“ Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành tác động các hoạt động phát triến trong
Trang 1Luận văn
Đề xuất 1 số giải pháp quản
lý môi trường tại các xã
nghèo tại Hà Nội ( Hà Tây cũ)
Trang 2MỞ ĐẦU
I.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Tăng cường năng lực sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo
vệ môi trường nhằm giảm nghèo là thách thức lớn đối với hầu hết các nước kém phát triển trong đó có Việt Nam Quản lý môi trường tốt, sử dụng hợp lý tài nguyên đóng vai trò quan trọng đối với giảm nghèo đói, tăng trưởng bền vững và đạt được các mục tiêu của Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam Sự nghiệp bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội và
là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và nhà nước để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Trong những năm qua, công tác bảo vệ môi trường (BVMT) ở các xã nghèo đã có những chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả nhất định Nhận thức về bảo vệ môi trường trong xã hội, các tổ chức, cá nhân được nâng lên một bước Các ngành, các cấp đã quan tâm nhiều hơn tới công tác bảo vệ môi trường và đói nghèo Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa chưa theo kịp tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá Trong đó, nguyên nhân chính là nhận thức bảo vệ môi trường trong
xã hội, của người dân chưa đầy đủ, ý thức chấp hành pháp luật về môi trường của nhiều tổ chức, cá nhân còn yếu Đặc biệt là người dân nghèo, các cộng đồng nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn, người dân chỉ quan tâm tới việc giải quyết nhu cầu mưu sinh hằng ngày mà chưa quan tâm tới công tác bảo vệ môi trường Để kiếm sống, người dân nghèo sẵn sàng đánh bắt cá bằng chất nổ, bằng xung điện; sử dụng bừa bãi thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp, san lấp ao hồ, sông suối… mà không quan tâm tới hậu quả của những hoạt động này ảnh hưởng đến môi trường như thế nào Một số địa phương lãnh đạo chỉ đạo điều hành còn nặng về các mục tiêu kinh tế, coi nhẹ các yêu cầu bảo
vệ môi trường, chưa kiên quyết trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi
Trang 3trường Điều đó càng làm cho công tác BVMT ở các xã nghèo, khu dân cư nghèo còn gặp nhiều khó khăn
Dựa trên cơ sở lý thuyết của kinh tế học quản lý môi trường, một sự đánh giá rà soát lại tình hình quản lý môi trường của các xã nghèo để từ đó hướng đến đề xuất một số giải pháp cho các xã đó là lý do em chọn đề tài
"Đề xuất 1 số giải pháp quản lý môi trường tại các xã nghèo tại Hà
- Nhận thức được thế nào là quản lý môi trường
- Đánh giá hiện trạng môi trường tại các xã nghèo điển hình là ba
xã nghèo Kim Quan, Cẩm Yên, Đại Đồng
- Định hướng một số giải pháp cho quản lý môi trường tại các làng
xã sao cho phù hợp với môi trường và cuộc sống của người dân nghèo
Phạm vi đề tài
Đề tài nghiên cứu ba xã nghèo điển hình của Hà Nội ( Hà Tây cũ ) là Kim Quan, Cẩm Yên, Đại Đồng
Trang 4III KẾT CẤU ĐỂ TÀI
Đề tài này chia làm 3 chương
Chương I: Tổng quan về quản lý môi trường
Chương II: Hiện trạng kinh tế xã hội và quản lý môi trường tại các xã nghèo tại Hà Nội
Chương III Đề xuất một các giải pháp nâng cao nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường tại các xã nghèo tại Hà Nội
IV CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu
Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp đánh giá tác động môi trường
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.1 Khái niệm chung về quản lý môi trường
“ Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích
của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành tác động các hoạt động phát triến trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã để ra phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành”
Trang 5Thực chất của quản lý môi trường là quản lý con người trong các hoạt động phát triển và thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiểm năng
và cơ hội của hệ thống môi trường
Xét về bản chất kinh tế-xã hội, quản lý môi trường là các hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý vì mục tiêu lợi ích của hệ thống, bảo đảm cho các hệ thống môi trường tồn tại hoạt động và phát triển lâu dài, cân bằng
và ổn định vì lợi ích cả vật chất và tinh thần của thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau, vì lợi ích của cá nhân,cộng đồng, địa phương, vùng quốc gia, khu vực và quốc tế Mục tiêu của hệ thống môi trường là do chủ thể quản lý môi trường đảm nhận Họ là chủ sở hữu của hệ thống môi trường và là người nắm giữ quyền lực của hệ thống môi trường Nói một cách khác, bản chất của quản lý môi trường tùy thuộc vào chủ sở hữu của hệ thống môi trường
1.2 Đối tượng của quản lý môi trường
Quản lý môi trường, trước hết là quản lý một hệ thống bao gồm các phần tử (yếu tố) nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao gồm quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại , phát triển của con người và thiên nhiên Đó là một hệ thống bao gồm các phần tử của thế giới vô sinh và hữu sinh hoạt động theo những quy luật khác nhau và có con người tham dự
Trong khi đó hệ thống môi trường có những đặc tính cơ bản sau đây
1.2.1 Có cấu trúc phức tạp
Hệ thống môi trường bao gồm nhiều phần tử thành phần hợp thành
Các phần tử đó có bản chất khác nhau( tự nhiên, kinh tế, dân cư và xã hội) và
bị chi phối bởi các quy luật hoạt động khác nhau, đôi khi đối lập với nhau
Tính cấu trúc của hệ thống môi trường đôi khi thể hiện chủ yếu ở cấu trúc chức năng và cấu trúc bậc thang Theo chức năng, chúng ta có thể phân hệ thống môi trường thành vô số hệ hoạt động theo những chức năng khác nhau
Tương tự như vậy, theo bậc thang ( quy mô), chúng ta có thể phân hệ thống
Trang 6môi trường thành các hệ từ lớn đến nhỏ, từ vĩ mô đến vi mô Dù được phân theo chức năng hay phân theo theo bậc thang, các phần tử cơ cấu của hệ thống môi trường cũng thường xuyên tác động qua lại quy định và phụ thuộc lẫn nhau ( thông qua trao đổi năng lượng vật chất thông tin và liên tục), làm cho
hệ thống tồn tại, hoạt động và phát triển Vì vậy mỗi sự thay đổi nào đó dù là rất nhỏ, của một phần tử của hệ thống môi trường đều gây ra một phản ứng dây chuyền cho toàn hệ, làm suy giảm hoặc gia tăng số lượng và chất lượng môi trường, không phụ thuộc vào ý trí của con người
1.2.2 Tính hoạt động
Hệ thống môi trường không phải là một hệ tĩnh, mà luôn luôn thay đổi trong cấu trúc của nó, trong từng phân tử và trong quan hệ tương tác của chúng Bất kỳ một sự thay đổi nào của hệ thống đều tiềm chứa khả năng làm cho nó lệch khỏi trạng thái cân bằng vốn có của hệ thống và hệ thống có xu hướng lập thành một hệ thống cân bằng mới Đó là bản chất của quá trình vận động và phát triển của hệ thống môi trường Đặc tính cân bằng động cần được tính trong hoạt động cũng như trong quản lý môi trường
1.2.3 Tính mở
Môi trường dù ở quy mô lớn hay quy mô nhỏ cũng để là một hệ thống
mở Các dòng vật chất, năng lượng và thông tin liên tục “chảy’ trong không gian và theo thời gian (từ hệ lớn như vũ trụ đến hệ nhỏ như hành tinh Trái đất đến các hệ nhỏ hơn nữa và ngược lại, từ trạng thái này sang trang thái khác, từ các hệ quá khứ đến cá hệ hiện tại và tiếp nối đến các thế hệ tương lai) Vì thế các vấn đề môi trường ở các mức độ khác nhau không chỉ mang tính địa phương mà mang tính liên vùng, liên quốc gia, toàn cầu và tính lâu dài
Chúng cần được giải quyết bằng nỗ lực của các cộng đồng, bằng sự phối hợp liên ngành liên quốc gia, liên khu vực với một tầm nhìn xa, trông rộng vì lợi ích của thế hệ hôm nay và lợi ích của thệ hệ mai sau
1.2.4 Khả năng tổ chức và điều chỉnh
Trang 7Trong hệ thống môi trường có các phân tử cơ cấu là vật chất ( tổ chức ) sống ( con người giới sinh vật ) hoặc các sản phẩm của chúng Các phần tử này có một khả năng tự nhiên rất kỳ diệu là tự tổ chức lại hoạt động của mình
và tự điều chỉnh để thích đáng với với những thay đổi bên ngoài rộng lớn hơn theo quy luật tiến hóa, quy luật giảm entropy nhằm hướng tới trạng thái cân bằng ổn định Đặc tính cân bằng này của hệ thống môi trường quy định tính chất, mức độ, phạm vi tác động của các hoạt động phát triển, đồng thời tạo
mở hướng quản lý cơ bản và lâu dài đối với môi trường quốc gia cũng như toàn cầu
Đây là môn khoa học mà nó dựa trên nền tảng của khoa học quản lý để nhìn nhận những vấn đề môi trường Do đó đối tượng quản lý môi trường là xem xét các thành phần môi trường cũng như các nguồn tài nguyên tự nhiên
để có một sự quản lý điều hành hiệu quả đảm bảo cho việc khai thác và sử dụng tốt nhất trong quá trình vận hành của nền kinh tế nhằm hướng tới phát triển bền vững
Thành phần môi trường:
- Hệ thống tự nhiên: F( tự nhiên) =F( đất, nước, không khí, sinh vật )
Hệ thống này tồn tại khách quan bên ngoài con người
- Hệ thống nhân tạo: F(nhân tạo)=F( nhà cửa, đường xá, cầu cống )
Hệ thống này do con người tạo ra
Chúng ta phải quản lý các thành phần này như thế nào để hiệu tốt nhất cho con người tốt nhất và cho con người và hệ sinh thái
1.3 Mục tiêu của quản lý môi trường
1.3.1 Mục tiêu duy trì chất lượng môi trường
Tức là phải duy trì cho bằng được bản chất vốn có của môi trường Ví
dụ như đảm bảo chất lượng của nguồn nước theo tính chất quy định
1.3.2 Mục tiêu cho phát triển bền vững
Trang 8Đây là một trong những mục tiêu lâu dài và quan trọng nhất cần đạt đến trong bảo quản lý môi trường Thực ra phát triển bền vững ở mỗi nước là khác nhau nhưng ở đó là sự hài hòa của các yếu tố kinh tế, xã hội, trường Xã hội càng phát triển thì yếu tố môi trường đặt trong vấn đề phát triển bền vững càng gia tăng
Trong mục tiêu phát triển bền vững đòi hỏi lĩnh vực kinh tế phải
- Giảm đểu đặn mức tiêu phí năng lượng và các nguồn tài nguyên khác thông qua sử dụng những công nghệ tiết kiệm và thông qua thay đổi lối sống
- Thay đổi các mẫu hình tiêu thụ và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học của các nước
- Giảm hàng rào nhập khẩu thuế quan hay chính sách bảo hộ mậu dịch gây hạn chế thị trường thị trường cho các sản phẩm của những nước nghèo
- Sử dụng tài nguyên nhân văn, kỹ thuật và tài chính để phát triển công nghệ sạch và sử dụng ít tài nguyên
- Làm cho mọi người được tiếp cận tài nguyên một cách bình đẳng
- Giảm chênh lệch về thu nhập và làm cho mọi người được tiếp cận y tế
- Chyển bớt các khoản chi phí về quân sự an ninh và cho các nhu cầu
về phát triển
- Sử dụng tài nguyên cho việc can thiệp mức sống thường xuyên
- Xóa đói giảm nghèo
- Cải thiện tiếp cận ruộng đất, giáo dục và các dịch vụ xã hội
- Hình thành và phát triển các ngành công nghiệp có hiệu suất cao để tạo ra nhiều công an việc làm và sản xuất ra nhiều hàng hóa và dịch vụ cho thương mại và tiêu thụ
Trong lĩnh vực nhân văn xã hội đòi hỏi
Trang 9- Ổn định dân số, giảm di cư đến các thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn, thông qua việc nghiên cứu xây dựng và thực thi các chương trình phát triển nông thôn
- Xây dựng các chính sách, biện pháp và kỹ thuật để giảm nhẹ hậu quả môi trường của quá trình đô thị hóa
- Nâng cao tỷ lệ người biết chữ
- Tạo điều kiện cho viêc tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng với chăm sóc sức khỏe ban đầu
- Cải thiện phúc lợi xã hội, bảo vệ tính đa dạng văn hóa và tăng cường đẩu tư vào phát triển vốn con người
- Đầu tư vào sức khỏe và giáo dục của phụ nữ
- Khuyến khích sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định
Trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ
- Chuyển dịch sang nền kỹ thuật và công nghệ sạch có hiệu suất hơn để giảm tiêu thụ năng lượng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và không làm ô nhiễm không khí, nước và đất
- Giảm phát thải khí CO2 để giảm tỷ lệ tăng phát thải của khí nhà kính;
đồng thời giảm nồng độ của các khí này trong khí quyển
- Cùng với thời gian phải giảm thải đáng kể để sự dụng nhiên liêu hóa thạch và tìm ra những nguồn năng lượng mới
- Loại bỏ việc sử dụng CFCs để tránh làm tổn thương đến tầng ozon bảo vệ trái đất
- Bảo tồn những kỹ thuật truyền thống với ít chất thải và chất ô nhiễm, những kỹ thuật tái chế chất thải và phù hợp với các hệ thống tự nhiên hoặc hỗ trợ cho các hệ thống tự nhiên
Trang 10- Nhanh chóng ứng dụng các kỹ thuật và công nghệ đã được cải thiện cũng như những quy chế của chính phủ đã ban hành và sửa đổi, thực hiện nghiêm túc những quy chế đó
Trong lĩnh vực môi trường
- Sử dụng có hiệu quả hơn đất canh tác và cung cấp nước
- Cải tiến các phương pháp canh tác nông nghiệp và kỹ thuật nông nghiệp nhằm nâng cao sản lượng lương thực thực phẩm
- Tránh dùng quá mức phân bón hóa học và thuốc trừ sâu
- Bảo vệ nước thông qua các biện pháp hiện hữu nhằm chấm dứt tình trạng sử dụng lãng phí nước và nâng cao hiệu quả sử lãng phí nước và nâng cao hiệu suất của hệ thống nước
- Tránh các hoạt động phát triển của con người gây mất ổn định của khí hậu, hủy diệt tầng ozone
- Hạn chế mở mang đất nông nghiệp trên đất dốc hoặc đất bạc màu
- Làm chậm lại, tiến tới chặn đứng sự hủy hoại rừng nhiệt đới hệ sinh thái san hô, rừng ngập mặn ven biển, những vùng đất
- Ngập nước nơi cư trú độc đáo khác để bảo vệ đa dạng sinh học
- Đảm bảo tính đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là sự giàu có của giống loài động thực vật mà bản thân thiên nhiên đã tạo ra hoặc có sự can thiệp của bàn tay con người Theo thống kê hiện nay Việt Nam là nước có đa dạng sinh học đứng thứ năm trên thế giới nên việc duy trì quản lý đa dạng sinh học ở Việt Nam là hết sức quan trọng không chỉ là vấn đề cho riêng Việt Nam mà cho cả thế giới
1.4 Các biện pháp quản lý môi trường
1.4.1 Khái niệm
Trang 11Các phương pháp quản lý môi trường là tổng thể các cách thức tác động
có thể và có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý ( cấp dưới và tiềm năng có được của hệ thống) và khách thể quản lý ( các hệ thống khác) các ràng buộc của điều kiện bên ngoài để đạt được các mục tiêu đã đề ra
1.4.2 Các phương pháp quản lý nội bộ hệ thống môi trường
Các phương pháp tác động lên con người
Các phương pháp hành chính: là các phương pháp tác động dựa vào các mối quan hệ về tổ chức của hệ thống quản lý Các phương pháp hành chính trong quản lý môi trường là cách tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên tập thể của những người dưới quyền bằng cách quyết địng dứt khoát mang tính bắt buộc đòi hỏi họ phải chấp hành nghiêm chỉnh và nếu vi phạm sẽ bị xử
lý kịp thời đích đáng
Vai trò của phương pháp hành chính trong quản lý môi trường là hết sức to lớn Nó xác lập trật tự, kỷ cương làm việc trong hệ thống, khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ thống, dấu được bí mật ý đồ hoạt động và giải quyết nhanh chóng các vấn đề đặt ra trong quản lý môi trường
Các phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản lý theo hai hướng: tác động về mặt tổ chức quản lý và tác động điều chỉnh hành vi của đối tượng
Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nắm vững một số yêu cầu chặt chẽ
Một là, quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn cứ khoa học và thực tiễn
Hai là, khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của người ra quyết định
Các phương pháp kinh tế
Trang 12Các phương pháp kinh tế tác động vào đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế để cho đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ
Thực chất phương pháp kinh tế là tạo ra động lực thúc đẩy con người hoạt động bảo vệ môi trường Động lực đó càng lớn, nếu như nhận thức đầy
đủ và kết hợp đúng đắn các lợi ích tồn tại khách quan trong hệ thống
Chủ thể quản lý môi trường tác động lên đối tượng môi trường bằng các phương pháp kinh tế theo các hướng khác nhau
- Định hướng phát triển chung bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện của hệ thống, bằng những chỉ tiêu cụ thể cho từng thời gian cho từng phân hệ, từng cá nhân của hệ thống
- Sử dụng các định mức kinh tế các biện pháp đòn bẩy, kích thích kinh
tế để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích các cá nhân cộng đồng hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ môi trường
- Bằng chế độ thưởng, phạt vật chất, trách nhiệm kinh tế chặt chẽ để điều chỉnh hoạt động của các bộ phận, các cộng đồng, các cá nhân, xác lập trật tự kỷ cương, xác định chế độ trách nhiệm cho mọi bộ phận, cho đến từng người trong hệ thống
Ngày nay xu hướng chung của các nước là mở rộng việc áp dụng các phương pháp kinh tế trong quản lý môi trường Muốn vậy cần chú ý đến một
số khía cạnh quan trọng sau
Một là, việc áp dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn gắn liền với việc sử dụng các đòn bầy kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, lãi suất, tiền lương, nói chung việc sử dụng các phương pháp kinh tế có liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng các quan hệ hàng hóa tiền tệ Để nâng cao sử dụng các phương pháp kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ hàng hóa tiền
tệ, quan hệ thị trường
Trang 13Hai là, để áp dụng phương pháp kinh tế phải thực hiện sự phân cấp đúng đắn giữa các cấp quản lý
Ba là, sử dụng phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản lý môi trường phải có trình độ và năng lực về nhiều mặt, và thông thạo nhiều kiến thức và kinh nghiệm quản lý, đồng thời phải có bản lĩnh rõ ràng
Các phương pháp giáo dục
Các phương pháp giáo dục là các cách tác động vào nhận thức và tình cảm của cá nhân và cộng đồng nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình của
họ trong việc quản lý và bảo vệ môi trường
Các phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý môi trường,
vì đối tượng của quản lý môi trường là con người-một thực thể năng động, là tổng hòa của nhiều mối quan hệ xã hội Do đó không chỉ tác động lên con người bằng những biện pháp kinh tế hành chính mà còn phải có tác động tinh thần tình cảm tâm lý
Các phương pháp giáo dục được tiến hành dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý Đặc trưng của các phương pháp này là tính thuyết phục, tức
là làm cho cá nhân và cộng đồng phận biệt được phải trái, đúng sai, lợi hại , đẹp xấu, thiện ác, để từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với hệ thống
Các phương giáo dục thông thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt nhẹ nhàng vừa sâu sắc đến từng người, từng cộng đồng , có tác động xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường Đây là một trong những bí quyết thành công của nhiều nước Đông Nam Á và Bắc Âu
Các phương pháp tác động lên các yếu tố khác của hệ thống môi trường
Đó là các phương pháp quản lý đi sâu vào từng yếu tố chi phối lên các đầu vào của quá trình quản lý môi trường ( tài chính, lao động, công nghệ,
Trang 14thông tin, pháp chế vật tư, sản phẩm rủi ro ) Các phương pháp quản lý này mang tính chất nghiệp vụ, gắn liền tính kỹ thuật của quản lý chuyên ngành theo các thành phần môi trường và thường gắn với việc sử dụng các phương pháp toán-một loại không thể thiếu trong việc lựa chọn các phương pháp quản
lý kinh tế ngày nay
Các phương pháp tác động lên hệ thống môi trường khác
Đó là cách tác động bên ngoài hệ thống Nó không thể sử dụg các tác động trực tiếp như đã sử dụng trong nội bộ mà tủy thuộc vào mối tương quan
hệ thuộc và phụt thuộc cụ thể diễn ra như thế nào ( mình lệ thuộc họ hay họ lệ thuộc mình và họ là quan hệ tương đồng), mà có cách sủ dụng phương pháp thích hợp Các phương pháp sử dụng chủ yếu ở đây là sự biến dạng của ba phương pháp đã biết: các phương pháp kinh tế các phương pháp tác động tâm
lý thay cho các phương pháp giáo dục, các phương pháp quan hệ hợp lý-thay cho các phương pháp hành chính Ngoài ra có thể sử dụng các phương pháp khác như phương pháp cạnh tranh, phương pháp marketing, phương pháp xã hội học, phương pháp truyền thông
CHƯƠNG II
HIỆN TRẠNG KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TẠI CÁC XÃ NGHÈO TẠI HÀ NỘI
(ĐÁNH GIÁ TẠI BA XÃ KIM QUAN, CẨM YÊN, ĐẠI ĐỒNG)
1 Tình hình kinh tế xã hội 1.1 Địa hình
Trang 15Vị trí của ba xã, nằm phía Nam và Tây Nam của Hà Nội mở rộng (Hà Tây cũ), có địa hình rất đa dạng, vùng đồi núi phía tây và vùng đồng bằng phía đông, độ cao giảm từ tây bắc xuống đông nam
1.2 Tình hình kinh tế- xã hội
Tổng diện tích đất tự nhiên của ba xã là 136154ha, trong đó đất nông nghiệp là 90563ha chiếm 66.52% đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp khoảng 45591ha, chiếm khoảng 33.48% Dân số 20677 người, mật độ dân số 1.519người/km2, chi tiết được biểu thị như trong bảng 1 dưới đây
Đất đai của các xã có độ phì nhiêu cao, có nhiều địa hình có thể
bố trí được nhiều loại cây trồng Nông dân có trình độ thâm canh khá, nền nông nghiệp đã, và đang sẽ cung cấp đáng kể sản phẩm nông nghiệp thit cá, rau, hoa, quả cây cảnh cho Hà Nội
Trang 16Biểu 1: Tình hình sử dụng đất tự nhiên và mật độ dân số
TT Tên xã Diện tích đất tự nhiên(km2)
Dân số (người)
(người/km2) tổng diện tích đất nông nghiệp
đất phi nông nghiệp
có kiến thức kỹ thuật Với chuỗi đô thị Miếu Môn-Xuân Mai-Hòa Lạc-Sơn Tây và các khu công nghệ cao được xây dựng sẽ là cơ hội, động lực thúc đẩy các mặt hoạt động kinh tế đặc biệt là ngành công nghiệp và phát triển đô và là địa bàn xây dựng mới, di chuyển xí nghiệp công nghiệp của Thủ đô Khi đường Láng –Hòa Lạc giai đoạn 2 được xây dựng, hệ thống đường sắt, xa điện ngầm từ Hà Nội đi Hòa Lạc được xây dựng sẽ là tiền đề tạo bước phát triển đột phá kinh tế về kinh tế xã hội của địa phương
Tốc độ tăng trưởng của ba xã nghèo trên bình quân là12,46%/năm trong đó tăng trưởng bình quân của xã Kim Quan là 14,57%/năm, xã Cẩm Yên là 13,41%/năm, xã Đại Đồng là 9,4%/năm , được thể hiện trong bảng 2 sau:
Trang 17Biểu 2: Giá trị sản lượng và tốc độ tăng trưởng kinh tế (2005-2007)
Tổng cộng 321.408 373.279 706.432 16,14 89,25 219,79 73,26
Kim Quan 30.510 43.125 43.848 41,34 1,68 43,72 14,57 Cẩm Yên 11.426 14.567 16.023 27,49 10,00 40,23 13,41 Đại Đồng 53.931 61.952 69.135 14,87 11,59 28,19 9,40
Nguồn số liệu: Trích báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm của xã
Bình quân thu nhập tính theo đầu người của 3 xã là 5,547 triệu đồng/người/năm, chi tiết được thể hiện ở biểu 3 dưới
Biểu 3: Dân số và thu nhập bình quân đầu người
đình
Dân số (người)
Thu nhập bình quân triệu đồng/người/năm
Trang 18Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp của 3 xã năm 2005 là 44 %/năm, năm 2006 là 47%/năm, năm 2007 là 47%/năm Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ năm 2005 là 56 %/năm, năm 2006 là 53%/năm, đến năm 2007 là 53 %/năm.Chi tiết từng xã thể hiện tại Biểu 4, dưới đây
Biểu 4: Giá trị sản xuất nông nghiệp và CN, TTCN, TMDV (2005-2007)
Nhìn chung, sự tăng trưởng kinh tế của các xã là phù hợp với quy luật thuận chiều trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong cả nước Đó là kết quả bước đầu đáng ghi nhận mở ra khả năng mới trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH, tuy nhiên ta cũng vẫn nhận thấy
Trang 19đây là một trong những xã nghèo khá điển hình, mức tổng sản lượng nông nghiệp vẫn chiếm khá cao trong tổng sản lượng sản xuất Đời sống nhân dân từng bước cải thiện, các mặt xã hội cũng có chuyển biến tích cực Do tổ chức thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích các cá nhân gia đình sản xuất kinh doanh giỏi, biết làm giàu, nên đời sống nhân dân xã ngày càng được cải thiện
Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa theo kịp tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá như hiện nay Trong đó, nguyên nhân chính là nhận thức bảo vệ môi trường trong xã hội, của người dân chưa đầy đủ, ý thức chấp hành pháp luật về môi trường của nhiều tổ chức,
cá nhân còn yếu Những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường làm huỷ hoại và ô nhiễm môi trường đã đến mức báo động
2 Tổng quan về tình hình môi trường
2.1 Hiện trạng môi trường nước
2.1.1 Hiện trạng môi trường nước mặt
Với đặc điểm địa hình của các xã khá đa dạng xã Kim Quan với địa hình bán sơn nguyệt, xã Đại Đồng với địa hình bán sơn địa, và xã Cẩm Yên với địa hình xã nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi Ba Vì và đồng bằng sông Hồng, có địa hình đồi gò, hơi dốc về phía nam Có thể thấy cả ba
xã với nhiều loại địa hình như đồng bằng, trung du và miền núi nên có rất nhiều dạng các thuỷ vực khác nhau như sông, suối, ao, hồ.Là nơi tập trung hầu hết các nguồn nước mặt của địa phương Một số con sông lớn chạy qua như sông Tích, cùng hệ thống kênh, mương, ao, hồ,…Điều này cho thấy nguồn tài nguyên nước mặt khá rồi dào có khả năng cung cấp nước phục vụ tốt cho đời sống, kinh tế -xã hội phát triển của địa phương
Tuy nhiên, hiện nay nguồn nước mặt được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau như sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, điều hoà
vi khí hậu, tạo cảnh quan du lịch…Ngoài ra, sông lớn còn giúp hệ thống giao thông đường thuỷ thuận lợi trong thông thương hàng hoá Hàng năm, những
Trang 20con sông này còn có tác dụng bồi đắp một lượng lớn phù xa góp phần làm tăng độ phì nhiêu của đất cho các khu vực đồng bằng dọc hai bờ sông
Ngày nay, nguồn tài nguyên nước mặt của các xã đang đứng trước những nguy cơ suy giảm nghiêm trọng về chất lượng do ô nhiễm gây ra Hiện tại các nguồn ô nhiễm tại các thuỷ vực rất đa dạng, tập trung chủ yếu vào các loại chất thải rắn, các loại hoá chất bảo vệ thực vật, dầu mỡ thải từ các hoạt động giao thông đường thuỷ, dịch vụ du lịch đã gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của nguồn tài nguyên nước của địa phương và làm ô nhiễm thuỷ vực Nguồn nước sinh hoạt của nhân dân vẫn chủ yếu lấy từ giếng khoan và giếng khơi Theo thống kê của xã Cẩm Yên hiện nay, nhân dân xã
sử dụng phần lớn nước sinh hoạt từ có 80 giếng khoan của hộ gia đình và 500 giếng đào trong hộ gia đình Còn tại xã Đại Đồng hiện nay, nhân dân xã sử dụng phần lớn nước sinh hoạt từ 7 giếng làng khoảng 3.600m 3 và 1.500 bể chứa nước mưa, 2.000 giếng khoan của hộ gia đình Nhân dân xã Kim Quan
sử dụng phần lớn nước sinh hoạt từ có 80 giếng khoan của hộ gia đình và 500 giếng đào trong hộ gia đình Các giếng nước ngầm được người dân tự khai thác ở độ sâu 20-30 mét Sau đó được bơm hút lên hầu hết các nguồn nước đều được người dân cho chảy vào bể lọc bằng cát Đây là công đoạn duy nhất trong quá trình xử lý nước tại các hộ gia đình hiện nay Mặc dù quá trình lọc cát đã có tác dụng làm giảm hàm lượng sắt có trong nguồn nước, song không thể triệt để nên nguồn nước khi sử dụng đều có hàm lượng sắt và một số yếu
tố khác cao hơn tiêu chuẩn quy định cho phép đối với nước sinh hoạt Không
có hộ gia đình nào dùng nước ao hồ và các nguồn khác vì đã bị ô nhiễm không thể dùng được trong sinh hoạt
Nguyên nhân của tình trạng môi trường nước bị ô nhiễm bởi một số nguồn chính sau:
Một là: Nguồn nước thải không được xử lý triệt để xả thải trực tiếp vào
các thuỷ vực nước mặt
Trang 21Hai là: Nguồn chất thải rắn sinh ra từ quá trình sinh hoạt và sản xuất
không được quản lý chặt chẽ bị phát tán vào nguồn nước mặt
Ba là: Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật bị rửa trôi từ các khu vực ruộng
cấy, trồng ảnh hưởng đến chất lượng của các nguồn nước mặt tiếp nhận;
Bốn là: Chất thải sinh ra từ quá trình hoạt động du lịch trên các thuỷ
vực nước mặt gây ô nhiễm dầu mỡ, mất cảnh quan của các thuỷ vực;
Năm là: Sự lan truyền chất ô nhiễm từ những khu vực này sang khu
vực khác, lan truyền theo dòng chảy
Sáu là: Các ao hồ trong khu dân cư hiện nay bị san lấp nhiều ảnh
hưởng đến việc tiêu thoát nước gây ra ô nhiễm môi trường
Về hiện trạng môi trường nước tại các cơ sở sản xuất công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại tại các xã một trong những đặc điểm chung hầu hết các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đều có công nghệ lạc hậu, chủ yếu là sản suất thủ công, không có hệ thống xử lý chất thải nên tác động đến môi trường là điều khó trách khỏi Tại
xã Kim Quan Theo số liệu thống kê tỷ trọng giá trị sản lượng sản xuất công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ của xã chiếm 56%/năm và hầu hết
tại cơ sở sản xuất này đều có công nghệ lạc hậu, chủ yếu là sản suất thủ công, không có hệ thống xử lý chất thải nên tác động đến môi trường là điều khó trách khỏi Hầu hết lượng nước thải được sinh ra đều không xử lý và xả thải trực tiếp ra môi trường Do đặc thù như vậy nên những cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ này đều là những địa điểm có tính nhậy cảm môi trường cao Đây là các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có phát sinh ra một lượng nước thải khá lớn trong quá trình sản xuất Hầu hết lượng nước thải được sinh ra đều không xử lý và xả thải trực tiếp ra môi trường Quá trình này gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước mặt là điều khó tránh khỏi
Trang 222.1.2 Hiện trạng môi trường nước ngầm
Hiện trạng nước ngầm của 3 xã có trữ lượng khá dồi dào Theo kết quả điều tra đánh giá tiềm năng, chất lượng và hiện trạng sử dụng nước dưới lòng đất phục vụ quy hoạch và khai thác bền vững nguồn nước ngầm của địa phương, trữ lượng tĩnh tự nhiên nước dưới đất đủ khả năng cung cấp nước cho quá trình phát triển kinh tế xã hội, sản xuất và đời sống dân sinh trên địa bàn từng xã Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn nhất định do điều kiện địa chất thủy văn phức tạp, trữ lượng nước phân bố không đồng đều giữa các vùng
Nguồn nước ngầm tại 3 xã đang chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nguồn ô nhiễm khác nhau trong đó đặc biệt là ảnh hưởng của các nguồn nước thải không được xử lý Điều đó có thể thấy rất rõ tại tất cả các làng nghề trên địa bàn các xã Tại các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, nguồn nước ngầm được người dân tự khai thác ở độ sâu 20-30 mét
Sau đó được bơm hút lên hầu hết các nguồn nước đều được người dân cho chảy vào bể lọc bằng cát Đây là công đoạn duy nhất trong quá trình xử lý nước tại các hộ gia đình hiện nay Mặc dù quá trình lọc cát đã có tác dụng làm giảm hàm lượng sắt có trong nguồn nước, song không thể triệt để nên nguồn nước khi sử dụng đều có hàm lượng sắt và một số yếu tố khác cao hơn Tiêu chuẩn quy định cho phép đối với nước sinh hoạt
2.1.3 Đánh giá tác động ô nhiễm môi trường nước
Ở một số xã, khu dân cư sống tập trung với mật độ dân số cao, lượng rác thải sinh hoạt nhiều không thu gom được và xử lý Các ao hồ, kênh mương thoát nước trong khu dân cư đang bị san lấp ảnh hưởng đến việc tiêu, thoát nước trong khu dân cư Bởi vậy vấn đề ô nhiễm môi trường tại khu dân
cư đang xuất hiện và ngày càng tăng thêm Qua kết quả rà soát đánh giá hiện trạng môi trường nước của các xã (gồm môi trường nước mặt và nước ngầm),
có thể thấy môi trường nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của địa phương Cho nên, những ảnh hưởng của nguồn tài
Trang 23nguyên nước sẽ tác động trực tiếp lẫn gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của
xã Bên cạnh những tác động của đời sống kinh tế xã hội nguồn tài nguyên nước thì những tác động của cộng đồng dân cư đến nguồn tài nguyên nước của xã hiện nay cũng rất lớn Những tác động này rất đa dạng về mức độ và hình thức Tuy nhiên đặc điểm chung của hầu hết các tác động của con người đến nguồn tài nguyên nước là tác động mang tính tiêu cực nhiều hơn tích cực
Với thực tế như vậy, nên những tác động ảnh hưởng đến môi trường nước của nguồn nước ô nhiễm là khá đa dạng, điển hình là một số nguồn chính sau đây
- Nguồn nước thải không được xử lý triệt để xả thải trực tiếp vào các thuỷ vực nước mặt
- Nguồn chất thải rắn sinh ra từ quá trình sinh hoạt và sản xuất không được quản lý chặt chẽ bị phát tán vào nguồn nước mặt
- Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật bị rửa trôi từ các khu vực ruộng cấy, trồng ảnh hưởng đến chất lượng của các nguồn nước mặt tiếp nhận;
- Chất thải sinh ra từ quá trình hoạt động du lịch trên các thuỷ vực nước mặt gây ô nhiễm dầu mỡ, mất cảnh quan của các thuỷ vực;
- Sự lan truyền chất ô nhiễm từ những khu vực này sang khu vực khác, lan truyền theo dòng chảy
Trước thực tế trên, các chất ô nhiễm đối với các nguồn nước hiện nay là khá đa dạng, nguồn ô nhiễm này gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của các thuỷ vực nước mặt cũng như túi nước ngầm Hiện nay các nguồn ô nhiễm môi trường nước có nguồn gốc không giống nhau thường mang tính đặc thù cao cho từng khu vực
Với những đặc điểm chung về sự tác động qua lại của nguồn tài nguyên nước với con người như hiện nay tại các thuỷ vực nước mặt và các túi nước ngầm trên địa bàn các xã đã xuất hiện hiện tượng ô nhiễm Quá trình sử dụng các nguồn nước bị ô nhiễm sẽ gây ra nhiều các loại bệnh khác nhau cho sức khoẻ của con người sử dụng như da liễu, tiêu hoá, ung thư, đau mắt…Điều
Trang 24này cho thầy tính chất nguy hại đối với sức khỏe của cộng đồng khi phải sử dụng nguồn nước bi ô nhiễm
Ngoài ra, việc sử dụng các nguồn nước ngầm bị ô nhiễm trong vùng trồng trọt cũng có thể gây ra sự hấp thu các chất ô nhiễm như kim loại nặng vào các sản phẩm của quá trình trồng trọt Đây là tác động gián tiếp đến sức khoẻ cộng đồng do sử dụng các nguồn nước bị ô nhiễm Như vậy, hiện nay sử dụng các nguồn nước không bảo đảm chất lượng vào các mục đích khác nhau của cuộc sống sẽ là nguyên nhân gây ra nhiều tác động nguy hại đến sức khoẻ của con người Các tác động này, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Với đặc điểm như vậy, việc gìn giữ chất lượng của nguồn tài nguyên là rất quan trọng Việc này cần được thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ của nhiều ban ngành có liên quan
Vậy đâu là giải pháp cho vấn đề ô nhiễm nước nghiêm trọng tại đây?
Chiến lược lâu dài là có thể cung cấp những nguồn nước uống an toàn đã qua
xử lý và cải thiện hệ thống vệ sinh Chiến lược ngắn hạn là sử dụng những phương pháp xử lý nước đơn giản tại hộ gia đình như lọc nước, đun sôi nước bằng lượng nhiệt thừa từ nấu nướng Ngay cả việc xây dựng thói quen rửa tay cũng có thể bảo vệ hàng triệu con người
Bên cạnh đó, ngoài chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức, cũng cần phải áp dụng những quy định nghiêm ngặt hơn đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm, buộc tất cả mọi doanh nghiệp - từ quy mô nhỏ đến lớn - phải đáp ứng được những tiêu chuẩn tối thiểu Xét cho cùng, nước sạch và không khí trong lành là những điều thiết yếu để có được một cuộc sống khỏe mạnh
Điều quan trọng nhất là chính phủ cần đầu tư và xây dựng những dự án nước sạch cũng như các công trình xử lý nước thải để hỗ trợ cho chiến dịch này và thu hút người dân tham gia
Trang 252.2 Hiện trạng không khí tiếng ồn
2.2.1 Hiện trạng môi trường không khí và tiếng ồn
Hiện nay, trên địa bàn 3 xã cũng giống như các địa phương khác các nguồn ô nhiễm không khí rất đa dạng nên tác động của các dạng chất ô nhiễm cũng rất khác nhau đến môi trường không khí Dưới đây là một số nguồn gây
ô nhiễm không khí hiện nay:
- Mật độ phương tiện giao thông hoạt động với mật độ dày gây tiếng ồn, khí thải làm ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến môi trường nhất là đối với nhân dân sống ven đường và gần đường cao tốc, đường quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua
- Các công trình xây dựng, sửa chữa cơ sở hạ tầng và giao thông
Hiện nay các công trường xây dựng chủ yếu tập trung vào các khu công nghiệp và quá trình làm mới, sửa chữa các hệ thống đường giao thông Đối với một số khu công nghiệp đang trong quá trình san lấp mặt bằng nên ô nhiễm bụi từ quá trình chuyên chở, rơi vãi đất, đá là rất lớn Hiện tượng ô nhiễm môi trường không khí xẩy ra tại các khu vực có tuyến đường giao thông chạy qua bởi lưu lượng phương tiện tham gia giao thông ngày càng lớn
đã xuất hiện hiện tượng tiếng ồn và bụi bẩn
- Các khu công nghiệp và các nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp Trong những năm gần dây với định hướng mới trong phát triển kinh
tế, xã hội của từng xã mọc nên nhiều khu, cụm điểm công nghiệp được hình thành trên địa bàn Các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp với số lượng, mật độ như hiện nay đang hoạt động trên địa bàn xã là không lớn Do đó những tác động của nguồn khí thải từ hoạt động của các nhà máy này đến môi trường không khí của tỉnh là không đáng kể
- Các làng nghề truyền thống, có số lượng khá lớn cho nên những tác động từ quá trình sản xuất của làng nghề này đến môi trường không khí là rất đáng kể Do đặc điểm sản xuất đặc trưng của các làng nghề, các tác động của chúng đến môi trường không khí cũng mang tính đặc trưng Hiện nay các tác nhân gây ô nhiễm sinh ra từ các làng nghề của địa phương chủ yếu là hơi, khí
Trang 26thải, mùi và tiếng ồn tại các làng chế biến nông sản, các làng sản xuất các sản phẩm cơ khí, các làng nghề sản xuất mộc, mây tre, giang, dan…có thể nói, hiện nay tác nhân gây ô nhiễm có nguồn gốc từ các làng nghề hiện nay là rất
đa dạng và với số lượng nhiều tác động đến môi trường không khí là rất lớn
và trên diện rộng
- Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp Hiện nay các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn các xã là rất lớn, tuy nhiên các cơ sở này thường không tập trung và nằm rải rắc hầu hết các khu vực trong địa bàn
Loại sản phẩm này chủ yếu là các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, ngói, vôi đá Hiện nay hầu hết các cơ sở này phải sử dụng một lượng than đá rất lớn Đây là nguyên nhân chính làm phát sinh ra các bụi khí CO, SO2, CO2, … và bụi Do tính chất và khả năng phát tán cao nên các loại khí này
có khả năng gây ô nhiễm trên một diện rộng và ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường không khí, năng suất hoa mầu và sức khoẻ của cộng đồng
- Khí thải sinh ra từ quá trình phân huỷ chất thải rắn Đây là nguồn gây ô nhiễm mang tính cục bộ cao, đây là nguồn ô nhiễm có khả năng tác động rất nguy hại đến môi trường và sức khoẻ của cộng đồng Nguồn gốc của các ô nhiễm này tập trung tại các bãi thu gom và chôn lấp rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã Hiện nay, trên địa bàn 3 xã đã có các điểm bãi rác tập trung nhưng phần lớn chưa bảo đảm hợp vệ sinh môi trường Là nơi tạo điều kiện các loại khí độc hại phát tán trực tiếp vào môi trường không khí của khu vực
Do thành phần và tính chất nguy hại cao của các loại rác thải nên khí thải được sinh ra từ quá trình phân huỷ các loại rác này mang tính chất tổng hợp
và có tính chất nguy hại rất cao
- Các hoạt động sản xuất nông nghiệp Do tập quán canh tác của một
số địa phương, thường sử dụng các loại phân hữu cơ chưa ủ để hoại, mục hoàn toàn trong trồng trọt, gây ô nhiễm mùi cho các khu dân cư xung quanh
Bên cạnh đó, hàng năm một lượng khói thải đáng kể có chứa CO do đốt rơm
rạ sau khi thu hoạch được phát sinh, xả thải tự do và gây tác động đến môi
Trang 27trường không khí, giảm tầm nhìn tại các trục đường giao thông gần các cánh đồng Tuy nhiên, ô nhiễm này chỉ mang tính thời điểm, ô nhiễm mùi thường tập trung vào những thời điểm bắt đầu cây trồng, đầu mùa vụ và ô nhiễm khói tập trung vào cuối vụ từ quá trình đốt rơm rạ sau khi thu hoạch
2.2.2 Tác động của ô nhiễm không khí và tiếng ồn
Từ thực tế quan trắc môi trường cho thấy, chất lượng không khí và tiếng ồn trên địa bàn 3 xã đang bị ô nhiễm trên diện rộng, tập trung vào các khu vực có đường giao thông chạy qua, các khu đô thị và các khu vực có công trường đang hoạt động Điều này là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh về đường
hô hấp và mắt cho cộng đồng dân cư Ngoài ra sụ ô nhiễm bụi cũng là nguyên nhân gây ra mất mỹ quan của nhiều khu vực trên địa bàn các xã Đối với ô nhiễm tiếng ồn, đây là nguyên nhân gây ra một số bệnh về thính giác Hiện nay, sự ô nhiễm tiếng ồn đã xẩy ra trên nhiều địa bàn các xã
Cả làng hiện có 48 lò mổ qui mô vừa và nhỏ tại hộ gia đình Nơi đây, mỗi ngày đã giết mổ từ 70-90 con trâu bò để đưa thực phẩm tươi sống đi tiêu thụ khắp thi trường trong và ngoài tỉnh
Như vậy, lượng trâu bò hàng ngày tập kết về các bãi đất trống của làng cùng sân vườn của các hộ lên tới 100-200 con; nguồn phân, rác thải xả ra khắp nơi; chất thải gom thành đống, đổ bừa bãi ra đường làng, ngõ xóm gây ô nhiễm nghiêm trọng về nguồn nước, không khí, tác động xấu đối với đời sống nhân dân quanh vùng
Mỗi ngày các lò giết mổ trâu, bò thải ra môi trường 2- 4m3 nước thải
và 10-30kg chất thải/hộ gồm phân, lông và cỏ, rác Tuy cả thôn có 30 hộ đã xây dựng hầm khí sinh học và 2 gia đình đầu tư xây dựng được nhà lạnh bảo quản xương nhưng lượng chất thải được xử lý không thấm tháp gì; tình trạng
ô nhiễm môi trường vẫn chưa được cải thiện
Số hộ còn lại thì tự do tuỳ tiện xả nước và chất thải bừa bãi; nước chảy ra
ao hồ, đồng ruộng tràn lan khắp mương máng, gây ứ đọng ở nhiều nơi Hệ thống giao thông, cống rãnh xây dựng không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, không