranh giới hành chính của một quốc gia hay ranh giới của một tỉnh, của một vùng nào đó có thể rộng, hẹp khác nhau tùy theo mức độ tác động, phạm vi ảnh hưởng nhiều hay ít Có rất nhiều hiện tượng môi trường xuyên lục địa, ảnh hưởng đến nhiều quốc gia và liên quan đến toàn cầu
Càng ngày nhân loại càng ý thức một cách rõ nét hơn về mối quan hệ giữa các hoạt động về phát triển kinh tế xã hội với môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên Con người đã và đang dựa vào môi trường để sống, khai thác các nguồn tài nguyên sẵn có trong thiên nhiên để sinh sống và tiến hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trang 26Để đạt được khát vọng " duy trì và tiến hóa" của con người, có lẽ và cũng có thể không còn con đường nào khác là con người phải nhận thức ngày càng đúng hơn về môi trường, hiểu rằng bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của mình, từ đó có những hành vi ứng xử thân thiện với môi trường và phải biết sử dụng môi trường vào mục đích sinh lợi cho cuộc sống
Trang 27CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ CẦN GIỜ
3.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên 3.2 Tài nguyên thiên nhiên – sinh vật 3.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội Cần Giờ 3.4 Cơ sở hạ tầng
3.5 Chất lượng cuộc sống, việc làm và thu nhập của người dân Cần Giờ
3.6 Y tế - giáo dục 3.7 Lợi ích kinh tế và môi trường của RNMCG 3.8 Một số chương trình GDMT đã triển khai tại Cần Giờ
Trang 283.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật; một thành phố lớn và đông dân nhất nước Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, huyện Cần Giờ chuyển giao cho thành phố Hồ Chí Minh (1978) Từ đó Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã quan tâm đến việc phục hồi rừng ngập mặn Cần Giờ và phát triển mảng xanh thành phố Rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành khu rừng phòng hộ từ năm 1991 theo quyết định của Chính phủ
Năm 2000 Uỷ ban MAB/UNESCO công nhận rừng ngập mặn Cần Giờ là Khu Dự trữ Sinh quyển của thế giới – Khu Dự trữ Sinh quyển đầu tiên tại Việt Nam
Hình 1: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ
Trang 293.1.1 Vị trí địa lý
Bản đồ 1: Ranh giới huyện Cần giờ
Trang 30Cần Giờ là một huyện phía Nam thành phố Hồ Chí Minh, tiếp giáp với biển Đông, nằm trên tam giác châu của sông Đồng Nai
Với diện tích 75.740 ha, huyện Cần Giờ nằm trong tọa độ địa lý 106016’
đến 107000’50’’ độ kinh Đông và 10022’ đến 10040’00’’ độ vĩ Bắc
Chiều dài từ Bắc xuống Nam: 35km, từ Đông sang Tây: 30km
Ranh giới:
• Bắc giáp huyện Nhà Bè
• Nam giáp giáp Biển Đông
• Đông giáp Long Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
• Tây giáp tỉnh Tiền Giang và Long An
Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm trọn trong huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh Đây là vùng hạ lưu của hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn – Vàm Cỏ
Rừng ngập mặn Cần Giờ hiện nay có tổng diện tích gần 35.000 ha, chiếm 50%
diện tích huyện Cần Giờ Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm trên tuyến đường thủy quan trọng bậc nhất miền Nam nước ta, từ biển Đông đi vào Sài Gòn - Gia Định và tỏa khắp miền Nam
Vị trí địa lý đặc biệt của Rừng ngập mặn Cần Giờ làm cho số phận của khu rừng này gắn liền với nhiều biến cố lịch sử của miền Nam nước ta
3.1.2 Địa hình
Địa hình khá bằng phẳng và hình thành không theo qui luật từ trong ra ngoài, từ cao xuống thấp mà có xu hướng tạo thành lòng chảo ở trung tâm Trên từng khu vực nhỏ địa hình thay đổi nhiều nhưng độ chênh lệch cao không lớn trừ khu vực Giồng Chùa, cao 10,1m Các nơi khác cao từ 0 -2m so với mực nước biển Địa hình huyện Cần Giờ có thể chia làm 5 dạng:
• Dạng không ngập triều có độ cao từ 2m trở lên
• Dạng ngập triều theo chu kỳ nhiều năm, có độ cao từ 1, 5 -2m
Trang 31• Dạng ngập triều theo chu kỳ năm, có độ cao từ 1 -1, 5m
• Dạng ngập triều theo chu kỳ tháng, cao 0.5 -1m
• Dạng ngập triều theo chu kỳ ngày, độ cao < 0.5m Địa hình có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố, tái sinh và sinh trưởng cây rừng ngập mặn
3.1.3 Khí hậu
Huyện Cần Giờ chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa cận xích đạo Các yếu tố khác biến động theo 2 mùa mưa nắng rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 với khỏang 10 ngày mưa, lượng mưa bình quân đạt 1600-1800 mm/năm, cao hơn so với các vùng lân cận như: Vũng Tàu, Gò Công Đông (1300-1400mm/năm) phân bố không đều, thay đổi theo vị trí và thời gian Lượng mưa giảm dần từ Bắc xuống Nam, tăng dần theo hướng Đông Tây- Nam Bắc Thời gian mưa của một trận mưa khoảng 30’ Mưa ở đây bắt đầu muộn hơn nhưng lại chấm dứt sớm hơn các phần phía bắc của thành phố Hồ Chí Minh, giảm 10 -15 ngày so với các huyện phía Bắc thành phố Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ
• Trung bình năm: 25,80C
• Cao tuyệt đối 350C tại trạm Đỗ Hòa
• Thấp tuyệt đối 18,80C Biên độ giao động trong ngày từ 3-70C cho thấy nhiệt độ khu vực huyện Cần Giờ khá cao nhưng ổn định Nhiệt độ trung bình cao nhất thường xảy ra từ tháng 3 đến tháng 5, từ tháng 6 trở đi khi mùa mưa đến thực sự thì nhiệt độ giảm dần cho đến tháng 11 Tháng 12, 01 là hai tháng có nhiệt độ thấp nhất Nhiệt độ giảm dần từ Bắc xuống Nam nhưng không đáng kể
Số giờ nắng Hằng ngày số giờ nắng từ 5-7 giờ, trong các tháng khô só giờ nắng đạt 240 giờ/tháng, cao nhất 276,3 giờ trong tháng 3 Các tháng mưa 170 giờ/ tháng, tháng tháp nhất là tháng 9: 169 giờ nắng
Trang 32Chế độ bức xạ Nhìn chung lượng bức xạ trung bình ngày không chênh lệch nhiều, thường đạt hơn 300calo/cm2/lượng bức xạ tháng giảm từ tháng 9-12, biển động 10-14 kcalo/cm2/ tháng cao nhất tháng 3 với 14,2 kcalo/cm2, thấp nhất là tháng 11: 10,2 kcalo
Độ ẩm không khí Cao hơn các nơi khác trong thầnh phố từ 4-8% Mùa mưa độ ẩm từ 79-83%, tháng 9 ẩm nhất: 83% Mùa khô độ ẩm 74-77% khô nhất là tháng 4:74% Độ ẩm tuyệt tối đạt đến 100% độ ẩm thấp nhất ghi được là 40% (5/11/1979)
Bốc hơi Lượng bốc hơi 4mm/ngày, 120mm/tháng; cao nhất vào tháng 6:173,2mm;
thấp nhất vào tháng 9: 83,4mm
Gió Tốc độ gió bình quân 3,7m/s
Chịu ảnh hưởng bởi 2 hướng gió chính:
• Gió mùa Đông Nam: xuất hiện từ tháng 11đến tháng 4(trùng mùa khô)
• Gió mùa Tây Nam: xuất hiện từ tháng 5-10 (trùng mùa mưa) thường đưa những cơn mưa vào nội địa
Nơi đây chịu ảnh hưởng sâu sắc khí hậu biển, khí hậu ổn định, ít bị bão tố thiên tai
3.1.4 Thủy văn 3.1.4.1 Mạng lưới sông rạch Cần Giờ nằm trong vùng cửa các sông lớn là sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ là vùng chân thổ thủy triều có mạng lười sông ngòi chằng chịt với mật độ dòng chảy 7-11 km/km2 Các cửa sông lớn: nước thoát ra biển Đông qua 4 cửa sông lớn là Soài Rạp, Đồng Tranh và sông Ngã Bảy, Cái Mép ra Vịnh Gành Rái
Trang 33Ngoài ra, các sông nhỏ, kênh rạch tập trung ở vùng thấp trũng trong nội đồng và trong rừng ngập mặn, thường ở những nơi có cao độ mặt đất dưới 2 m
Các sông rạch trong huyện quanh co, uốn khúc Địa hình của huyện có dạng lòng chảo tạo thành các khu vực đầm lầy, các khu chứa nước sâu trong nội đồng Các sông rạch có những bãi bồi rộng lớn Khi nước lớn cả vùng rộng đều ngập nước mênh mông Chỉ có những dải cây rừng mới xác định được đâu là bờ, đâu là sông Có nhiều rạch ngầm Các rạch này chỉ hiện ra khi nước đã rút còn trơ bãi sông Có nhiều sông rạch khi ròng sát không có nước
3.1.4.2 Đặc trưng dòng chảy Sông, rạch huyện Cần Giờ chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông với biên độ lớn (3 – 4 m) Trong một ngày nước lên hai lần, xuống hai lần tạo ra dòng chảy hai chiều Các đặc trưng dòng chảy thay đổi theo thủy triều: nước lớn hay nước ròng, lưng triều, chân triều hay đỉnh triều trong các kỳ triều khác nhau (triều cường, triều trung hay triều kém) và thay đổi theo mùa (mùa khô hay mùa mưa) và mang tính chu kỳ khá rõ nét
3.1.4.3 Độ mặn Là nhân tố quan trọng góp phầnn hình thành và phân bố nên các tập đòan cây nước mặn, cây nước lợ Tuy nhiên những năm gần đây sự xâm nhập mặn trên địa bàn Cần Giờ có thay đổi do việc ngăn dòng của công trình thủy điện Trị An
Vào mùa khô độ mặn ở vùng Bắc Cần Giờ có giảm đi nhưng vào đầu và cuối mùa mưa (tháng 6 - 8) do công trình đóng đập để tích nước, lượng nước về hạ lưu giảm do đó nước biển truyền sâu vào đất liền, độ mặn tăng lên Vào mùa khô ranh giới độ mặn 19% bị đẩy lùi về hạ lưu dưới ranh giới hiện nay khoảng 2-3Km theo chiểu dài sông, nhưng vào mùa mưa ranh giới độ mặn 3,5% vượt lên trên đường giới hạn hiện nay Như vậy rõ ràng thủy điện trị An khi vận hành và sau này làmột số thủy điện khác trên thượng nguồn sông Đồng Nai như Thác Mơ đã
Trang 34và sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến các vùng phía Bắc huyện, nhưng vùng phía Nam vẫn không thay đổi vẫn chịu sự chi phối của chế độ triều biển đông
3.1.5 Thổ nhưỡng
Rừng ngập mặn Cần Giờ được hình thành trên lớp trầm tích đầm lầy biển có nguồn gốc từ những vũng vịnh, những vùng biển cạn ven thềm lục địabị vùi lấp mà thành Khi biển rút (hàng ngàn năm trước đây) rừng ngập mặn do đặc tính thích nghi là chuyển hóa được lưu hùynh trong nước biển thành các hợp chất hữu
cơ sử dụng cho quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng đã tồn tai và phát triển Khi biển tiến dải rừng ngập mặn nguyên sinh này bị vùi lấp, quá trình này hiện nay có thể tìm ra qua dấu vết nhiều cây to tìm thấy chôn vùi ở độ sâu vài mét ở Cần Giờ, lưu hùynh được phóng thích ra duới dạng khóang Trong môi trường nước lợ có chứa sắt, nhôm dưới các lớp trầm tích, kết hợp với lưu hùynh tạo thành tầng bùn giàu pyrite Đây chính là vật liệu sinh phèn Tầng có chứa vật liệu sinh phèn gọi là tầng sinh phèn
Ở Cần Giờ hầu hết đất đai (trừ các giồng ven biển) đều có tầng sét chứa pyrite nằm ở độ sâu khác nhau, phổ biến là từ 20-80cm cách mặt đất, hàm lượng SO32- trong tầng này thường vào khỏang 3-8% (Tự, 1996) Sự hình thành tầng sinh phèn là đặc điểm cơ bản của quá trình hình thành đất vùng cửa sông ven biển, nơi tồn tại các đầm lầy ngập mặn
Theo L.V.Tự (1996) không kể diện tích sông rạch, một ít đất giồng cát ven biển, đất phù sa trên nền phèn, nhiễm mặn mùa khô… dành cho sản xuất công nghiệp trồng cây ăn trái, thì tòan bộ rừng ngập mặn Cần Giờ phát triển trên các loại đất phèn mặn, diện tích 42,945 ha chiếm 22,42% quỹ đất nông nghiệp ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh cụ thể:
• Đất mặn, phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn sâu, ngập mặn theo con nước :370
ha
Trang 35• ðất mặn, phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn sâu, ngập mặn theo con nước:
3.2 Tài nguyên thiên nhiên – sinh vật
Hình 2: Sự phân tầng của rừng ngập mặn Cần Giờ
Hầu hết rừng ngập mặn đã bị huỷ diệt trong chiến tranh, hiện đang được khôi phục và bảo vệ rất tốt và đang trở thành một trong những khu rừng ngập mặn đẹp nhất Đông Nam Á Việc thiết lập Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ là yêu
Trang 36cầu cấp thiết để bảo tồn một loại hệ sinh thái đặc biệt về khả năng chịu đựng và phục hồi của đa dạng sinh vật sau khi bị tác động nặng nề trong chiến tranh
Trong Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ có tới 440 loài động vật gồm 63 loài phiêu sinh, 45 loài cá, 37 loài chim, 8 loài bò sát, lưỡngthê, thú trong đó có một số loại quý hiếm như: Sấu hoa cà, rái cá lông mượt, bồ nông chân xám, chồn, cáo, rắn, trăn
Hình 3, 4, 5: Vẹt dù bông đỏ (Bruguiera gymnorrhiza L) với hoa và trái của cây
Thực vật ở đây có khoảng 72 loài thực vật ngập mặn và rất nhiều loài thực vật khác Số lượng động thực vật trên cho ta thấy sự đa dạng sinh vật của một môi trường chuyển tiếp giữa đất liền và biển Đây là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao nhất trong các hệ sinh thái, nơi hội tụ cả đa dạng sinh vật biển và đất liền Đây chính là một phòng thí nghiệm sống để nghiên cứu về khả năng chịu đựng, phục hồi của các tổ hợp gen, khả năng phát tán và định cư của các dạng sống và năng suất sinh sản sau khi bị đảo lộn bởi tác động của con người
Trang 37Hình 6, 7, 8, 9: Một số loài thực vật của RNMCG
Vẹt trụ
Đưng R.Mucronata Lamrk
Đước đôi Rhizophora apiculata BL
Giá (Lá đỏ) Excoecaria agallocha L
Trang 38Theo kết quả điều tra của Nguyễn Bội Quỳnh năm 1997, khu hệ thực vật rừng ngập mặn Cần Giờ có 42 loài thuộc 36 chi, 24 họ So với các nước Đông Nam Á thì hầu hết các loài thực vật chủ yếu của rừng ngập mặn nhiệt đới đều có mặt ở rừng Cần Giờ
Hình 10, 11, 12 : Mấm đen (A officinalis L), hoa và trái của cây
Theo Hoàng Đức Đạt, khu hệ động vật rừng ngập mặn Cần Giờ đã được phục hồi như sau: Khu hệ động vật không xương sống, thủy sinh có 70 loài, thuộc
44 họ (Cua biển, tôm sú, tôm bạc, tôm thẻ, sò huyết ), phân bố hầu hết ở lưu vực các con sông, vùng trũng trong rừng; khu hệ cá có 137 loài, thuộc 39 họ (Cá chìa vôi, cá đường, cá ngát, cá bông lau, cá dứa ), phân bố trên các sông rạch nước lợ; khu hệ lưỡng thê, bò sát có 9 loài lưỡng thê, 31 loài bò sát (Kỳ đà nước, hổ mang chúa, trăn gấm …) sống trong các khu rừng mới phục hồi, dày kín; khu hệ chim có 130 loài, 47 họ, 17 bộ (Bồ nông chân xám, diệc xám, vạc, già đãy, giang sen…), thường thấy ở các đầm nước trong rừng; khu hệ thú có 19 loài thú, thuộc 13 họ, 7 bộ (Heo rừng, mèo rừng, khỉ đuôi dài, cầy vòi đốm, nhím, rái cá ) phân bố
ở các khu rừng rậm
Trang 39Hình 13, 14, 15: Các loài động vật sống trong RNMCG
Mèo cá Felis viverrina Bennett
Cầy Viverridae Rái cá
Lutra lutra
Trang 40Hình 16: Một loài chim nước sống tại Cần Giờ
3.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội Cần Giờ 3.3.1 Đặc điểm dân cư
Dân số trong toàn huyện tính đến cuối năm 2000 là 58.500 người với khoảng 11.400 hộ dân tập trung chủ yếu thị trấn Cần Thạnh, các trung tâm xã dọc theo đường giao thông
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở Cần Giờ hiện nay là khoảng 1,4%/năm giảm rất nhiểu so với trước đây
Mật độ dân cư trung bình của huyện thuộc loại thưa nhất ở các tỉnh phía Nam (83 người/km2)
Dân cư được bố trí theo cụm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống
Nguồn lao động của huyện có 35.000 người chiếm tỷ lệ khá cao so với dân số (gần 60%) Tuy nhiên lực lượng lao động khá dồi dào này chưa được khai thác hết, số người chưa có việc làm ổn định còn khá cao, chiếm khoảng 25% lực lượng lao động Lao động trong ngành ngư nghiệp chiếm phần lớn nhất (trên 10.500