1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sinh kế của lao động di cư tự do tại thành phố hà nội trong đại dịch covid 1

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy đại dịch Covid-19 mới được nhắc đến hơn một năm nay, song sự tác động của nó đến đời sống và cuộc mưu sinh các nhóm cư dân dễ bị tổn thương, nhất là tác động đến nhóm lao động nhập c

Trang 1

Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 1 (2022) 95-109

Sinh kế của lao động di cư tự do tại Thành phố Hà Nội

trong đại dịch Covid -19

Phạm Văn Quyết * , Phạm Văn Huệ ** , Đinh Quang Hùng ***

Tóm tắt: Thông qua các dữ liệu thống kê, các nghiên cứu của đồng nghiệp và kết quả khảo

sát của nhóm nghiên cứu, bài viết hướng đến một số phát hiện liên quan đến các chiều cạnh cơ bản trong thực tế sinh kế của nhóm lao động di cư tự do ờ Hà Nội trong thời kỳ bùng phát của đại dịch Covid-19 Trước hết, đại dịch đã gây ảnh hưởng nặng nề đến chiều cạnh quan trọng nhất trong sinh kế của lao động nhập cư tự do là việc làm và thu nhập Do vậy, dạng sinh kế ứng phó của họ khi đó phổ biến nhất là cắt giảm chi tiêu ở mức tối đa, chỉ giới hạn trong khoản tiền mà họ có được Trở về quê để tránh dịch bệnh, đồng thời cũng để giúp giảm bớt các khoản chi tiêu đắt đỏ ở Hà Nội cũng là dạng sinh kế ứng phó được một bộ phận lao động nhập cư tự do lựa chọn Tìm kiếm một nguồn thu nhập khác phù hợp với thực tế cũng được các lao động hướng đến, song họ phải chấp nhận nguy cơ rủi ro cao của bệnh dịch Việc tiếp cận của một bộ phận lao động nhập cư tự do đến các gói

hỗ trợ của xã hội, đặc biệt là gói hỗ trợ của chính phủ vẫn còn có những hạn chế bất cập nhất định Khi đại dịch bùng phát, việc phân biệt đối xử, sự né tránh, e ngại trong giao tiếp, ứng xử với người nhập cư tự do ở một vài trường hợp tại Hà Nội được thể hiện

rõ ràng hơn Điều đó càng làm gia tăng hơn mức độ của kỳ thị cảm nhận ở mỗi cá nhân, gia đình người nhập cư

Từ khóa: sinh kế; di cư; lao động nhập cư; đai dịch Covid - 19.

Ngày nhận 31/5/2021; ngày chinh sửa 14/9/202Ỉ; ngày chấp nhận đăng 28/02/2022 <

DOI: https://doi.Org/10.33100/tckhxhnv8.l.PhamVanQuyet.vcs

1 Dấn nhập

Dịch bệnh và chiến tranh từ thời xa xưa

đã được biết đến như những kẻ man rợ hủy

hoại sinh kể, trực tiếp thông qua việc cướp

đi mạng sống của con người và làm tan nát

những vùng đất mà chúng đi qua, phá hủy

tài sản sinh kế, gián tiếp thông qua việc hạn

chế quyền tự do đi lại, hạn chế các chiến

lược sinh kế và việc tiếp cận với các nguồn

' Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG

Hà Nội; email: p.quyet3@gmail.com

" Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG

Hà Nội.

“ ■ Trường Đại học Việt Nhật, ĐHQG Hà Nội

lực tự nhiên và xã hội Sau hơn một năm, kể

từ tháng 3 năm 2020, khi Coronavirut (Covid-19), được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thông báo như một dịch bệnh xảy ra trên toàn thế giới, ảnh hưởng thường xuyên đến một bộ phận lớn dân cư (Tổ chức Di cư quốc tế (lOM) 2020), đến nay đại dịch Covid-19 đã lan ra hầu khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn nhân loại Đại dịch Covid-19 không chỉ đã gây ra cuộc khủng hoảng y tế thế giới, mà còn là nguyên nhân cơ bản của cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội của các quốc gia, tàn phá nghiêm trọng tổng thể nền kinh tế và thị trường lao động toàn cầu, là cú sốc kinh tế 95

Trang 2

96 Phạm Văn Quyết và cộng sự/ Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhản văn, Tập 8, Sô 1 (2022) 95-109

lớn nhất trong vòng 35 năm qua (Lê Thị

Thanh Bình 2021) Đại dịch Covid-19 đã tác

động đến mọi mặt đời sống, sinh kế của các

tầng lớp dân cư ở tất cả các quốc gia, đặc

biệt trực tiếp nhất đến người lao động và các

nhóm dễ bị tổn thương

Hầu hết lao động nhập cư tự do khi đến

miền đất mới đều nuôi hy vọng về sự cải

thiện sinh kế, song đại dịch Covid-19 đã phá

hủy tất cả, đã đẩy họ rơi vào tình cảnh thất

nghiệp, thiếu việc làm, giảm hoặc mất thu

nhập, nợ tiền nhà, thiếu lương thực và

những vật dụng thiết yếu khác Họ dễ trở

thành một trong những nhóm dễ bị tổn

thương nhất Tuy đại dịch Covid-19 mới

được nhắc đến hơn một năm nay, song sự

tác động của nó đến đời sống và cuộc mưu

sinh các nhóm cư dân dễ bị tổn thương, nhất

là tác động đến nhóm lao động nhập cư, lao

động trong khu vực phi chính thức đã được

nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức quốc tế

ở Việt Nam cũng như ở các nước đề cập

đến Nghiên cứu “Đánh giá nhanh tác động

của đại dịch Covid-19 tới doanh nghiệp và

người lao động trong một số ngành kinh tế

chính và việc làm: ứng phó, điều chỉnh và

khả năng phục hồi” của Tổ chức Lao động

quốc tế (ILO 2020) hay “Một số đánh giá

tác động xã hội của đại dịch COVID-19”

của Nguyễn Minh Phong (2020), “Tác động

của đại dịch Covid-19 và những vấn đề phát

triển đặt ra” của Trần Quốc Toản (2021) đã

phần nào cho thấy được tác động ghê gớm

của đại dịch Covid đối với vấn đề việc làm,

thu nhập, sinh kế của người lao động: ILO

dự báo cuộc khủng hoảng kinh tế và lao

động do dịch COVID-19 gây ra có thể làm

tăng thêm 25 triệu người thất nghiệp trên

toàn cầu, so với số lượng người thất nghiệp

sẵn có là 188 triệu trong năm 2019, v.v ước

tính sẽ có thêm từ 8,8 triệu đến 35 triệu

người lao động rơi vào cảnh đói nghèo trên

khắp thế giới, so với mức ước tính trước đây

cho năm 2020 (ILO 2020) Trên cơ sở phân

tích các số liệu của ILO, của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nghiên cứu của Nguyền Minh Phong và Trần Quốc Toản đã hướng đến những kết luận về sự ảnh hưởng nặng nề, nghiêm trọng của đại dịch Covid-

19 đến cuộc sống mưu sinh của hàng triệu người lao động, nhất là lao động giản đơn thu nhập thấp không thường xuyên, hoặc nhóm lao động trong các khu vực phi chính thức, tự làm

Công trình nghiên cứu “Tác động của đại dịch Covid-19 tới lao động, việc làm ở một

số nhóm dễ bị tốn thương” của Lê Thị Thanh Bình (2020) và “Social Policy, COVID-19 and Impoverished Migrants: Challenges and Prospects in Locked Down India” của Sengupta và đồng nghiệp (2020)

đã tập trung phân tích nhiều về việc làm, thu nhập, đời sống của nhóm lao động trong khu vực không chính thức, nhóm dễ bị tổn thương, khi bị đẩy vào cuộc khủng hoảng sống còn, do mất việc làm, mất thu nhập, thiếu lương thực và nghèo khổ trong đại dịch Covid-19 ở Việt Nam và ở Án Độ Đặc biệt các nghiên cứu “Covid-19 Destroyed Thailand’s Economy, and the Livelihoods of Migrant Workers” của Leadholm (2020) và

“Manufactured Maladies: Lives and Livelihoods of Migrant Workers During Covid-19 Lockdown in India” của Adhikari

và cộng sự (2020) đã đề cập nhiều đến đời sống, sinh kế của người lao động di cư ở Thái Lan và ở Ấn Độ Trong khi bài viết của Leadholm phân tích những rào cản, những khó khăn dường như không lối thoát trong cuộc mưu sinh cùa lao động nhập cư từ Myanmar ở tỉnh Phang Nga (Changwat) miền Nam Thái Lan, thì bài viết của các tác giả Adhikari và cộng sự đề cập đến tình trạng không lương thực và tiền bạc, mức độ đói, mất sinh kế và thu nhập cùng sự bế tắc

“đi không được, ở không xong” của hàng vạn lao động nhập cư tại các đô thị của Ấn

Trang 3

Phạm Văn Quyết và cộng sự / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, sổ 1 (2022) 95-109 97

Độ trong 68 ngày đất nước bị phong tỏa để

tránh lây lan Coronavirut

Mặc dù đã có những nghiên cứu ở các

vùng miền khác nhau về tác động của đại

dịch Covid đến đời sống, sinh kế của các

nhóm lao động dễ bị tổn thương, nhóm di

cư, song một nghiên cứu sâu với các chiều

cạnh liên quan đến sinh kế trong đại dịch

Covid của lao động di cư cả từ trong nước

và quốc tế tại thành phố Hà Nội, nơi đang

trong quá trinh đô thị hóa và mở cửa mạnh

mẽ vẫn là sự cần thiết khách quan; chắc

chắn kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp thêm

vào chủ đề này với nhiều phát hiện và kết

luận hữu ích

Trên cơ sở các dữ liệu thống kê về tình

hình lao động, việc làm của Tổng cục Thống

kê và của các cơ quan, tổ chức hữu quan,

các kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp, đặc

biệt là kết quả 25 phỏng vấn sâu có định

hướng được thực hiện vào tháng 5/2020 và

tháng 4/2021 của nhóm giảng viên và sinh

viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn với các lao động nhập cư tự do

vào Hà Nội trong khoảng 5-7 năm lại đây

với đa dạng các ngành nghề và các thành

phần (trong đó có 5 lao động người nước

ngoài, 5 lao động làm nghề xe ôm, 5 lao

động bán hàng rong, 4 lao động bán tạp hóa,

1 làm phụ hồ, 1 đạp xích lô, 1 nấu ăn cho

trường học, 1 nhặt ve chai và thu gom phế

liệu, 1 làm bảo vệ, 1 làm Spa), chúng tôi

muốn chỉ ra một số chiều cạnh nổi bật trong

thực tế sinh kế của nhóm lao động di cư tự

do ở Hà Nội trong giai đoạn đại dịch Covid

bùng phát

2 Khái niệm sinh kế và sinh kế của lao

động nhập cư tự do Hà Nội

Sinh kế thường được hiếu một cách đơn

giản như việc làm hoặc nguồn thu nhập

mang lại cho cá nhân hoặc gia đình tiền để

mua những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống Tuy nhiên có nhiều cách tiếp cận khác nhau về sinh kế Theo Waddington (2003: 5) cách tiếp cận sinh kế bền vững được Cục Phát triển quốc tế (DFID) ủng hộ đã xác định sinh kế là “khả năng, tài sản (gồm cả vật chất, nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết để có phương tiện sống” Trong một số trường hợp việc làm và sinh kế, thường được sử dụng thay thế cho nhau, song theo Rengasamy, Chương trình phát triển Liên họp quốc (UNDP) đã phân biệt hai thuật ngữ này, khi cho rằng công việc có thể bao gồm một phần của sinh kế tổng thể; sinh kế dựa trên thu nhập có được từ việc làm và còn dựa trên thu nhập từ tài sản và các quyền lợi (Rengasamy 2008) Bên cạnh

đó, có tác giả khi phân tích về cơ hội sinh kế

đã hướng đến vai trò của thể chế, chính sách cũng như các mối quan hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế (Ellis 2000) Bùi Vãn Tuấn (2015) trong phân tích về sinh kế của cộng đồng dân cư ở vùng ngoại thành

Hà Nội đã xác định: sinh kế bao gồm các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa mà các cá nhân, gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập, hoặc có thể sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của

họ (2015: 97)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi không

có mục đích đi sâu phân tích các quan điểm,

lý thuyết khác nhau về sinh kế, mà chỉ nêu

ra một số cách nhìn nhận khác nhau về nội dung, những chiều cạnh khác nhau của sinh

kế Theo đó, bài viết này sẽ cố gắng chỉ ra một số chiều cạnh cơ bản, phù họp với sinh

kế của nhóm lao động nhập cư ở Hà Nội trong đại dịch Covid-19 Trong lịch sử, loài người thường coi di cư từ vùng này sang vùng khác là cơ hội để tìm kiếm và cải thiện sinh kế Sự di cư này có thể ở khoảng cách

và thời hạn dài ngắn khác nhau (Massey 1990: 5) Di cư là một phần của các chiến lược sinh kế tích cực, nhưng cũng được xác

Trang 4

98 Phạm Văn Quyết và cộng sự / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhản văn, Tập 8, số 1 (2022) 95-109

định bởi bối cảnh xã hội (Haan 2000: 1)

Các chiến lược sinh kế rất phong phú và đa

dạng, nhưng theo Kothari, di cư vẫn đóng

một vai trò quan trọng, nếu không muốn nói

là thành phần trọng tâm trong chiến lược

sinh kế của người nghèo ở các nước đang

phát triển (2002: 8), mặc dù sinh kế không

an toàn cho lao động nhập cư bắt đầu ngay

từ nơi xuất phát (Hennebrỵ 2017: 2) Trong

thời kỳ khủng hoảng để đối phó và tồn tại,

di cư ngày càng trở thành một lựa chọn tích

lũy cho cả người nghèo và người không

nghèo Không những vậy, di cư còn là một

trong những quá trình quan trọng nhất của

thay đổi dân số và đa dạng hóa chiến lược

sinh kế (Sapkota 2018: 45) Do đó, sự dịch

chuyển dân số lao động từ khu vực nông

thôn sang khu vực đô thị tại các nước đang

trong quá trình đô thị hóa mạnh như Việt

Nam là một cơ hội sinh kế quan trọng cho

các cá nhân và hộ gia đình nông thôn Theo

đó, di cư đã trở thành chiến lược sinh kế phổ

biến giúp người nghèo và người lao động di

cư nói chung có thêm các họat động việc

làm, cải thiện thu nhập, tăng thêm nguồn tài

chính, V.V

Hà Nội là một trong những thành phố có

tốc độ đô thị hóa nhanh ở Việt Nam: năm

1999 dân số đô thị của Hà Nội là 36,8%,

năm 2009 là 41,0%, năm 2019 là 49,2%

(Cục Thống kê Hà Nội 2019), hằng năm thu

hút một số lượng lớn lao động nhập cư

Theo kết quả Tống điều tra dân số và nhà ở

năm 2019, trong giai đoạn 2009-2019 trung

bình mỗi năm dân số Hà Nội tăng 2,22%

năm, cao hơn gần hai lần mức trung bình

của cả nước (1,14%); tỷ suất nhập cư là

43,8%; tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 15

tuổi trở lên là 2,00%, thấp hơn mức trung

bình của cả nước (2,05%) Cũng như đến

các thành phố lớn khác của Việt Nam phần

lớn người lao động nhập cư tự do vào Hà

Nội chỉ với sức lao động cơ bắp, không nghề

nghiệp, không tài sản sinh kế và đều có

mong muốn tìm kiếm cơ hội và cải thiện sinh kế Tại Hà Nội, vùng sinh kế chù yếu của số đông trong nhóm lao động này là khu vực lao động không chính thức, với đặc điểm noi bật là việc làm bấp bênh, thiếu ổn định, thu nhập thấp, thời gian làm việc dài; không có hợp đồng lao động hoặc có nhưng không được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, không được chi trả các chế độ phụ cấp

và các khoản phúc lợi xã hội khác, thường xuyên đối mặt với nguy cơ trở thành "tầng lớp lao động nghèo", dễ bị tổn thương (ILO 2016: 2) Bên cạnh số đông các sinh kế của lao động nhập cư tự do đều dựa trên một loạt chiên lược sinh kế tương tự, chủ yếu với khu vực lao động không chính thức, một số chiến lược sinh kế của nhóm lao động này được bổ sung thêm các hoạt động thuộc công ty gia đình, hoặc trong khu vực lao động chính thức, nhưng chủ yếu với các hợp đồng lao động ngắn hạn, thử việc hoặc mùa

vụ như giáo viên dạy tiếng Anh, tin học, lao công, bảo vệ, phục vụ, v.v trong các trường học, bệnh viện, hay ở một cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn Tuy thuộc nhóm sinh kế

có nguy cơ rủi ro cao ở đô thị, song trong điều kiện bình thường, họ vẫn dễ kiếm được việc làm và có thu nhập đủ đảm bảo các nhu cầu cần thiết của cá nhân và gia đình, hoặc

có thu nhập cao hơn so với vùng nông nghiệp, nông thôn

3 Đại dịch Covid và những ảnh hưởng đến sinh kế của lao động di cư tự do

Sinh kế bền vững thường được xem xét khi sinh kế đó có thể đối phó, phục hồi sau những căng thăng, khủng hoảng và cú sôc

và duy trì khả năng cùng tài sản của nó, song khi sinh kế không có khả năng phục hồi; nó trở nên dễ bị tồn thương (Subedi 2017) Theo đó, sinh kế của lao động nhập

cư tự do tại Thành phố Hà Nội trong đại

Trang 5

Phạm Văn Quyết và cộng sự / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 1 (2022) 95-109 99

dịch Covid-19 với cú sốc của cuộc khủng

hoảng kinh tế xã hội toàn cầu này, phần lớn

thuộc nhóm sinh kế không bền vừng nên dễ

bị tổn thương hơn bao giờ hết

3.1 Đại dịch Covid-19 ở Việt Nam và sự

ứng phó của cộng đồng

Ngày 23/1/2020, khi ca nhiễm Covid-19

đầu tiên tại Việt Nam được ghi nhận, Nhà

nước Việt Nam đã tăng cường các lỗ lực để

khống chế sự lây lan của dịch bệnh Chính

phủ đã ban hành các vàn bản quy định hạn

chế đi lại, kêu gọi mọi người ở yên trong

nhà, tạm dừng các hoạt động dịch vụ không

thiết yếu, không tụ tập đông người, đóng

cửa trường học, đóng cửa biên giới, đồng

thời thực hiện chế độ cách ly và giãn cách

xã hội Cuối tháng 4/2020 một số biện pháp

giãn cách xã hội đã dần dần được nới lỏng,

số ca mắc lây nhiễm từ cộng đồng mới giảm

dần (Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc

(UNICEF) 2020)

Đến cuối tháng 7 năm 2020 làn sóng lây

nhiễm thứ hai bùng phát từ ổ dịch ở Đà

Nằng và nhanh chóng lan ra các vùng miền

khác của đất nước Chế độ cách ly và giãn

cách xã hội được thực hiện ở các mức độ

khác nhau tùy thuộc vào sự lây lan dịch

bệnh tại các địa phương Sự vận hành của xã

hội được thiết lập ở trạng thái cân bằng mới

Làn sóng lây nhiễm thứ 3 bùng phát vào

cuối tháng 1/2021 từ ổ dịch ở Hải Dương và

Quảng Ninh Làn sóng này cũng nhanh

chóng được khống chế thông qua thực hiện

các biện pháp hạn chế đi lại và giãn cách xã

hội của chính phủ và chính quyền các địa

phương Làn sóng lây nhiễm thứ 4 trong

cộng đồng bùng phát từ cuối tháng 4/2021

với biến chủng mới từ Ấn Độ đã rất nhanh

chóng lan ra nhiều tỉnh thành ở các vùng

miền khác nhau của đất nước; làm số ca lây

nhiễm trong cộng đồng tăng lên nhanh

chóng Tới thời điểm hiện nay Việt Nam đã

có hơn 3.500 ca mắc coronavirut, trong đó

có hơn 2.300 ca do lây nhiễm cộng đồng (Bộ Y tế 2021) Trong bối cảnh như vậy đời sống của rất nhiều người, nhất là người lao động, người dễ bị tổn thương ở cả nông thôn

và đô thị đều bị ảnh hưởng nặng nề

Để ứng phó với cơn khủng hoảng do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, ngay từ tháng

4 năm 2020, Chính phủ Việt Nam đã quyết định triển khai thực hiện gói an sinh xã hội 62.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 2,6 tỷ

đô la) hỗ trợ tài chính cho các đối tượng dễ

bị tổn thương trong khu vực không chính thức: các đối tượng bị giảm sâu thu nhập, mất, thiếu việc làm, gặp khó khăn, không đảm bảo mức sống tối thiểu, chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 với mức 1 triệu đồng/tháng cho từng hộ gia đình hoặc người lao động từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020 Bên cạnh đó chính phủ còn hỗ trợ các doanh nghiệp bị ảnh hưởng thông qua gói tín dụng lãi suất thấp để trả lương cho nhân viên (Liên họp quốc (UN) 2020) Ngoài ra, sự đóng góp hỗ trợ của cộng đồng đối với đối tượng dễ bị tổn thương, bị ảnh hưởng của đại dịch bằng tiền mặt hay hiện vật cũng rất đáng kể

3.2 Việc làm và thu nhập của lao động nhập cư tư do trong đại dịch Covid-19

Đại dịch Covid-19 đã gây ra khủng hoảng kinh tế, lao động và việc làm chưa từng có đối với tất cả các nước trong thế giới hiện đại Tình trạng mất việc làm và số giờ làm việc bị ảnh hưởng nặng nề nhất Uớc tính có 1,25 tỷ lao động, chiếm 38% lực lượng lao động toàn cầu đang làm việc trong các lĩnh vực phải đối diện với sự sụt giảm trầm trọng về sản lượng, nguy cơ cao bị sa thải, bao gồm các ngành: thương mại bán lẻ, dịch vụ lưu trú và ăn uống và sản xuất (Lê Thị Thanh Bình 2020) Tại Việt Nam, theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong năm

2020, sự bùng phát của dịch Covid-19 đã làm thị trường lao động suy giảm mạnh

Trang 6

100 Phạm Văn Quyết và cộng sự / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 1 (2022) 95-109

trong quý II, số lao động có việc làm giảm

từ 50,1 triệu người trong quý I xuống còn

48,1 triệu người, giảm gần 2.000.000 người

(Tổng cục Thống kê 2021) Tính đến tháng

12 năm 2020, Việt Nam có 32,1.000.000

người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu

cực bởi đại dịch Covid-19 bao gồm người bị

mất việc làm, phải nghi giãn việc/nghỉ luân

phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập, V.V

Trong đó, 69,2% người bị giảm thu nhập,

39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn

việc/nghỉ luân phiên và khoảng 14,0% buộc

phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản

xuất kinh doanh Khu vực dịch vụ chịu ảnh

hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với

71,6% lao động bị ảnh hưởng, tiếp đến là

khu vực công nghiệp và xây dựng với 64,7%

lao động bị ảnh hưởng (Tổng cục Thống kê

2021) Điều này có nghĩa, nhóm lao động di

cư tự do ở Việt Nam, mà chủ yếu tham gia lĩnh vực dịch vụ sẽ là một trong những nhóm bị tác động mạnh mẽ nhất của đại dich Covid-19

Lao động di cư tự do là hình thức di cư của người lao động hoàn toàn mang tính tự phát Quyết định di cư của họ không phụ thuộc vào bất cứ tổ chức kinh tế, chính trị,

xã hội nào Đến thành phố họ hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực việc làm Trong khảo sát của chúng tôi, đối tượng di cư tự do thuộc các nhóm lao động di cư tự do khác nhau đã phản ánh rõ tình trạng mất việc làm hoặc bị buộc phải giảm giờ làm, mất thu nhập, do phải ở nhà thực hiện cách ly, giãn cách xã hội hoặc do không có hay ít “khách hàng” đối với một số loại hình dịch vụ như chạy xe ôm, bán hàng tạp hóa, V.V (xem Hộp 1):

Hộp 1: COVID-19 với tình trạng mất việc làm, giảm thu nhập và bất lực

Trường hợp thứ nhất

Chị H, 31 tuổi quê ở Nghệ An cùng chồng và 2 con di cư ra Hà Nội thuê nhà ở, kiếm sinh kế mới được hon hai năm, với hy vọng thoát khỏi các công việc làm ruộng Vất vả, thu nhập thấp ở quê nhà Ra

Hà Nội, căn phòng gia đình chị thuê ở sâu trong một con ngõ nhỏ thuộc Quận Hoàng Mai Chị làm hợp đồng mùa vụ với công việc nấu ăn cho một trường mầm non tư thục; chồng chị làm nghề chạy xem ôm (Grabbike) Khi đại dịch Covid-19 bùng phát, trường mầm non bị đóng cửa dài ngày, học sinh nghỉ học, chị H cũng không có việc làm và cũng không có thu nhập; việc chạy xe ôm của chồng chị cũng bị dừng lại khi có lệnh giãn cách xã hội, sau đó cũng ít khách horn; cả nhà sinh sống bằng số tiền

ít ỏi chồng chị kiếm được hằng ngày (khoảng 200.000 đồng).

Trường hợp thứ hai:

Anh T, 42 tuôi, làm xe ôm công nghệ (Grabbike), quê ở Hà Tây, đang ở nhà trọ cùng vợ tại quận Hoàng Mai; vợ buôn bán nhỏ ở chợ, con ở quê với ông bà; hàng tháng anh chị gửi tiền về nuôi ông bà

và các con Sức ép kinh tế với anh là rất lớn Khi đại dịch bùng phát, anh thấy “cuộc sống bị đảo lộn hết tất cả”, nhất là mấy tuần giãn cách xã hội, anh và vợ trở thành người thất nghiệp hoàn toàn, ở nhà không thu nhập, “cuộc sống cực bí bách” Khi lệnh phong tỏa bị gỡ bỏ, anh trở lại ngay với công việc

và kiêm luôn cả nghề Shipper, song “công việc cũng vần rất ế ẩm, chưa bằng một phần khi chưa có dịch” Anh cho biết, rất sợ, vì bệnh dịch rất dễ lây lan, vẫn bùng phát trờ lại, nghề xem ôm tiếp xúc nhiều với người lạ, nguy cơ nhiễm bệnh xảy ra bất cứ lúc nào, song không thể không đi làm và “ở nhà thì sẽ chêt đói trước khi chết vì dịch bệnh”.

Trường hợp thứ ba:

Chị A, 24 tuổi, người Anh, độc thân, sang Việt Nam được hơn 1 năm, vì muốn khám phá “một đất nước thú vị” Khi dịch bệnh bùng phát chị đang dạy tiếng Anh cho 1 trung tâm ngoại ngữ tại Hà Nội theo dạng hợp đồng có thời hạn (1 năm) Theo chị, dịch bệnh đã làm đảo lộn tất cả; một quãng thời

Trang 7

Phạm Văn Quyết và cộng sự / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, sổ 1 (2022) 95-109 101

gian rât khó khăn không chỉ với riêng chị mà với rât nhiêu người nước ngoài khác Chị rât lo sợ dịch bệnh có thể đến với mình, song nỗi lo sợ lớn hơn là công việc bị trì trệ, trung tâm đóng cửa, không người học và mọi thứ càng trở nên tệ hon khi dịch bệnh kéo dài hàng tháng, không biết đến bao giờ mới chấm dứt Chị dự định về quê hưong, song không bay được, ở lại thì không có việc làm, không thu nhập Bất lực Nguồn: kết quả khảo sát của tác già và đồng nghiệp.

Ba trường hợp trên đây là những ví dụ về

những chiều cạnh quan trọng nhất của sinh

kế là việc làm cho thu nhập đã bị hủy hoại

do đại dịch Covid-19 trong hàng vạn trường

hợp khác nhau của lao động nhập cư ở

Thành phố Hà Nội Những công việc của họ

dù là làm hợp đồng mùa vụ, ngắn hạn, là

làm xe ôm, chạy chợ, phu hồ hay những

công việc mà lao động nhập cư tự do thường

làm nhiều khi đến thành phố, đều phải bị

dừng lại, cắt giảm hoặc bị tước bỏ khi đại

dịch Covid-19 bùng phát Người lao động di

cư tự do đến thành phố có khi kèm cả gia

đình, có khi chỉ một mình, song họ thường

là lực lượng lao động chính mang lại nguồn

thu nhập chủ yếu để nuôi sống gia đình Vì

vậy, áp lực việc làm và thu nhập với họ rất

lớn; khi đại dịch bùng phát bên cạnh nỗi lo

sợ bị lây nhiễm bệnh, thì nỗi lo sợ lớn hơn

với nhiều người có lẽ chính là mất việc làm,

mất thu nhập: “Lúc đầu thì sợ dịch bệnh,

nghỉ việc dài ngày, khách du lịch không có

thì lại sợ không có tiền, có những lúc chú

không có cả tiền ăn, trong khi lại phải trả

tiền trọ, tiền gửi về cho gia đình, tiền học

của con cái, v.v.” (Phỏng vấn sâu, nam, 39

tuổi, đạp xích lô, quê Nam Định); “Mấy

tháng rồi mà chủ thầu vẫn chưa gọi đi làm,

tiền tiêu thì không có, tiền gửi về quê cho vợ

con và bố mẹ cũng không” (Phỏng vấn sâu,

nam 35 tuổi, phụ hồ, quê Thanh Hóa) Do bị

sức ép về kinh tế, nên trong một số trường

họp, người lao động nhập cư biết công việc

việc là nguy hiểm, là rất có thể bị nhiễm

bệnh, song họ vẫn cứ phải làm Đối với một

số người “gạo là thứ nhất, Covid là thứ hai”

(Leadholm 2020)

Báo cáo Đánh giá nhanh tác động của đại dịch Covid-19 tới doanh nghiệp và người lao động của ILO (2020) đã chỉ ra: đại dịch

đã tạo ra khó khăn kép với người lao động di cư: một mặt thu nhập và việc làm của họ bị ảnh hưởng (có tới 87,9% người lao động di

cư mất việc làm hoặc bị giảm lương), mặt khác, do các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội, họ bị chia cắt khỏi gia đình mình trong nhiều tháng Sinh kế bị hủy hoại, chiến lược sinh kế bị bẻ gẫy, thu nhập không

có, hoặc thu nhập bị giảm đáng kể, trong khi cuộc sống vẫn phải diễn ra, họ vẫn cần tiền cho các nhu càu của cá nhân và gia đình là tình trạng chung của lao động nhập cư tự do

ở đô thị Hà Nội trong thời kỳ bùng phát dịch bênh Covid-19, cho dù họ là ai, người nước ngoài hay người Việt Nam và hoạt động trong loại việc làm nào, việc làm theo hợp đồng mùa vụ hay tự tạo việc làm như anh chạy xích lô, xe ôm, phu hồ hay chị bán hàng rong và thậm chí cả giáo viên tiếng Anh

3.3 Sự ứng phó

Bên cạnh sự ứng phó của Nhà nước Việt Nam trước đại dịch Covid-19 thông qua gói

an sinh xã hội 62.000 tỷ đồng và sự ứng phó của cộng đồng thông qua nhiều hoạt động quyên góp, ủng hộ, cây ATM gạo, v.v nhằm

hỗ trợ những hoàn cảnh khó khăn thì sự ứng phó của chính các cá nhân và hộ gia đình người lao động là đặc biệt quan trọng đối với sự phục hồi sinh kế Đa số lao động di

cư tự do là trụ cột kinh tế của gia đinh, việc làm, thu nhập của họ là nguồn sống cho cá nhân và gia đình họ Khi đại dịch xảy ra, trước sức ép của thu nhập, của cuộc sống,

Trang 8

102 Phạm Văn Quyết và cộng sự/Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 1 (2022) 95-109

của gia đình, sinh kế ứng phó của lao động

di cư tự do tại Hà Nội thời gian qua cũng

thật sự đa dạng Với một bộ phận cá nhân và

hộ gia đình, sau khi mất việc làm hoặc việc

làm bị dừng lại hoặc bị cắt giảm, thu nhập bị

mất hoặc không còn như trước, tài sản sinh

kế duy nhất là chút tiền tiết kiệm của họ

cũng được tính đến để làm sao đảm bảo

được nhu cầu thiết yếu của cá nhân và gia

đình: “Khi Covid-19 xảy ra, việc giảng dạy

ở trường bị dừng lại, lương không có, cũng

không thể nhờ gia đình ở London, tôi phải

sống dựa vào số tiền đã tiết kiệm được và

lập danh sách chi tiêu họp lý nhất để có thể

chống chọi” (Phỏng vấn sâu, nam, 34 tuổi,

giáo viên tiếng Anh, người Anh)

Cắt giảm hoặc hạn chế các khỏan chi tiêu

cho cá nhân và gia đình cũng là cách ứng

phó phổ biến được khá nhiều người lao động

di cư tự do thực hiện: “Tháng dịch, bác và

vợ không có việc làm, một ngày không kiếm

nổi một đồng, mọi chi tiêu trong gia đình

phải tính toán rất hạn chế” (Phỏng vấn sâu,

nam, 44 tuổi, chạy xe ôm, quê Nam Định),

hoặc Covid không làm được mà các thứ

tiền nọ, tiền kia, tiền nhà, tiền điện, tiền

nước, ăn uống vẫn cứ phải móc túi ra, nên

phải rất tiết kiệm mới được” (Phỏng vấn

sâu, nữ, 66 tuôi, bán nước vỉa hè, quê Nam

Định) Nhóm người nghèo chì với những

việc làm gắn với đường phố như nhặt ve

chai, thu mua phế liệu, bán hàng rong, v.v

thu nhập thấp, cuộc sống đã khó khăn, trong

đại dịch, sức ép kinh tế với họ càng nặng nề

horn, nên việc chi tiêu của họ chỉ tập trung

vào mua những thực phẩm có tính thiết yếu

nhất: “Khi giãn cách xã hội, cô trở thành

người không có thu nhập, nên gánh nặng

kinh tế lại càng lớn Ra chợ cô cũng chỉ mua

vài cân gạo và các mặt hàng cần thiết dùng

được lâu ngày như gia vị, mì tôm, bánh đa,

v.v.” (Phỏng vấn sâu, nữ, 40 tuổi, bán xôi và

nhặt ve chai) Có trường họp thuộc hộ

nghèo, khi dịch xảy ra, mất việc làm, không

thu nhập đã cố gắng hạn chế tất cả các khoản chi tiêu trong phạm vi số tiền trợ cấp hàng tháng cho hộ nghèo: “Nhà cô có hai người được trợ cấp hộ nghèo mỗi tháng 700.000 đồng, không kiếm thêm được thì cố gắng chi tiêu trong chừng đó thôi” (Phỏng vấn sâu, nữ, 49 tuổi, bán hàng rong, quê Vĩnh Phúc)

về quê với gia đình để tiết kiệm và hạn chế những chi tiêu đắt đỏ nơi thành phố cũng là bài toán được một bộ phận lao động nhập cư tự do ở Hà Nội tính đến: “Chú về quê, vì ở đây không có khách, mà ngày nào cũng phải tiêu pha, lo ăn uống đắt đỏ, rồi tiền nhà trọ, v.v.” (Phỏng vấn sâu, nam, 39 tuổi, chạy xích lô, quê Nam Định) Tuy bài toán về với gia đình ở quê đã được nhiều người tính đến, song không phải ai cũng có thể thực hiện được, nhất là trong giai đoạn phong tỏa, giãn cách xã hội: “Lúc đầu anh cũng định về quê, song cứ nghĩ cố gắng tìm việc gì đó để kiếm sống trong mùa dịch, v.v,, sau lại không về được do giãn cách xã hội (Phòng vấn sâu, nam 29 tuổi, hợp đồng mùa vụ, phụ xe khách), số liệu trong báo cáo của ILO cho thấy, (đến tháng 5/2020) chỉ có 8,8% lao động di cư ở Việt Nam trở

về quê, số lao động di cư còn lại đã ở lại thành phố để tiếp tục đi làm hoặc đi tìm việc mới Tuy nhiên do bị giảm thu nhập, nên lao động di cư đã gặp rất nhiều khó khăn, vì họ khó có thể cắt giảm những chi tiêu cơ bản (ILO 2020)

Trong thời kỳ cách ly, giãn cách xã hội sinh ke bị hủy hoại, thu nhập bị cắt giảm, tiền tiết kiệm bị cạn kiệt dần, những lao động di cư tự do ở Hà Nội đã nghĩ ngay đến tìm kiếm việc làm mới hoặc chuyển sang công việc phù họp để tạo nhu nhập Chiến lược sinh kế của một giáo viên dạy họp đồng tiếng Anh tại một trường trung học cơ

sở, người Philipine là sẽ “làm thêm nghề tay trái” là “mở một cửa hàng ăn uống nhằm giới thiệu các món ăn truyền thống của

Trang 9

Phạm Văn Quyết và cộng sự / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số ỉ (2022) 95-109 103

Philppine, để trang trải những lúc khó khăn,

mất thu nhập như trong đại dịch” (Phỏng

vấn sâu, nam, độc thân, người Philipine)

Những lao động nhập cư trẻ, có trình độ,

năng động đã nhanh chóng nắm bắt xu

hướng, nhu cầu của người tiêu dùng trong

đại dịch, chuyến hướng sang cung cấp các

dịch vụ online Một phụ nữ trẻ bị mất việc

bán hàng thuê tại một của hàng điện máy đã

tìm được việc làm “bọc hàng, đóng hộp để

gửi đi, vì mùa dịch, người ta mua hàng

online nhiều Tiền lưcmg trả theo ngày,

không nhiều, nhưng có thu nhập để trang

trải” (Phỏng vấn sâu, nữ, 26 tuổi, quê ở Hà

Giang) Một thanh niên chạy Grabbike, do

lượng khách hàng giảm, thu nhập chỉ còn

bằng một nửa so với trước khi có dịch, đã

nhanh chóng chuyển sang làm shipper: “Khi

bị hạn chế ra ngoài, mọi người chuyển sang

mua hàng online, nên khi đó đom hàng dồn

dập, nhất là buổi trưa, chiều tối, đom nhiều

chạy không kịp, chủ yếu là đồ ăn, thực

phẩm” (Phỏng vấn sâu, nam, 24 tuổi,

shipper, quê Nam Định) Tuy có nhiều việc

làm, song ẩn chứa trong câu chuyện của anh

là chút sợ hãi về nguy cơ bị nhiễm bệnh,

nhất là khi chạy xe gần hoặc chuyển hàng

cho khu vực bị phong tỏa

Không phải ai cũng có cơ hội chuyển

việc, kiếm được việc làm phù hợp như

những trường hợp trên, nhiều lao động di cư

tự do lớn tuổi hom, học vấn thấp, ít mối quan

hệ rất khó kiếm được việc làm trong mùa

dịch: “Chị cũng cố gắng tìm việc nào đó phù

hợp để kiếm thêm, nhưng khó quá Với lại

học vấn thấp, chẳng biết làm gì, cứ ngồi nhà

với con và tám chuyện với mấy bà cùng

xóm trọ mãi cũng chán” (Phỏng vấn sâu, nữ,

40 tuổi, quê ở Thanh Hóa, bán hàng rong),

hay “cố gắng tìm việc gì đó để kiếm sống

trong mùa dịch, nhưng không được, cứ loay

hoay, ra vào nơi phòng trọ, chán chết”

(Phỏng vấn sâu, nam 29 tuổi, hợp đồng mùa

vụ, phụ xe khách), V.V Như vậy, có thê

thấy người nhập cư tự do vào Hà Nội có nhiều cách để ứng phó với những mất mát

về sinh kế do đại dịch Covid-19 gây ra Song cách ứng phó khá phổ biến là chi tiêu tiết kiệm, cắt bỏ những khoản chi tiêu không cần thiết, giữ mức sinh hoạt trong phạm vi kinh phí hiện có với những vật dụng thiết yếu nhất của cuộc sống Bên cạnh đó lao động di cư luôn xoay xở để kiếm việc làm phù hợp với mùa dịch, người không kiếm được việc thì phải tự nhốt mình với sự buồn chán, người kiếm được việc thì luôn lo sợ vì tiềm ẩn nguy cơ nhiễm bệnh cao

3.4 Tiếp cận gói cứu trợ của chính phủ

Khi làn sóng Covid-19 đầu tiên bùng phát, Việt Nam thực hiện phong tỏa, giãn cách toàn xã hội, để ứng phó với sinh kế bị hủy hoại của hàng triệu người lao động và các hộ gia đình, chính phủ đã thực hiện gói

an sinh xã hội 62.000 tỷ đồng hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng nhiều của đại dịch Mặt khác, do bản chất của lao động di cư tự do là

sự di chuyển mang tính tự phát của người lao động hoặc gia đình họ, không do một cơ quan nhà nước hay tổ chức kinh tế, chính trị,

xã hội nào tổ chức, hỗ trợ trong quá trình di chuyển, nên các công việc của họ ở địa phương di cư đến cũng chủ yếu thuộc khu vực không chính thức Do vậy, lao động nhập cư tự do ở Hà Nội cũng là một trong các đối tượng chủ yếu của gói an sinh xã hội này Chính sách của nhà nước đã rất rõ ràng, song việc tiếp cận với chính sách này của lao động nhập cư tự do lại khác nhau Trong khảo sát thực tế, chúng tôi đã trao đồi về vấn

đề này với các đối tượng nghề nghiệp, việc làm khác nhau, kết quả cho thấy, có nơi người lao động tiếp cận rất dễ dàng, có nơi lại rất khó khăn, V.V Hộp 2 mô tả ba trường hợp khá tiêu biêu về việc tiếp cận của lao động nhập cư tự do ở Hà Nội với gói an sinh

xã hội:

Trang 10

104 Phạm Văn Quyết và cộng sự / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 1 (2022) 95-109

Hộp 2 : Việc tiếp cận gói an sinh xã hội của chính phủ Trường hợp thứ nhất:

Chị M, 40 tuổi, quê ờ Thanh Hóa; là mẹ đơn thân, con trai 5 tuổi; làm nghề bán hàng rong với ít hàng tạp hóa cùng chiếc xe đạp đi khắp các ngõ phố của Hà Nội để kiếm sống Mấy tháng liền chị không dám đi bán hàng, vì lo sợ bị nhiễm bệnh hoặc bị công an bắt tịch thu hàng hóa Nguồn sống của chị và con trai không còn, song chị cũng không quan tâm nhiều đến nhận hỗ trợ của nhà nước, mặc dù

đã biết việc này qua những người cùng xóm trọ Theo chị, một lần bác chủ nhà bảo chị điền tên vào một tờ giấy yêu cầu nhà nước hỗ trợ cho người mất việc làm và thời gian sau thì bác ấy mang 1.000.000 đồng đến cho chị và nói đó là tiền hỗ trợ của nhà nước cho tháng Tư.

Trường họp thứ hai:

Anh H, 39 tuổi, quê ở Nam Định, làm nghề đạp xích lô chớ khách du lịch Khi đại dịch Covid-19 bùng phát, khách du lịch không có, việc làm bị mất, nguồn thu nhập cũng không còn, anh tạm về quê sống với gia đình để để hạn chế chi tiêu Anh có biết về chính sách của nhà nước hỗ trợ cho những người lao động bị mất việc làm, mất thu nhập, cuộc sống khó khăn, V.V Những người làm nghề đạp xích lô như anh đều đã được nhận sự hỗ trợ này, nhưng anh không được nhận Theo anh, nguyên nhân

là do anh sống ở Hà Nội, nhưng không đăng ký tạm trú, tạm vắng Anh cũng đã chạy đi lại các nơi để xin giấy xác nhận, nhưng cuối cùng vẫn không được.

Trường hợp thứ ba:

Nam, khoảng 37 tuổi, bán hàng rong, quê ở Vĩnh Phúc, có vợ và 3 con ờ quê Khi thực hiện giãn cách xã hội, các hàng quán vỉa hè, đồ ăn vật đều đóng cửa hết, nên anh cũng không có việc làm, nguồn thu nhập chính bị cắt Anh tạm về quê, sống với gia đình Anh có biết về chính sách của nhà nước về

hỗ trợ người mất việc làm, mất thu nhập và đã đến ông tổ trưởng dân phố đề nghị được làm giấy kê khai đề nhận hỗ trợ cho người bán hàng rong ngoài đường bị mất việc, song ông tổ trưởng đã trả lời:

“Cái này thì phải có xác nhận từ bên trên” Theo anh, Tố trưởng dân phố là người gần gũi với dân nhất,

mà trả lời như vậy thì anh khó có hy vọng; “chắc là họ chỉ hồ trợ những người làm công nhân mất việc thôi, chứ những người làm ngoài (nghề tự do), bán hàng rong các thứ thì không được”

Nguồn: Kết quả khảo sát cùa tác giả và đồng nghiệp.

Qua nội dung mô tả ba trường hợp trong

Hộp 2 có thể thấy được ba điểm chính sau:

Thứ nhất, bằng các kênh thông tin khác

nhau các trường hợp được mô tả đều đã biết

đến chính sách hỗ trợ của chính phủ đối với

người lao động mất việc làm do đại dịch,

song không phải mọi người đều hiểu biết

đầy đủ về về chính sách đó Trường hợp

nam 37 tuổi, bán hàng rong hiểu về đối

tượng được hỗ trợ khá lơ mơ, vì vậy, đã

không dám đấu tranh một cách mạnh mẽ,

quyết liệt cho quyền lợi của mình Thứ hai,

việc tiếp cận gói hỗ trợ an sinh xã hội của

chính phủ của lao động nhập cư tự do vào

Hà Nội còn tùy thuộc rất nhiều vào hoạt

động và tính tích cực của bộ máy cấp cơ sở

của chính quyền sở tại Neu bộ máy đó hoạt

động năng nổ, gần dân, sát dân thì chính

sách hỗ trợ được thực hiện tốt, đúng người, đúng đối tượng, đúng thời điểm; sự trợ giúp thực sự trở thành “cứu cánh” giúp lao động nhập cư tự do nhanh chóng khắc phục khó khăn, phục hồi và duy trì sinh kế ở trạng thái bình thường mới Ngược lại, nếu bộ máy đó hoạt động chưa thật đều, chưa thật sát dân, thì gói trợ giúp của chính phủ sẽ khỏ mang lại những kết quả như mong đợi Thứ ba, đối với lao động di cư tự do, vấn đề hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng lại được đặt ra liên quan đến triển khai thực hiện gói hỗ trợ của chính phủ nhằm giúp người lao động nhanh chóng vượt qua những khó khăn trong cuộc sống

do bùng phát của đại dịch Covid-19 Rõ ràng, trong một số trường hợp, lao động di

cư theo dạng con lắc, hoặc vì lý do nào đó

họ không thường xuyên đăng ký tạm trú,

Ngày đăng: 01/11/2022, 16:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w