1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

KỸ THUẬT XÂY DỰNG CẦU

17 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 636 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài 1 Công tác đo đạc trong thi công nền và móng BÀI 1 CÔNG TÁC ĐO ĐẠC TRONG THI CÔNG NỀN VÀ MÓNG Mục tiêu của bài Cung cấp những kiến thức cơ bản về hệ thống cọc mốc Định vị được tim móng, mố trụ cầu.

Trang 1

BÀI 1: CÔNG TÁC ĐO ĐẠC TRONG THI CÔNG NỀN VÀ MÓNG

Mục tiêu của bài:

- Cung cấp những kiến thức cơ bản về hệ thống cọc mốc

- Định vị được tim móng, mố trụ cầu

- Đo đạc, xác định được các kích thước của móng, mố trụ cầu

Nội dung của bài:

- Định vị mố, trụ trước khi thi công

+ Xây dựng hệ thống cọc mốc xác định vị trí tim cầu

+ Định vị tim mố trụ cầu

- Công tác đo đạc trong quá trình thi công

+ Đo đạc trong thi công móng nông

+ Đo đạc trong thi công móng cọc

+ Đo đạc trong thi công cọc khoan nhồi

+ Đo đạc các kích thuớc móng mố trụ cầu

1.1 Định vị mố, trụ trước khi thi công

Trong thi công cầu, công tác đo đạc nhằm mục đích làm cho công trình và các chi tiết của công trình có vị trí, hình dáng, kích thước hình học đúng như thiết kế Kết quả đo đạc thiếu chính xác sẽ dẫn đến sự sai lệch vị trí, thay đổi kích thước hình học của kết cấu, gây khó khăn cho việc thi công những bước tiếp theo, làm thiệt hại về khối lượng thi công và giảm sút chất lượng, rút ngắn tuổi thọ công trình

Yêu cầu của công tác đo đạc:

- Đảm bảo chính xác theo yêu cầu Công tác đo đạc phải có đề cương chi tiết được chấp thuận và thực hiện theo đúng đề cương

- Việc thực hiện phải do những người có chuyên môn tiến hành

- Công tác đo đạc cần được tiến hành thường xuyên trong suốt thời gian thi công, tuân theo kế hoạch đã vạch từ trước với yêu cầu chặt chẽ về độ chính xác

Nội dung của công tác đo đạc bao gồm :

- Kiểm tra và xác định lại hệ thống cọc mốc và mốc cao đạc do tư vấn thiết kế

- Lập hệ thống cọc mốc cầu gồm : mốc khống chế tim cầu, đường trục khống chế tim mố, tim trụ các cọc mốc đường dẫn,đường nhánh và công trình hướng dòng

- Xác định vị trí,kích thước của từng bộ phận công trình theo từng bước thi công

- Kiểm tra hình dạng, kích thước của những cấu kiện chế sẵn được đưa tới sử dụng vào công trình

- Định vị trên thực địa các công trình phụ tạm trong thi công như đường tránh, đường công vụ, bến bốc dỡ, kho bãi vật liệu

Ngoài ra, công tác đo đạc còn có nhiệm vụ xác định khối lượng công tác hoàn thành phục vụ nghiệm thu Trong những trường hợp đặc biệt cần lập một chương trình đo đạc để theo dõi biến dạng của công trình trong một thời gian dài

1.1.1 Xây dựng hệ thống cọc mốc xác định vị trí tim cầu.

Công tác đo đạc, xây dựng hệ thống cọc mốc căn cứ trên những tài liệu cơ bản sau:

- Bình đồ khu vực xây dựng cầu, trên đó chỉ rõ đường tim tuyến, đường tim cầu

Trang 2

- Trường hợp cầu xây dựng ở nơi có điều kiện thiên nhiên phức tạp, bãi sông rộng hơn 100m, nơi các cọc mốc dễ bị thất lạc cần xác định thêm đường tim phụ song song với đường tim chính cho tuyến và cho cầu

- Sơ đồ đường sườn đo đạc và các thuyết minh kèm theo

- Bản sao toạ độ, cao độ của các cọc thuộc đường sườn đo đạc

- Các yếu tố của đường sườn như : cọc mốc, mốc cao đạc, điểm khống chế tim tuyến, tim cầu Tỉ lệ của bình đồ, số lượng cọc mốc căn cứ theo độ lớn của công trình và tham khảo theo bảng 1-1

Cọc của đường sườn không được thất lạc, phải cố định suốt trong thời gian thi công cho đến khi bàn giao công trình

Các cọc và mốc cao đạc cần đặt ở nơi có nền đất chắc chắn, không ngạp lụt hoặc đặt trên nền các công trình đã ổn định Tuỳ theo mức độ quan trọng và thời gian sử dụng, các cọc mốc có thể được làm bằng gỗ,bằng thép hay bê tông cốt thép

Hình 1.1: Cấu tạo mốc trắc đạc đối với trục chính 1- nắp đậy 2- vữa bê tông

Bảng 1.1: Qui định về tỉ lệ bình đồ và số lượng cọc mốc đường sườn

Tỉ lệ

bình đồ Loại công trình

Số lượng cọc

Vật liệu cọc mốc

Theo đường tim dọc

1:1000 Cống và cầungắn hơn

50m

Ít nhất 2 cọc 1 cọc Gỗ

Cầu dài từ 50-100m ≥ 2 cọc ở mỗi phía bờ 1 cọc ở mỗi bờ Gỗ 1:2000 Cầu dài từ100-300m ≥ 2 cọc ở mỗi phía bờ 1 cọc ở mỗi bờ BTCT 1:5000 Cầu dài trên300m ≥ 2 cọc ở mỗi phía bờ 2 cọc ở mỗi bờ BTCT

Đường vào cầu

- ≥ 2 cọc trên 1km đừờng

- Trên đoạn đường cong phải có các cọc ở tiếp đầu, tiếp cuối, đường phân giác và điểm ngoặt của tuyến.

- Ít nhất có 1 cọc trên 1km đường

- Ở vị trí cách đường trục không quá 40m ngoài phạm vi của nền đường, rảnh dọc.

Gỗ

Trang 3

Cọc mốc cần được chôn sâu từ 0,3- 0,5m và nhô cao khỏi mặt đất từ 10 đến 15cm, trên đó có ghi kí hiệu tên cọc Các mốc quan trọng, thời gian tồn tại kéo dài nhiều năm cần được xây dựng chắc chắn,có nắp che ( hình 1.1)

Các cọc thuộc đường tim cầu, tim tuyến phải gắn vào lý trình chung của tuyến đường

Hệ thống cọc mốc liên hệ với nhau thành lưới khống chế vị trí cầu Độ chính xác của lưới tam giác phụ thuộc vào vào độ dài cơ tuyến Nếu địa hình không cho phép dùng hệ thống lưới tam giác thì có thể lập lưới tứ giác Đường cơ tuyến có thể dựng sát hai bên mép nước, nếu có bãi giữa thì cơ tuyến nên dựng ở đó

1.1.2 Định vị tim mố trụ cầu

Trong thi công cầu,công tác định vị tim mố trụ thường gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với những công trình cầu lớn, sông sâu, nước chảy xiết hoặc qua vực sâu hiểm trở

Công việc đo đạc xác định vị trí tim mố trụ đòi hỏi phải được thực hiện nghiêm túc, thận trọng, có phương pháp và làm nhiều lần bằng những thiết bị khác nhau để so sánh, kiểm tra và đạt được kết quả đo tin cậy

Tuỳ theo nhiệm vụ đo đạc cụ thể, có thể áp dụng các phương pháp định vị tim mố trụ trực tiếp hay gián tiếp

1.1.2.1 Phương pháp đo trực tiếp:

Việc xác định chiều dài cầu và định vị tim mố trụ của cầu trên tuyến thẳng có chiều dài dưới 100m nên thực hiện bằng phương pháp đo trực tiếp Chiều dài cầu và khoảng cách giữa tim các mố trụ được đo bằng thước thép kết hợp với máy kinh vĩ ngắm hướng thẳng

Trong phạm vi ngập nước, việc đo và đánh dấu được tiến hành trên cầu tạm Cầu tạm thường dựng bằng gỗ bên cạnh dọc theo cầu chính Cầu này còn có thể phục

vụ đi lại trong thời gian thi công thi công Trụ cầu tạm thông thường làm bằng gỗ tròn φ12-16cm hoặc gỗ hộp 10x10, 15x15cm, đóng ngập sâu vào nền từ 2,0 đến 2,5m Mặt cầu lát ván dày 4cm Tim dọc phụ đặt trên mặt cầu tạm và được đánh dấu

cố định bằng đinh đóng cách nhau 3 đến 5m

- Định vị cầu nhỏ:

Đối với các cầu nhỏ có dòng chảy hẹp, nước không ngập sâu,có thể đóng các cọc mốc tương đối dễ dàng

+ Từ cọc mốc gần nhất dẫn ra tất cả các vị trí tim mố, tim trụ bằng cách đo 2 lần

có kinh vĩ ngắm hướng

+ Đặt máy kinh vĩ tại tim của từng mố và trụ để xác định vị trí các cọc ở hai phía thượng và hạ lưu cầu, mỗi phía đóng 2 cọc để khống chế đường tim mố,tim trụ Thông thường ngắm theo hướng vuông góc với tim cầu, trừ những cầu đặt chéo tim trụ hợp với tim cầu một góc xác định ( hình 1.2)

Trang 4

Hình 1.2: Sơ đồ định vị mố trụ cầu nhỏ

1- Các cọc định vị tim dọc cầu 2- các cọc định vị tim mố, trụ ở hai phía thượng và hạ

lưu 3- vị trí móng mố,trụ cầu.

- Định vị cầu trung và cầu lớn ngay trên mặt bằng thực địa :

+ Áp dụng khi có thể đo khoảng cách bằng thước

+ Đường tim dọc cầu dựa theo hệ thống cọc mốc do tư vấn thiết kế lập ra từ trước + Chiều dài cầu, khoảng cách lẻ từ cọc mốc đầu đến tim mố và khoảng cách giữa các tim mố, trụ được đo bằng thước thép kết hợp với máy kinh vĩ ngắm hướng

Đo dài hai lần theo hướng đi và hướng về, kết quả được hiệu chỉnh theo nhiệt độ môi trường tại thời điểm đo, độ dốc địa hình và lực kéo căng của thước khi

đo Tốt nhất là kéo thước theo phương nằm ngang với lực kéo quy định và dùng dây rọi đánh dấu điểm kéo thước

+ Đặt máy kinh vĩ tại từng mố và trụ để xác định vị trí các cọc ở hai phía thượng

và hạ lưu cầu, mỗi phía đóng 2 cọc để khống chế đường tim mố, tim trụ Thông thường ngắm theo hướng vuông góc với tim cầu, trừ những trường hợp cầu đặt chéo tim trụ hợp với tim cầu một góc xác định

- Định vị cầu trung và cầu lớn khi có cầu tạm :

+ Tại các vị trí ngập nước nông có thể sử dụng cầu tạm để phục vụ công tác đo đạc, cầu tạm cách cầu chính từ 20-30m, thông thường cầu tạm song song cầu chính

+ Từ các cọc mốc A,B đã có, lập trục phụ A’,B’ trên cầu tạm bằng hệ đường sườn

đo đạc hình chữ nhật ABA’B’ (hình 1.3a) Trên trục A’B’ đo cự ly xác định hình chiếu của các tim mố, trụ cầu chính M0’, T1’,T2’ Mn’ Đặt máy kinh vĩ tại các điểm vừa xác định ngắm góc 900 so với trục A’B’, đóng các cọc định vị tim mố, trụ ở hai phía thượng và hạ lưu cầu Giao điểm của hướng ngắm trục AB và đường dóng các cọc định vị tương ứng sẽ cho vị trí tim mố, trụ

+ Khi trục cầu tạm không song song với trục cầu chính, trường hợp này gặp phải khi bên cạnh cầu chính có một cầu cũ đang khai thác, ta sử dụng lề người đi của cầu này để dựng đường trục phụ A’B’ ( hình 1.3 b), lệch với trục cầu chính một góc γ

90 90

2

α β

+ Khoảng cách giữa 2 mốc A, B là:

Trang 5

AB = A’B’ cos γ (1.2)

+ Cự ly hình chiếu của các mố,trụ trên trục phụ A’B’ là khoảng cách thiết kế (thực) chia cho cosγ Ví dụ T1’T2’ = T1T2/cosγ

+ Đặt máy kinh vĩ tại các điểm đã xác định được trên cầu tạm, mở góc α so với trục A’B’, xác định các cọc định vị như phần trên đã trình bày

Hình 1.3: Sơ đồ định vị mố trụ trên cầu tạm

a) Trụ tạm song song với trục cầu chính.

b) Trục cầu tạm không song song với trục cầu chính.

1- Cọc mốc đã có 2- cọc định vị 3- Phạm vi móng mố và trụ.

1.1.2.1 Phương pháp đo gián tiếp

Đối với những cầu trung và cầu lớn có địa hình phức tạp, nước ngập sâu và dòng chảy xiết, sông có thông thuyền không thể áp dụng phương pháp đo trực tiếp Định

vị mố, trụ và đo chiều dài bằng phương pháp gián tiếp là sử dụng máy kinh vĩ đo trên mạng tam giác đạc

Trên bờ sông, chọn nơi thích hợp lập mạng lưới đo đạc là tam giác hoặc tứ giác Mạng lưới đo đạc cần được xác định với độ chính xác cao các cự ly dài và cao độ các đỉnh Qui đổi toạ độ các đỉnh theo một hệ toạ độ qui ước thuận lợi nhất

Đơn giản nhất là lập mạng đo đạc chỉ có một tam giác với một cơ tuyến và đo 2 góc đỉnh (hình 1.4 a).Để nâng cao độ chính xác và kiểm tra lẫn nhau dùng mạng lưới

đo đạc gồm 2 tam giác với 2 cơ tuyến ( hình 1.4 b), hoặc hay dùng hơn cả là mạng lưới đo đạc tứ giác với 1 cơ tuyến (hình 1.4 c) hay 2 cơ tuyến (hình 1.4 d)

Nếu gần nơi xây dựng cầu có cầu cũ hay bãi nổi thì nên tận dụng đặt cơ tuyến trên cầu cũ ( hình 1.4 e) hoặc trên bãi giữa ( hình 1.4 g)

Khi sử dụng phương pháp tam giác đạc để đo khoảng cách giữa các mốc và tim mố,trụ mạng lưới tam giác đạc cần phải thoả mãn các điều kiện sau :

- Hình thái mạng lưới tam giác đạc:

+ Cầu trung dùng mạng lưới 2 hoặc 4 tam giác

+ Cầu lớn dùng mạng lưới tứ giác Khi có bãi nổi giữa sông thì dùng mạng lưới trung tâm ( hình 1.4 h)

- Điều kiện về các góc của mạng lưới đo đạc :

+ Nếu là tam giác,các góc không nhỏ quá 250 và không lớn quá 1300

Trang 6

+ Nếu là tứ giác, các góc không nhỏ quá 200

- Điều kiện mạng lưới chung :

+ Mạng lưới chung phải có ít nhất 2 điểm định vị đường tim cầu, mỗi bên bờ một điểm

+ Bao gồm những điểm mà từ đó có thể định tâm mố trụ bằng giao tuyến thẳng

và thuận lợi kiểm tra trong quá trình thi công

Hình 1.4: Các dạng đồ hình mạng lưới đo đạc

1- cơ tuyến 2- tim cầu

Đường giao của hướng ngắm và tim cầu càng gần 900 càng tốt Chiều dài đường ngắm từ kinh vĩ đến tâm trụ qui định không lớn hơn :

+ 1000m khi dùng kinh vĩ có sai số góc 1’’

+ 300m khi dùng kinh vĩ có sai số góc 10’’

+ 100m khi dùng kinh vĩ có sai số góc 30’’

Số lượng giao điểm bên sườn không được ít hơn 2 điểm Các đỉnh và điểm đo của mạng lưới đo đạc cần được chôn cố định Mỗi lần ngắm máy cần dẫn tim mốc lên đế máy Nếu không thể dẫn tim mốc lên đế máy thì cần xác định các yếu tố quay về tâm

và điều chỉnh cho thích hợp Nếu địa hình phức tạp, các điểm ngắm bị che khuất trên mặt bằng thì trên tâm của điểm đo cần phải dựng chòi dẫn mốc với độ cao cần thiết (hình 1.5)

Trang 7

Hình 1.5: Chòi dẫm mốc

1.2 Công tác đo đạc trong quá trình thi công

1.2.1 Đo đạc trong thi công móng nông.

1.2.2 Đo đạc trong thi công móng cọc.

1.2.3 Đo đạc trong thi công cọc khoan nhồi.

1.2.4 Đo đạc các kích thuớc móng mố trụ cầu.

BÀI 2: THI CÔNG HỐ MÓNG ĐÀO TRẦN VÀ HỐ MÓNG ĐÀO CÓ

CHỐNG VÁCH Mục tiêu của bài:

- Cung cấp kiến thức về các phương pháp thi công hố móng đào trần và hố móng đào có chống vách

- Học xong bài này, sinh viên có khả năng thi công được hố móng đào trần và hố móng đào có chống vách

Nội dung của bài:

- Hố móng đào trần.

- Hố móng đào có chống vách:

+ Hố móng có chống vách bằng cọc ván gỗ đơn

+ Hố móng có chống vách bằng cọc ván gỗ kép

+ Hố móng có chống vách bằng cọc ván thép

2.1 Hố móng đào trần

Tuỳ theo cấu tạo của móng, địa chất, thuỷ văn, vật liệu và điều kiện thi công mà có thể có những biện pháp và trình tự thi công khác nhau Nội dung bao gồm các việc chính: đào đất, hút nước, gia cố thành hố móng, xây dựng vòng vây, đổ bêtông móng Xây dựng móng nông trên nền thiên nhiên, ta có thể phân thành 2 trường hợp:

- Xây dựng móng nông khi không có nước mặt thường xảy ra các trường hợp sau: + Móng đặt nông, đất tốt, không có nước

+ Móng đặt sâu, đất xấu, có thể có nước ngầm

- Xây dựng móng nông khi có nước mặt thường xảy ra các trường hợp sau:

Trang 8

+ Đất ở đáy móng không thấm nước.

+ Đất ở đáy móng có thấm nước

+ Chỉ có đá

Khi đào hố móng trong đất tương đối chắc chắn và đồng nhất hoặc đất đắp đã ở trạng thái nén chặt, độ ẩm của đất nhỏ, mực nước ngầm ở sâu và trong phạm vi công trình không có công trình khác, hố móng nhỏ, khu vực thi công dể thoát nước ta có thể đào trần không cần chống vách

Hố móng đào trần là loại móng đơn giản nhất, có thể thi công bằng mọi phương pháp như thủ công hoặc cơ gới Tuy nhiên nếu đất yếu hoặc móng lớn, đặt sâu thì phải hạ dốc mái taluy làm kích thước hố móng sẽ tăng lên nhiều, khối lượng đào đắp

sẽ rất lớn, gây tốn kém và phiền phức cho thi công, đặc biệt trong điều kiện thi công chật hẹp và thi công cạnh công trình khác

Nói chung với hố móng đào trần, các công tác đào đất và xây dựng móng phải tiến hành khẩn trương, tránh thấm ẫm làm sạt lở hố móng Cần phải dự kiến các biện pháp tiêu thoát nước mưa chảy vào hố móng

* Ưu, nhược điểm:

- Phương pháp thi công không dùng đến thiết bị phức tạp

- Có thể áp dụng phương pháp thi công thủ công

- Khối lượng đào đắp khá lớn

- Dễ ảnh hưởng đến các công trình lân cận

Hố móng đào trần không gia cố chống đỡ, thành hố móng có thể đào thẳng đứng để giảm khối lượng nếu chiều sâu đào thoả mãn điều kiện sau:

max

4C

H

γ

=

Trong đó:

C: Hệ số lực dính của đất sét

γ : Trọng lượng riêng của đất sét

Có thể tham khảo Hmax trong bảng sau:

Hệ số C (kN/m2) 0 -17,5 17,5 – 35,0 35,0- 70,0

Trường hợp móng tương đối sâu, đất kém ổn định như đất có độ dính nhỏ (đất cát, pha cát, sỏi, đất có độ ẩm lớn, ) thì thành hố móng phải đào có độ dốc Độ dốc này phụ thuộc vào độ sâu h, loại đất, thời gian thi công, tải trọng,

Nếu đất có độ ẩm bình thường, thời gian thi công ngắn thì độ dốc ta luy có thể tham khảo bảng sau:

Trang 9

Đối với móng sâu phải làm nhiều cấp, mỗi cấp 2-3m có thềm rộng 0,5-1,0m để khắc phục đất đổ đi quá xa tầm với của máy, người.Chiều cao mỗi cấp phụ thuộc vào biện pháp thi công

Chú ý:

- Kích thước hố móng phụ thuộc kích thước móng và các kích thước dự trữ Kích thước dự trữ phụ thuộc vào biện pháp thoát nước hố móng, cấu tạo ván khuôn, phương pháp đổ bêtông, Nói chung kích thước dự trữ này ≥0.5m mỗi bên

SÐt cøng, hay dÎ o cøng

1: n

1: m

b ≥ h.tg(45o - ϕ /2)

b ≥ 1m

Hình 2-1: Cấu tạo hố móng đào trần

- Trường hợp sau khi đào trần xong toàn bộ hoặc một phần hố móng, nếu thấy mái dốc bị thấm ẩm có thể đề ra các biện pháp đề phòng trượt lở mái dốc như: tạm đình chỉ thi công cho tới thi tháo khô hoặc bơm cạn nước hoặc hạ độ dốc của mái taluy hoặc gia cố bằng vách chống để chống sạt lở

- Tải trọng tạm thời phải đưa xa mép hố móng 1 khoảng ít nhất là 1m

- Sau khi đào hố móng đến độ sâu thiết kế thì tiến hành xây dựng móng ngay để tránh hiện tượng áp lực của đất đào ở phía trên đẩy xuống làm phá vỡ kết cấu tự nhiên của đất

- Nếu đào móng bằng máy thì chỉ đào sâu xuống cách độ sâu thiết kế 0.5m rồi đào tiếp bằng thủ công

2.2 Hố móng đào có chống vách

Khi chiều sâu đào đất vượt quá các quy định cho phép hoặc mực nước ngầm cao hơn đáy hố đào hoặc công trình có phạm vi thi công chật hẹp nằm cạnh các công trình khác, trường hợp này nếu không chống vách đất thì mái đất dễ bị sụt lở, gây khó khăn trong thi công cũng như gây nguy hiểm cho người và thiết bị thi công

Có nhiều cách để gia cố vách đào như dùng ván lát dọc hoặc ngang, nhưng ta thấy

ta thấy ván lát chủ yếu giữ được đất nhưng nước vẫn thấm qua được Do vậy để khắc phục nhược điểm này ta dùng phương pháp vòng vây cọc ván

2.2.1 Hố móng có chống vách bằng cọc ván gỗ đơn

Tên loại đất Độ dốc taluy ứng với độ sâu đào móng

Trang 10

Ván cừ gỗ thường được dùng để chống sạt lở vách đất, làm hàng rào, tường vây, chống thấm khi chiều sâu hố móng <6m

2.2.1.1 Yêu cầu chế tạo

+ Phải được chế tạo bằng gỗ tươi Nếu dùng gỗ khô phải ngâm nước trước khi gia

công Gỗ dùng lμm cọc ván phải tốt, không bị mục, không có khuyết tật

+ Cọc ván gỗ sử dụng gỗ nhóm 2 thuộc loại cây lá kim, còn thuộc loại cây lá bản thì chiều dài không > 3m

+ Chiều dày tối thiểu của ván 70mm, chiều rộng của mỗi bản cừ là 100-150mm Chiều dài cừ do thiết kế qui định nhưng phải dài hơn thiết kế 0,3- 0,5m để đề phòng đầu cừ bị dập nát khi hạ cừ Chiều dài có thể lên đến 8m và dùng thích hợp cho hố móng sâu 4-5m

+ Khi ghép cừ ta làm mộng vuông nếu chiều dày có mộng lớn hơn 100mm và gược lại ta dùng mộng én

+ Chiều dài mũi cọc ván được quyết định theo loại đất mà nó cắm vào, lấy bằng

1 lần bề dày cọc ván đối với loại đất nặng, lấy bằng 3 lần đối với đất nhẹ

+ Để tránh vỡ đầu cọc trong quá trình đóng, đầu trên của cọc ván phải được cắt gọt cho vuông góc với đường tim của cọc và bọc lại bằng đai thép hình chữ nhật + Mũi cọc tạo độ vát về phía cọc đã đóng vì sẽ khít mộng khi đóng Những khi cần thiết để tránh vỡ mũi cọc có thể gia cố bằng bản thép

+ Cọc định vị thường dùng gỗ đường kính φ=16-26cm có 2 mộng dương; gỗ nẹp thường dùng gỗ nửa

Hình 2-2: Cấu tạo ván cừ gỗ

a) Mộng vuông b) Mộng én

2.2.1.2 Thi công cọc ván gỗ

+ Định vị chính xác hàng cừ chuẩn bị đóng bằng máy trắc đạc

+ Đóng cọc định vị trước

+Ghép gỗ nẹp

+ Có thể đóng từng tấm cừ riêng lẻ hoặc kết hợp đóng đồng thời nhiều tấm bằng cách sử dụng các khung định vị, khung định vị được dựng theo vị trí đã xác định Ván cừ được ghép lồng vào giữa hai thanh nẹp song song, rồi bắt đầu đóng xuống + Đầu dưới ván cừ được cắt vát chéo về phía mộng lồi Khi ghép ván cừ để mộng lồi quay ra ngoài, như vậy khi đóng đất không kẹt vào rãnh cừ và đất nén vào đầu vát chéo của cừ ép sát vào hàng cừ đã đóng vào con nêm

Ngày đăng: 01/11/2022, 17:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w