TÓM TẮT Kỳ thị của cộng đồng đối với phụ nữ bị buôn bản qua biên giới trở về được tìm hiêu thông qua cảm nhận của những phụ nữ về cách ứng xử của cộng đồng đổi với họ.. Kết quả nghiên cí
Trang 1KỲ THỊ CỦA CỘNG ĐỒNG
Vũ Ngọc Hà
Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
TÓM TẮT
Kỳ thị của cộng đồng đối với phụ nữ bị buôn bản qua biên giới trở về được tìm hiêu thông qua cảm nhận của những phụ nữ về cách ứng xử của cộng đồng đổi với họ Nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi trên 470 phụ nữ bị buôn bản trở về ở 5 tỉnh biên giới Kết quả nghiên círu đã chỉ ra rằng, ở các mức độ khác nhau, trên 2/3 số phụ nữ bị buôn bán qua biên giới trở về đã có những cảm nhận về sự kỳ thị của cộng đồng đổi với họ Không ai lang nghe là biểu hiện kỳ thị mà những phụ nữ này cảm thấy nhiều nhất và bị tẩy chay, xa lảnh là biểu hiện kỳ thị họ cảm thấy ít nhất từ những người xung quanh Tuổi bị buôn bán, mục đích bị buôn bán và sổ năm trở về nơi
cư trú không phải là các yếu tố tạo ra sự khác biệt, nhưng trình độ học vấn là yếu tổ tạo
ra sự khác biệt trong cảm nhận của những phụ nữ bị buôn bán qua biên giới về sự kỳ thị của cộng đồng đối với họ Những phụ nữ không biết đọc, biết viết có cảm nhận về sự kỳ thị của cộng đồng đối với họ nhiều hơn những phụ nữ có trình độ học vấn tiểu học, trung học cơ sở và trung học phố thông.
Từ khóa: Kỳ thị; Kỳ thị của cộng đồng; Cảm nhận về sự kỳ thị của cộng đồng; Phụ
nữ bị buôn bán qua biên giới trở về.
Ngày nhận bài: 23/3/2022;Ngày duyệt đăng bài: 25/4/2022.
1 Đặt vấn đề
Tệ nạn buôn bán phụ nữ ngày càng gia tăng và trở nên phức tạp Theo báo cáo tình hình và kết quả đấu tranh chống tội phạm mua bán người và xuất cảnh trái phép liên quan đến mua bánngười của Ban chủ nhiệm Đề án II-CT130/ CP- Bộ Công an, Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, từ năm 2004 - 2009 toàn quốc phát hiện 1.586 vụ mua bán người, trong đó đối tượng buôn bán phụ
nữ là 2.888 người, số nạn nhân là 4.008 người (so với năm trước tăng 1.090 vụ) Năm 2009 xảy ra 395 vụ, 748đối tượng, số nạn nhân 869 người (so với năm
Trang 22008 tăng 5,3 về số vụ; số đối tượng tăng 4,1%) 6 tháng đầu năm 2010 phát hiện
168 vụ, 238 đối tượng BBPN, 306 nạnnhân bị lừabán (Bộ Công an, 2010)
Theo số liệu do Bộ Công an cung cấp, từ năm 2010 đến tháng 6/2021, Việt Nam phát hiện gần 3.500 vụ, với 5.000 đối tượng, lừa bán gần 7.500 nạn nhân Tội phạm buôn bán người đã xảy ra trên phạm vi 63 tỉnh/thành phố, nạn nhân không chỉ làphụ nữ, trẻ em, màđãxuất hiện tình trạng mua bán nam giới, muabán trẻ sơ sinh, bào thai, muabán nội tạng, đẻ thuê Gần 85% số vụbuônbán người ra nước ngoài, tập trung chủ yếu qua các tuyến biên giới giữa Việt Nam với Cam-pu-chia, Lào và Trung Quốc, trong đó, sang Trung Quốc chiếm 75% (dẫn theo Bộ Laođộng - Thương binh và Xãhội, 2021)
Nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của các nạn nhân bị buôn bán vì mục đích tình dục Kayla (2017) nhận thấy rằng, phụ nữ bị cô lập khi bị buôn bán và
tục bị cô lập và phân biệt đối xử sau khi được giải cứu trở về cộng đồng Sự co lập của cộngđồng và xã hội có thể cản trở việc hồi phục tâm lýcũng như hình thành các mối quan hệ lành mạnh cho những nạn nhân này (dẫn theo Freemire, 2017)
Zimmerman và các cộng sự (2003) đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với nạn nhân bị buôn bán ở châu Âu để tìm hiểu hậu quả và nguy cơ của việc bị buôn bán đối với các nạn nhân Ket quả cho thấy, phụ nữ bị buôn bán miễn cưỡng thực hiện các xét nghiệm vềHIV/AIDS do sợ bị gia đình hoặc cộng đồng kỳ thị,
tínhvới HIV
bạo lực Vì
kín tình trạn
bánphảiđối mặt với sựphản đối quyết liệt của gia đìnhvà xã hội, họ bị gia đình
và cộngđồngkỳthị Điều này tạo ra những căngthẳng triền miên,khiến họ gặp không ít khq khăn trong việc đối phó với các phản ứng tâm lý của chính bản thân Sự kỳ thị về việc từng bị buôn bán vàbị đánh giá là những người có tính lăng nhăng kl
(Zimmerman
có thể tiếp
ruông bỏ Một sô phụ nữ bị buôn bán trở vê có xét nghiệm dương /AIDS đã bị gia đìnhtừchối tiếp nhận, cộng đồng phân biệt đối xử, chông muốn bị ruồng bỏ, một số phụ nữbị buôn bán trởvề đã giữ
Ị của mình hoặc bỏ nhàrađi Khi trở lại cộngđồng, phụnữ bị buôn
liến phụ nữ bị buônbán luôn cảm thấy côlập và tách biệt với xã hội Yun vàWatts, 2003)
Theo Devine (2009) việc cộng đồng tham gia hồ trợ các nạn nhân sống
buôn bán là rất quan trọng, tuynhiên sự kỳ thị liên quan đến buôn sót sau khi bị
bán người vẫn còn là một trởngại đáng kể, đặcbiệt là các vấn đề sức khỏe như HIV/AIDS Tinh trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với nạn nhân bị mua bánvẫn còn diễn ra một cách mạnh mẽ (Devine, 2009)
Sử dụng phương pháp nghiên cứu địnhtínhvới các nạn nhân bị buôn bán
từ 1 - 5 năm, Silvavà Sathiyaseelan (2019) nhận thấy tồn tại một được giải cứu
Trang 3rào cản đáng kể đối với sự phục hồi của nạn nhân là cảm giác bị phân biệt đối
xử và bị loại trừ Sự chấp nhận là rất quan trọng cho hạnh phúc củanhững người sống sót trở về Ngoài ra, họ cần được hồ trợ, động viên và đồng hành đế tiêp tục cuộc sống mới Hầu như tất cả những người tham gia nghiên cứu này cho biết họ không kể câu chuyện của mình cho bất kỳ ai đế tránh bị phân biệt đối
xử và bị từ chối Điều này khiến họ cảm thấy mình không được lắng nghe cũng như cảm giác bị cô lập ngay chính tại gia đìnhvà cộng đồng của mình (Silva và Sathiyaseelan, 2019)
Bằng phương pháp nghiên cứu định tính gồm 10 cuộc phỏng vấn sâu và
1 cuộc thảo luận nhóm tập trung với những phụ nữbị buôn bán ởNepal vì mục đích tình dục, Dahal và cộng sự (2015) nhận thấyphụ nữ quay trở lại Nepal sau khi bị buôn bán sang Kuwait, Lebanon và Hong Kong đã phải chịu đựng sự
xa lánh của cộng đồng, sự xa lánh này đặc biệt trầm trọng với những nạn nhân nhiễmHIV/AIDS Theo cảm nhận của các nạn nhân, cộng đồng cho rằng những người sốngsót sau khi bị buôn bán là những cá nhân suy thoái và hư hỏng,những người nên bị ruồng bỏ và bị dày vò Nhắc nhở liên tục về quákhử của nạn nhân làm gia tăng các tổn thương sẵn có; các nạn nhân của nạn buôn người trởvề trở thành những người cô độc trong môi trường không thân thiện (Dahal, Joshi và Swahnberg, 2015)
Những người trưởng thành bị buôn bán trở về thường phải đối mặtngay lập tức với khó khăn kinh tế, do điều kiện kinh tế khắc nghiệt trong nước và/ hoặc thiếu kỹ năng chuyên môn, đôi khi họ còn gặp phải vấn đề có liên quan đến trầm cảm và các vấn đề tâm lý khác Ngoàira,họ cũng phải gánhchịu sự kỳ thị của xã hội do là nạn nhân của buôn bán người Họ tự kỳ thị bản thân hoặc bị ngườikhác kỳ thị dầnđến những khó khăn trong tiếpcận các nguồn lựccần thiết, trong giaotiếp với người hỗ trợ cũng như có các hành vi đối phó tiêu cực ví dụ như hút thuốc quánhiều, uống rượu, sửdụng ma túy (International Organization for Migration, 2007)
Theo US Aid (2007), những phụ nữ và trẻ em bị buôn bán với mục đích bóc lột tình dục nhiễm HIV/AIDS đặc biệt dễ bị xã hội tẩy chay Thậm chí, những phụ nữvà trẻ em gái bị buôn bán không có HIV vẫn bị cộng đồng cho là
có HIV, do đó vẫn bị kỳ thị và tẩy chay Một số cộng đồng đánh đồng nạn nhân của buôn bán người với mại dâm và có HIV Các nghiên cứuđiển hình do ABC Nepal thu thập từ 12 côgái bị buôn bán cho thấy, sự kỳ thị liên quan đến mại dâm
và HIV Cộng đồng cho rằng, khả năng nạn nhân của buôn bán người có HIV là
cóliên quan đếnmại dâm làrất cao, điều này khiển cộngđồng từ chối chấp nhận nạn nhân khibiết họđược giải cứu từcác vụ buôn người Gia đình sợsựchỉ trích củaxãhội, sự tẩy chay từ cộng đồng nên họkhông chấp nhận con gái của họ trở
Trang 4lại Ở Nebal, những nạn nhân không bị nhiễm bệnh hoặc không làmgái mại dâm, cũng được cho là măc bệnh và bị kỳ thị (USAid, 2007)
dụng phương pháp phỏng vấn sâu đối với 80 phụ nữbị buônbán sang
ốc trở về tại 3 tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lào Cai, Trung tâm
ưu Phụ nữ, Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương (2010) đã chỉ ra rằng,
ái độ kỳ thị của cộng đồng với cácnạnnhântrongthời gian qua có phần
người dân trong cộng đồng, có những phụ nữtrở về còn vấpphải sự
Sử
Trung QlỊ'
Nghiên
mặc dù th
thuyên giảm nhưngnói chung vẫn còn tồn tại đáng kể Bên cạnh việc xì xào, bàn tán về nhan phẩm của các cô gái bị bán ra nước ngoài, không ít người xa lánh, tránh tiếp cúc với nạn nhân vì lo sợ bị lây nhiễm bệnh từ họ Không chỉ chịu sự
kỳ thị của
ghẻ lạnh, chối bỏ của chính những người thân trong giađình như bổ mẹ, chồng, con, họ hàng của mình Do không chịu đượctủi nhục, nhiều nạn nhân đã phải đi khỏi địa pt ương hoặc trởlại nơi mà mình đã từngbị bán
Với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi trên 323 khách thể nghiên cứu (80 cán bộ, 80 nam giới và 163 phụ nừ từ 18 tuổi trở lên),Action Aid ViệtNam (2008) đã tiến hành khảo sát tình hình buôn bán phụ nữ trẻ em tại 4 tỉnh Điện Biên, Cao Bằng, Hải Phòng và Vĩnh Long Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn những người được hỏi cho rằng, họ quan tâm đến việc động viên tinh thần, giúp đỡ vật chất, không kỳ thị, xa lánh những nạn nhân bị buôn bán trở về (chiếm
từ 62,8% đến 87% số ý kiến trả lời) Có thể thấy, phần lớn người dân trongcộng đồng có quan điểm tốt về cách họ đối xử với nạn nhân bị buônbántrở về, trong khi đó nhiều phụ nữ bị buôn bán trở về lại có cảm nhận về sự kỳ thị của cộng đồng đối vớỉhọ
Dựa t‘ên việc phân tích kết quả của 19 phỏng vấn sâu với các cơ quan chức năng, cơ sở trợ giúp nạn nhân và các nạn nhân là phụ nữ và trẻ em gái là người dân tộc thiểu số tại các tỉnh LàoCai, Thừa ThiênHuế vàĐắk Lắk,Vũ Thị Thanh (2019) đã xem xét những ảnh hưởng về thể chất và tinh thần đổi với các nạn nhân của buôn bán người Kết quảnghiên cứu của tác giả cho thấy, phụ nữ
và trẻem gái phải trải qua sự kỳ thị của những người trong cộng đồng, nhấtlà ở cộng đồng người H’mông Trong hoàn cảnh không nhận được sự thông cảm, hỗ trợtừ cộng đóng thì gia đình cần là nơi để hỗ trợ, động viên các nạn nhân vượt qua những top thương về tâm lý Tuy nhiên, nhiều nạn nhân không có được sự
hồ trợ mà cònphải đối mặt với sự kỳ thị của chính người thân trong gia đình Sự
kỳ thị của giađình và cộngđồng đãgây ra những tổnthương rất lớn về tinhthần cho phụ nữvà
Nghiên
buôn bán qua
qua cảm nhận của những phụnữnàyvề cáchứng xử của cộngđồngđối với họ
trẻ em gái dântộc thiểu số
cứu này tìm hiểu kỳ thị của cộng đồng đối với những phụ nừ bị biên giới trở về Nhữngbiểu hiện kỳ thị này được xem xét thông
Trang 52 Mầu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Cữ mẫu và chọn mẫu
Với phương pháp chọn mầu thuận tiện, 500 phụ nữ bị buôn bán qua biên giới trởvề đang sinh sống tại 5 tỉnh biên giới vào năm 2021 đã tham gia nghiên cứu Những phụ nữ này phải đáp ứng đủ 3 tiêu chí: (1) Từ 18 tuổi trở lên, (2) Được nghiên cứu xác định là có khả năng về the chất và tinh thần đê tham gia nghiên cứu, (3) Tự nguyện tham gia nghiên cứu 5 tỉnh biên giới được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứuvới các lý do: 1) Là những điểm nóng về tình trạng buôn bán phụ nữ sangTrung Quốc; 2) Đây làcác tỉnh có đường biên giáp Trung Quốc; 3) Địa hình rất hiểm trở, dân cư thưa thớt nên thuận lợi cho việc buôn bán phụ
nừ ra nước ngoài
Bảng 1: Đặc điểm khách thể nghiên cứu
Trình độ
học vấn
Không biết đọc, biết viết 66 14,0
Trung học phổ thông 120 25,5
Tuổi bị
buôn bán
Trưởng thành (26 - 40 tuổi) 90 19,1
Mục đích
bị buôn bán
Mại dâm 62 13,2
Bóc lột sức lao động 58 12,3
Số năm trở về
nơi cư trú
Từ 1 năm trở xuống 98 20,9
Trang 6Trong số 500 phụnữ bị buôn bán quabiên giới trởvề được mời, có 480 người đồngý tham gia, tuy nhiên có 10 người từ chối tiếp tục tham gia sau khi trả lời được một số câu hỏi, nên chỉ còn lại 470 người tham gia và hoàn thành khảo sát
bảng 1
2.2
Đặc điếm của những người tham gia khảo sát được thể hiện trong
Phương pháp nghiên cứu
Trohg nghiên cứu này, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chínp được sử dụng với mục đích nghiên cứu cảm nhận của phụ nữ bị buôn bán quabiên giới về kỳthị của cộng đồng đối với họ Các thông tin được thu thập b^ngcáchphỏng vấntrực tiếp những phụ nữ bị buônbán quabiên giới
nghiên cứu
g đo “Kỳ thị của cộng đồng đối với phụ nữ bị buôn bán qua biên
’ gồm 6 mệnh đề: 1 BỊ tẩy chay, xa lánh, 2 Bị chế giễu, khinh bỉ,
thuộc mẫu
Thar
giới trở về”
3 BỊ từchổi nói chuyện, 4 Không ai lắngnghe, 5 Ngại tiếp xúc, ít quantâm,
6 BỊ gọi là “con phò”, “con điếm”, “bướm đêm” Mỗi mệnh đề trong thang
đo được khách thể tự đánh giá cách những người xung quanh ứng xử đối với bản thân họ theo 5 mức độ và điểm tương ứng được quy gán như sau: Không đúng: 1 điểm; Đúng ít: 2 điểm; Bình thường: 3 điểm; Đúng nhiều: 4 điểm và Đúng: điểm Điểm trungbình (M) càng cao thì cảm nhận của phụ nữbị buôn bán qua biên giới về sự kỳ thị của cộng đồng càng cao Trong nghiên cứu này,
“kỳ thị của cộng đồng đối với phụ nữ bị buôn bán qua biên giới trở về” được
sử dụng như một biến phụthuộc
Đặc đỉểmcủa kháchthể khảo sát bao gồm trình độ học vấn, tuổi bị buôn bán,mục đícn bị buôn bánvà số năm trở về nơi cưtrú Các đặc điểmnày được
sử dụng như
nên được đổi
tính
là các biến độc lập trong nghiên cứu và đây là các biến định tính thành biến giả để đáp ứng điều kiện cho phân tích hồi quy tuyến
Biến “tpnh độ học vấn” được chuyển đổi thành 3 biến giả: biếnthứnhất
1, các bậc khác = 0; biến thứ hai là bậc tiểu học = 1, 0; biến thứ ba là bậc trung học cơsở = 1, các bậc khác = 0 Như
thông (nhận giá trị= 0)
là không biết đọc, biếtviết =
cácbậc khác =:
vậy, dừ liệu CỊỈa cả ba bậc này trong mô hình hồi quy được so sánh với bậc trung họcphô
Biến “tuổibị buôn bán” được chuyển đổi thành 2 biến giả: biếnthứ nhất
là tuổi thanh niên (17 đến 25 tuổi) = 1, các tuổi khác = 0; biến thứ hai là tuổi trưởng thành (lừ 26 đến 40 tuổi) = 1, các tuổi khác = 0 Như vậy, dữ liệu của
trong mô hình hồi quy được so sánh với tuổi trẻ em - từ 10 đến hai độ tuôi này
16 tuổi (nhận giátrị = 0)
Trang 7Biến “mục đích bị buôn bán” được chuyển đổi thành 2 biến giả: biến thứnhất là mại dâm = 1, các mục đích khác = 0; biển thứ hai là bóc lột sức lao động = 1, các mục đích khác = 0 Như vậy, dữ liệu của hai mục đích này trong
mô hình hồi quy được so sánh với mục đích làm vợ (nhận giá trị = 0)
Biến “số năm trở về nơi cư trú” được đổi thành 3 biến giả: biến thứ nhất
là nhóm từ 1 năm trở xuống = 1, các nhóm khác = 0; biến thứ hai là nhóm từ
2 đến 3 năm = 1, các nhóm khác = 0, biến thứ ba là nhóm từ 4 đến 5 năm = 1, các nhóm khác = 0 Như vậy, dữ liệu của ba nhóm này trong mô hình hồi quy được so sánh vớinhóm trên 5 năm (nhận giá trị= 0)
Dữ liệu khảo sát được các điều tra viên thu thập qua việcphỏng vấn trực tiếp từng phụ nữ bị buôn bán quabiên giới trở về Thông tin định lượng đã thu thập được xử lý bằng chương trình SPSS phiên bản 22.0 Ớ đây, phép kiểm định độ tin cậy Alpha của Cronbach và phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA đã được sử dụng để xác định độ ổn định và độ giá trị của thang đo “Kỳ thị của cộng đồng đối với phụ nữ bị buôn bán quabiên giới trởvề”
Ket quả kiểm định độ tin cậy cho thấy, các biến quan sát trong thang đo
“Kỳ thị của cộng đồng đối với phụ nữ bị buôn bán quabiên giới trở về” có hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 Hệ sốAlpha của Cronbach là0,96 > 0,6, nên độ tin cậy đạt yêu cầu
Bảng 2: Kêt quả kiêm định độ tin cậy Alpha của Cronbach của biến phụ thuộc
"kỳ thị của cộng đồng đối với phụ nừ bị buôn bán qua biên giới trở về”
Các biến quan sát Hệ số tương
quan biến tổng
Hệ số Alpha của Cronbach nếu loại biến
Hệ số Alpha của Cronbach
1 Bị tẩy chay, xa lánh 0,86 0,95
0,96
2 Bị chế giễu, khinh bỉ 0,90 0,95
3 Bị từ chối nói chuyện 0,85 0,95
5 Ngại tiếp xúc, ít quan tâm 0,86 0,95
6 Bị gọi là “con phò ” , “con
điếm ”, “ bướm đêm ” 0,86 0,95
Trang 8K<t quả phân tích nhân tố khám phá EFA của thang đo “Kỳ thị của cộng đồng đối với phụ nữ bị buôn bán qua biên giới trở về” cho thấy, chỉ số KMO là 0,92 > 0,7 chứng tỏ dữ liệu dùng để phân tích nhân tố là hoàn toàn thích hợp (Hoàng Chu và Chu Nguyền Mộng Ngọc, 2008) Ket quả kiểm định Bartlett’s (là 2979,0 với mứcý nghĩa thống kê Sig = 0,000 < 0,001, nghĩa là các biến quan sát có tương quan với nhau và thỏa mãn điều kiện phân tích nhân tố Giá trị tổnig phương saitrích đạt 82,2%nên kết quả phân tích nhân tố được chấp nhận (Anderson và Gerbing, 1988), có thể nói rằng, nhân tố này giải thích được 82,2% biếh thiên của dừ liệu Giá trị hệ số Eigenvalues của nhân tố là 4,9 > 1 Các biến quan sát đềutải lên cùng một nhân tố với hệ sốtải đều lớnhơn 0,5 đảm bảo có ý nghĩa thực tiễn (Hair và cộng sự, 1998)
Bảng 3: Kết quả phân tích nhãn tố khảm phá EFA của biến phụ thuộc “Kỳ thị của
cộng đồng đối với phụ nữ bị buôn bán qua biên giới trở về ”
Kỳ thị của ìng
Phép xoay
ma trận
1 Bị tẩy chay, xa lánh 0,93
2 Bị chế giễu, khinh bỉ 0,91
3 Bị từ chối nói chuyện 0,91
4 Không ai lắng nghe 0,90
5 Ngại tiếp xúc, ít quan tâm 0,90 aong aoi VƠI
phụ nữ bị btôn 6. Bị gọi là “con phò”, con điếm”, “bướm đêm”. 0,89 uan qua un
giới trở V(
11
Hệ số Eigenvalue 4,93
Tổng phương sai trích (Extraction Sums of Squared Loadings) 82,2
Chỉ số KMO 0,92
Kiểm định Bartlett ’s Test
of Sphericity
Approx Chi-Square 2979,0
Mức ý nghĩa Sig <0,001
Như vậy, sau khi kiểm định độ tin cậy Alpha của Cronbach và phân tích nhân tố khám phá EFA thì nhân tố “Kỳ thị của cộng đồng đối với phụnữbị buôn bán qua biên giợi trở về”được sửdụng như mộtbiến phụ thuộc cho các bước phân tích tiếp theo
Trang 9Cácthông số và phép toán thống kê được sử dụng trong nghiêncứu này là phântích thống kê môtả và phân tíchthống kê suy luận Trongphép thống kêmô
tả, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất, tỷ lệ phần trămđược sử dụng nhằm
mô tả cảm nhận củaphụ nữ bịbuôn bán qua biên giới về sự kỳ thị củacộng đồng đối với họ Phần phân tích thống kê suy luận chủ yếu dùng kỹ thuật so sánh giá trị trung bình (compare means) với phép kiểm định One-wayAnova và kỹ thuật phân tích hồi quy tuyến tính Trong phép kiếm định One-way Anova, các giá trị trung bình được coi là khác nhau cóý nghĩa thống kê với xác suất p < 0,05 Mô hình hồi quy tuyến tính được thực hiện để đánh giá tác động của các biến độc lập (dân tộc, trình độ học van, tuoi bị buôn bán, mục đích bị buôn bán và số năm trở
về nơi cư trú) đến cảm nhận của phụ nữ bị buôn bán qua biên giới về sự kỳ thị của cộngđồngđổi với họ
3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Tất cả khách thể nghiên cứu (phụ nữ bị buôn bán qua biên giới trở về) đều tự nguyện tham gia và đều được thông báo đầy đủ về mục tiêu và nội dung nghiên cứu, về việc lưu trữ, xử lý cũng như mục đích sử dụng thông tin được cung cấp Phụ nữ bị buôn bánqua biêngiới trở về được mời tham gianghiên cứu
có quyền từ chối tham gia bất cứ lúc nào, ngay cảkhi không có bất kỳ sự đe dọa hay bất lợi nào
4 Ket quả nghiên cứu
tâm "bướm đêm"
Biểu đồ 1: Cảm nhận của phụ nừ bị buôn bản qua biên giới
về sự kỳ thị của cộng đồng đối với họ (M)
Trang 10Bieu đồ 1 hiển thị cảm nhận của phụnữ bị buôn bán qua biên giới về kỳ thị của cộng đồng đối với họ Biểu hiện đầu tiên mà những phụ nữ bị buôn bán qua biên giới cảm nhận được sự kỳ thị củacộng đồng đối với họ ở mức độ cao nhất là những người xung quanh không ai lắng nghe họ (M = 2,74) Kếtquả này tương tự như kết quả nghiên cứu của Silva và Sathiyaseelan (2019) Sửdụng phưcmg pháp nghiên cứu định tính với các nạn nhân bị buôn bán được giải cứu từ 1 - 5 năm, Silva và ẩathiyaseelan (2019) cũng đã chỉ ra rằng, những nạn nhân bị buôn bán cảm thấy mìnhkhông đượclắng nghe
Tìmhiểuhậuquả và nguy cơcủa việc bị buôn bán bằng phương phápphỏng vấn sâu cácnạn nhân bị buônbán ở châu Âu, kếtquả nghiên cứucủaZimmerman, Yun, Watts (2003) cho thấy, những phụ nữ bịbuôn bán trở về luôn cảm thây cô lập
và tách biệt với xã hội Nghiên cứu này cũng cho thấy, biểu hiện kỳ thị tiếp theo
mà những phụ nữ bị buôn bán qua biên giới trởvề cảm nhận được từ cộng đồng
là những người xung quanh ngại tiếp xúc, ít quan tâm (M = 2,11) và biểu hiệnkỳ thị mà nhữngngười phụnữ này cảm thấy ít nhất từ những người xung quanh đối với họ làbị tẩy chay, xa lánh (M = 2,56)
Trên 10% phụ nữ tham gia khảo sát khẳng định rằng, những người xung quanh có nhịừng biểu hiệnkỳ thị đối với họ, trong đótỷ lệ cao nhất thuộc về biểu hiệnbị từ choinói chuyện(13,6%), tiếp theolà biểu hiện bịgọi là “con phò”, con điếm”, “bướm đêm” (12,8%), thứ ba là biểu hiện không ai lắng nghe (11,9%) Dưới 10% là những biểu hiện như những người xung quanh ngại tiếp xúc, ít quan tâm (9,8%), bị tẩy chay, xa lánh (8,1%)và bị chế giễu, khinh bỉ (7,7%)
Bảng 4: Cảm nhận của phụ nữ bị buôn bán qua biên giới trở về
V?nhừng biểu hiện kỳ thị của cộng đồng đối với họ (n, %)
Những b ểu hiện Không
Bình thường
Đúng
1 Bị tẩy chay, a lánh 146 (31,1) 94 (20,0) 90(19,1) 102 (21,7) 38(8,1)
2 Bị chế giễu, chinh bỉ 144 (30,6) 96 (20,4) 58 (12,3) 136(28,9) 36 (7,7)
3 Bị từ chối ne i chuyện 142 (30,2) 108 (23,0) 74(15,7) 82(17,4) 64(13,6)
4 Không ai lắn ỉ nghe 136(28,9) 88(18,7) 66 (14,0) 124 (26,4) 56(11,9)
5 Ngại tiếp xúc ít quan tâm 138 (29,4) 78 (16,6) 82 (17,4) 126 (26,8) 46 (9,8)
6 Bị gọi là “ c<
điếm ”, “bướm
5 1 phò”, “con
í ;m ” 158 (33,6) 102 (21,7) 56(11,9) 94 (20,0) 60(12,8)