1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nữ trí thức trong công tác xã hội và hoạt động phục vụ cộng đồng

14 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ket quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc các nữ trí thức đến với nghề công tác xã hội và hoạt động phục vụ cộng đồng là sự tình cờ và do khả năng ngoại ngữ, nhưng việc gắn kết lâu dài với ngh

Trang 1

và hoạt động phục vụ cộng đồng

Đỗ Thị Thanh Thủy *

* Giảng viên Khoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Hoa Sen, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghiên cứu sinh, Trường Simon Fraser University, British Columbia, Canada.

Tóm tắt: Sửdụng dữ liệu của nghiên cứu “Khảo sát về năng lực chuyên môn

và quản lý của phụ nữ 56-60 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh” doTrung tâm nghiên cứu Giới và Xã hội trường Đại học HoaSen thực hiện, bài viết phân tích vai trò của nữ tríthức trong công tác xã hội và hoạt động phục vụcộng đồng. Ket quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc các nữ trí thức đến với nghề công tác xã hội và hoạt động phục vụ cộng đồng là sự tình cờ và do khả năng ngoại ngữ, nhưng việc gắn kết lâu dài với nghề làdo sự dam mê, sự mongmuốn giúp đỡ người khác, và mong muốn sự thay đổi tích cực của xă hội.Đồngthời,

tố chất nữ và tính chất đặc thù hướng tới phụ nữ của các dự án phát triển tạo nên lợi thế của các nữ trí thức trong công việc này Nghiên cứu cũng cho thấy mặc dù gặp phải các rào cản nhưng các nữ trí thức lớn tuổi tích lũy được nhiều kinh nghiệm và mối quan hệ và đây làlợi thế giúp các nữ trí thứclàm phát triến cộng đồng hiệu quả hơn khi còn trẻ

Từ khóa: Phụ nữ; Nữ trí thức; Công tác xã hội; Phát triển cộng đồng; Thành phố

Hồ Chí Minh.

Ngày nhận bài: 2/1/2022; ngày chình sửa: 20/5/2022; ngày duyệt đãng: 10/6/2022.

1 Giri thiệu

Trong xã hội, phụ nữ nói chung và nữ trí thức (NTT) nói riêng là một thành phần nhân lực đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một xã hội Tại Việt Nam hiện nay, số lượng phụ nữ có trình độ từ đại học trở lên đã tăng lên đáng kể Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2019, tổng dân số

nừ 55- 59 tuổi toàn Thành phố Hồ Chí Minh là 232.264 người chiếm 53,72%, trong dỏ có 15,8% có trình độ đại học trở lên, tương đương 36.694 người (Tổng

Trang 2

cục Thống kê, 2019) Lực lượng lao động này đã góp phần đáng kể vào sự phát triển xã hội Sự đóng góp của NTT được thể hiện trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau như y tế, giáo dục, kinh tế Trong đó sự đóng góp của các NTT trong lĩnh vực công tác xã hội và hoạt động phục vụ cộng đồng (CTXH&HĐPVCĐ) là không nhỏ, thể hiện qua CTXH&HĐPVCĐ chuyên nghiệp, toàn thời gian hoặc các hoạt động thiện nguyện Kể từ đầu những năm 1990s, CTXH&HĐPVCĐ ở Việt Nam bắt đầu phát triển với sự có mặt của các tổ chức phi lợi nhuận (NPO), phi chính phủ (NGO) quốc tế như Care có mặt tại Việt Nam năm 1989, Save The Children năm 1990s, Enda năm 1993 Điều này đã thúc đẩy CTXH&HĐPVCĐ phát triển mạnh mẽ trong thời gian này Sự cống hiến và đóng góp của các NTT thông qua các dự án phát triển (DAPT) và phát triển cộng đồng (PTCĐ) của các

tổ chức nơi các NTT làm việc đã được ghi nhận và đã góp phần tạo nên sự thay đổi ở nhiều cộng đồng yếu thế khắp nơi trên cả nước Đến nay, sau hơn 30 năm hoạt động trong lĩnh vực CTXH&HĐPVCĐ, nhiều NTT đã nghỉ hưu hoàn toàn hoặc đã nghỉ hưu nhưng vẫn tiếp tục làm chuyên gia tư vấn cho các dự án của các tổ chức NGO hoặc đi dạy thỉnh giảng cho các trường đại học

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy vai trò lãnh đạo của các NTT trong CTXH&HĐPVCĐ thể hiện qua sự mong muốn mạnh mẽ phục vụ cộng đồng;

có động lực mạnh mẽ làm cái gì đó cho cộng đồng; quan tâm, và có khả năng trở thành nhà lãnh đạo cộng đồng; mong muốn tham gia vào các hoạt động thiện nguyện; có các liên kết hồ trợ trong hoạt động cộng đồng (Bridger, 1987; Kasi, 2013; Mickelwait và cộng sự, 1976; OECD, 2008; Quadrio-Curzio và cộng sự, 2020; Taplin, 1989) Như vậy vai trò lãnh đạo trong CTXH&HĐPVCĐ không chỉ đơn thuần là sự lãnh đạo mà bao gồm rất nhiều các yếu tố liên quan đến sự tâm huyết, quan tâm, và động lực phục vụ các đối tượng yếu thế (Kasi, 2013) Hầu hết các nhà nữ lãnh đạo CTXH&HĐPVCĐ thường tự nhận mình là có thái độ mở, hồ trợ, và không lạm dụng quyền lực trong quản lý đồng thời họ cũng luôn nhạy cảm và hiểu rõ nhu cầu của nhân viên (Kasi, 2013; Gittel và cộng sự, 2000)

Tuy nhiên, sự đóng góp của phụ nữ nói chung hay phụ nữ đóng vai trò lãnh đạo nói riêng trong hoạt động cộng đồng thường bị cản trở do họ thiếu nguồn lực như kinh tế, văn hóa và bị chi phối bởi ý thức hệ, định kiến giới đối với phụ

nữ nông thôn (Al-Ghanim & Badahdah, 2016; Garcia-Retamero & López-Zafra, 2006) Những vấn đề này đã cản trở sự tham gia của phụ nữ nơi công cộng, mặc

dù phụ nữ nông thôn luôn được đánh giá là đa năng, nhiều nguồn lực và sở hữu những kỳ năng và thái độ đặc biệt có thế phát triển và sử dụng trong nền kinh tế chính thống (Sikic-Micanovic, 2009)

Trang 3

2 Phương pháp nghiên cứu

Mầu nghiên cứu

Bài viết này nhằm làm rõ hơn nữa vai trò của NTT cũng như năng lực chuyên môn và quản lý của họ trong một lĩnh vực cụ thể đó là CTXH&HĐPVCĐ và tập trung chủ yếu vào khai thác những động lực, lợi thể, và thách thức của NTT 56-60 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) tron ị CTXH&HĐPVCĐ

Nghiên cứu này là một phần kết quả của “Khảo sát về năng lực chuyên môn và quản lý của NTT 56-60 tuổi tại TPHCM” do Trung tâm nghiên cứu Giới

và Xã hội trường Đại học Hoa Sen thực hiện thông qua khảo sát 400 NTT trong

độ ti ổi 56-60 có trình độ đại học trở lên đã và đang làm việc trong các lĩnh vực như choa học tự nhiên, kỳ thuật, công nghệ; khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật, kinh tế, hành chính - chính trị, y tế, CTXH&HĐPVCĐ tại TPHCM Cách chọn mẫu theo phương pháp tiện lợi Nội dung khảo sát chủ yếu thu thập thông tin vẻ thực trạng công việc trước khi nghỉ hưu và tại thời điểm phỏng vấn, năng lực, í ức khoẻ, tâm lý, và vai trò của các NTT trong xã hội

Nghiên cứu phỏng vấn sâu 45 khách thể với các nhóm như sau: (i) 20 NTT 56-60 tuổi thuộc các ngành nghề khác nhau trong đó có 5 khách thể đã và đang làm xiệc trong lĩnh vực CTXH&HĐPVCĐ; (ii) 5 NTT có độ tuổi gần nghỉ hưu (53-55 tuổi); (iii) 14 nam và nữ quản lý /lập chính sách/ chuyên gia nhằm tìm hiểu về nhận định và quan điểm của họ về việc sử dụng và năng lực chuyên môn

và quỉn lý của NTT 56-60 tuổi; (iv) 6 nam và nữ 25-45 tuổi nhằm tìm hiểu quan điểm và nhận định của họ về năng lực chuyên môn của NTT 56-60 tuổi và các mối quan hệ làm việc giữa các thế hệ trẻ và lớn tuổi Lựa chọn phỏng vấn ở các

cơ qu in đang sử dụng NTT 56-60 tuổi

Các khái niệm nghiên cứu

rheo lý thuyết về động lực phục vụ cộng đồng (ĐLPVCĐ) thì ĐLPVCĐ được hiếu là nghĩa vụ, niềm dam mê, và sự sằn lòng giúp đỡ của những người làm c TXH&HĐPVCĐ (Perry và Wise, 1990) và động cơ phục vụ xã hội của họ (Perry và cộng sự 2010) Bên cạnh đó, ĐLPVCĐ bao gồm động lực bên ngoài

và động lực nội tại để đạt được mục tiêu phục vụ cộng đồng (Gagné và Deci, 2005; Grant, 2008) Tuy nhiên, ĐLPVCĐ không phải là động lực làm việc (Bozeman và Su, 2014) Theo Perry và Wise (1990), ĐLPVCĐ của nhân viên CTXH&HĐPVCĐ phụ thuộc vào thái độ của nhân viên đó đối với động cơ và hoạt đong cộng đồng của các cơ quan nơi họ làm việc

Trang 4

Hành vi làm việc của nhân viên CTXH&HĐPVCĐ phụ thuộc vào mức độ động lực bên ngoài tác động lên họ Neu động lực bên ngoài tác động lên nhân viên CTXH&HĐPVCĐ ở mức thấp nhất, thì hành vi làm việc của họ sẽ là chỉ

để tránh cảm giác tội lồi và xấu hổ hoặc để nâng cao giá trị bản thân (Gagné và Deci, 2005) Nếu họ có động lực bên ngoài hoặc động lực tự chủ ở mức cao nhất,

họ sẽ đan xen các giá trị và chuẩn mực phục vụ cộng đồng vào hành vi làm việc của mình [Neu] hành vi làm việc của nhân viên CTXH&HĐPVCĐ chỉ nhằm tránh bị trừng phạt hoặc vì lợi ích của chính họ thì có nghĩa là họ thiếu hoặc không có ĐLPVCĐ (Breagh và cộng sự, 2018)

ĐLPVCĐ là sự kết hợp giữa sự thu hút của hoạt động cộng đồng, cam kết của các giá trị của hoạt động phục vụ cộng đồng, lòng nhân ái, và sự hy sinh của bản thân (Perry, 1997, 2000; Kim và cộng sự, 2013; Ritz, 2011; Wright, 2008) Theo Perry và Wise (1990), ĐLPVCĐ đòi hỏi sự đồng cảm của người làm CTXH&HĐPVCĐ đối với người khác Ngoài ra, ĐLPVCĐ nội tại chỉ xuất hiện khi người làm CTXH&HĐPVCĐ tham gia và thích làm nhiệm

vụ của họ (Breagh, Ritz và Alfes, 2018) Tuy nhiên, ĐLPVCĐ cũng bị ảnh hưởng bởi bối cảnh lịch sử - xã hội, sở thích và đạo đức của nhân viên (Perry 2000; Perry và Vandenabeele 2008; Vandenabeele, 2011) và các giá trị, văn hóa và chuẩn mực của thể chế (Anderfuhren-Biget và cộng sự, 2013; Perry và Vandenabeele, 2008)

Bài viết không nhằm chứng minh lý thuyết về ĐLPVCĐ thông qua nghiên cứu trường họp mà chỉ sử dụng lý thuyết về ĐLPVCĐ để tìm hiểu ĐLPVCĐ của các NTT 56-60 tuổi đã hoặc đang làm CTXH&HĐPVCĐ tại TPHCM Việc sử dụng lý thuyết về ĐLPVCĐ giúp nhận diện được những thách thức và lợi thế mà các NTT đã trài qua trong quá trình tham gia CTXH&HĐPVCĐ, những yếu tố tác động đến ĐLPVCĐ của họ như các giá trị văn hoá và chuẩn mực thể chế, bối cảnh lịch sử, và các tác động bên trong

và bên ngoài khác Việc phân tích trên sẽ làm rõ vai trò của các NTT 56-60 tuổi trong CTXH&HĐPVCĐ tại TPHCM

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Quá trình và động lực của NTT trên 55 tuổi đến với CTXH&HĐPVCĐ tại TPHCM

Trong những năm 1990s, khi Việt Nam trong giai đoạn đầu mở cửa, nhiều DAPT của các tổ chức đa phương và song phương quốc tế vào Việt Nam Sự gia nhập này của các tổ chức phát triển quốc tế cũng đồng nghĩa với sự gia tăng nhu

Trang 5

Cầu về nguồn nhân lực có trình độ ngoại ngữ mà cụ thể là tiếng Anh Theo các NTr' được phỏng vấn, thời gian này, số lượng nhân lực có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của các tổ chức quốc tế rất hạn chế Mặc dù không có số liệu thốn g kê cho vấn đề này nhưng có thể nhận thấy rõ điều này khi chúng ta nhìn vào thực tế bối cảnh của Việt Nam trong giai đoạn này Thực tế này đã tạo điều kiện cho các NTT trên 55 tuổi tham gia vào CTXH&HĐPVCĐ chuyên nghiệp cho :ác tổ chức quốc tế Đồng thời, điều này cũng cho thấy quá trình đến với CT> H&HĐPVCĐ của NTT trong giai đoạn này đa phần bắt đầu từ việc biết ngoại ngữ Lúc đầu, các NTT có thể chỉ tình cờ tham gia với vai trò phiên dịch cho các dự án Một NTT chia sẻ:

“Thì đâu tiên là chị có ngoại ngữ tức là hồi đó ngoại ngữ là từ thời trước 1975, sau đó rồi đến thời gian mở cửa, năm 1988, 1989 là nhà nước đổi mới mở cửa, thì các công ty nước ngoài qua Việt Nam rất là nhiều thế là vì đã biết sẵn ngoại ngữ cho nên chị đi làm phiên dịch, thì là cứ ai cần kêu một ngày chị cũng đi Thì

đa số họ làm về kinh doanh xuất nhập khấu, xong rồi tình cờ một hôm chị dịch cho một cái bà làm ngành công tác xã hội, tức là không hề hay biết đâu, thế là khi làm xong rồi thì bả lại hướng dân cho mình làm luôn, nhận vào làm việc luôn tại cơ quan đẩy ”(PVS, Nữ giảng viên thỉnh giảng đại học và dịch giả tự do) Bên cạnh ngoại ngừ là cơ hội giúp các NTT dấn thân vào CTXH&HĐPVCĐ của các tô chức NGO những năm 1990s, thì việc tham gia vào ngành CTXH&HĐPVCĐ của các NTT phần nhiều là sự tình cờ có cơ hội tham gia vào một vài hoạt động cộng đồng với các tổ chức và sự dam mê giúp đờ người khác trong các NTT có điều kiện được phát huy Có thể nói rằng cơ hội tiếp xúc với CTXH&HĐPVCĐ là cơ hội quan trọng thứ hai hướng các NTT trong giai đoạn 1990s tham gia vào CTXH&HĐPVCĐ chuyên nghiệp và lâu dài sau này Nhiều NTT dược phỏng vấn cho biết, việc tham gia vào CTXH&HĐPVCĐ của các NTT rất tin 1 cờ Ban đầu chỉ là sự tham gia vào một số hoạt động thiện nguyện, hỗ trợ giúp đ ỡ những người nghèo hoặc những đối tượng thụ hường trong các dự án:

“Chị đền với hoạt động cộng đông rất tình cờ, trước kia chị học nông nghiệp, chị lọc chăn nuôi thúy, chị làm trong ngành được 3 năm, xong đến năm 1991, 1992

hì trong lúc cơ quan đang sát nhập chị đang nằm chờ việc thì bạn chị mới rủ chị ìham gia vào cái hoạt động cộng đồng đi vào các khu ố chuột, lúc đó cộng đồng dọc kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, thì lượm rác nè Tham gia mấy cái nhóm phụ

ĩ 'ữ, mấy cái nhóm hoạt động cộng đồng chị đi theo quan sát, học hỏi này kia đó.

I 'au đó chị được giao làm community organizer (tổ chức cộng đồng), chị làm việc

1ới chính quyên địa phương đê thực hiện các hoạt động như cùng với cộng đồng,

l ip các nhóm như nhóm tín dụng tiết kiệm, nhóm xây dựng cộng đồng Sau đó chị

c ứ liên tục, làm hết cộng đồng này đến cộng đồng khác, Quận 1 rồi Quận 2, rồi

Trang 6

tham gia cộng đằng lẻ của Hội phụ nữ thành phố, sau này chị tham gia làm cộng tác viên, trực tiếp làm công tác điều phối" (PVS, Nữ giảng viên thỉnh giảng đại học vàquản lý dự án PTCĐ).

Tuy nhiên, sự gắn kết lâu dài của các NTT với CTXH&HĐPVCĐ là do niềm dam mê, và sự sẵn lòng giúp đỡ (Perry và Wise, 1990) Bên cạnh đó, theo nghiên cứu này, sự gắn kết của các NTT với ngành CTXH&HĐPVCĐ còn là do

sự giao thoa của lý tưởng sống của người làm CTXH&HĐPVCĐ, sự thay đổi của cộng đồng xã hội do những hoạt động cộng đồng của họ mang lại, và sự mong muốn tạo nên sự thay đổi xã hội ở họ Một NTT có gần 30 năm làm công tác xã hội chia sẻ:

“ Công việc của mình nó giống như gắn với cuộc song của mình, nó là cái lý tưởng, là hướng đi của cuộc sống của mình cái nghề nó chọn mình, rồi mình lại gắn với nó trong suốt đoạn đời còn lại của mình, cho tới giờ này mình đã tới tuôi hưu mà mình vân chưa muốn rời, đối với mình, cái nghê này nó có những cái hấp dẫn, ma lực mình cũng không lý giải được, nhưng mà nó phù hợp với lý tưởng sống của chị, đó là gì, khi mình sống, mình có những cái đóng góp thiết thực nhất cho cộng đồng, cho xã hội, cho những người chung quanh mình thì điều đó mình thấy rất là có ỷ nghĩa nhiều người cũng nói với chị, đi chùa làm chỉ, làm như cô là thấy rất là ok, đó là cái miệng của những người dân dã nói với mình, thì mình cũng thấy là cái công việc của mình nó mang lại thứ nhất là những thay đối tích cực cho xã hội cho cộng đồng, đó là cái điều rất là tốt, rồi bản thăn mình cũng thấy rằng mình cũng mong muốn điều đó, thì hai cái giống như là nó gặp nhau thì nó giúp cho mình mới trụ lại được cho tới giờ này”(PVS, Nữ nhân viên côngtác xã hội).

3.2 Lợi thế của NTT khi tham gia CTXH&HĐPVCĐ

Vai trò và năng lực của NTT đã được khẳng định trên nhiều lĩnh vực khác nhau và cũng khác nhau giữa các lĩnh vực Ở nhiều lĩnh vực NTT trong

độ tuổi 56-60 được chứng minh là có năng lực tham mưu, tổ chức và thực hiện (Võ Thị Mai, 2006), đồng thời trong vai trò lãnh đạo, NTT cũng chứng

tỏ được về khả năng lắng nghe, chính trực, và chu đáo trong lãnh đạo (Kasi, 2013) Do đó, trong CTXH&HĐPVCĐ, NTT trong độ tuổi 56-60 đóng vai trò quan trọng một phần cũng từ những ưu thế này Đây là những năng lực cần thiết của những người làm CTXH&HĐPVCĐ Một NTT chia sẻ: “Ở

trong góc độ công việc của tôi làm, lợi thế về việc vận động ủng hộ trong cộng đổng theo tôi nghĩ chị em phụ nữ thường có kỹ năng tốt hơn nam về mặt

đa số Các chị có điều kiện gần gũi, tiếp xúc mọi người hơn, cách vận động của các chị tốt hơn các anh em Cách thuyết phục cộng đồng đế người ta thấy

Trang 7

và lĩỗ trợ tốt hơn các anh nam nhiều” (PVS, Nữ quản lý dự án PTCĐ) Một

NTT khác cũng chia sẻ tương tự “vào cộng đồng cần cái sự mềm dẻo, cần thờ gian, phải ngồi tâm tình tâm sự lê ỉa nói chuyên, nên là nữ có những cái

Bên cạnh những lợi thế bên trong, bản thân công việc của ngành CTXH&HĐPVCĐ tại Việt Nam cũng thiên lệch tạo nên những lợi thế nhất định đối với những người phụ trách công việc là nữ giới Phần nhiều các DAPT do các :ổ chức NGO quản lý đều hướng tới các đối tượng thụ hưởng là phụ nữ hoặc chọn làm việc với phụ nữ thay vì nam giới do đó, một NTT chia sẻ:

‘‘ Nữ dê dàng hơn là do, đại đa số các hoạt động cộng đồng là nữ tham gia, ngay

cả những nhóm tín dụng tiết kiệm, rồi những nhóm chăm sóc trẻ em, rồi những nhóm kê hoạch hóa gia đình, với lại mình phối hợp với phụ nữ nhiều hơn, những hoạt động đó thì nó lại đa dạng hơn các hoạt động của nam, do đó mình thấy đó cũng là cái thuận lợi khi mình đi vào cộng đồng” (PVS, Nữ giảng viên thỉnh giảng đại học và quản lý dự án PTCĐ)

Có thể nói, những tố chất nữ và tính chất đặc thù hướng tới phụ nữ của các

dự á ì PTCĐ do các tổ chức quốc tế tài trợ như dự án tín dụng tiết kiệm, chăm sóc -ẻ em, kế hoạch hoá gia đình là sự kết hợp tạo lên lợi thế của NTT trong CTXH&HĐPVCĐ Điều này cũng chính là những yếu tố tạo nên vai trò kết nối

và Xí y dựng của các NTT trong cộng đồng

Việc tham gia CTXH&HĐPVCĐ của các NTT 56-60 tuổi tại TPHCM còn

có nl ững ưu thế do sự tích lũy kinh nghiệm và mối quan hệ sau nhiều năm làm việc trong lĩnh vực này So sánh với khi còn trẻ, đa số các NTT tham gia phỏng vấn đều cho rằng, kinh nghiệm, mối quan hệ là những ưu thế của các NTT hiện tại khi làm cộng đồng Kỳ năng đàm phán thương lượng với đối tác hiệu quả hơn

so với khi họ còn trẻ:

‘‘ Khi trẻ mình còn đang nóng nảy, mình không đứng về phía người ta Khi xuống đàm phán hợp đồng đôi khi mình chỉ nghĩ về cái được hơn, về hướng được cho

tố chức thôi Khi mình lớn tuổi rồi mình đàm phán theo cách dễ thuyết phục hơn nhiều Mình đứng về phía người ta, hiểu người ta, cách nói mình cũng nói thì có

dự án, dự án này đầu tiên mang lại lợi ích cho chị, cho tổ chức Tổ chức của tôi được cái gì Bao giờ mình cũng đặt cái lợi của người ta lên trước"(PVS, Nữ tư vấn quản lý dự án PTCĐ).

Đồng thời khi lớn tuổi kỳ năng giao tiếp với đối tác là lãnh đạo cộng đồng cũng chuyên nghiệp, tự tin hơn, một NTT chia sẻ:

"Thực ra là nó có thay đổi, ngày xưa hồi trẻ thì là mình ít có kinh nghiệm hơn,

I:òn bây giờ nó có lợi thế hơn Hồi xưa khi mình làm việc thì củng ngại, hơi ngại

Trang 8

một chút khi mình tiếp xủc với lại các cấp chính quyên hoặc là những câp cao, mình ngại ngùng cái chuyện đó lắm, giờ mình thấy, mình cũng có tuôi, mình nói chuyên với họ một cách là tự nhiên hom, thoải mải hom, có kinh nghiệm hơn, có trải nghiệm hơn, thì mình nghĩ là ở một vị trí nào đó thì mình có thế nói chuyên ngang hàng với họ, họ tôn trọng mình hơn là những người trẻ” (PVS, Nữ giảng viên thỉnh giảng đại học và quản lý dự án PTCĐ).

Đồng thời, năng lực quản lý và điều phối dự án khi các NTT lớn tuổi hiệu quả hơn khi họ còn trẻ, một NTT khác chia sẻ:

“ơtuôiphụ nữ chín chắn như bây giờ thì khả năng mình cao hơn về kinh nghiệm

và trải nghiệm nhiều hơn các bạn trẻ bây giờ về kinh nghiêm, điều phối trong các hoạt động thì phải tính toán về khoa học, tố chức liên kết các hoạt động, xây dựng thì họ không so sánh nôi với các chị em từng trải nghiêm, từng tích lũy

kỹ năng của mình trong quá trình trước đây Ở tuổi như bây giờ, các chị có thể tiếp tục quản lý dự án lớn, thể hiện vai trò lãnh đạo của mình ”(PVS, Nữ tư vấn quản lýdự án PTCĐ)

Nói chung, lợi thế của NTT khi tham gia CTXH&HĐPVCĐ không có nhiều sự khác biệt so với nam giới do đặc thù công việc mà sự khác biệt chỉ tồn tại bên trong khi họ còn trẻ so với khi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và mối quan hệ hơn khi họ ở tuổi 56-60 Điều này cho thấy các NTT 56-60 tuổi đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và lãnh đạo cộng đồng

3.3 Những thách thức và rào cản đoi với phụ nữ khi làm CTXH&HĐPVCĐ

Định kiến giới là một trong những rào cản rõ rệt đối với sự phát triển

sự nghiệp của nữ giới Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy định kiến về năng lực lãnh đạo của nữ giới (Hội LHPNVN, 2020; Nguyễn Thị Thu Hà 2008; Oxfarm Vietnam, 2016) và định kiến giới nơi làm việc (Trần Thị Vân Anh, 2010; Tổ chức lao động quốc tế, 2020) là những rào cản hạn chế phụ nữ trong phát triển sự nghiệp Tuy nhiên, trong CTXH&HĐPVCĐ, ngoài những thách thức chung trên, rào cản đối với NTT 56-60 tuổi làm cộng đồng còn thể hiện

do tính đặc thù của công việc CTXH&HĐPVCĐ là công việc đòi hỏi người tham gia nhiều thời gian nơi cộng đồng và điều này đồng nghĩa với việc họ phải xa gia đình hoặc phải chạy xe máy đường dài từ cơ quan đến cộng đồng Việc sống và làm việc tại những cộng đồng hẻo lánh và chạy xe máy đường dài là một thách thức đối với NTT lớn tuổi Nhiều NTT đã chọn không tham gia CTXH&HĐPVCĐ mà chuyển qua lĩnh vực khác như giảng dạy, dịch thuật, hoặc chỉ làm việc với những địa bàn gần cũng vì những yếu tố này Một NTT đã nhiều năm làm PTCĐ nhưng nay chuyển sang giảng dạy và dịch thuật chia sẻ:

Trang 9

“ Hạn chế thì chỉ có đi những chỗ mà quá xa xôi hẻo lánh, rồi có những chỗ đường sả lầy lội, leo cầu khỉ này kia thì có lẽ là ngại lắm, chứ còn nếu mà không tại vì cộng đồng thì cũng nhiều, tại vì trước kia chị kể là lúc đó chị cũng trên 50 rôi cũng vân làm cộng đồng là vì đi những vùng trong thành phố nói chung vân còn những chô nghèo lắm chứ không cần phải đi lặn lội xa xôi. Nhưng mà những vùng rừng núi này kia, những chỗ khó đến thì đương nhiên bạn trẻ đi thì nó sẽ nhanh nhẹn hơn"(PVS, Nữ giảng viên thỉnh giảng đại học

và dịch giả tự do).

Những thách thức và hạn chế này cũng lý giải việc rất ít các NTT 56-60 tuổi tại TPHCM trong nghiên cứu này tham gia CTXH&HĐPVCĐ chuyên nghi ỉp, toàn thời gian mà chuyển sang vai trò giảng dạy, dịch thuật, và tư vấn ngắn hạn cho các dự án PTCĐ

CTXH&HĐPVCĐ đóng vai trò quan trọng trong PTCĐ Công việc đòi hỏi rất miều kỹ năng làm việc với con người mà cụ thể là người dân nghèo, nhóm yếu t lế ở những vùng dự án Đồng thời đây cũng là công việc yêu cầu rất nhiều

sự d< n thân của người đảm nhận về mặt thời gian và công sức cũng như tâm huyết với cộng đồng như lý thuyết về ĐLPVCĐ đã trình bày ở trên CTX T&HĐPVCĐ cũng không đon thuần chỉ là những chuyên môn đối với nghề CTXH&HĐPVCĐ mà còn mong đợi ở người làm nghề về sự dấn thân đối với công việc Một NTT chia sẻ:

“ Tình nhăn ải, một tấm lòng, kiến thức nhất định và phải có dam mê và có một cái dấn thân làm cộng đồng nhiều lúc nó cũng khó khăn, tức là mình phải có sự đam mê, phải có sự dấn thân và phải có sự yêu thương thật sự tất cả mọi người trong cộng đồng, tích lũy kinh nghiệm, phải biết chia sẻ với những người khác ”

PVS, Nữ giảng viên thỉnh giảng đại học và tư vấn quản lý dự án PTCĐ)

Do đó, phụ nữ và NTT nói chung khi tham gia CTXH&HĐPVCĐ sẽ gặp rất nhiều những thách thức về sự đa dạng và phức tạp của công việc, đồng thời với sụ hy sinh về mặt thời gian của gia đình và bản thân cho công việc Việc thườn) ’ xuyên phải sống và làm việc tại những cộng đồng xa gia đình là những khó kí ăn không nhỏ đối với những NTT làm CTXH&HĐPVCĐ Điều này là áp lực ha chiều, gia đình và công việc lên NTT Một NTT đã nhiều năm làm cộng đồng có gia đình và hai con chia sẻ: “Con lớn lên không có thời gian chăm con,

đi nhiéu quả cũng là hạn chế Khi ở độ tuổi sinh đẻ và nuôi con thì thiên chức của mì th cũng hạn chế mình ” (PVS, Nữ tư vấn quản lý dự án PTCĐ) Hoặc một

NTT k lác cũng có suy nghĩ tương tự “khi phụ nữ làm công việc này thì họ phải

đảm nl iệm vai trò trong gia đình rồi thì họ có thời gian tham gia các hoạt động

xã hội Nếu như người phụ nữ đi làm công tác xã hội mà không sắp xếp thời gian

Trang 10

hợp lý giữa việc kiếm tiền, gia đình, công tác xã hội thì dê dẫn đến mãu thuân các vai trò" (PVS, Nừ quản lý dự án) Tuy nhiên, những thách thức luôn tồn tại trong quá trình CTXH&HĐPVCĐ của các NTT nhưng không phải là rào cản cản trở sự dấn thân của các NTT đối với CTXH&HĐPVCĐ Đồng thời, sự dấn thân vào công việc đòi hỏi nhiều thời gian xa gia đình làm hạn chế cơ hội tiếp xúc của các NTT độc thân và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc nhiều NTT tham gia CTXH&HĐPVCĐ trên 55 tuổi vẫn độc thân Một NTT chia

sẻ “khi các em còn trẻ, nếu đi hoạt động cộng đồng nhiều thì làm gì còn thời

gian mà lấy chồng Chị nói thiệt, nhiều cô ế vì đỉ làm nhiều, đi làm cuối tuân, công tác nhiều thì làm gì còn thời gian mà hẹn hò ” (PVS, Nữ tư vấn quản lý dự

án PTCĐ)

Một NTT khác thi cho rằng các vấn đề giới trong cộng đồng cũng phần nào tác động đến các NTT:

“Thì mình nghĩ là khi làm cộng đồng nó có những tác động nhất định, mình thấy cuộc sống gia đình nó khốn khổ đến như vậy, hoàn cảnh của những người phụ

nữ đôi khi mình cũng hoi bị ảnh hưởng nha, thì ảnh hưởng thê thôi thì thôi mình nên tránh đừng có bước vào cuộc sống hôn nhản đừng đế cho nó bị khố như những người phụ nữ trong cộng đồng như vậy Hoặc là mình cứ đi lo mình giải quyết mọi việc ở bên ngoài xã hội như vậy, về nhà cũng cứ suy nghĩ đê mà giải quyết những chuyện trong cộng đồng cho nên rồi lần lừa thời gian nó cứ trôi qua,

và cũng có thể là có những chọn lựa cho mình, ừ là mình nên song độc thân ”

(PVS,Nữ giảng viên thỉnh giảng đại học và dịch giả tự do)

Đối với các NTT đã có gia đình, việc dấn thân với CTXH&HĐPVCĐ cũng

là một trong những nguyên nhân ly hôn của các NTT trên 55 tuổi tham gia làm việc trong lĩnh vực này Những lý do lý giải cho vấn đề này có thể là do sự tác động của những câu chuyện hôn nhân không vui trong cộng đồng nơi họ công tác hoặc do sự hy sinh thời gian của gia đình quá nhiều cho công việc Một NTT nhiều năm làm CTXH&HĐPVCĐ và còn độc thân cho biết “Ngoài 50 có gia

đình làm cộng đồng chị thấy ít à, tại vì chị thấy trong nhóm NTT cứ là dãn cộng đồng hoặc là độc thân hoặc là ly hôn rồi, tại vì chị nghĩ là mấy bà đó đi nhiều quả không đê ỷ gia đình cho nên là ở nhà ông chồng sóng đi mất’’ (PVS, Nữ

giảng viên thỉnh giảng đại học và dịch giả tự do)

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là CTXH&HĐPVCĐ và vấn đề hôn nhân của NTT làm việc trong lĩnh vực này luôn có mối quan hệ tiêu cực Theo như quan sát thực tế cũng có rất nhiều NTT mặc dù luôn lăn xả với CTXH&HĐPVCĐ nhưng luôn được gia đình mà đặc biệt là “ông xã” ủng hộ Các NTT này chia sẻ là do họ đã học được nhiều kinh nghiệm sống và trở nên

Ngày đăng: 01/11/2022, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w