Bài PT Tây Tiến ( Tổng hợp lại bình giảng văn chương và phân tích thêm ) Có những nỗi nhớ siêu hình không bút mực nào tả nổi, như khi ta đang ở một nơi mà lại nhớ chính về nơi đó: “Chiều nay có một người du khách Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” (Nguyễn Bính). Lại có những nỗi về con người, về miền đất đã trở thành kỉ niệm: “Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương” ( Chế Lan Viên ). Và cũng bắt đầu từ một nỗi nhớ như thế, bài thơ “Tây Tiến” của tác giả Quang Dũng ra đời. Tác phẩm được kết tinh từ nỗi nhớ “chơi vơi” của ông về đồng đội ở đơn vị cũ trong những tháng năm ở miền biên cương Tây Bắc. Những ngày tháng gian khổ mà hào hùng ấy đã rung lên những dây tơ xúc cảm trong tâm hồn để nhà thơ viết nên bài Tây Tiến. Qua bài thơ, tác giả Quang Dũng ca ngợi vẻ đẹp của người lính Tây Tiến đồng thời thể hiện tình cảm sâu nặng của nhà thơ với đơn vị, với cảnh vật và con người Tây Bắc một thời gắn bó.
Trang 1Bài PT Tây Tiến ( Tổng hợp lại bình giảng văn chương và phân tích thêm )
Có những nỗi nhớ siêu hình không bút mực nào tả nổi, như khi ta đang ở một nơi mà lại nhớ chính về nơi đó: “Chiều nay có một người du khách/ Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”
(Nguyễn Bính) Lại có những nỗi về con người, về miền đất đã trở thành kỉ niệm: “Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ/ Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương” ( Chế Lan Viên ) Và cũng bắt đầu từ một nỗi nhớ như thế, bài thơ “Tây Tiến” của tác giả Quang Dũng ra đời Tác phẩm được kết tinh từ nỗi nhớ “chơi vơi” của ông về đồng đội ở đơn vị cũ trong những tháng năm ở miền biên cương Tây Bắc Những ngày tháng gian khổ mà hào hùng ấy đã rung lên những dây tơ xúc cảm trong tâm hồn để nhà thơ viết nên bài "Tây Tiến" Qua bài thơ, tác giả Quang Dũng ca ngợi vẻ đẹp của người lính Tây Tiến đồng thời thể hiện tình cảm sâu nặng của nhà thơ với đơn vị, với cảnh vật và con người Tây Bắc một thời gắn bó
Ban đầu bài thơ có tên là "Nhớ Tây Tiến", nhưng sau đó Quang Dũng chỉ giữ lại Tây Tiến với lí do “Nhắc đến Tây Tiến là đã thấy nhớ rồi Vậy nên chữ nhớ là thừa.” “Nhớ Tây Tiến” là tựa
đề có vẻ khuôn mẫu vào loại nỗi niềm có phần riêng tây Còn "Tây Tiến" xem ra đã khái quát hơn, lại kiêu hùng hơn Nó như muốn thâu tóm cả đất trời Tây Tiến, cả cu c hành binh Tây Tiếnộc hành binh Tây Tiến vào m t bức tranh toàn cảnh Đoàn quân Tây Tiến có thể không lớn, nhưng tính chất của nó thìộc hành binh Tây Tiến
có khác nào m t cu c vạn lí trường chinh Đến nay, qua bao thăng trầm, Tây Tiến đã chứng tỏ: ộc hành binh Tây Tiến ộc hành binh Tây Tiến
tự nó là m t thế giới ngh thu t nguyên vẹn, thế giới thăng trầm ấy sẽ còn lưu giữ được lâu dàiộc hành binh Tây Tiến bầu khí quyển lịch sử của cái thuở ban đầu dân quốc ấy Đó chính là lí do mà nhà phê bình văn học Nguyễn Xuân Nguyên cũng không tiếc lời khen Tây tiến của Quang Dũng: “Một bài thơ kỳ diệu và có một vị trí đặc biệt trong lòng công chúng, một bài thơ được kỷ niệm 60 năm ngày sáng tác (năm 2008), một bài thơ làm sống dậy cả một trung đoàn, khiến địa danh Tây Tiến trường tồn trong lịch sử và ký ức mỗi người Nó như một viên ngọc sáng trong tâm hồn Việt, tấm lòng Việt và thơ ca Việt”
Cảnh sắc nằm im lìm trong kí ức vốn chỉ như những tĩnh v t trong bảo tàng, dù là kí ức của m t thời chưa xa Không có thần khí của xúc cảm thổi vào, hình bóng vạn v t dù mỹ l đến ộc hành binh Tây Tiến mấy vẫn chỉ là hóa thạch Nỗi nhớ d y lên làm m t luồng sinh khí, nó soi tràn đến đâu, cũng ộc hành binh Tây Tiến tưới tắm đến đấy, muôn vàn hình sắc trong kí ức bấy giờ mới bừng tỉnh để sống đời hình tượng của chúng với tất cả vẻ tươi tắn sơ nguyên Trong miền kí ức Tây Tiến, cả những chi tiết nhỏ nhất cũng được thấm đượm, bao bọc, chan hòa bởi m t nỗi nhớ ch p chùng da diết: ộc hành binh Tây Tiến
“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Xa Tây Tiến, xa dòng sông Mã dữ dội, xa những núi cao vực thẳm, những đêm liên hoan đuốc sáng tưng bừng và những con người Tây Bắc dịu dàng, đôn hậu,… nỗi nhớ nay ùa về: “nhớ chơi vơi” Từ láy “chơi vơi” với vần “ơi” có độ mở lớn, kết hợp với hai thanh bằng khiến nỗi nhớ
Trang 2bị kéo dài ra tới vô hạn Trạng thái lơ lửng, bồng bềnh của “chơi vơi” cộng hưởng với niềm xúc cảm nồng nàn, say đắm là miền nhớ đã tạo nên một nỗi “nhớ chơi vơi Đó là nỗi nhớ nhưng không có điểm tựa, đầy ăm ắp, mênh mang, khỏa lấp cả không gian, thời gian và không thể nào đong đếm được Chơi vơi là trạng thái của nỗi nhớ hay trạng thái của cảnh v t được nhớ? Nó là cái chông chênh hẫng hụt của kẻ đang phải lìa xa nơi mình từng gắn bó, hay là cái ch p trùng xa cách của rừng núi miền Tây? Th t khó tách bạch Cả chủ thể và đối tượng dường như đã tr n ộc hành binh Tây Tiến lẫn vào nhau mà đồng hi n trong m t chữ chơi vơi ấy Có phải đó là trạng thái ch p chờn rất ộc hành binh Tây Tiến riêng của cõi nhớ chăng? Trong tương tư chiều, Xuân Diệu viết:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”
Có sự gặp gỡ khi hai thi sĩ cùng muốn gắn sắc thái “chơi vơi” cho nỗi nhớ, nhưng với ông hoàng thơ tình thì “chơi vơi” là tương tư, là nỗi nhớ người tình với khao khát vượt biên về không gian để tìm được đến với nhau Còn Quang Dũng sáng tạo hơn khi gắn chặt “nhớ chơi vơi” thành một cụm từ, để chúng cộng hưởng với nhau tạo ra một nỗi nhớ cho cảnh, cho người tha thiết Những tên bản, tên mường của rừng xưa núi cũ yêu thương hiện về, bỗng trở nên gần gũi thân thiết, làm xao xuyến hồn người chiến sĩ:
"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi"
Những Sài Khao, Mường Lát… những địa danh vời vợi nghìn trùng từng in dấu chân đoàn chiến binh Tây Tiến Trong "sương lấp", trong "đêm hơi" mịt mù, lạnh lẽo, đoàn dũng sĩ đã phải vượt qua những nẻo đường hành quân vô cùng gian khổ Ngày nối ngày, đêm nối đêm, trải qua bao dãi dầu, "đoàn quân mỏi" giữa cái biển sương mù của núi rừng miền Tây; "đoàn quân mỏi" tưởng như bị "lấp" đi, bị trĩu xuống trong mệt mỏi, gian truân, nhưng thật bất ngờ, bỗng xuất hiện "hoa về trong đêm hơi" Cái mỏi mệt, cái gian khổ như đã tiêu tan Qua hai chữ “đêm hơi”
ta như hình dung ra một không gian lung linh huyền ảo của núi rừng nơi đây Trong không gian
ấy hoa muôn sắc màu trở nêm đẹp hơn, lộng lẫy hơn Hai câu thơ như hai nết vẽ tương phản thể hiện hai cực điểm nổi bật của mảnh đất miền Tây khắc nghiệt thật đấy nhưng thơ mộng đẹp đẽ vô cùng Thanh bằng liên tiếp diễn tả cái nhẹ nhàng, cái lâng lâng trong tâm hồn người lính trẻ đi tới đích sau những chặng đường dài hành quân đầy thử thách: "Mường Lát hoa về trong đêm hơi" Mạch thơ chủ yếu là sự đan d t kỉ ni m, với những sực nhớ miên man, những vụt hi n bất chợt, mà trong đó các địa danh có khi chỉ hi n thoáng m t dòng tên “Sài Khao, ộc hành binh Tây Tiến Mường Lát” Còn kỉ ni m bao giờ cũng chan hòa cảnh với người, cũng song hành và đan xen cả hai mạch: vừa gian khổ hào hùng, vừa thơ m ng hào hoa.ộc hành binh Tây Tiến
Trang 3Nhớ về Tây Tiến, là nhớ về những cung đường, những gian khổ khó khăn trên hành trình chiến đấu Trước mắt chúng ta hiện lên một không gian núi rừng hung hiểm hoang sơ khi Quang Dũng khắc họa:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xống Nhà ai Pha Luông Mưa Xa khơi”
Ta dường như cảm nhận được những bước chân của người lính qua chặng đường rừng núi hoang sơ, vừa gian nan hùng vĩ , vừa đầy chất thơ của nó So sánh chinh phu xưa trải qua những “hình khe, thế núi gần xa- Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao” phải “nằm vùng cát trắng, ngủ còn rêu xanh”, những chiến binh Tây Tiến có lẽ còn phải vượt những thử thách gay go hơn Các anh đã từng vượt qua bao địa hình hiểm hóc: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” Sự hiểm trở của dốc núi miền Tây không chỉ hiện lên chân thực, sống động qua những từ láy giàu chất tạo hình "khúc khuỷu" ( gập ghềnh gồ ghề ), "thăm thẳm" ( cao vời vợi, sâu ngút ngàn) mà còn được đặc tả rõ nét bởi nhịp điệu 2/2/3 dứt khoát dồn dập , bởi sự phối hợp dày đặc 5 thanh trắc trong một câu thơ 7 chữ Khiến cho người đọc không khỏi không liên tưởng đến mấy câu thơ của Lý Bạch "Thục đạo nan ! Thục đạo nan ! / Nan ư hướng thiên thanh" (Đường đi lên xứ Thục khó như đi lên trời xanh) Điệp từ "dốc" ở đầu mỗi vế thơ thể hiện sự trùng điệp chồng chất của những con dốc, dốc này chưa qua dốc khác lại tới như thách thức ý chí nghị lực của các anh, đồng thời phần nào gợi nên nỗi khó khăn cực nhọc của những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân đầy gian lao vất vả Sự nối tiếp triền miên vô tận ấy khiến ta liên tưởng đến sự nghiệp kháng chiến chống pháp trường kỳ của dân tộc, dai dẳng triền miên và để lại những thiệt hại nặng nề mãi không bao giờ kết thúc Máu đã đổ trên mảnh đất ngàn năm, ánh mắt mẹ cha vẫn mòn mỏi ngóng trông nhưng có lẽ các anh sẽ mãi mãi chẳng thể trở về "Đoàn
vệ quốc quân một lần ra đi/ Nào có sá chi đâu ngày trở về"
"Heo hút cồn mây súng ngửi trời"
Nhà thơ không chỉ đặt những người lính vào thế chênh vênh một bên là dốc cao vời vợi một bên là đèo sâu khôn cùng mà còn mở ra không gian ba chiều rộng lớn choáng ngợp, nhưng "heo hút", hoang sơ và vắng lặng đến rợn người Chặng đường hành quân bao phủ bởi lớp lớp cồn mây dày đặc mịt mùng, bởi vậy mà càng cheo leo hiểm trở
"Súng ngửi trời" là một phép nhân hoá giàu tính tạo hình, giàu sức gợi, là sự kết hợp giữa cảm hứng hiện thực và lãng mạn Trước tiên, hình ảnh này vừa đặc tả độ cao chót vót của dốc núi vừa gián tiếp miêu tả người lính trên đường hành quân : họ leo lên đỉnh núi, đi trên núi
mà như đi trên mây, vai khoác súng, mũi súng như chạm tới tận trời xanh Hình ảnh này không chỉ làm nổi bật chân dung người lính cách mạng với quyết tâm chiếm lĩnh mọi tầm cao, chế ngự
Trang 4thiên nhiên khắc nghiệt, làm chủ đất nước giang sơn mà còn toát lên nét trẻ trung yêu đời, hào hoa lãng mạn của những chàng lính Hà Thành đôi mươi, đồng thời làm sống dậy cái không khí hào hùng của thời đại Tầm vóc kỳ vĩ lớn lao ấy, tư thế hiên ngang ngang tàn ấy ta từng bắt gặp trong thơ Phạm Ngũ Lão "Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu" hay trong thơ Tố Hữu :
"Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài lên đỉnh núi cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang gieo gió với đèo"
(Lên Tây Bắc 1948)
"Súng ngửi trời" là hình ảnh quen thuộc xuất hiện khá nhiều trong văn học Cách Mạng tháng 8 Ta biết đến một "Đầu súng trăng treo" ( Đồng chí - Chính Hữu) hay "Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan" ( Việt Bắc - Tố Hữu) bởi đây là một hình ảnh mang tính biểu tượng Súng là hiện thân cho sự khốc liệt của chiến tranh mà những người lính đã và đang ngày đêm đối mặt; Trời là biểu trưng cho khát vọng về một ngày mai hoà bình và tự do Tác giả kết nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, giữa cảm hứng hiện thực và lãng mạn để tạo nên hình ảnh thơ sống động và giàu ý nghĩa, tạo nên cái "lệch chuẩn tài hoa và độc đáo" trong lòng bạn đọc " Quang Dũng đứng riêng một ốc đảo, đặc biệt với bài thơ Tây Tiến, ông không có điểm gì chung với những nhà thơ khác, ông đứng biệt lập như một hòn đảo giữa các nhà thơ kháng chiến" ( Vũ Quần Phương)
"Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống"
Điệp ngữ "ngàn thước" là một ước lệ nghệ thuật có tính định lượng đã khắc hoạ vẻ đẹp kỳ vĩ chênh vênh của núi rừng miền Tây Yếu tố tương đồng của điệp ngữ ngàn thước, cùng chất tương phản của các động từ "lên/xuống" khiến cho hai vế thơ như đột ngột dữ dội "bẻ" ra thành hai chiều không gian : bên này núi dựng cao chót vót, bên kia vực đổ sâu ngút ngàn làm bổi bật địa hình hành quân muôn trùng khó khăn trắc trở Sau những câu thơ tả dốc núi đèo sâu gân guốc nhọc nhằn, câu thơ tả mưa miên man trong 7 thanh bằng đã gợi nên một không gian mênh mông nhạt nhoà như loãng tan trong biển mưa
"Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi"
Âm hưởng nhịp nhàng, nhè nhẹ của thanh bằng kết hợp với cách ngắt nhịp đều đều 2/2/3 khiến cho lời thơ ý thơ trở nên mượt mà êm dịu khắc sâu trong tâm khảm chúng ta một ấn tượng khó phôi phai Sắc thái phiếm chỉ khiến cụm từ "nhà ai" trở nên mơ hồ xa xăm, sắc thái nghi vấn gợi nên nỗi trăn trở trong lòng người Cả câu thơ chỉ có duy nhất một tiếng "nhà" mang thanh
Trang 5huyền như một thoáng trầm lắng suy tư để rồi sau đó tất cả là những thanh không chơi vơi trong nỗi nhớ
Sau chặng đường hành quân gian khổ, người lính như đang dừng chân đâu đó đưa mắt nhìn cảnh núi rừng chìm trong làn mưa hư ảo Ánh mắt những chàng trai xa nhà bâng khuâng hướng tới những bản làng quen thuộc, những mái ngói thân thương, nơi mà các anh sẽ đến, sẽ đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn Người lính dường như đang thu vào tầm mắt cả cuộc sống nơi ấy, giản dị mộc mạc nhưng vô cùng lãng mạn bình yên Nhìn bức tranh ấy, dường như ta quên đi sự khốc liệt của chiến tranh, khát khao được sống bình yên, quây quần đầm ấm bỗng dâng lên đầy ắp trong lòng
Người lính Tây Tiến “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” được Quang Dũng tập trung miêu tả trực tiếp qua hình ảnh:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
Có cái gì như đau xót và đầy thương nhớ trong đoạn thơ phía trên ? Miêu tả cái chết chỉ như một giấc ngu, ba chữ “bỏ quên đời” đã làm giảm đi mức độ đau thương cho lời thơ Tuy nhiên,
ta vẫn cảm nhận được những tâm tư tình cảm mà tác giả dường như giấu sau cái bình thường đến bình lặng ấy Bức chân dung người lính trẻ Tây Tiến gốc Hà Nội của Quang Dũng gợi nhớ đến bức chân dung tương tự người chiến sĩ Nam tiến- cũng người Hà Nội- trong thơ Việt Phương:
“Em trẻ quá ơi người em bé nhỏ
Ra chiến hào như một chuyến đi chơi”
Còn ở đây, người lính của binh đoàn Tây Tiến cũng nằm lại với miền núi hoang sơ tựa hồ một giấc ngủ Sự thật chiến tranh xưa nay vẫn thế! Có điều là vần thơ của Quang Dũng tuy nói đến cái chết của người lính nhưng không gợi ra bi lụy, thảm thương trái lại, trong sự tiếc thương có niềm tự hào khẳng định: Vì độc lập, tự do mà có biết bao chiến sĩ anh hùng đã ngã xuống trên các chiến trường, trong tư thế lẫm liệt "gục lên súng mũ…" như vậy
Chiều nối chiều, đêm tiếp đêm, chiến khu vang động tiếng "gầm thét" của thác, của "cọp trêu người" Trên một không gian mênh mông của chốn đại ngàn, từ Pha Luông đến Mường Hịch hoang vu, cái chết đang rình rập đe dọa Chốn rừng thiêng ẩn dấu nhiều bí mật "oai linh", được nhân hóa như tăng thêm phần dữ dội Thác thì "gầm thét", cọp thì "trêu người" như để thử thách chí can trường các chiến binh Tây Tiến:
Trang 6"Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người"
Vượt lên gian khổ, hi sinh, hành trang người lính đầy ắp những kỉ niệm đẹp của tình quân dân Quên sao được "cơm lên khói", hương vị đậm đà của "mùa em thơm nếp xôi" Trong cái hương
vị đậm đà của bát cơm tỏa khói, của hương nếp xôi còn quyện theo bao tình sâu nghĩa nặng của
bà con dân bản Mai Châu, của "mùa em" Hai tiếng "nhớ ôi" gợi lên nhiều bâng khuâng, vương vấn, thấm thía và ngọt ngào:
"Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi"
“Mùa em thơm nếp xôi” cụm từ đầy sáng tạo, dễ thương đến thế Lối diễn đạt đặc sắc rất Quang Dũng- một giọng trữ tình cô động đầy chất thơ, man mác ý vị của hoài niệm này, đã thể hiện được thật tinh tế, tâm hồn đầy ân tình đẹp đẽ của anh bộ đội Tây Tiến Đó là người lính của chiến tranh nhân dân, được sống trong mối quan hệ cá nước đã như một thuần phong mới, một đặc trưng nghĩa tình cách mạng trước đây chưa từng có với những anh lính thú “bước chân xuống thuyền” mà đầm đìa nước mắt, những “cai cậu buông áo em ra- để em đi chợ kẻo mà chợ trưa” Mùi thơm nếp xôi ở đây như hòa lẫn, như hiện thân tấm lòng thơm thảo của cô gái Mai Châu Còn nhớ Vũ Bằng trong “Thương nhớ mười hai” viết rằng: “Tháng một nhớ đến gió ở Đọi Đệp lúc tản cư, mặc áo trấn thủ ngoài khoác va-rơi, đi như muốn bay lên trời mà miệng vẫn không ngớt ngâm bài “Tây Tiến” Và ngày hôm nay, trong nhịp sống trôi chảy của thời bình, nhớ
về Tây Tiến, không chỉ nhớ về thiên nhiên núi rừng mà còn có những đêm hội liên hoan đậm tình quân dân thắm thiết:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa, Kìa em xiêm áo tự bao giờ, Khèn lên man điệu nàng e ấp, Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ"
Đêm hội tràn đầy ánh sáng, ánh sáng của những bó đuốc như bông hoa lửa trong đêm tràn đầy màu sắc, nhộn nhịp, rồn ràng âm thanh của tiếng khèn man điệu Nếu như cảnh sắc thiên nhiên miền tây gợi cái heo hút thâm u của núi rừng thì giờ đây tất cả đã lùi xa Những người lính được chìm đắm trong tiếng khèn man điệu, trong những điệu nhạc rộn ràng, tươi vui Âm thanh, màu sắc gợi hình gợi cảm, làm hiện lên một không gian sống động, khác với một miền Tây lặng im bình thường mà bỗng trở nên dạt dào sự sống trong những điệu múa, những ánh đuốc lấp lánh của đêm hội quân dân
Nếu bốn câu thơ trên là bức tranh vừa dữ dội hoang sơ vừa nên thơ hùng vĩ của núi rừng miền Tây và con đường hành quân đầy gian khổ thì phần thơ thứ hai như mở ra một thế giới khác của Tây Bắc, một Tây Bắc lãng mạn nên thơ, duyên dáng mĩ lệ dưới nét bút uyển
Trang 7chuyển tài hoa của nhà thơ Quang Dũng Ấy là cảnh sông nước miền Tây tĩnh lặng mênh mang
mà chứa chan thi vị
"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ "
Từ “người” được sử dụng thật tài tình, nó mang tính chất vừa cụ thể, vừa phiếm chỉ, vừa là tác giả vừa là đồng đội, những người tri âm, tri kỷ đã từng đồng cam cộng khổ sống chết có nhau
“Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh; Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi…thương nhau tay nắm lấy bàn tay” (Đồng chí-Chính Hữu) Khi viết câu này hẳn tác giả lại nhớ đến lời ca quan họ:
“Người ơi người ở đừng về”- một lời ca nặng tình, nặng nghĩa nhờ có từ “người”- một đại từ thần diệu của Tiếng Việt Từ “ấy” không xác định được thời gian, nhưng lại gợi về thời khắc khó quên, một đi không trở lại, đã in đậm trong trái tim, trong nỗi nhớ đầy vơi của Quang Dũng và những người lính Tây Tiến Chữ “ấy” đó lại bắt vần với chữ “thấy” ở câu dưới tạo nên một vần lưng đầy quyến luyến, vấn vương
Có lẽ, trong những hình ảnh làm cho người lính Tây Tiến “Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên” ấy thì “hồn lau nẻo bến bờ” là hình ảnh gợi cảm và nên thơ nhất Theo thi sĩ Chế Lan Viên thì
“Lau”là biểu tượng cho mùa thu Còn thi sĩ Hoàng Hữu thì hồn lau trong gió qua hoài niệm lại gợi cảm giác buồn vắng, lặng tờ nhạt nhòa như khói pha, như thời tiền sử huyền thoại:
“Trường vắng mưa mờ buông dốc xa Dây leo nửa mái, sắc rêu nhòa Người xa phơ phất hồn lau gió Thổi trắng chân đồi như khói pha”
(Hoa lau trường cũ) Trong “Tự tình cùng cái đẹp” TS Chu Văn Sơn đã từng viết về hoa lau - một “phận hoa bên lề”:
“Lau cứ âm thầm xé mình ra Đời hoa là đời của ước mơ lớn xé lẻ thành những sợi lau con Mỗi sợi bạc một ước mơ bay Cứ từng sợi, từng sợi, gửi vào gió Mà bay Nhung tuyết một đời tan thành từng chuyến bay như thế Bợt bạc rồi xơ xướp Hết nhung hết tuyết, cũng hết đời hoa.” Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn “Cỏ lau” lại có hình ảnh bông lau, hoa lau lơ thơ như mơ như thực “ở đây, bầu trời, mặt đất thanh vắng hoang dại, hoa lau phơ phất trên nền xanh uyển chuyển của rừng lau Những triền cỏ lau mới nhú mang một vẻ hiu hắt, vài đọt hoa hiếm hoi, điểm xuyết giữa hoàng hôn vùng rừng một sắc tím bâng quơ” Những hồn lau như thế xuất hiện trong làn sương chiều mờ ảo , nơi bến bờ sông suối hoang sơ hẻo lánh của miền Châu
Trang 8Mộc, Châu Mai đã góp phần bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của một thi sĩ tài hoa lãng mạn, có cách nhìn cách cảm thiên nhiên rất lạc quan yêu đời đôi phần mơ mộng
Tâm hồn lãng mạn mộng mơ đó còn phát hiện ra trong cảnh sông nước chiều sương mang đậm màu sắc cổ tích huyền thoại ấy, hình ảnh con thuyền độc mộc với dáng chèo mềm mại của cô gái và bông hoa trôi theo dòng nước lũ:
“Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Ngòi bút tinh tế của Quang Dũng mới chấm phá vài nét không chỉ gợi được cái hồn của những bông lau, mà còn cả cái dáng rất tạo hình của cô gái lái đò người Mường,người Thái,…cái dáng ngả nghiêng rất tình tứ “đong đưa”chứ không phải “đung đưa” của những bông hoa rừng như muốn “làm duyên bên dòng nước lũ” “Đung đưa” chỉ thuần túy tả chuyển động đưa đi đưa lại mang tính chất Vật lý, còn đong đưa vừa tả chuyển động, tả cảnh vừa tả tình làm cho bông hoa trở thành một sinh thể duyên dáng và rất đa tình “Cặp môi hồng con mắt ướt đong đưa” (Thị Mầu-Anh Ngọc) Với một chữ “trôi” mà tác giả dùng ở đây cũng rất tinh tế, gợi lên sự nhẹ nhàng thanh thoát “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” Phải có “tay lái ra hoa” thì chiếc thuyền độc mộc vượt qua suối lũ ghềnh thác mới êm nhẹ đến thế Với một chữ “trôi” tinh tế và một chữ “đong đưa” hơi phong tình, dòng nước lũ dữ dằn bỗng trở thành suối mơ êm đềm yên ả,
để con thuyền lướt nhẹ êm trôi
Bên cạnh đó, chúng ta thấy hai từ “thấy” và “nhớ” được tác giả dùng trong hai câu thơ giữa cũng thật tài tình Dường như cái hồn thiêng của bông hoa lau đã in hình rõ nét trong mắt tác giả, còn cái dáng mềm mại, thon thả của cô gái lái đò đẹp như hoa cùng bông hoa rừng đong đưa trên dòng nước lũ lại khắc sâu vào tâm trí nhà thơ vốn giàu tình yêu non sông đất nước, vẻ đẹp thiên nhiên miền Tây này Không có một tâm hồn nhạy cảm, tài hoa thì không thể nắm bắt được những hình ảnh giàu hình sắc của hoa như thế Đoạn thơ không chỉ được khắc, trạm hình sắc, đường nét vào người và cảnh, mà còn được tác giả phổ vào câu thơ những nốt nhạc tinh tế thể hiện qua những vần lưng, vần chân, điệp âm, điệp thanh hài hoà phong phú Nhạc điệu ấy được cất lên từ một tâm hồn say đắm với cảnh và người miền Tây Tổ quốc của người lính “Giữa chiến trường nhiều khi thay cho nhạc; là những tâm hồn có nhạc ở bên trong” (Phạm Tiến Duật)
Từ đây, hành trình Tây Tiến dù chưa ngưng nghỉ song cái chơi vơi của chân bước, cái dữ dằn hung hiểm của đất lạ rừng thiêng, cái mênh mang nao nức của nhạc, của thơ, của hoa, của người, chừng như đã đủ tầm thước, sắc độ làm nền cho gương mặt thật của tây Tiến hiện lên nổi nét nhất Nhà thơ trân trọng đặt bút “vẽ”, trong một niềm ngưỡng mộ sâu sa:
Trang 9“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”
Cái tài hoa của Quang Dũng ở đây bộc lộ qua nhiều khía cạnh ( như thủ pháp đối lập giữa hiện thực và lãng mạn, giữa bi với trang, cách tạo âm điệu qua đối thanh đối ý, dùng thi liệu cũ, từ hán việt, lối nhân hóa bất ngờ, đắc địa… ) Chất bi tráng lẫm liệt được thể hiện với khí thế ngút trời “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” đây là một hình ảnh dữ dội và hết sức mạnh mẽ của người lính, dù ở trong rừng sâu đối diện với căn bệnh sốt rét hoành hành, da có xanh nhợt đi vì bệnh tật thì chưa bao giờ họ thôi quyết tâm, kiên cường chiến đấu Tôi còn nhớ câu thơ của Chính Hữu “Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ” cũng là để diễn tả những khó khăn vất vả đau thương mà người lính phải trải qua Tuy nhiên “Mắt trừng”, “dữ oai hùm” lại thể hiện khí thế ngang tàn, mạnh mẽ khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ Cũng là một cách nói truyền thống trong thơ ca dân tộc ngợi ca sức mạnh Việt Nam: "Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu" (Phạm Ngũ Lão), "Tỳ hổ ba quân – Giáo gươm sáng chói" (Trương Hán Siêu), "Sĩ tốt kén tay tì hổ - Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh" (Nguyễn Trãi), … Và những năm đầu kháng chiến chống Pháp, anh bộ đội Cụ Hồ mang sức mạnh Việt Nam từ nghìn xưa ra tận trận với chí khí lẫm liệt, nếm trải biết bao cay đắng ngọt bùi, bao thiếu thốn gian truân, từng đánh những trận đánh đẫm máu giữa rừng sâu đã hiện diện thật rõ nét trong thơ Quang Dũng
Là những chàng trai đến từ Hà thành, nơi hội tụ nét đẹp và tinh hoa văn hóa Tràng An, những người lính ra đi đánh giặc với bao “mộng” và “mơ” tuyệt đẹp:
“ Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm”
Ai cũng có tình yêu, và những người lính Tây Tiến tuổi đôi mươi cũng không ngoại lệ Chính vì vậy mà Quang Dũng đã viết: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" Sống giữa núi rừng gian khổ, ác liệt, cái chất bủa vây, lửa đạn mịt mù, nhưng các chiến sĩ vẫn mơ về Hà Nội Làm sao họ quên được những hàng me, có “Gió mùa thu hương cốm mới”,
“Những phố dài xao xác hơi may?”(Nguyễn Đình Thi)…và, làm sao có thể xóa được hình dáng của dáng kiều thơm với “Cuộc chia tay chói ngời sắc đỏ” (Nguyễn Mỹ) Dáng kiều thơm, hình ảnh thề hiện sự khám phá của nhà thơ Bút pháp lãng mạn tạo nên tính thẩm mỹ trong câu thơ Chẳng hạn ở “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi:
“Những đêm dài hành quâ nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”
Nhớ về đồng đội, Quang Dũng cũng không né tránh những mất mát hi sinh, nhưng hẳn rằng Tây Tiến là một trong số ít bài thơ viết về điều đó một cách thấm thía bằng cảm hứng bi tráng:
Trang 10“Rải rác biên cương mồ viễn xứ, Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Trong một câu thơ sử dụng nhiều từ Hán Việt thì "mồ" lại là một từ thuần Việt có giá trị biểu đạt và biểu cảm cao: Miêu tả chính xác thực tế chiến trường khi những người ngã xuống chỉ được chôn cất sơ sài vội vã Đồng đội xót lòng để các anh ở lại trong những nấm đất hoang lạnh, đơn sơ "Tây Tiến" là một trong số không nhiều những tác phẩm văn chương thời kháng chiến chống Pháp trực tiếp miêu tả mất mát hi sinh của người lính Đó là thời đại:
"Thế hệ chúng con đi như gió thổi Quân phục xanh đồng sắc với chân trời Chưa kịp yêu một người con gái Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai"
(Đất nước hình tia chớp – Trần Mạnh Hảo)
Nếu câu thơ “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” đầy thê lương vì những nấm mồ xa quê không có một vòng hoa, một nén hương tưởng niệm thì câu thơ sau đã nâng cao tầm vóc của người lính Nếu câu thơ trước là một bức tranh xám lạnh, ảm đạm hiu hắt thì câu thơ sau cảm hứng bi tráng khiến bài thơ không rơi vào bi lụy Các anh ra trận vì lý tưởng đẹp “Đời xanh” là tuổi thanh xuân của những người thanh niên quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh Hình ảnh áo bào
“thay chiếu anh về đất” vừa làm sang trọng cái chết của người lính vừa an ủi những người còn sống Lời thơ không gợi sự bi lụy, yếu mềm, đau thương dù là viết về sự hi sinh mất mát Người
“đi” dù “chẳng tiếc đời xanh” nhưng những người ở lại, cùng dòng sông vô tận, lòng đất vô biên, thì nghe như có cái gì đang rạn vỡ từ bên trong Đồng đội không khóc, đất trời chẳng đổ mưa, chỉ một tiếng gầm khan trầm uất Sông Mã – con sông chảy từ đầu bài thơ đến đây để thay mặt cho đồng đội, cho những người còn sống, cho quê hương đất nước cất lên khúc nhạc trầm hùng, khúc chiêu hồn tử sĩ Đúng như Lê Đại Thanh đã đồng sáng tác khi viết về bài "Tây Tiến":
“Sông Mã gầm lên sông Mã ơi Người yêu sông Mã đã qua đời
Để đời nhớ mãi quân Tây Tiến Khúc độc hành ca của một thời.”