1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật việt nam

33 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 95,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở những doanh nghiệp này doanhnghiệp nhận nhượng quyền tiềm lực về vốn, kinh nghiệm hoạt động và cầunối phát triển còn hạn chế, do đó hình thức nhượng quyền thương mại cũngchính là một g

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

HỌ TÊN TÁC GIẢ

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

1

1

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

HỌ TÊN TÁC GIẢ

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Chuyên ngành Luật kinh doanh – Mã số

Người hướng dẫn khoa học:

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

2

Trang 3

3 NQTM Nhượng quyền thương mại

4 HĐNQTM Hợp đồng nhượng quyền thương mại

5 TMQT Thương mại quốc tế

6 TAND Tòa án nhân dân

7 WTO

Tên tiếng Anh là : World Trade

Organization, viết tắt WTO) hay còn gọi là

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 4

ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ tên sinh viên:

MSSV:

Điểm (Tối đa)

Điểm đánh giá

2

B Điểm hình thức khóa luận và tài liệu tham khảo

2 Hình thức

khóa luận

- Khóa luận được trình bày đúng

về hình thức theo hướng dẫn của Khoa Luật; văn phong trong sáng, không có câu tối nghĩa; không sai chính tả, sai ngữ pháp; độ dài theo quy định tối thiểu 30 trang

0.5

7 Cơ sở lý luận - Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề 1

Trang 6

ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN CHẤM KHÓA LUẬN

Họ tên sinh viên:

MSSV:

Điểm (Tối đa)

Điểm đánh giá

- Khóa luận được trình bày đúng

về hình thức theo hướng dẫn của Khoa Luật; văn phong trong sáng, không có câu tối nghĩa; không sai chính tả, sai ngữ pháp; độ dài theo quy định tối thiểu 30 trang

Trang 8



Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài – Tình hình nghiên cứu

Ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển nền kinh tế, xã hội nói chungthì việc xây dựng và tạo lập một môi trường kinh doanh đầu tư lành mạnh làmục tiêu mà Đảng và nhà nước ta hướng đến Có thể khẳng định rằng ViệtNam đã và đang có những bước tiến dài trong kiện toàn môi trường kinhdoanh đa dạng và năng động cùng sự xuất hiện ngày một nhiều của các tậpđoàn, công ty trong và ngoài nước; các mô hình, hệ thống kinh doanh đượcxây dựng và tạo lập một cách mạnh mẽ, kèm theo đó là vô số nhãn hiệu mớiđược ra đời Mức độ, tính chất và tốc độ phát triển của nhượng quyền thươngmại đã tác động không nhỏ từ quá trình hội nhập kinh tế thế giới Riêng đốivới Việt Nam, sau khi liên tiếp ký kết các điều ước quốc tế, thì nhượng quyềnthương mại trong nước trở thành một hình thức kinh doanh quan trọng trongnền kinh tế Việt Nam Nhượng quyền thương mại mang đến một sự lựa chọnphù hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Ở những doanh nghiệp này (doanhnghiệp nhận nhượng quyền) tiềm lực về vốn, kinh nghiệm hoạt động và cầunối phát triển còn hạn chế, do đó hình thức nhượng quyền thương mại cũngchính là một giải pháp để gỡ rối cho các vấn đề trên Trong khi đó, doanhnghiệp nhượng quyền qua đó thêm mở rộng, phát triển mà vẫn không bị mất

đi nhãn hiệu và bản sắc của mình Đứng trên một góc nhìn khác, nhượngquyền thương mại còn giúp cho các doanh nghiệp nhỏ có cơ hội tiếp xúc vớicác mô hình kinh doanh chuyên nghiệp, sử dụng lợi thế nhãn hiệu uy tín củacác doanh nghiệp lớn với số ngân sách hợp lý Như đã đề cập ở trên, việc cácnhãn hiệu lớn có mặt tại Việt Nam sẽ là một cơ hội thiết yếu và quan trọngcho chính các doanh nghiệp trong thực tế Nhượng quyền thương mại làphương thức kinh doanh có lợi cho cả hai bên Đối với bên nhượng quyền,doanh nghiệp có thể mở rộng mô hình kinh doanh, tăng doanh thu, tiết giảmchi phí, tăng nhanh uy tín, thương hiệu Đối với bên nhận nhượng quyền, sốvốn đầu tư bỏ ra ban đầu thấp lại có thể thu hồi và sinh lợi nhanh vì đầu tư antoàn và có khách hàng ngay; dễ vay tiền ngân hàng, được chủ thương hiệugiúp đỡ trong quá trình kinh doanh …

Trang 10

Thấy được tầm quan trọng và xu thế của thế giới, Chính phủ nhiềunước trong khu vực Đông Nam Á đã có nhiều chính sách và chiến lược rất cụthể để giúp đỡ và khuyến khích mô hình NQTM phát triển tốt nhất Sự hợptác giữa các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại được thể hiện thôngqua Hợp đồng nhượng quyền thương mại Hợp đồng nhượng quyền thươngmại là căn cứ pháp luật quan trọng nhất và cũng là căn cứ hợp tác kinh doanhcủa hai bên, từ đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên Đồng thời là căn

cứ giải quyết tranh chấp giữa các bên Mặt khác, thông qua Hợp đồng nhượngquyền thương mại, nhà nước có thể quản lý có hiệu quả hoạt động nhượngquyền thương mại trên lãnh thổ Việt Nam

Cho đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về chếđịnh hợp đồng nói chung và hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng.Sau đây là một số các đề tài nghiên cứu khác nhau liên quan đến nội dung đã

4/ “Pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyềnthương mại tại Việt Nam” của tác giả Phạm Tấn Ánh – Đại học Luật Đại họcHuế năm 2018 nghiên cứu hoạt động nhượng quyền thương mại tập trung vềvấn đề hạn chế cạnh tranh…

Đa số các đề tài nghiên cứu và bài viết có liên quan đến vấn đề pháp lýcủa hợp đồng thời gian qua chỉ đề cập đến các nội dung như: các nội dung,đặc điểm cơ bản của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong một số lĩnhvực mà chưa có sự đánh giá tổng quan trong thực tế; một số quy định cụ thểtrong hợp đồng Từ đó các đề tài này đưa ra kiến nghị, biện pháp nhằm nângcao hiệu quả việc áp dụng quy định pháp luật hợp đồng nhượng quyền thươngmại theo pháp luật hiện hành

Trang 11

Lĩnh vực nhượng quyền thương mại là một lĩnh vực chuyên môn đặcthù nên kéo theo hợp đồng trong hoạt động nói chung, hoạt động TMQT nóiriêng cũng có những đặc điểm riêng biệt so với hợp đồng nhượng quyềnthương mại Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứuchuyên biệt về hợp đồng nhượng quyền thương mại để làm rõ hơn những đặcđiểm chỉ có ở loại hợp đồng này Nhận thức được điều đó, tôi xin trình bày đề

tài: “ Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam” làm

đề tài nghiên cứu của mình

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các quy địnhcủa pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại và thực tiễn thực hiệntại Việt Nam Cụ thể qua các mục tiêu sau:

Thứ nhất, bình luận những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhượng quyềnthương mại và các quy định pháp luật điều chỉnh loại hợp đồng này

Thứ hai, căn cứ thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợpđồng nhượng quyền thương mại và thực trạng thực hiện tại Việt Nam để đưa

ra những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật và quy định khi ápdụng trong thực tiễn

Thứ ba, trên nền tảng nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, khóaluận đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả việc áp dụng phápluật về hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Đồng thời khóa luận sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu:

1) Các đặc điểm pháp lý của hợp đồng nhượng quyền thương mại là gì?

2) Vai trò của hợp đồng nhượng quyền thương mại là như thế nào?

3) Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng nhượng quyềnthương mại tại Việt Nam diễn ra như thế nào?

4) Làm thế nào để tăng cường trách nhiệm của các bên trong bảo vệ quyềnlợi hợp pháp khi giao kết, thực hiện HĐNQTM?

3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu

Với thời gian nghiên cứu ngắn và kiến thức còn hạn hẹp của người viết,khóa luận này chỉ tập trung nghiên cứu:

− Những quy định hiện hành của pháp luật trong lĩnh vực NQTM như LuậtThương mại 2005 và một số văn bản luật chuyên ngành khác

Trang 12

− Việc thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Namtrong giai đoạn hiện nay.

Đề tài chú trọng sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phươngpháp so sánh pháp luật để làm rõ mối quan hệ giữa quy định về hợp đồng dịch

vụ trong Bộ Luật Dân sự 2015 với các quy định về cung ứng dịch vụ trongluật thương mại 2005 và văn bản hướng dẫn thi hành

Ngoài ra đề tài cũng sử dụng các phương pháp thu thập, xử lý số liệu vàphương pháp khảo sát đánh giá thực tế để tìm hiểu thêm thực tiễn áp dụng cácquy phạm pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam,nhằm làm rõ thêm thực trạng áp dụng pháp luật về HĐNQTM trong các hoạtđộng xây dựng

Qua đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nhằm tăng cường công tác quản

lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng đồng thời đẩy mạnh hiệu quả trong việc

áp dụng pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong tại Việt Nam

4 Kết cấu đề tài

Phần mở đầu

Chương 1 Lý luận chung về hợp đồng và hợp đồng nhượng quyền

thương mại

Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng nhượng quyền

thương mại tại Việt Nam

Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp

dụng pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại

Phần kết luận

Trang 13

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VÀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG

QUYỀN THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng

quyền thương mại

1.1.1 Tổng quan về nhượng quyền thương mại

“Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của lối kinh doanhnhượng quyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17-18 tại Châu Âu Tuy nhiên,hoạt động nhượng quyền kinh doanh (hay nhượng quyền thương mại) đượcchính thức thừa nhận khởi nguồn, phát triển là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19,khi mà Nhà máy Singer (sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyềnkinh doanh đầu tiên cho đối tác của mình”1

“Franchise thực sự phát triển mạnh, bùng phát kể từ sau năm 1945 (khiThế Chiến II kết thúc), với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, kháchsạn và các hệ thống kinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất

về cơ sở hạ tầng, thương hiệu, sự phục vụ là đặc trưng cơ bản để nhận dạngnhững hệ thống kinh doanh theo phương thức này Từ những năm 60,franchise trở thành phương thức kinh doanh thịnh hành, thành công không chỉtại Hoa Kỳ mà còn ở những nước phát triển khác như Anh, Pháp… Sự lớnmạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia của Hoa Kỳ và một số nước Châu

Âu trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn nhanh, khách sạn-nhà hàng đã góp phần

“truyền bá” và phát triển franchise trên khắp thế giới Ngày nay, franchise đã

có mặt tại hơn 150 nước trên thế giới, riêng tại Châu Âu có khoảng 200 ngàncửa hàng kinh doanh theo phương thức nhượng quyền”2

Trên thế giới thì đa phần hoạt động nhượng quyền thương mại chỉ đơngiản là hoạt động nhượng quyền phân phối và bán sản phẩm của các nhà sảnxuất Khi đó các nhà phân phối không phải trả bất kỳ khoản phí nhượngquyền nào “Tuy nhiên, sau năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc,hoạt động nhượng quyền thương mại thực sự phát triển mạnh mẽ với sự ra đời

và phát triển của hàng loạt nhà hàng, khách sạn và hệ thống kinh doanh, phân

1 Tạp chí phát triển kinh tế (2007) “ nhượng quyền thương hiệu đôi điều suy nghĩ” – Tạp chí phát triển kinh

tế số 202 tháng 8/2007

2 https://luatsohuutritue.com.vn/lich-su-nhuong-quyen-thuong-mai/[truy cập ngày 20/5/2021]

Trang 14

phối bán lẻ Nhượng quyền thương mại thực sự phát triển mạnh mẽ tại Hoa

Kỳ, mang lại sự thành công và niềm tự hào cho nhiều thương hiệu trở thànhbiểu tượng cho Hoa kỳ như KFC, McDonald’s…Mỹ cũng là quốc gia đầu tiên

có các quy định pháp luật cho franchise và có các chính sách ưu đãi cho các

cá nhân doanh nghiệp thực hiện kinh doanh theo hình thức franchise”3

Nhờ hiệu quả của hoạt động kinh doanh dưới hình thực nhượng quyềnthương mại, nhượng quyền thương mại đã phát triển không chỉ ở Mỹ, châu

Âu mà còn phát triển mạnh sang các quốc gia châu Á Ở Việt Nam, hoạt độngnhượng quyền thương mại đã xuất hiện từ trước những năm 1975 tuy nhiênmới thực sự phát triển vào vài thập niên gần đây

Theo Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế - The InternationalFranchise Association đã đưa ra định nghĩa của nhượng quyền thương mạinhư sau: “Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng giữa bêngiao và bên nhận, theo đó bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liêntục tới doanh nghiệp của bên nhận trên các khía cạnh như bí quyết kinhdoanh, đào tạo nhân viên Bên nhận quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hànghoá, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên giao sở hữu hoặc kiểmsoát và bên nhận quyền đang và sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanhnghiệp bằng nguồn lực của mình."4 Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc

tế cho rằng: Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ giữa hai bên dựa trênquan hệ hợp đồng, lệ thuộc và có sự ràng về quyền lợi và nghĩa vụ của từngbên

Tại một số quốc gia, ví dụ như Australia, luật về nhượng quyền thươngmại có định nghĩa khá cụ thể về hoạt động nhượng quyền thương mại cũngnhư quy trình hoạt động của nhượng quyền thương mại và đề cập cụ thể tớikhoản phí nhượng quyền “Nhượng quyền thương mại là thoả thuận một bên(bên nhượng quyền) cấp cho bên khác (bên nhận quyền) thực hiện hoạt động

đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp hoặc phân phối hàng hoá hoặc dịch vụtrong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà cơ bản

3 Tạp chí phát triển kinh tế (2007) “ nhượng quyền thương hiệu đôi điều suy nghĩ” – Tạp chí phát triển kinh

tế số 202 tháng 8/2007

4 Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế (2004), “Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế”

Trang 15

được xác định kiểm soát hoặc đề xuất bởi bên nhượng quyền, theo đó: Việctiến hành hoạt động kinh doanh được chủ yếu gắn liền với thương hiệu, hoạtđộng quảng cáo hoặc biểu tượng thương mại của bên nhượng quyền Trướckhi bắt đầu kinh doanh và trong quá trình kinh doanh, bên nhận quyền phảithanh toán cho bên nhượng quyền một khoản chi phí nhượng quyền thươngmại”5

Căn cứ tại điều 284 Luật Thương Mại 2005 thì pháp luật Việt Nam, quyđịnh: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại theo đó bênnhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việcmua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau: 1 Việc mua bánhàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức do bênnhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại,

bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáocủa bên nhượng quyền; 2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúpcho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.”6 Như vậy,trên cơ sở đó, pháp luật Việt Nam cũng chỉ rõ quyền và trách nhiệm của cácbên nhưng cơ bản chưa khẳng định rõ được quan hệ hợp đồng trong hoạtđộng NQTM trong thực tế Nhìn chung có thể thấy điểm nổi bật của nhượngquyền thương mại bao gồm:

- Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại, được thựchiện bởi ít nhất hai bên chủ thể khác nhau và độc lập với nhau về mặt pháp lý:bên nhượng quyền và bên nhận quyền Ràng buộc nhau dựa trên quyền lợi vànghĩa vụ trên hợp đồng nhượng quyền thương mại

- Bên nhận quyền phân phối sản phẩm, cung ứng dịch vụ dưới nhãnhiệu hàng hoá, các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và theo quy trình kỹ thuật

do bên nhượng quyền xây dựng và sở hữu

- Bên nhận quyền phải thanh toán một khoản phí cho bên nhượngquyền gọi là phí nhượng quyền và chấp nhận các quy định của bên nhượngquyền về hàng hóa, sản phẩm, bài trí cửa hàng…

5 https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/02/27/2397/[truy cập ngày 20/5/2021]

6 Quốc hội (2005), Luật thương mại 2005

Trang 16

- Bên nhượng quyền tiến hành cung cấp tài liệu, đào tạo nhân viên,thường xuyên hỗ trợ kỹ thuật cho bên nhận quyền , hai bên có mối quan hệmật thiết, ràng buộc lẫn nhau trong suốt thời gian nhượng quyền.

Một cách đơn giản, có thể hiểu nhượng quyền thương mại cơ bản làmột hoạt động thương mại nhằm mở rộng hệ thống, mô hình kinh doanh củathương nhân thông qua việc chia sẻ quyền thương mại, quy trình, bí quyếtkinh doanh cho một thương nhân khác Các bên trong mối quan hệ này, căn

cứ trên hệ thống pháp luật cụ thể của từng quốc gia sẽ ràng buộc nhau trênquan hệ Hợp đồng giữa ít nhất hai bên

1.1.2 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại

Hợp đồng hiểu là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi

hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể Yếu tố

cơ bản nhất của hợp đồng và quan trọng nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý chí,tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau Người ta thường gọi nguyên tắc

này là nguyên tắc hiệp ý “Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp

đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng,

tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chức quyền lực công, nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đó giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng”7 Tuy nhiên sự can thiệp này phải là sự can thiệp hợp lý vàđược pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, vi phạm quyền tự dohợp đồng

Từ điển luật học đưa ra khái niệm về hợp đồng8 như sau: Hợp đồng là

sự thỏa thuận giữa các bên có tư cách pháp nhân hoặc giữa những người cóđầy đủ năng lực hành vi nhằm xác lập, thay đổi, phát triển hay chấm dứtquyền, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên Theo quy định thì có nhiều loạihợp đồng Hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản,hợp đồng phải có chữ

ký đầy đủ của những người có thẩm quyền của các bên Nhưng về mặt pháp

7 http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210246

8 Nhà xuất bản từ điển bách khoa (2010), Từ điển luật học

Ngày đăng: 01/11/2022, 20:10

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w