Kết quả cho thấy, các nguồn thu nhập từ tiền lương, hoạt động phi nông nghiệp và từ cho thuê nhà và đất là các nguồn có đóng góp lớn và có tác động làm tăng hệ sô' Gini khi xét trên cả
Trang 1'a Bự báo
Phân tích thực trạng bât bình đăng
trong phân phối thu nhập ở Việt Nam
bằng phương pháp phân rã Gini
theo nguồn thu nhập
Hồ THỊ HOA"
NGUYỄN minhtiến* "
ĐỖ HỒNG ANH ****
*TS., **, ***, **", Khoa Kinh tế - Học viện Ngân hàng
Ngày nhận bài: 1/6/2022; Ngày phản biện: 22/6/2022; Ngày duyệt đăng: 03/7/2022
Tóm tắt
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân rã Gini theo nguồn thu nhập để phân tích đóng góp và
tác động của mỗi nguồn thu nhập lên bất bình đẳng (BBĐ) thu nhập ở Việt Nam Kết quả cho
thấy, các nguồn thu nhập từ tiền lương, hoạt động phi nông nghiệp và từ cho thuê nhà và đất là
các nguồn có đóng góp lớn và có tác động làm tăng hệ sô' Gini khi xét trên cả nước, theo khu
vực và ở cả hai nhóm hộ phân theo giới tính chủ hộ Trong khi đó, các nguồn thu nhập từ hoạt
động nông - lâm - ngư nghiệp và nguồn khác tăng lên sẽ làm giảm hệ sô Gỉni Các kết quả có
được hàm ý rằng, quá trĩnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần chú ý đến tác động thay đổi cơ cấu
thu nhập của người dân và vấn đề BBĐ thu nhập.
Từ khóa: bất bĩnh đẳng, phân phối thu nhập, Việt Nam, phương pháp phân rã GNI, nguồn
thu nhập
Summary
This study uses the decomposition ofGini index by income source to analyze the contribution and
impact of each source on income inequality in Vietnam The results show that income sources
from wages, non-agricultural activities, house and land rental are the major contributors to
the increase in Gini coefficient by whole country, by region and by gender of the household
head However, the increase in income from agriculture - forestry - fishery and other sources
will reduce the Gini coefficient The obtained findings imply that economic restructuring
process should pay attention to people’s income structure and income inequality.
Keywords:inequality, income distribution, Vietnam, decomposition ofGini index, income source
GIỚI THIỆU
Vân đề BBĐ thu nhập đang diễn ra
vàtác động trực tiếp tới tăng trưởngkinh
tế, tính ổn định chính trị của bất kỳquốc
gia nào trên thế giới Chúng ta thường
nhìn nhận vấn đề BBĐ thu nhập ở các
quốc giathông qua chỉ tiêu là hệsố Gini
Tuy nhiên, nhìn vào chỉ tiêu này chưa
đủ để hiểurõ các nhân tốđóng góp vào
Ginichung,đặc biệt làđóng góp của các
nguồn thu nhập câu thành nên tổng thu
nhập Chính vì vậy, cần bóc tách được
mức độ đóng góp cũng như ảnh hưởng
củacác nguồn thu nhập đến hệ sốGini
-một thước đophổ biến đểđo lường BBĐ
thu nhập Việcphân rã các thành phần đóng góp vào Gini sẽ giúpchúngta hiểu được mức độ ảnhhưởngcủa các nguon này, tạo cơ sở để có những can thiệp hợplý với mụctiêu đảm bảo công bằng xã hội.Cách tiếpcận phân rã Gini theonguồnthunhậpcó thể còn có ý nghĩa hơn khi mà các biến động do dịch bệnh, môi trường, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng mạnh đến thu nhập và
cơ câu các nguồn thu nhập của người dân (Bài viết sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).
Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP
Cơ sở lý thuyết
Hầu hết các nghiên cứu đều quan tâm đến vai trò của nguồn thu nhập từ tiền lương, thu nhập từ hoạt
Trang 2động nông nghiệp vàphi nông nghiệp trong BBĐ thu
nhập chung Xu và cộng sự (2018) cho thây, thu nhập
từtiền lương và thu nhập phi nông nghiệp chiếm ưu
thế trongviệc gia tăngkhoảng cách thu nhập giữa các
vùng nông thôn khu vực Tây Nam Trung Quốc
Rani và cộng sự (2016) cho thấy, thu nhập từ lao
động (tiền lương) là yếu tốmạnh mẽ nhất góp phần
vào BBĐ ở 13 quốc gia G20 được phân tích Chuyển
nhượngvà lợi íchlànhững yếu tố quan trọng nhấtgóp
phầnvào giảm BBĐ, nhưng chỉ những điều nàykhông
thể giảiquyết vânđề gia tăng BBĐởcác quốcgia nơi
tỷ lệ thát nghiệp tiếp tụcở mứccao, đòi hỏi phải có sự
can thiệp củathịtrường lao động
Tại Việt Nam, đã có mộtsố nghiên cứu về chủ đề
này, tuy nhiên mỗi nghiên cứulại có một góc nhìn khác
nhau về nguồn thu nhập Điển hình là: NguyenvàTran
(2020) nghiên cứu về vai trò của các nguồn thu nhập
cho hai nhóm dân số là người Kinh/Hoa và cộng đồng
dân tộc thiểu số Nghiên cứu này cho thấy, Tiền lương
và Thu nhập từkinh doanh phi nông nghiệp là hai yếu
tố quyết định chính củaBBĐthu nhập Thu nhập phụtừ
trồngtrọt và nông nghiệp được phân bổtương đốiđồng
đều, mặcdù tác động của chúng nhỏ hơn Cả hai nhóm
dân số phụ đều có tỷ lệ đóng góptừ khu vựcnông nghiệp
vào thu nhậpchungcủa hộ gia đìnhngày càng giảm
Quatổng quan cóthể thấy rằng, có khá nhiều nghiên
cứu về chủ đềphân rã BBĐ theo nguồnthu nhập ở các
nước trên thế giới và ở Việt Nam Khác với các nghiên
cứuđãcó, nghiên cứu này chia thu nhập thành 5 nguồn:
(1) Thu nhập từtiền lương; (2) Thu nhập từ hoạt động
nông - lâm -ngư nghiệp; (3) Thu nhập từhoạt động phi
nông nghiệp; (4) Thu nhập từ cho thuê nhà và đất; (5)
Nguồn khác (bao gồm các thu nhập còn lại) Cách chia
này phùhợp các câu hỏi trongbảnghỏi của Điều tra mức
sống hộgia đình ở Việt Nam (VHLSS),từ đótránh việc
tính trùng haycácsai sót kháckhixử lý dữ liệu.Trongbối
cảnh việc chuyển đổi mục đích sửdụng đất diễn ra phổ
biến ở ViệtNam, nghiên cứu này táchthu nhập từ cho
thuê nhà và đất thành mộtnguồn thu nhập riêng, nhằm
phản ánh phan nàođóng góp của thu nhậplừ lài sản.Bẽn
cạnh đó,ngoài việcphân nhóm sosánh giữa cácvùngvà
khu vực địa lý, nghiêncứucố gắngtìmhiểu sosánhđóng
góp của các nguồn thu nhập vào BBĐ thu nhập chung
giữa hai nhóm hộ dựa trên giớitính của chủ hộ để phân
tíchphầnnàoảnhhưởngcủa giới tính đến BBĐ thu nhập
Dữ liệu và phương pháp
Dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu Điều tra mức sông hộ
gia đình ở Việt Nam năm 2018 (VHLSS 2018), mẫu
khảo sát thunhập - chitiêugồm 9,399 hộgia đìnhsông
trên63 tỉnh, thành phô ỡViệtNam
Thu nhập củahộ được tính toán bằng doanhthu trừ
đi các chi phí để có đượcthu nhậpđó Bên cạnh đó, tất
cảcáckhoản thu nhậpđềubao gồm các nguồn tiền mặt
và hiện vật Vớigiả định cácthànhviêntrong hộ sẽcó
mức phúc lợi ngang nhau từtổng thu nhập của hộ gia
đình,thu nhập bìnhquân đầu người của hộ sẽ được tính
toán và sử dụng trong phânrã Gini
Phương pháp nghiên cứu
Đểphân rã Gini theo nguồn thu nhập, nghiên cứu này áp dụng phương pháp phân rã Gini do Lerman và Yitzhaki (1985)đề xuất
Với yr y,, , yk là các nguồn đóng góp vào tổng thũ nhập y:
L / ‘ỉ?!
Hệ số Gini G có thể được tínhnhư sau:
Với lần lượtlà phân phôi tích lũy của tổng thu nhập và thu nhập từ nguồn k; lần lượtlà trung bình của tổng thu nhập
vàthu nhập từ nguồn k
Công thức (1) cóthể viếtlại thành:
Trong đó:
Sklà tỷ trọng của nguồn thu nhập k trong tổngthu nhập y
Gk là Gini của nguồn thu nhập k và cho biết mỗi nguồnthunhập k được phân phối như thế nào
Rk là tỷ suất tươngquan thứhạngcủa nguồn thu nhập k, đây là thước đo môi tương quan giữa nguồn thu nhập k và phân phôi tíchlũy của tổng thunhậpy Kết quả phân tách cho phéptính toán thêmmột số’ chỉ tiêu sau:
+ Tỷ trọng đóng góp của nguồn thu nhập k vào hệ số Gini chung (G) là:
,7 SGR'
IV k k k
k G'
+ Thay đổi 1% trong nguồn thu nhập
sẽ dẫn tới mức thayđổi % của BBĐ (hay
hệ số cogiãn củaGinitheo thu nhậpcủa nguồn k):
G G, k k k
Xử lý dữ liệu va phân rã Gini được thựchiện bởi phầnmềmStata 15
KẾT QUẢ NGHIÊN cứu
Phân tách BBĐ theo thu nhập trên
cả nước
Từ Bảng 1 có thể thây, hệ sô' Gini chung của cả nước là 0.4152 Đô'i với từng nguồn thu nhập, tiềnlương có mức
độ phân phôi bình đẳng nhất trong các nguồn (Gk = 0.64 và thấphơn cácnguồn thu nhập còn lại).Trongkhiđó, thu nhập
từhoạt động phi nông nghiệp và từ cho thuê nhà và đất có mức độ phân phối BBĐ nhất (Gk lần lượt là 0.84 và 0.98)
Trang 3>a Dự háo
vềtỷtrọngđónggóp vào Gini,nguồn
thu nhập từtiền lương có mức độ đóng
góp vào BBĐchung cao nhất (56.25%),
tiếp đến là thu nhập từ hoạt động phi
nông nghiệp (30.36%) Như vậy riêng hai
nguồn này đã đóng góp tớigần 87% vào
Gini, trongkhi 3 nguồn còn lại chỉ đóng
góp 13% Điều này có thể giải thích được
khi đây là hai nguồn thu nhậpchiếm tỷ
trọng cao nhất trong tổng thu nhập, kết
hợp với sự phân phôi của từng nguồnkhá
cao,nguồn thu nhậptừ cáchoạt động phi
nông nghiệp có mức độ phân phôi BBĐ
cao thứ hai trong các nguồn (Gk=0.84)
Thu nhập từ cho thuê nhà và đất đóng
góp thấp nhất vào BBĐ chung (1.4%),
tiếp đến là thu nhập từ các nguồn khác
vàtừ hoạt độngnông -lâm - ngư nghiệp
(lần lượt là 5.91% và 6.09%)
Cột (5)của Bảng 1 phảnánh sự thay
đổi củaGini chung khicó sựthay đổi của
1% thu nhậptừcác nguồn Sự giatăng của
thu nhập từ hoạt động nông - lâm - ngư
nghiệp và từcác nguồnkhác có tác động
làm giảm BBĐ chung, trong đó ảnh hưởng
của thu nhập từ hoạt động nông - lâm
-ngư nghiệp lớn hơn Cụ thể, nếu thunhập
từ hoạt động nông - lâm -ngư nghiệp tăng
10%, thì Gini chung giảm xấp xỉ 1.1%;
nếu thu nhập từ các nguồn khác (lưu ý
rằng, trong đó, trợ câpcủa Chính phủ và
tiền gửi từ di cư làhai nguồn chính) tăng
10%, Gini chung giảm0.3% (thu nhập từ
các nguồn còn lại không thayđổi)
Phân tách BBĐ thu nhập theo khu
vực nông thành thị - nông thôn
Kết quả ở Bảng 2 cho thấy, Gini
chung ở khu vực nông thôn (0.404) cao
hơn so với khu vực thành thị (0.387) Nói
cách khác, phân phôithu nhậpở khu vực
nôngthônBBĐ hơnkhu vựcthànhthị
về đóng góp của các nguồn thu nhập
vào Gini, thu nhập từ tiền lương và hoạt
động phi nông nghiệp là hai nguồn có
đóng góp nhiều nhất vào Gini ỡ cả khu vực
nông thônvàthành thị (cả2 nguồn nàylần
lượt đóng góp 79.2% và90.3% vào Gini ở
2 khu vực) Với vai trò là nguồn thu nhập
quantrọng thứ hai(Sk= 25.69%), thu nhập
từnông - lâm - ngư nghiệp đóng góp tới
15.25% vào Gini ở khu vực nông thôn
Trong khi đó, nguồn thu nhập nàychỉ đóng
góp 4.2%vào tổng thu nhập và 0.82% vào
Gini ở khu vực thành thị
Phân tách BBĐ thu nhập theo vùng
kinh tế - xã hội
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy, nhìn
chung, sựgia tăng trong thu nhập từ hoạt
BẢNG 1: PHÂN TÁCH BBĐ THG NHẬP THEO NGGồN THG NHẬP
TRÊN CẢ NƯỚC, 2018
Nguồn thu nhập
Tỷ trọng trong tổng thu nhập (SJ
Gini (Gk)
Tương quan với phân phối của tổng thu nhập (R„)
Tỷ trọng đóng góp vào Gini (WJ
Hệ sô"
co giãn (£)
Nông - lâm - ngư nghiệp 0.1704 0.7164 0.207 0.0609 -0.1096
Phi nông nghiệp 0.2275 0.8362 0.6627 0.3036 0.0761
Nhà và đâ't 0.0094 0.9797 0.6319 0.014 0.0046
Khác 0.0893 0.7714 0.356 0.0591 -0.0302
BẢNG 2: KẾT QGẢ PHÂN TÁCH GINI THEO NGGồN THG NHẬP
ở KHG Vực THÀNH THỊ VÀ NÔNG THÔN
Nguồn thu nhập s, Gk K w, E Sk Gk Rk WK E
Tiền lương 0.573 0.582 0.707 0.61 0.036 0.456 0.646 0.691 0.505 0.049
Nông - lâm - ngư nghiệp 0.042 0.905 0.083 0.008 -0.034 0.256 0.635 0.377 0.152 -0.104 Phi nông nghiệp 0.274 0.768 0.538 0.293 0.019 0.196 0.861 0.687 0.287 0.091
Nhà và đất 0.013 0.973 0.649 0.022 0.008 0.006 0.977 0.504 0.008 0.001
Khác 0.096 0.743 0.356 0.066 -0.030 0084 0.775 0.291 0.047 -0.037
BẢNG 3: HỆ số co GIÃN CGA GINI THEO NGGồN THG NHẬP
ở 6 VGNG KINH TẼ' - XÃ HỘI NĂM 2018
Nguồn thu nhập
Đồng bằng sông Hồng
Trung du
và miền núi phía Bắc
Bắc Trung
Bộ và Duyên hải miền Trung
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Tiền lương 0.041 0.1044 0.0442 -0.0052 0.0609 0.0102
Nông-lâm-ngư nghiệp -0.0639 -0.1966 -0 1157 -0.1009 -0.0681 -0.0664
Phi nông nghiệp 0.0808 0.098 0.1159 0.118 0.0215 0.0703
Nhà và đất 0.0035 0.0048 0.0013 0.0033 0.0076 0.008
Khác -0.0615 -0.0105 -0.0456 -0.0153 -0.0219 -0.0221
Nguồn: Ơổc lượng của nhóm tác giả từ dữ liệu VHLSS 2018
độngnông - lâm - ngư nghiệp vàthu nhập khác có tác động làmgiảmGini ở cả 6 vùng kinh tế - xã hội trên cả nước Trong hai nguồn này, hệ số co giãn ở nguồn thu nhập từ nông- lâm - ngư nghiệp cao hơn so với nguồn thu nhậpkhác Bên cạnh đó, tác động này cao nhất ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ
và duyên hảimiền Trung, tháp nhấtở Đồng bằng sông Hồngvà Đồng bằngsông cửu Long Đối vớinguồn thu nhập khác, ở cả6 vùngkinh tế -xã hội đều có hệ sốco giãn âm Tuy nhiên, tác động nàyở vùng Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên nhỏ nhất Ba nguồn thunhập còn lại,bao gồm: tiền lương, thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp và từ cho thuê nhà và đất nhìn chung có hệ số" co giãn dương Nói cách khác, sựgia tăng thu nhậptừ các nguồn này làm giảmBBĐ
Nguồnthu nhập từ hoạt động phi nông nghiệpcó hệ
số cogiãn dương ở cả 6 vùng kinhtế - xã hội, trong đó cao nhất ở vùng Trung du vàmiền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải miềnTrung Bên cạnh đó, sự gia tăng trong nguồn thu nhậptừ cho thuê nhà và đất
Trang 4CÙA NHÓM HỘ GIA ĐÌNH PHÂN THEO GIỚI TÍNH CHỦ HỘ NĂM 2018
Hộ có chủ hộ là nam Hô có chủ hô là nữ Nguồn thu nhập _X--X- R, wh E s„ G, R, w„ e
Tiền lương 0.496 0.631 0.707 0.546 0.050 0.526 0.668 0.766 0.605 0.079
Nông-lâm-ngư
nghiệp 0.193 0.689 0.219 0.072 -0.121 0.105 0.795 0.157 0.029 -0.076
Phi nông nghiệp 0.225 0.838 0.669 0.311 0.086 0.235 0.830 0.647 0.284 0.049
Nhà và đâ't 0.008 0.982 0.633 0.012 0.004 0.013 0.973 0.631 0.018 0.005
Khác 0.079 0.781 0.386 0.058 -0.020 0.121 0.736 0.314 0.063 -0.058
Nguồn: ước lượng cùa nhóm tác già từ dữ liệu VHLSS 2018.
mặc dù làm tăng Gini khá thấp, nhưngxảy ra ở tất cả các vùng, cao nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ
Phân tách BBĐ thu nhập theo giới tính chủ hộ
Có thể thấy BBĐthu nhập ở nhóm hộ có chủ hộ là
nữcao hơn so với nhóm hộcó chủ hộ là nam (Ginihai nhóm lần lượt là 0.44 và 0.4) Mặc dù vẫn có sự phân hóa rõ giữa hai nhómnguồn thu nhậpcó xuhướng làm tăng Gini (gồm tiền lương, thu nhập từhoạt động phi nông nghiệp,thunhập từ nhàđất)và làm giảm Gini (thu nhập từ nông - lâm - ngư nghiệp, thu nhập khác), nhưng mức độ đóng góp khác nhau giữa hainhóm hộ (Bảng 4)
Đối với các nguồn thu nhập có xu hướng làm tăng Gini(hệ số co giãndương), tiền lương cóhệsố co giãn cao nhất ở nhómhộ có chủ hộ là nữ(xấp xỉ 0.08).Lý
do là ở nhómhộnày thu nhập từ lương chiếm tỷ trọng lớn nhất (52.6%)vàcó xu hướngdànhcho người giàu (Rk cao nhát, 0.76) Trong khi đó, các nguồn thu nhập
từ phi nôngnghiệp và nhà đấtthấp hơn ở nhómhộ gia đình có chủ hộ là nam,hệ số'co giãn từ nguồnthu nhập phi nông nghiệp cao nhất (0.086) Kết quả phân tách cũng cho thây, các hộ có chủ hộlà nam đang có sựđa dạnghóa nguồn thu nhập ngoàilươngtốt hơn (tỷ trọng
từ hoạtđộng phinôngnghiệp và nông- lâm - ngưkhá cao) Điều này có thể cho thây phần nào lợi thế của các hộ có chủ hộ lànam so với các hộ có chủ hộ là nữ
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
Từ kết phân tích BBĐ thu nhập ở Việt Nam bằng phương pháp phân rã Gini theo nguồn thu nhậpvà dữ
liệu VHLSS 2018, nghiên cứurútra một
số kết luận sau:
Nhìn chung ba nguồn thu nhập làtiền lương, thu nhập từ phi nông nghiệp và cho thuê nhà và đất là các nguồn nếu tănglênsẽlàmtăng Gini (ngoạitrừ ở khu vựcTây Nguyên, tiền lươngtăng lênlàm giảm Gini); trong khi đó thu nhập từhoạt động nông - lâm - ngư nghiệpvà nguồn khác lạicótác động làmgiảm BBĐ
về nguồn có ảnh hưởng mạnh nhất đến BBĐ thu nhập: Tiềnlương là nguồn
có đóng góp caovào BBĐ khi xétchung chocả nước hay phân theo khu vực nông thôn -thành vị và trên 6 vùng kinhtế -xã hội Như vậy, độ lớncủa Ginihay mức độ BBĐ ở Việt Nam trong năm 2018 chủ yếu
do phân phốitrong thu nhậptừ tiềnlương (hay thu nhập từ lao động) quyết định Trong khiđó, thu nhập từ hoạt động nông
- lâm - ngư nghiệp là nguồn có tác động làm giảm Gini caonhất Kết quả này hàm
ý quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần đảmbảo cảithiệnnguồn thu nhập từ nông - lâm -ngưnghiệp cần quan tâm đến chính sách tiền lương cho người lao động Xét về chỉ sốGini theo khu vực: khu vực nông thôncó hệ sốGini cao hơn mức chung của cả nước và khu vực thành thị (lần lượt là 0.4532; 0.415; và 0.3914) Như vậy, mặc dùcó thu nhập bình quân đầu người thấp hơn, tỷ lệ nghèo cao hơn, nhưng khu vực nông thôn lại đang
có BBĐ diễn ra cao hơn khu vực thành thị Nhìn chung,đóng gópcủa các nguồn vàoBBĐgiữahộ cóchủ hộ lànam vànữ không chênh lệch nhiều Điều nàyphần nào phản ánh những tiến bộ trong đảm bảo bình đẳng trong phân phôi thu nhập
có liên quan đến giới tính ở Việt Nam Tuy nhiên, kết quả phân tách được vẫn cho thấyphầnnàolợi thế của các hộ gia đình cóchủ hộ là nam.u
1 Lerman, R L, Yitzhaki, s (1985) Income inequalityeffects by incomesource:A new approach and applications to the United States, The review of economics and statistics, 67(1), 151-156
2 Nguyen, H., Doan, T., Tran, T Q (2020) The effect of various income sources on income inequality: a comparison across ethnic groups in Vietnam, Environment, Development and Sustainability, 22(2), 813-834
3 Rani, u., Furrer, M (2016). Decomposing income inequality into factor income components: Evidence from selected G20 countries (No 994930893002676), International Labour Organization
4 Solt, Frederick (2020) Measuring Income Inequality Across Countries and Over Time: The Standardized World Income Inequality Database,Social Science Quarterly, doi: 10.1111/ssqu 12795
5 Xu, Y., Qiu, X., Yang, X., Chen, G (2018) Factordecomposition of the changes in the rural regional income inequality in southwestern mountainous areaof China, Sustainability, 10(9)