1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của chất lượng cuộc sống vật chất tới hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên

10 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Nghiên cứu nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của yếu tố chất lượng cuộc sống vật chất trong gia đình tới hạnh phúc tình thẩn của thanh thiếu niên.. Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG

Đào Lan Hương

Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh.

TÓM TẮT

Nghiên cứu nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của yếu tố chất lượng cuộc sống vật chất trong gia đình tới hạnh phúc tình thẩn của thanh thiếu niên Sô lượng thanh thiêu niên tham gia khảo sát là 664 em: 330 nam (chiếm 49,7%) và 334 nữ (chiếm 50,3%), tuôi

từ 12 - 18 (tuổi trung bình là 14,2; độ lệch là 1,67) đang học tại 6 trường trung học cơ sở (THCS) và trung học phô thông (THPT) ở Thành phổ Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng cuộc sống vật chất có ảnh hưởng tới hạnh phúc tinh thần với mức độ biến thiên dự báo hạnh phúc tinh thần là 17,5%; p < 0,001.

Từ khóa:Hạnh phúc tinh thần; Chat lượng cuộc sống vật chất; Thanh thiếu niên Ngày nhận bài: 8/12/2021; Ngày duyệt đăng bài: 25/3/2022.

1 Đặt vấn đề

Ngay từ xa xưa, con người đã có nhu cầu đi tìm câu trả lời hạnh phúc là

gì, làm thế nào để có được hạnh phúc Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu đó ngày càng nâng cao hcm Hạnh phúc chính là mục tiêu và là động lực thúc đấy con người phát triển Chính vì vậy, hạnh phúc không chỉ là ước muốn của mỗi

cá nhân mà còn là vấn đề được quan tâm nghiên cứu của các nhà triết học, tôn giáo học, xã hội học, kinh tế học và tất nhiên là cả trong lĩnh vực tâm lý học Phạm trù hạnh phúc là một phạm trù nghiên cứu phức tạp và được tranh luận nhiều (Ryan và Deci, 2001a, b) Trong tâm lý học, các hướng nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc khởi nguồn từ đầu thế kỷ thứ XX và cho đến những năm 1980 -

1990 mới bắt đầu nở rộ Nổi bật là các nghiên cứu của các tác giả như Diener (1984, 1985, 2000, 2009, 2010), Keyes (2004), Hitokoto và Uchida (2015) với các hướng nghiên cứu cảm nhận hạnh phúc ở nhiều chiều cạnh khác nhau Clarke

và cộng sự (2011) thuộc trung tâm nghiên cứu khoa học trường Warwick Medical

đã sử dụng khái niệm hạnh phúc tinh thần để nghiên cứu hạnh phúc tâm lý của thanh thiếu niên trên cơ sở tích hợp cả yếu tố hưởng lạc (cảm nhận hạnh phúc

Trang 2

chủ quan) và bản chất (phát triển bản thân) (Ryan, Deci, 2001a) Năm 2004,

Hiệp hội Hoàng gia ở Anh định nghĩa cảm nhận hạnh phúc tinh thần là “trạng

thái tỉnh thần tích cực và tương đoi on định cho phép các cá nhân, nhóm và quổc gia phát trỉến và thịnh vượng" (dẫn theo Clarke và cộng sự, 2011) Cảm nhận

hạnh phúc tinh thần được khái niệm hóa nhiều hơn là nghĩa không có bệnh tâm thần, xuất hiện để bảo vệ cho một loạt các kết quả sức khỏe bao gồm tự đánh giá sức khỏe tổng quát (National Statistics: The Scottish Health Survey, 2008), phản ứng miễn dịch, phản ứng căng thẳng (Davidson, 2004) và được dự đoán chữa được bệnh tim mạch (Keyes, 2004) Cảm nhận hạnh phúc tinh thần cũng đã được tìm thấy có liên quan đến trình độ học vấn cao hơn ở thời thơ ấu và thanh thiếu niên và với chức năng nghề nghiệp tốt hơn ở tuổi trưởng thành (Stewart-Brown, 2005) Cảm nhận hạnh phúc tinh thần ở thanh thiếu niên có liên quan đến năng lực xã hội và kỳ năng ứng phó tốt với cuộc sống Như vậy, có thể hiểu hạnh phúc

tinh thân là trạng thải tinh thần tích cực và tương đổi on định cho phép cá nhân phát trỉên và có kỹ năng ứng phó tốt trong cuộc sổng.

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thu thập số liệu

Số liệu được thu thập 2 lần Mục tiêu khảo sát lần 1 là điều chỉnh bộ công

cụ nghiên cứu, lần 2 là điều tra chính thức Bảng hỏi được phát trực tiếp cho học sinh trên lóp với số lượng từ 30 - 40 học sinh/lóp Học sinh được thông tin về mục đích khảo sát, tính bảo mật thông tin mà các em cung cấp, quyền được biết kết quả nghiên cứu Thời gian để mỗi học sinh hoàn thành bảng khảo sát từ 10 - 15 phút

2.2 Mau nghiên cứu

Số lượng học sinh tham gia khảo sát lần 1 là 257 em trong độ tuổi từ 12 đến

18, trong đó 99 nam và 158 nữ số lượng học sinh tham gia khảo sát chính thức gồm 664 em: 330 nam (chiếm 49,7%) và 334 nữ (chiếm 50,3%), tuổi từ 12 - 18 (tuổi trung bình là 14,2; độ lệch là 1,67) đang học tại 6 trường trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) ở Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh Trong thời gian các em trả lời có sự có mặt của nghiên cứu viên và giáo viên chủ nhiệm lớp để giải thích cách thức thực hiện và hỗ trợ các em trong quá trình trả lời phiếu

2.3 Công cụ nghiên cứu

Thang đo Hạnh phúc tinh thần (Warwick-Edinburgh Mental Well-being Scale - WEMWBS) của Clarke và cộng sự (2011): Với quan niệm sức khỏe tâm

lý là một phố gồm các mức độ khác nhau, từ có rối loạn tâm thần đến khỏe mạnh

Trang 3

(well-being), nhóm tác giả đã thiết kế thang này để đo lường trạng thái khỏe mạnh tâm thần/tâm lý (mental well-being) cũng chính là trạng thái hạnh phúc tâm lý Thang đo này được xây dựng dựa trên cơ sở của cả hai cách tiếp cận Hedonic (Hạnh phúc hưởng lạc) và Eudaimonic (Hạnh phúc bản chất) có sử dụng một số mệnh đề (item) trong thang đo cân bằng cảm xúc (Affectometer-2) để đo lường cảm xúc tích cực Thang đo được Clarke và cộng sự phát triển dành cho thiếu niên từ 13 - 16 tuổi dựa trên số liệu thu thập được trên 1.650 thiếu niên ở Anh và Scotland Tính nhất quán bên trong (hệ số Alpha của Cronbach) của thang đo là 0,87;

độ tin cậy bên ngoài (test-retest) là 0,66 Thang đo một nhân tố gồm 14 item dạng Likert với 5 mức độ: 1- không đúng; 2- ít đúng; 3- đúng một phần; 4- khá đúng

và 5- rất đúng Ví dụ về một so item trong thang đo: Tôi cảm thấy bản thân có giá trị; Tôi cảm thấy hứng thú với những người xung quanh; Tôi cảm thấy được yêu thương; Tôi cảm thấy vui vẻ Trong nghiên cứu này, hệ số Alpha của Cronbach của thang WEMWBS là 0,83

Thang Chất lượng cuộc sống gia đình là thang đo được thiết kế lần đầu tiên bởi Poston, Turnbull, Park, Mannan, Marquis và Wang (2003) với 10 tiểu thang, sau đó được rút gọn còn 5 tiểu thang với 112 item Phiên bản rút gọn cuối cùng được phát triển bởi Hoffman, Marquis, Poston, Summers và Turnbull (2006),

có 5 tiểu thang với 25 item Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phiên bản rút gọn, nhưng chỉ lấy 3 tiểu thang đo là: Hành vi làm cha mẹ (Parenting) - 6 item, chất lượng cuộc sống cảm xúc (Emotional well-being) - 4 item và chất lượng cuộc sống vật chất (Physical/Material well-being) - 5 item Trong nghiên cứu này,

hệ số Alpha của Cronbach của thang đo Chất lượng cuộc sống vật chất là 0,7

Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng thang đo một số yếu tố gia đình như thang

đo Gắn kết gia đình, quyền tham gia của con, kiếm soát tâm lý - thiếu tôn trọng, mối quan hệ của cha mẹ để đo mức độ biến thiên ảnh hưởng của các yếu tố này tới hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên Tất cả các thang đo đều có hệ số Alpha của Cronbach từ 0,7 đến 0,9

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Cảm nhận hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên

Đe đo lường hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên, chúng tôi đánh giá

10 tiêu chí biểu hiện hạnh phúc tinh thần (bảng 1) Ket quả nghiên cứu cho thấy: Những yếu tố làm cho thanh thiếu niên càm thấy hạnh phúc nhất đó là sự gắn kết trong các mối quan hệ và cảm xúc tích cực Điều này thể hiện ở những item có diem trung bình cao như: “7ơz quan tâm đến những điều mới mẻ”; “Tôi có quan

điêm riêng vê mọi thứ”; “Tôi có năng lượng đê học tập và các hoạt động khác”.

Trang 4

Một trong những đặc điểm tâm lý đặc trưng của lứa tuổi thanh thiếu niên thể hiện

ở nhu cầu khám phá thế giới và bắt đầu hình thành bản sắc Những điều này biểu hiện ở việc các em bắt đầu hình thành quan điểm riêng, có niềm đam mê khám phá những điều mới mẻ và có nhiều năng lượng cho các hoạt động Trong khi đó, cũng

do đặc điếm lứa tuổi nên thanh thiếu niên chưa có cảm giác tự tin trong mọi vấn đề

và chưa có kinh nghiệm ứng phó tốt với các tình huống trong cuộc sống

Bảng 1: Hạnh phúc tỉnh thần của thanh thiếu niên

Nhận định M SD

1 Tôi cảm thấy lạc quan về tương lai 3,24 1,13

2 Tôi cảm thấy bản thân có giá trị. 3,33 1,32

4 Tôi có năng lượng để học tập và các hoạt động khác 3,57 1,06

5 Tôi xử lý tốt các vấn đề của mình 3,18 1,01

7 Tôi có cảm nhận tích cực về bản thân 3,40 1,22

9 Tôi có quan điểm riêng về mọi thứ 3,61 1,19

10 Tôi quan tâm đến những điều mới mẻ 3,95 1,13

Trung bình chung 3,42 0,68

Khi đánh giá chung về hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên Bắc Ninh

và Hà Nội cho thấy điểm trung bình hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên là 3,42 (SD = 0,68), trong đó 13,7% thanh thiếu niên có mức hạnh phúc tinh thần cao, 69,4% thanh thiếu niên có cảm nhận hạnh phúc tinh thần ở mức trung bình

và 16,9% thanh thiếu niên có cảm nhận hạnh phúc tinh thần ở mức thấp Kết quả cho thấy, thanh thiếu niên được nghiên cứu có mức độ hạnh phúc tinh thần tưong đối cao (bảng 2)

Bảng 2: Các mức độ hạnh phúc

Các mức độ hạnh phúc Cách tính điểm Mức điểm Tỷ lệ %

2 Binh thường (M - 1 SD; M + 1 SD) 2,74 <M <4,1 69,4

Trang 5

3.2 Anh hưởng của chất lượng cuộc sống vật chất tới hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên

3.2.1 Chất lượng cuộc sống vật chất

Chất lượng cuộc sống vật chất là đánh giá của thanh thiếu niên về sự hài lòng hay không hài lòng với các yếu tố từ sự đáp ứng của gia đình về vật chất như phương tiện đi lại, chăm sóc y tế, kinh tế Đánh giá của thanh thiếu niên về chất lượng cuộc sống vật chất của gia đình được thể hiện trong bảng 3

Bảng 3: Điêm trung bình đảnh giá của thanh thiếu niên về

chất lượng cuộc sổng vật chất trong gia đĩnh

Gia đình tôi/Các thành viên trong gia đình tôi M SD

1 có phương tiện để di chuyển đến những nơi cần đến 3,79 1,16 2 có bác sỹ chăm sóc răng miệng khi cần 3,19 1,25 3 được chăm sóc sức khỏe khi cần thiết 3,85 1,09 4 có thể trả các chi phí cần thiết 3,76 1,12 5 cảm thấy an toàn khi ở nhà, ở nơi làm việc, ở trường học và ờ ngoài đường 3,84 1,15

Trung bình chung 3,69 0,78

Từ kết quả bảng 3, nếu xét điểm trung bình chung bằng 3,69 cho thấy về cơ bản thanh thiếu niên hài lòng với chất lượng cuộc sống vật chất trong gia đình Tuy nhiên, nếu xét độ lệch chuẩn là 0,78 thì sẽ thấy có sự phân tán lớn giữa thanh thiếu niên không hài lòng và rất hài lòng về chất lượng cuộc sống vật chất trong gia đình Đây cũng là điểm cần lưu ý khi đánh giá về mức độ hài lòng về chất lượng cuộc sống vật chất trong gia đình của thanh thiếu niên

Trong các nội dung thể hiện đánh giá sự hài lòng của thanh thiếu niên về chất lượng cuộc sống vật chất thì nội dung “Gác thành viên trong gia đình tôi được chăm

sóc sức khỏe khi cân thief’’ và “Các thành viên trong gia đình tôi cảm thấy an toàn khỉ ở nhà, ở nơi làm việc, ở trường học và ở ngoài đường” có điểm trung bình cao

nhất (M = 3,85; SD = 1,09 và M = 3,84; SD = 1,15), còn “Cớc thành viên trong

gia đình tôi có bác sỹ chăm sóc răng miệng khỉ cần” có điểm trung bình thấp nhất

(M = 3,19; SD = 1,25) Như vậy, trong các yếu tố thuộc về chất lượng cuộc sống gia đình thì thanh thiếu niên cảm thấy hài lòng nhất là về yếu tố được chăm sóc sức khỏe và yếu tố an toàn trong gia đình Đây cũng chính là những yếu tố tạo nên chất lượng cuộc sống vật chất ở thanh thiếu niên

Trang 6

3.2.2 Anh hưởng của chất lượng cuộc sổng vật chất tới hạnh phúc tỉnh thần của thanh thiếu niên

Đe xem xét xem chất lượng cuộc sống vật chất có ảnh hưởng tới hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên hay không, tác giả đã đo mức độ tương quan giữa chất lượng cuộc sống vật chất và hạnh phúc tinh thần Hệ số tưcmg quan giữa chất lượng cuộc sống vật chất và hạnh phúc tinh thần là r = 0,43 (p < 0,01) Điều này cho thấy, đối với thanh thiếu niên, cuộc sống vật chất và tinh thần luôn đi liền với nhau Khi các nhu cầu vật chất được thỏa mãn thì cũng thỏa mãn nhu cầu về tinh thần Đây cũng là đặc điểm dễ hiểu của lứa tuổi mới lớn

Đổ phân tích khả năng dự báo của yếu tố chất lượng cuộc sống vật chất đến cảm nhận hạnh phúc của thanh thiếu niên, chúng tôi sử dụng hai mô hình hồi quy: hồi quy đơn biến và hồi quy đa biến Trong đó, biến độc lập là các yếu tố gia đình trong đó có yếu tố chất lượng cuộc sống vật chất và biến phụ thuộc là hạnh phúc tinh thần (bảng 4) Các số liệu trong bảng 4 dưới đây cần được phân tích với hai nội dung cơ bản là: thứ nhất, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố gia đình đến cảm nhận hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên; thứ hai, đối với mỗi chiều cạnh hạnh phúc tinh thần thì yếu tố nào thuộc về gia đình tác động mạnh nhất

Bảng 4: Dự báo mức độ ảnh hưởng của các yếu tố gia đĩnh đến cảm nhận hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên (phân tích hồi quy đơn biến)

Các yếu tố ảnh hưởng R2A SE p t p

Hành vi làm cha mẹ 0,137 0,05 0,37 10,32 <0,001

Gắn kết gia đình 0,133 0,05 0,37 10,12 < 0,001 Quyền tham gia 0,151 0,05 0,39 10,93 <0,001 KSTL của cha 0,031 0,07 -0,18 -4,68 < 0,001

MQH cha mẹ tích cực 0,040 0,06 0,20 5,32 <0,001 MQH cha mẹ tiêu cực -0,001 0,08 -0,02 -0,52 0,605

Ghi chú: CLCS: Chát lượng cuộc sông; KSTL: Kiêm soát tâm lý; MQH: Mối quan hệ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tất cả các yếu tố gia đình ảnh hưởng đến hạnh phúc tinh thần thì yếu tố chất lượng cuộc song vật chất dự báo 17,5% sự biến

Trang 7

thiên của hạnh phúc tinh thần Như vậy, vấn đề đặt ra là muốn nâng cao hạnh phúc chung cũng như hạnh phúc tinh thần cho thanh thiếu niên phải chú trọng vào việc đáp ứng nhu cầu vật chất (được chăm sóc sức khỏe, cảm thấy an toàn )

Nhằm đánh giá sự tác động đồng thời của các yếu tố gia đình tới cảm nhận hạnh phúc của thanh thiếu niên, chúng tôi sử dụng mô hình hồi quy đa biến với phương pháp Enter Tập hợp các biến số gia đình dự báo được 29,9%

sự biến thiên hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên Kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 5

Bảng 5: Dự báo của các yếu tổ gia đĩnh đen cảm nhận hạnh phúc tinh thần của

thanh thiếu niên (phân tích hồi quy đa biến)

Các biến số ảnh hưởng SE p t p VIF

1 Hành vi làm cha mẹ 0,07 0,06 1,29 0,199 1,91

3 CLCS vật chất 0,07 0,21 5,02 < 0,001 1,61

4 Gắn kết gia đình 0,07 0,08 1,71 0,089 2,07

8 MQH cha mẹ tích cực 0,06 0,03 0,63 0,531 1,56

9 MQH cha mẹ tiêu cực 0,08 0,08 1,96 0,051 1,31

R2A = 0,249; p< 0,001

Ghi chú: CLCS: Chất tượng cuộc sổng; KSTL: Kiểm soát tâm tý; MQH: Mối quan hệ.

SỐ liệu cho thấy trong các yếu tố độc lập trong mô hình hồi quy thì có ba yếu tố có khả năng dự báo đến hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên Đó là chất lượng cuộc sống cảm xúc, chất lượng cuộc sống vật chất và quyền tham gia Các yếu tố này dự báo 24,9% sự biến thiên của hạnh phúc tinh thần Trong ba yếu tố đó thì có các yếu tố dự báo có ý nghĩa thống kê cho hạnh phúc tinh thần thì yếu tố chất lượng cuộc sống vật chất có mức độ dự báo cao nhất (P = 0,214; p < 0,001), tiếp đó chất lượng cuộc sống cảm xúc (P = 0,154; p = 0,001), cuối cùng là quyền tham gia (P = 0,126; p = 0,010)

Trang 8

4 Bàn luận

Chất lượng cuộc sống vật chất ảnh hưởng không nhỏ tới hạnh phúc tinh thần của con người nói chung và thanh thiếu niên nói riêng Chất lượng cuộc sống vật chất không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân thanh thiếu niên mà còn ảnh hưởng đến kết quả học tập của cá nhân Sức khỏe thể chất và một lối sống tốt

có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe tinh thần của cá nhân Nghiên cứu của Ridner, Newton, Staten, Crawford, Hall (2016) cho thấy chất lượng giấc ngủ, hoạt động thể chất dự báo mạnh mẽ hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối tương quan mạnh mẽ giữa hạnh phúc tinh thần tốt và việc thường xuyên có một chế độ ăn uống lành mạnh đặc biệt là trái cây tươi; ngược lại chế độ

ăn uống không lành mạnh bao gồm nhiều chất béo bão hòa, carbohydrate tinh chế

và thực phấm chế biến sẵn thì tương quan với hạnh phúc tinh thần kém (Stranges, Samaraweera, Taggart, Kandala, Stewart-Brown, 2014; O’Neil, Quirk, Housden, Brennan, Williams, Pasco, 2014) Nghiên cứu của Choi, Chen, Stein, Klimentidis, Wang, Koenen, Smoller (2019); Kanning, Schlicht (2010); Salmon (2001) chỉ ra rang hoạt động the chat CÓ the cải thiện tâm trạng, giảm căng thẳng và lo lắng và giúp ngăn ngừa các vấn đề sức khỏe tâm thần Ngay cả những hoạt động thể dục ở cường độ thấp nhưng được thực hiện thường xuyên cũng có lợi cho sức khỏe tâm thần Những nghiên cứu trên một lần nữa khẳng định mối quan hệ giữa chất lượng đời sống vật chất với cảm nhận hạnh phúc của thanh thiếu niên

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ngay cả trong trường họp chịu sự chi phối bởi các yếu tố khác như kiểm soát tâm lý của cha mẹ, hành vi làm cha mẹ, gắn kết gia đình, mối quan hệ của cha mẹ thì chất lượng cuộc sống vật chất vẫn có thể ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến hạnh phúc tinh thần Đối chiếu kết quả nghiên cứu ở bảng 4 và bảng 5 cho thấy ngay cả khi xem xét chỉ riêng yếu tố chất lượng cuộc sống vật chất cũng như kết hợp với các yếu tố khác trong gia đình thì chất lượng cuộc sống vật chất vẫn có tác động mạnh nhất đến hạnh phúc tinh thần với

p = 0,42; p < 0,001 và p = 0,21; p < 0,001 Kết quả một lần nữa cho thấy mối tương quan cao giữa hạnh phúc tinh thần và chất lượng cuộc sống vật chất Các điều kiện vật chất như có phương tiện để di chuyển đến nơi cần thiết, được chăm sóc về y

tế, sức khỏe, được cảm thấy an toàn khi ở nhà, nơi làm việc, trường học, ngoài đường đều là những yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên Vậy đối với người trưởng thành thì việc đảm bảo những yếu tố này có ảnh hưởng đến hạnh phúc tinh thần của họ hay không? Điều này cần có thêm những nghiên cứu tiếp theo trong tương lai

5 Kết luận

Hạnh phúc tinh thần là một trong những chiều cạnh của cảm nhận hạnh phúc của thanh thiếu niên Có rất nhiều yếu tố trong gia đình ảnh hưởng đến cảm

Trang 9

nhận hạnh phúc của thanh thiếu niên nói chung và hạnh phúc tinh thần của thanh thiếu niên nói riêng Một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn tới hạnh phúc tinh thần của các em đó chính là yếu tố chất lượng cuộc sống vật chất Chất lượng cuộc sống vật chất ở đây không chỉ bao gồm việc thanh thiếu niên tham gia các hoạt động thê chất như một số nghiên cứu đã đưa ra mà còn được thể hiện ở việc các em hài lòng với các yếu tố vật chất từ gia đình như chi phí sinh hoạt, được chăm sóc sức khỏe, được cảm thấy an toàn trong không gian sinh hoạt của mình Nghiên cứu đã một lần nữa khẳng định yếu tố vật chất có ảnh hưởng tới cảm nhận hạnh phúc của thanh thiếu niên Chính vì vậy để nâng cao cảm nhận hạnh phúc của các em thì cha

mẹ, thầy cô cần quan tâm hơn tới vấn đề này

Tài liệu tham khảo

1 Choi K.W., Chen C.Y., Stein M.B., Klimentidis Y.C., Wang M.J., Koenen K.C., Smoller J.W (2019) Assessment of bidirectional relationships between physical activity and depression among adults: A 2-sample mendelian randomization study JAMA Psychiatry

Vol 76 (4) p 399 - 408.

2 Clarke A., Friede T., Putz R., Ashdown J., Martin s., Blake A., Adi Y, Parkinson J., Flynn p., Platt s., Brown s.s (2011) Warwick-Edinburgh mental well-being scale (WEMWBS): Validated for teenage school students in England and Scotland A mixed methods assessment BMC Public Health Vol 11 (487) p 1 - 9.

3 Davidson R.J (2004) Well-being and affective style: Neural substrates and biobehavioural correlates Philosophical Transactions of the Royal Society of London Series B: Biological Sciences Vol 359 (1449) p 1.395 - 1.411.

4 Diener E (1984) Subjective well-being Psychological Bulletin Vol 95 p 542 - 575.

5 Diener E., Emmons R.A., Larsen R.J and Griffin s (1985) The satisfaction with life

scale Journal of Personality Assessment Vol 49 p 71 - 75.

6 Diener E., Ng w., Harter J and Arora R (2010) Wealth and happiness across the

world: Material prosperity predicts life evaluation, whereas psychosocial prosperity predicts positive feeling Journal of Personality and Social Psychology Vol 99 (1)

p 52-61.

7 Diener E., Oishi s and Lucas R.E (2009) Subjective well-being: The science

of happiness and life satisfaction In S.J Lopez and C.R Snyder (eds.) Oxford

library of psychology, Oxford handbook of positive psychology, p 187 - 194 Oxford University Press.

8 Diener E., Suh E (2000) Culture and subjective well-being A Bradford Book.

9 Hitokoto H and Uchida Y (2015) Interdependent happiness: Theoretical importance and measurement validity Journal of Happiness Studies Vol 16 p 211 - 239.

Trang 10

10 Hoffman L., Marquis J., Poston D., Summers J.A and Turnbull A (2006) Assessing family outcomes: Psychometric evaluation of the Beach Center Family Quality of Life Scale Journal of Marriage and Family Vol 68 (4) p 1.069 - 1.083.

11 Kanning M., Schlicht w (2010) Be active and become happy: An ecological momentary assessment of physical activity and mood J Sport Exerc Psychol Vol 32 (2)

p 253 -261.

12 Keyes C.L.M and Shapiro A.D (2004) Social well-being in the United States:

A descriptive epidemiology In O.G Brim, C.D Ryff and R.c Kessler (eds.) How

healthy are we? A national study of well-being at midlife, p 350 - 372 The University

of Chicago Press.

13 National Statistics: The Scottish Health Survey (2008) ISBN 978 0 7559 8107 6 [ http://www.scotland.gov.Uk/Publications/2009/09/28102003/0 ] Accessed 16/01/11.

14 O’Neil A., Quirk S.E., Housden s., Brennan S.L., Williams L.J., Pasco J.A., et.al (2014) Relationship between diet and mental health in children and adolescents:

A systematic review American Journal of Public Health American Public Health

Association Inc Vol 104 p e31 - 42.

15 Poston D., Turnbull A., Park J., Mannan H., Marquis J and Wang M (2003) Family

quality of life: A qualitative inquiry Mental Retardation Vol 41 (5) p 313 -328.

16 Ridner S.L., Newton K.S., Staten R.R., Crawford T.N., Hall L.A (2016) Predictors

of well-being among college students J Am Coll Heal Vol 64 (2) p 116 - 124.

17 Ryan R.M, Deci E.L (2001 a) On happiness and human potentials: A review of research

on hedonic and eudaimonic well-being Annual Review of Psychology Vol 52 (1)

p 141 - 166.

18 Ryan R.M., Deci E.L and Grolnick w.s (1995) Autonomy, relatedness, and the self: Their relation to development and psychopathology In D Cicchetti and D.J Cohen (eds.) Wiley series on personality processes Developmental Psychopathology Vol 1

Theory and Methods, p 618 - 655 John Wiley & Sons.

19 Ryan R.M and Deci E.L (2001b) To be happy or to be self-fulfilled: A review of research on hedonic and eudemonic weel-being In s Fiske (ed.) Annual Review of Psychological Vol 52 p 141 - 166 Palo Annual Reviews Ice.

20 Salmon p (2001) Effects of physical exercise on anxiety, depression, and sensitivity

to stress: A unifying theory Clin Psychol Rev Vol 21 (1) p 33 - 61.

21 Stewart-Brown s (2005) Promoting health in children and young people: identifying priorities Journal of the Royal Society for the Promotion of Health Vol 125 (2) p 61 - 61.

22 Stranges s., Samaraweera P.C., Taggart F., Kandala N.B., Stewart-Brown s (2014)

Major health-related behaviours and mental well-being in the general population: The health survey for England BMJ Open Vol 4 (9).

Ngày đăng: 01/11/2022, 15:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Choi K.W., Chen C.Y., Stein M.B., Klimentidis Y.C., Wang M.J., Koenen K.C., Smoller J.W. (2019). Assessment of bidirectional relationships between physical activity and depression among adults: A 2-sample mendelian randomization study. JAMA Psychiatry.Vol. 76 (4). p. 399 - 408 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment" of" bidirectional" relationships between" physical" activity "and"depression" among adults: "A"2-sample" mendelian randomization study
Tác giả: Choi K.W., Chen C.Y., Stein M.B., Klimentidis Y.C., Wang M.J., Koenen K.C., Smoller J.W
Năm: 2019
2. Clarke A., Friede T., Putz R., Ashdown J., Martin s., Blake A., Adi Y, Parkinson J., Flynn p., Platt s., Brown s.s. (2011). Warwick-Edinburgh mental well-being scale (WEMWBS): Validated for teenage school students in England and Scotland. A mixed methods assessment. BMC Public Health. Vol. 11 (487). p. 1 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Warwick-Edinburgh "mentalwell-being scale (WEMWBS): Validated for "teenage school "students "in "England" and Scotland. "A" mixed"methodsassessment
Tác giả: Clarke A., Friede T., Putz R., Ashdown J., Martin s., Blake A., Adi Y, Parkinson J., Flynn p., Platt s., Brown s.s
Năm: 2011
3. Davidson R.J. (2004). Well-being and affective style: Neural substrates and biobehavioural correlates. Philosophical Transactions of the Royal Society of London.Series B: Biological Sciences. Vol. 359 (1449). p. 1.395 - 1.411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Well-being" and "affective" style: Neural substrates and"biobehavioural" correlates
Tác giả: Davidson R.J
Năm: 2004
5. Diener E., Emmons R.A., Larsen R.J. and Griffin s. (1985). The satisfaction with life scale. Journal of Personality Assessment. Vol. 49. p. 71 - 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The satisfaction with life"scale
Tác giả: Diener E., Emmons R.A., Larsen R.J. and Griffin s
Năm: 1985
6. Diener E., Ng. w., Harter J. and Arora R. (2010). Wealth and happiness across the world: Material prosperity predicts life evaluation, whereas psychosocial prosperity predicts positive feeling. Journal of Personality and Social Psychology. Vol. 99 (1).p. 52-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wealth and "happiness across" the"world:" Material" prosperity" predicts "life evaluation, "whereas psychosocial" prosperity"predicts" positive feeling
Tác giả: Diener E., Ng. w., Harter J. and Arora R
Năm: 2010
7. Diener E., Oishi s. and Lucas R.E. (2009). Subjective well-being: The science of happiness and life satisfaction. In S.J. Lopez and C.R. Snyder (eds.). Oxford library of psychology, Oxford handbook of positive psychology, p. 187 - 194. Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Subjective well-being: The" science"of "happiness" and "life satisfaction
Tác giả: Diener E., Oishi s. and Lucas R.E
Năm: 2009
9. Hitokoto H. and Uchida Y. (2015). Interdependent happiness: Theoretical importance and measurement validity. Journal of Happiness Studies. Vol. 16. p. 211 - 239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interdependent"happiness: Theoretical importance"and" measurementvalidity
Tác giả: Hitokoto H. and Uchida Y
Năm: 2015
10. Hoffman L., Marquis J., Poston D., Summers J.A. and Turnbull A. (2006). Assessing family outcomes: Psychometric evaluation of the Beach Center Family Quality of LifeScale. Journal of Marriage and Family. Vol. 68 (4). p. 1.069 - 1.083 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing family "outcomes: Psychometric "evaluation of "the Beach "Center "Family "Quality of "Life"Scale
Tác giả: Hoffman L., Marquis J., Poston D., Summers J.A. and Turnbull A
Năm: 2006
11. Kanning M., Schlicht w. (2010). Be active and become happy: An ecological momentary assessment of physical activity and mood. J. Sport Exerc Psychol. Vol. 32 (2).p. 253 -261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Be active and "become" happy:" An" ecological"momentary"assessment of"physical"activity"and" mood
Tác giả: Kanning M., Schlicht w
Năm: 2010
12. Keyes C.L.M. and Shapiro A.D. (2004). Social well-being in the United States:A descriptive epidemiology. In O.G. Brim, C.D. Ryff and R.c. Kessler (eds.). How healthy are we?. A national study of well-being at midlife, p. 350 - 372. The University of Chicago Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social well-being "in "the United States:"A" descriptive epidemiology
Tác giả: Keyes C.L.M. and Shapiro A.D
Năm: 2004
13. National Statistics: The Scottish Health Survey (2008). ISBN 978 0 7559 8107 6.[ http://www.scotland.gov.Uk/Publications/2009/09/28102003/0 ]. Accessed 16/01/11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: National "Statistics: The" Scottish Health "Survey (2008)
Tác giả: National Statistics: The Scottish Health Survey
Năm: 2008
15. Poston D., Turnbull A., Park J., Mannan H., Marquis J. and Wang M. (2003). Family quality of life: A qualitative inquiry. Mental Retardation. Vol. 41 (5). p. 313 -328 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Family"quality"of"life:"A qualitative"inquiry
Tác giả: Poston D., Turnbull A., Park J., Mannan H., Marquis J. and Wang M
Năm: 2003
16. Ridner S.L., Newton K.S., Staten R.R., Crawford T.N., Hall L.A. (2016). Predictors of well-being among college students. J. Am Coll Heal. Vol. 64 (2). p. 116 - 124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predictors"of" well-being"among"college"students
Tác giả: Ridner S.L., Newton K.S., Staten R.R., Crawford T.N., Hall L.A
Năm: 2016
17. Ryan R.M, Deci E.L. (2001 a). On happiness and human potentials: A review of research on hedonic and eudaimonic well-being. Annual Review of Psychology. Vol. 52 (1).p. 141 - 166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On"happiness"and" humanpotentials:" A"review"of"research on "hedonic" and "eudaimonic" well-being
18. Ryan R.M., Deci E.L. and Grolnick w.s. (1995). Autonomy, relatedness, and the self: Their relation to development and psychopathology. In D. Cicchetti and D.J. Cohen (eds.). Wiley series on personality processes. Developmental Psychopathology. Vol. 1.Theory and Methods, p. 618 - 655. John Wiley &amp; Sons Sách, tạp chí
Tiêu đề: Autonomy," relatedness, "and" the"self: Their"relation" to" development"and"psychopathology." In D. Cicchetti andD.J. Cohen (eds.). "Wiley series "on personality processes
Tác giả: Ryan R.M., Deci E.L. and Grolnick w.s
Năm: 1995
19. Ryan R.M. and Deci E.L. (2001b). To be happy or to be self-fulfilled: A review of research on hedonic and eudemonic weel-being. In s. Fiske (ed.). Annual Review of Psychological. Vol. 52. p. 141 - 166. Palo Annual Reviews. Ice Sách, tạp chí
Tiêu đề: To" be happy "or to" be self-fulfilled: A review "of research on" hedonic and eudemonic weel-being
20. Salmon p. (2001). Effects of physical exercise on anxiety, depression, and sensitivity to stress: A unifying theory. Clin Psychol Rev. Vol. 21 (1). p. 33 - 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of"physical "exercise" on anxiety," depression, "and "sensitivity"to stress: "A "unifying "theory
Tác giả: Salmon p
Năm: 2001
21. Stewart-Brown s. (2005). Promoting health in children and young people: identifying priorities. Journal of the Royal Society for the Promotion of Health. Vol. 125 (2). p. 61 - 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Promoting" health" in "children" and" young "people: identifying"priorities
Tác giả: Stewart-Brown s
Năm: 2005
22. Stranges s., Samaraweera P.C., Taggart F., Kandala N.B., Stewart-Brown s. (2014). Major health-related behaviours and mental well-being in the general population: The health survey for England. BMJ Open. Vol. 4 (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Majorhealth-related" behaviours" and mental" well-being "in" the general" population: The health survey for "England
Tác giả: Stranges s., Samaraweera P.C., Taggart F., Kandala N.B., Stewart-Brown s
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w