1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) dạy học văn bản hạnh phúc của một tang gia trong chương trình ngữ văn 11 theo định hướng phát triển năng lực học sinh

71 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 4,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, dạy học trích đoạn Hạnh phúc của một tang gia theo định hướng phát triển năng lực học sinh, vừa theo đặc trưng thể loại tiểu thuyết trào phúng, vừa áp dụng các phương pháp, kĩ t

Trang 1

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI

DẠY HỌC VĂN BẢN HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA

TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

Trang 2

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 3

so với sự chuyển động ngày càng mạnh mẽ của thế giới

1.2 Xu thế hội nhập đang đặt ra cho ngành giáo dục nước ta một nhiệm vụ hết sức nặng nề, đó là đào tạo một lớp người có đủ phẩm chất và năng lực thích ứng với nền kinh tế thị trường, tham gia phát triển kinh tế, văn hoá xã hội một cách bền vững

Để đạt được mục tiêu đó, ngành giáo dục cần phải đổi mới toàn diện, triệt để, thay đổi

về chất Một trong những sự thay đổi về chất đó là sự thay đổi mục tiêu giáo dục: Từ chủ yếu trang bị kiến thức và kỹ năng sang hình thành năng lực, phẩm chất nhân cách của người học Từ sự thay đổi mục tiêu giáo dục thì phương pháp giáo dục cũng phải thay đổi theo Đó là phát huy tính tích cực, tự lưc ̣, chủ động, sáng tạo của người học

Chuyển trọng tâm hoạt động từ giáo viên sang hoc̣ sinh

1.3 Có rất nhiều năng lực và phẩm chất cần được hình thành cho học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường Và mỗi một môn học sẽ đóng một vai trò khác nhau Ngữ văn đã trở thành một bộ môn quan trọng, nó vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật Môn Ngữ văn không chỉ cung cấp kiến thức mà còn góp phần không nhỏ vào việc phát triển ngôn ngữ, hình thành kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sống, giáo dục nhân cách, hướng học sinh tiếp nhận các giá trị chân thiện mĩ trong cuộc sống Vì vậy, việc

tổ chức dạy học có vận dụng các phương pháp dạy học tích cực là yêu cầu thực sự cần thiết đối với một giáo viên Ngữ văn nói riêng và giáo viên nói chung Đó là công cụ góp phần phát huy tốt các phẩm chất và năng lực của học sinh

1.4 Vũ Trọng Phụng là một nhà văn tạo dựng được vị trí vững chắc trong nền

văn xuôi Việt Nam hiện đại Ông được đánh giá là “Ông vua phóng sự đất Bắc”, “Nhà

tiểu thuyết trác tuyệt”, “Anh đã chết như một kẻ chiến sĩ đã tranh đấu đến phút cuối cùng Tuy anh ngã, mà tất cả sự vinh quang đã về anh, sẽ về anh Bởi anh cũng như Banzac của Việt Nam…” Một trong những tác phẩm để đời của ông chính là tiểu thuyết

trào phúng Số đỏ Đó thực sự là một kiệt tác, là hiện tượng “không tiền khoáng hậu”,

“là cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học” Với tiểu thuyết này

độc giả các thế hệ đã phần nào hình dung ra diện mạo của trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 – 1945 và chân dung Vũ Trọng Phụng

1.5 Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thuộc tiểu thuyết Số đỏ đã góp phần

thể hiện rõ chủ đề của tác phẩm và phong cách nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng Vì thế

mà cách tiếp cận văn bản này đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều giáo viên khai thác

Trang 4

khá kỹ càng Tuy nhiên, với những yêu cầu về thay đổi cách thức tổ chức giờ dạy theo hướng mới mẻ, phát huy được phẩm chất và năng lực học sinh thì nhiều giáo viên vẫn

còn lúng túng Vì vậy, dạy học trích đoạn Hạnh phúc của một tang gia theo định hướng

phát triển năng lực học sinh, vừa theo đặc trưng thể loại tiểu thuyết trào phúng, vừa áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại là một hướng đi đúng đắn và cần thiết

Xuất phát từ những thực tế đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Dạy học văn bản Hạnh

phúc của một tang gia trong chương trình Ngữ văn 11 theo định hướng phát triển năng lực học sinh” Với đề tài này, chúng tôi đề xuất một số cách thức tiếp cận văn bản Hạnh phúc của một tang gia bằng việc vận dụng các phương dáp, kĩ thuật dạy học tích cực,

mới mẻ để tạo được động lực, hứng thú cho học sinh đồng thời hình thành kĩ năng đọc hiểu văn bản và phát huy tối đa năng lực của học sinh

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đã có một số đề tài nghiên cứu về các phương pháp dạy học tích cực, dạy học

theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh của học sinh ở Việt Nam cũng như

cách cách thức tiếp cận văn bản Hạnh phúc của một tang gia Tuy nhiên, những

nghiên cứu này vẫn còn mang tính lẻ tẻ, thiếu tính hệ thống Mỗi đề tài mới chỉ dừng

ở việc chú ý đến sử dụng các phương pháp mới Tuy nhiên, để vận dụng các phương

pháp vào dạy văn bản Hạnh phúc của một tang gia theo định hướng phát triển năng

lực học sinh thì chưa thấy Có thể kể ra đây một số đề tài nghiên cứu

Ta có thể kể đến bộ Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học

tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT do Bộ Giáo

dục và đào tạo phát hành năm 2014 đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của những năng lực cần hình hành của bộ môn Ngữ văn đồng thời chỉ rõ những biện pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, hiện đại nhằm phát triển năng lực của học sinh Nhưng ở đó chỉ trình bày những định hướng có tính chất chung nhất

Trong cuốn Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại (2016) do tác giả Đinh Trí

Dũng chủ biên đã cung cấp những kiến thức khái quát nhất về Văn học Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 và những kiến thức cơ bản về nhà văn Vũ Trọng Phụng Đó là những kiến thức nền tảng để giáo viên có thể vận dụng để hướng dẫn

học sinh tiếp cận tiểu thuyết Số Đỏ và trích đoạn Hạnh phúc của một tang gia

Trong cuốn Cẩm nang phương pháp sư phạm (2018) do các tác giả Nguyễn Thị

Minh Phượng, Phạm Thị Thúy, Lê Viết Chung chủ biên đã đưa đến cho các giáo viên một bức tranh tổng thể về các phương pháp dạy học tích cực, trong đó người học giữ vai trò là trung tâm của quá trình dạy học, người dạy giữ vai trò định hướng, dẫn dắt

Ở cuốn Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản văn chương qua hệ thống phiếu

học tập lớp 11(2018) của Phạm Thị Thu Hương chủ biên đã xây dựng hệ thống phiếu

học tập để hỗ trợ cho giáo viên và học sinh trong quá trình đọc hiểu các văn bản Tuy

Trang 5

nhiên, việc xây dựng phiếu học tập cũng chỉ là một trong những cách thức để dạy học văn bản theo định hướng phát triển năng lực

Trong cuốn Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ Văn trung học phổ thông

(2018) do Đỗ Ngọc Thống và Bùi Minh Đức chủ biên đã cung cấp cho người dạy một

số vấn đề cơ bản nhất về dạy học phát triển năng lực, các phương pháp dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn ở các thể loại khác nhau đồng thời đưa ra các cách

để kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh trong môn Ngữ văn

Bên cạnh đó còn có hệ thống các bài viết của các nhà giáo dục, các độc giả bàn

về cách dạy văn bản nghị luận trên các tạp chí chuyên ngành giáo dục hay trong các trang web bàn về giáo dục

Ngoài ra còn có các công văn hướng dẫn của Bộ giáo dục đào tạo về việc tổ chức dạy học … nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy Công văn có tính chất

định hướng rõ nhất là công văn số: 5555/BGDDT - GDTrH về việc hướng dẫn sinh

hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng ban hành ngày 08 tháng 10 năm 2014

Sau đó là công văn 4612/BGDĐT- GDTrH V/v hướng dẫn thực hiện chương

trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017-2018 Trong công văn này Bộ giáo dục đào tạo đã chỉ

đạo các cơ sở giáo dục thực hiện có hiệu quả việc xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; xây dựng kế hoạch bài học theo hướng tăng cường, phát huy tính chủ động, tích cực, tự học của học sinh

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cũng đã hướng mục tiêu giáo dục là góp phần hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực của hóc inh thông qua các nội dung giáo dục khác nhau

Tuy vậy, qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng: Những bộ tài liệu, những văn bản hướng dẫn chỉ là những căn cứ, những công cụ có tính chất nền tảng còn việc việc thực hiện hiệu quả đến đâu là phụ thuộc vào nhân tố con người, vào thực

tế của từng cơ sở giáo dục, vào những điều kiện chủ quan và khách quan khác Chính

vì vậy, khi lựa chọn nghiên cứu đề tài chúng tôi mong muốn góp một kinh nghiệm nhỏ

trong việc phát triển năng lực của học sinh thông qua quá trình đọc hiểu văn bản Hạnh

phúc của một tang gia, từ đó góp phần nâng cao chất lượng môn Ngữ văn ở trường phổ

thông

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tài liệu khảo sát

- Đối tượng nghiên cứu: Dạy học văn bản Hạnh phúc của một tang gia trong

chương trình Ngữ văn 11 theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Trang 6

- Phạm vi tài liệu khảo sát: tiểu thuyết Sổ đỏ, trích đoạn Hạnh phúc của một tang

gia

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài: vấn đề phát triển năng lực học sinh, dạy học theo đặc trưng thể loại, tính cấp thiết của việc đổi mới phương pháp

và vai trò của các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

- Đề xuất một số biện pháp, cách thức nhằm dạy văn bản Hạnh phúc của một

tang gia theo định hướng phát triển năng lực học sinh

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính phù hợp và hiệu quả các

đề xuất

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã phối hợp 2 nhớm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn Bao gồm: phương pháp phân tích

và tổng hợp lý thuyết, phân loại và tổng hợp lý thuyết, phương pháp quan sát và điều tra, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thực nghiệm

6 Đóng góp của SKKN

Về mặt lí luận, đề tài góp phần làm rõ khái niệm năng lực và phát triển năng lực của học sinh, đặc điểm của tiểu thuyết trào phúng cũng như những yêu cầu cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông

Về mặt thực tiễn, đề tài bước đầu đề xuất một số biện pháp, phương pháp dạy

học văn bản Hạnh phúc của một tang gia theo định hướng phát triển năng lực học sinh

nhằm đáp ứng mục tiêu chương trình, góp phần đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông

7 Cấu trúc SKKN

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Một số đề xuất dạy học văn bản Hạnh phúc của một tang gia theo định

hướng phát triển năng lực học sinh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 7

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng, 1998) có

giải thích: Năng lực là “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực

hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”

Các nhà giáo dục học cũng nêu ra nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực:

- Theo Tổ chức OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới) quan

niệm: Năng lực là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp

trong một bối cảnh cụ thể” Định nghĩa này nêu được đặc trưng quan trọng nhất để

nhận diện năng lực là “hiệu quả”, nhưng chưa làm rõ được cấu trúc và “địa chỉ” tồn tại của năng lực

- Theo F E Weinert, năng lực là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có

hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp.”

Định nghĩa này cũng nói tới sự đóng góp của những yếu tố “sẵn có” ở mỗi cá nhân vào việc phát triển năng lực của bản thân

- Theo Denyse Tremblay, năng lực là “khả năng hành động, thành công và tiến

bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với

các tình huống trong cuộc sống.”

Dựa vào các kết quả nghiên cứu nói trên, Chương trình giáo dục phổ thông 2018

giải thích khái niệm năng lực như sau: năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành,

phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể

Đặc điểm của năng lực: Từ nội hàm của khái niệm đó, có thể chỉ ra những đặc điểm của năng lực là: Năng lực là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học; năng lực là kết quả huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ

năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt

động thực tiễn

Trang 8

Những năng lực cần thiết phải hình thành cho học sinh THPT: Chương

trình giáo dục phổ thông năm 2018 xác định hình thành và phát triển cho học sinh những

năng lực cốt lõi sau:

- Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;

- Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh

1.1.2 Phát triển năng lực trong môn Ngữ văn

Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp HS có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; giúp HS khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn;

có tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế

Môn Ngữ văn cũng góp phần giúp HS phát triển các năng lực chung: năng lực

tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Đặc biệt, môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học Đối với cấp trung học phổ thông thì phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau về năng lực trong môn Ngữ văn:

+ Viết được văn bản nghị luận và văn bản thông tin có đề tài tương đối phức tạp

+ Biết tranh luận về những vấn đề tồn tại các quan điểm trái ngược nhau; có thái độ cầu thị và văn hoá tranh luận phù hợp; có khả năng nghe và đánh giá được nội dung và hình thức của bài thuyết trình; có hứng thú thể hiện chủ kiến, cá tính trong tranh luận…

- Năng lực văn học:

+ Phân tích và đánh giá văn bản văn học dựa trên những hiểu biết về phong cách nghệ thuật và lịch sử văn học Nhận biết được đặc trưng của hình tượng văn học; phân

Trang 9

tích và đánh giá được nội dung tư tưởng và cách thể hiện nội dung tư tưởng trong một văn bản văn học…

+ Nêu được những nét tổng quát về lịch sử văn học dân tộc và vận dụng vào việc đọc tác phẩm văn học

+ Tạo lập được một số kiểu văn bản văn học thể hiện khả năng biểu đạt cảm xúc và

ý tưởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ

1.1.3 Dạy học theo đặc trưng thể loại

Loại thể văn học là: “Phạm trù phân loại các tác phẩm văn học, vốn đa dạng

đồng thời có sự giống nhau, từng nhóm một, về một số dấu hiệu nhất định Các nhóm lớn nhất là những “loại”; mỗi loại gồm những nhóm nhỏ hơn là những thể (hoặc “thể loại”, “thể tài”).” (Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà

Nội, H 1999, tr.190) Từ đó có thể thấy thể loại văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn bản

Do vậy, dạy học bám sát đặc trưng thi pháp loại thể là việc dẫn dắt HS khám phá, phát hiện, phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra

ý nghĩa thẩm mỹ của nó Dạy học bám sát đặc trưng thi pháp loại thể cũng là yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay

Việc xác định loại thể là vấn đề mấu chốt trong dạy học tác phẩm văn chương Không xác định rõ “chất của loại” trong thể dễ dẫn đến tình trạng khi thấy thơ, ta dạy thơ trữ tình, khi gặp truyện, ta dạy học theo tinh thần văn xuôi tự sự Một điều ta thấy rất rõ là khi xa rời bản chất loại thể của tác phẩm chính là xa rời tác phẩm cả về linh hồn và thể xác Vì thế, có thể nói, xác định loại thể là vấn đề mấu chốt trong việc dạy học tác phẩm văn chương

Để đảm bảo được yêu cầu trên, trước khi hướng dẫn HS đi vào tìm hiểu văn bản, người GV cần hướng dẫn HS xác định thể loại của tác phẩm, tìm hiểu những đặc trưng của thể loại đó Kiến thức về thể loại sẽ giúp HS tìm ra con đường để đi sâu vào phân tích kết cấu và ngôn ngữ, các phương tiện nghệ thuật đặc trưng… mà tác giả dùng để tái hiện đời sống xã hội Từ đó, lĩnh hội được những tư tưởng, tình cảm được thể hiện trong tác phẩm, cảm nhận tác phẩm một cách sâu sắc nhất Đây cũng chính là điều kiện tiên quyết quyết định hiệu quả quá trình tiếp nhận của HS

Số Đỏ là tiểu thuyết trào phúng, là hiện tượng không tiền khoáng hậu của văn

học Việt Nam hiện đại Bởi vậy cho nên, đối với việc giảng dạy tác phẩm này, GV ngoài việc chú ý đến những đặc trưng cơ bản của thể loại văn học trào phúng Trước và trong khi hướng dẫn HS tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm, GV phải hướng dẫn HS nắm được những đặc trưng cơ bản của thể loại, của nghệ thuật trào phúng cũng như biểu hiện của

nghệ thuật trào phúng trong tiểu thuyết Số Đỏ nói chung và trích đoạn nói riêng

Cụ thể:

Trang 10

- Xác định được thể loại của văn bản, hiểu được khái niệm trào phúng, nghệ thuật trào phúng

+ Thể loại văn bản: tiểu thuyết trào phúng + Khái niệm trào phúng: trào phúng (tiếng Pháp : satire) là một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các

yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước,… được

sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng… những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội và thường nhằm vào một đối tượng nhất định Tiếng cười trào phúng có nhiều cấp độ, được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, từ nhẹ đến nặng: tiếng cười khôi hài, tiếng cười mỉa mai, tiếng cười châm biếm, tiếng cười chế giễu, nhạo báng, tiếng cười đả kích

+ Nghệ thuật trào phúng: là nghệ thuật gây tiếng cười mang ý nghĩa phê phán,

lên án, đả kích xã hội Trước hết, nó đòi hỏi phải vạch ra được mâu thuẫn đáng cười của đối tượng, rồi dùng biện pháp phóng đại (cường điệu) để tô đậm làm nổi bật mâu thuẫn đó, khiến cho đối tượng càng trở nên đáng cười Nhà văn trào phúng tài năng phải là người giỏi phát hiện ra những mâu thuẫn trào phúng, tạo nên những tình huống trào phúng và xây dựng những chân dung trào phúng

- Trong quá trình hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản, phải làm rõ được những đặc

sắc của nghệ thuật trào phúng trong tiểu thuyết Số Đỏ được thể hiện trong văn bản:

+ Xây dựng tình huống trào phúng: Tác giả Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Con

đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB Giáo dục, 1994 cho rằng: “Phẩm chất nghệ thuật của một cuốn tiểu thuyết trào phúng chủ yếu phụ thuộc vào chỗ nó đã dàn dựng được những tình huống trào phúng và xây dựng được những nhân vật trào phúng thành công đến mức nào?” Trong Số Đỏ, xuất hiện rất nhiều tình huống trào

phúng, mỗi chương tiểu thuyết có một hoặc hơn một tình huống Mỗi tình huống lại thể hiện một mâu thuẫn trào phúng Tình huống trào phúng độc đáo nhất, lạ lùng nhất, cũng

là bi đát nhất là ở chương XV- Hạnh phúc của một tang gia Với tình huống ngược đời

này, bản chất xã hội, bản chất của các nhân vật được bộc lộ một cách đầy đủ, sâu sắc

+ Thủ pháp tương phản: Thủ pháp này được Vũ Trọng Phụng khai thác triệt để

trong cánh xây dựng nhân vật của mình và dựng cảnh Tác giả chọn những chi tiết nêu lên sự tương phản giữa hình thức và nội dung, giữa lời nói và việc làm, để từ đó lột mặt

nạ của đám xã hội thượng lưu Trong chương XV, đám tang cụ Tổ thực chất là một đám rước, đám hội Một đám ma to tát nhưng thiếu thứ quan trọng nhất – tình người

+ Thủ pháp phóng đại để tạo tình huống: Để tạo lên tiếng cười, nhà văn thường

phải vận dụng thủ pháp phóng đại Nét đặc sắc nổi lên ở Số đỏ là tác giả đã phóng đại,

Trang 11

tạo ra các tình huống bất ngờ gây tiếng cười xuyên suốt tác phẩm Nhưng đặc sắc ở chỗ phóng đại mà như không phóng đại, bởi người đọc thấy nó có lí, có tình và chân thật

Chẳng hạn, không ai có thể ngồi đếm số lần cụ Hồng nói “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”

nhưng tác giả vẫn để cho nhân vật bổi tiêm đếm đủ Tiếng cười được bật lên nhờ những chi tiết như vậy

+ Xây dựng nhân vật: Nhân vật trong Số đỏ đông đảo đa dạng, đủ thành phần,

mỗi người có một nét đặc biệt, đồng thời tác giả tô đậm, phóng đại để gây tiếng cười

Mỗi nhân vật trong tiểu thuyết là một chân dung biếm họa Xuân Tóc Đỏ hiện hình là một tên ma cà bông láu cá đúng nghĩa, cụ cố Hồng thì háo hanh, ông Phán mọc sừng thì vô liêm sỉ…

+ Ngôn ngữ trào phúng: nhà văn sử dụng lớp ngôn ngữ đa dạng và phong phú trong tiểu thuyết này Từ ngôn ngữ vỉa hè, thành thị, ngôn ngữ lãng mạn đến ngoại lai…đều đủ cả, nhằm góp phần mô tả cái xã hội mà mọi thứ đều tạp nham, lố lăng, tha hóa… Mỗi một nhân vật có một kiểu ngôn ngữ riêng: Xuân Tóc Đỏ sử dụng nhiều ngôn ngữ vỉa hè, cô Tuyết thì sử dụng ngôn ngữ lãng mạn, còn có ngôn ngữ phô trương, hô

hào như khẩu hiệu: muôn năm, Âu hóa, nước Pháp dân chủ vạn tuế, …

+ Giọng điệu trào phúng: Trong tiểu thuyết xuất hiện nhiều giọng điệu, có giọng

bi, giọng hài, giọng bi đan xen hài giọng anh hùng ca; xét trên khuynh hướng tình cảm

thì có giọng điệu phê phán, châm biếm, ngợi ca Giọng chủ đạo trong Số đỏ là giọng

châm biếm, mỉa mai hay còn gọi là giọng giễu nhại như Giáo sư Đỗ Đức Hiểu từng

khẳng định: “Số đỏ là một cái cười nhại với tầm cỡ lớn”

Với nghệ thuật trào phúng đặc sắc, tác phẩm đã phơi bày bộ mặt thật của xã hội

thành thị, của tầng lớp thượng lưu lúc bấy giờ Đó là một xã hội chó đều Tầng lớp

thượng lưu dưới ngòi bút của Vũ Trọng Phụng đều là những thứ cặn bã của xã hội bởi chúng lố lăng, vô đạo, vụ lợi, biến chất về tư cách làm người Tiếng nói phê phán đả kích vang lên một cách mạnh mẽ trong tác phẩm Chính vì vậy, một số người đã so sánh Vũ Trọng Phụng như Balzac của Việt Nam

1.1.4 Yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới quan niệm và phương pháp dạy học

Điều 29.1 trong Luật giáo dục sửa đổi ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2019 có

ghi: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo

đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân… ” Để đáp ứng mục tiêu đó thì phải chuyển từ dạy học tiếp cận nội dung sang hướng tiếp cận năng lực Một trong những thay đổi đó là phải thay đổi

phương pháp giáo dục “Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự

giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và

Trang 12

đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục”

(Điều 30.3 Luật giáo dục sửa đổi)

Dạy học theo hướng phát triển năng lực là lối dạy học không lấy khối lượng nội dung, hệ thống kiến thức làm mục tiêu hướng đến, mà mục tiêu cuối cùng của dạy học phát triển năng lực chính là năng lực mà HS có được để giúp các em sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội đang thay đổi từng ngày Ở đây, nội dung kiến thức đóng vai trò là phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng là năng lực

Cũng bởi lấy năng lực HS làm mục tiêu hướng đến nên dạy học theo hướng phát triển năng lực không chú trọng vào việc nhồi nhét, cung cấp tri thức có sẵn mà yêu cầu, đòi hỏi HS phải tích cực tham gia vào giờ học, tự tìm kiếm, phát hiện vấn đề, trao đổi, tranh luận để đi đến những hiểu biết về kiến thức và cách làm Còn người GV đóng vai trò quan trọng trong công việc dẫn dắt, hướng dẫn, nêu vấn đề, giao nhiệm vụ, tổ chức cho HS làm việc, trao đổi

Để đáp ứng được những yêu cầu đó, đòi hỏi cả người dạy người học phải thay đổi Mà trước hết là người dạy, người GV phải có những phương pháp dạy học mới mẻ, phù hợp với mục tiêu, định hướng dạy học mới Cụ thể, GV phải đổi từ phương pháp truyền thụ sang các phương pháp dạy học tích cực, các phương pháp này cũng cần phải được vận dụng đa dạng, kết hợp nhuần nhuyễn nhằm phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của HS

1.1.5 Vai trò của các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại

Các phương pháp, kỹ thuật dạy học hiện đại hay còn cách gọi khác hơn là các phương pháp dạy học tích cực đã trở thành một cách thức không thể thiếu trong quá trình dạy học hiện nay Việc áp dụng các phương pháp này để tổ chức các hoạt động học tập đã đem lại những hiệu quả thiết thực đối với cả người dạy, người học

Lợi ích đối với người dạy: Khi áp dụng các PPDH tích cực, giờ giảng của mỗi

giáo viên trở nên sinh động, hấp dẫn và có ý nghĩa PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì thầy giáo phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động Người học là trung tâm nhưng vai trò, uy tín của người thầy được đề cao hơn bởi học sinh sẽ nhận thấy rõ năng lực, tâm huyết, trách nhiệm của người giáo viên thể hiện qua mỗi tiết dạy Đồng thời, muốn tổ chức được giờ dạy theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi người thầy phải dày công tìm tòi, suy ngẫm, học hỏi để có thể áp dụng những điều tốt nhất nhằm hướng dẫn cho học trò chiếm lĩnh tri thức, chính vì thế mà HS sẽ tôn trọng GV hơn Hơn nữa, dạy học theo

Trang 13

quá trình tương tác sẽ nảy sinh rất nhiều tình huống mới Chính điều đó sẽ góp phần rèn giũa thêm bản lĩnh của người GV

Lợi ích đối với người học: Dưới sự tổ chức và điều khiển của giáo viên, HS sẽ

được chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm của mình đồng thời với việc bổ sung những kiến thức, kinh nghiệm không chỉ từ người thầy mà còn từ chính các bạn trong lớp HS sẽ thực sự được học, được sáng tạo, được khám phá tiềm năng, được thể hiện, được làm Nhờ học theo hướng tích cực mà HS ghi nhớ sâu kiến thức sâu hơn, quan trọng hơn là tăng khả năng áp dụng vào thực tiễn cuộc sống một cách chủ động Cũng nhờ đó người học có được sự tự tin, có trách nhiệm với bản thân để từ đó chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng Dưới sự hướng dẫn của GV, HS phải dần có được những phẩm chất và năng lực thích nghi với PPDH tích cực như: giác ngộ mục tiêu học tập, tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về việc học và hình thành phương pháp tự học

Mối quan hệ giữa người dạy và người học: Nếu với cách dạy học truyền thống,

nghiêng về đọc - chép, GV là người rót kiến thức vào đầu HS và người dạy đóng vai trò trung tâm, quyền “phán xử” thuộc về người thầy hoàn toàn Tuy nhiên, khi áp dụng PPDH chủ động, người học giữ vai trò trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò hướng dẫn, giúp đỡ Người học chủ động tìm kiếm tri thức và có thể thu nhận kiến thức không chỉ từ thầy mà còn từ rất nhiều nguồn khác nhau Và do đó, sự tương tác giữa thầy – trò trở nên cởi mở hơn, HS chủ động, tích cực, sáng tạo hơn, tư duy duy độc lập, tư duy phản biện của học sinh được phát triển Cũng nhờ đó năng lực, bản lĩnh của người GV được thể hiện, tôi rèn

1.2 Cơ sở thực tiễn 1.2.1 Thực trạng của việc dạy học Ngữ Văn hiện nay

Việc dạy học theo hướng phát triển năng lực là định hướng phù hợp với xu thế phát triển của thế giới, phù hợp với thực tiễn giáo dục Việt Nam hiện nay Từ đó đã góp phần thay đổi cách học, cách dạy theo hướng dân chủ, khoa học, tích cực, chủ động từ

đó góp phần nâng cao chất lượng của bộ môn Ngữ Văn trong trường phổ thông trong

những năm gần đây

Về phương pháp giảng dạy: phương pháp dạy học của GV nói chung, GV Ngữ

văn nói riêng đã có những chuyển biến rõ rệt Phần đông trong đội ngũ GV đã có sự chủ động trong việc áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới, phần nào phát huy được tích tích cực, chủ động của HS; phần nào giảm bớt lối truyền thụ, áp đặt có tính chất một chiều từ giáo viên sang học sinh; học sinh đã dần tiệm cận được với các giá trị nội dung, tư tưởng của tác phẩm văn học một cách chủ động; kĩ năng nghe – nói – đọc – viết đã được cải thiện một cách tương đối Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một

bộ phận GV chưa đáp ứng kịp yêu cầu của quá trình đổi mới

Về kiểm tra đánh giá: Theo định hướng chung thì GV đã chú ý để quan tâm ra

đề theo hướng mở, gắn với các vấn đề của thực tiễn cuộc sống, từ đó phát huy được

Trang 14

năng lực của HS Với việc đổi mới cách ra đề và hướng dẫn chấm khoa học, phù hợp nên giáo viên đã thực sự linh hoạt trong việc đánh giá HS, tránh được cách áp đặt hoàn toàn cách nhìn của GV lên HS Một điều đáng lưu tâm nữa là các GV đã chú ý hơn việc đánh giá HS, đó là bước đầu kết hợp đánh giá quá trình và đánh giá kết quả Chính điều này đã phần nào ghi nhận đúng phẩm chất và năng lực người học

Về vấn đề tự học của giáo viên: Đại đa số GV nói chung, GV bộ môn Ngữ văn

nói riêng đã xác định rõ: việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ là

sự sống còn của họ Vì vậy, rất nhiều GV bên cạnh thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng do các cấp quản lí quy định thì họ đã chủ động tìm cách tự học tập, tự nâng cao giá trị bản thân theo nhiều cách khác nhau

Về vấn đề học tập của học sinh: Bên cạnh việc đại đa số HS vẫn siêng năng chăm

chỉ trong học tập thì một điều chúng ta dễ dàng nhận thấy hiện nay nhiều HS ngày càng chán nản, ít hứng thú hơn với môn Ngữ văn trong nhà trường Trong các giờ học môn Ngữ văn, các em thường lơ là, không quan tâm, không tham gia tương tác tích cực, phần nhiều là thụ động trong giờ học Từ đó dẫn đến nhiều giờ học Văn trôi qua nặng

nề, thiếu sự sinh động, hấp dẫn Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học của bộ môn

Từ thực tế nghiên cứu và giảng dạy, chúng tôi nhận thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:

Thứ nhất, bên cạnh những sự tự làm mới mình của đại đa số GV thì vẫn còn một

số GV giảng dạy bộ môn Ngữ văn chưa vượt qua được sức ì và tâm lí ngại thay đổi Có nhiều GV có tâm lí bảo thủ, không chịu học hỏi tiếp thu cái mới dù cuộc sống vận động không ngừng Chính điều này làm cho những giáo viên ấy ngày càng trở nên vừa “lạ”

vừa “cũ” với đồng nghiệp và HS

Thứ hai, chưa hiểu rõ, hiểu đúng về vị trí, vai trò của dạy học Ngữ văn ở trường

Phổ thông, chưa truyền được cảm hứng cho HS Ngữ văn là một môn học có tính đặc thù, vừa rèn luyện năng lực ngôn ngữ - năng lực giao tiếp, vừa rèn luyện năng lực văn học - một biểu hiện của năng lực thẩm mĩ, vừa góp phần hoàn thiện nhân cách con người, hướng HS đến những tình cảm nhân văn, cao đẹp, biết tránh xa cái xấu, cái ác

Nhưng trong thực tế, không phải GV nào cũng nằm lòng điều này

Thứ ba, chưa thực sự nắm rõ bản chất của dạy học theo định hướng phẩm chất

và năng lực Trong mấy năm trở lại đây quan niệm và hoạt động dạy học đã có sự

chuyển biến rất rõ: quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Do không hiểu rõ bản chất khiến cho nhiều GV

xác định mục tiêu của môn học, bài học không rõ ràng

Thứ tư, chưa thực sự nắm vững bản chất và không thể sử dụng linh hoạt các

phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, hiện đại Khi sử dụng phù hợp với nội dung bài học, với trình độ tiếp nhận và tâm lý của HS, giúp cho HS cảm thấy hứng khởi khi tiếp

Trang 15

nhận các nhiệm vụ học tập, từ đó sẽ tạo ra những chuyển biến trong quá trình học tập

Nhưng khi chưa hiểu rõ bản chất, chưa thấy sự cần thiết thì việc vận dụng vào quá trình dạy học của những giáo viên này đang ở thì tương lai

Thứ năm, chưa chủ động tiếp cận CNTT và khai thác CNTT để phục vụ cho việc

dạy học Ở các trường phổ thông, GV Ngữ văn cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc khai thác sử dụng CNTT trong việc tiến hành các hoạt động dạy học Tuy nhiên trong thực

tế, chúng tôi nhận thấy rằng: có nhiều giáo viên chưa thực sự mặn mà, chưa thực sự chủ động trong việc tiếp cận công nghệ

Thứ sáu, thiếu bản lĩnh, thiếu sự quyết tâm, thiếu sự kiên trì Đứng trước một cái

mới bao giờ cũng có nhiều thử thách, khi những GV Ngữ văn dám tiên phong, dám làm, dám áp dụng ngay định huống dạy học mới có nghĩa là họ đã dám chấp nhận những thử thách đó Tuy nhiên, vận dụng vào thực tiễn chẳng dễ dàng, nhiều khi thất bại nhiều hơn thành công Khi gặp phải những trường hợp như thế, rất nhiều GV đã cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau, họ muốn bỏ cuộc Họ đã không đủ sự quyết tâm, kiên trì để đi đến cùng với những điều mới mẻ, tích cực, có lợi cho HS

1.2.2 Thực trạng của việc dạy học văn bản Hạnh phúc của một tang gia tại các

trường phổ thông 1.2.2.1 Mục đích và đối tượng khảo sát

Để tìm hiểu về thực trạng dạy học bài Hạnh phúc của một tang gia theo định

hướng phát triển năng lực và suy nghĩ của HS về việc GV sử dụng cáC PPDH tích

cực, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 24 GV dạy môn Ngữ văn (Nội dung phiếu khảo

sát được trình bày trong phụ lục 2) và 93 HS ở ba trường THPT trên địa bàn (Nội dung phiếu khảo sát được trình bày trong phụ lục 3)

1.2.2.2 Nội dung khảo sát

- Tìm hiểu thực trạng dạy học theo định hướng năng lực của GV dạy môn Ngữ văn

- Tìm hiểu việc xây dựng giáo án bài giảng để hiểu rõ hơn cách tổ chức các hoạt động học có phù hợp, cụ thể để phát triển năng lực HS hay không

- Tìm hiểu hứng thú và thái độ học tập của HS đối với các PPDH của GV

Từ đó xác định những khó khăn của GV và HS gặp phải để bước đầu đề xuất

những biện pháp nhằm dạy văn bản Hạnh phúc của một tang gia theo định hướng

phát triển năng lực HS một cách hiệu quả nhất

1.2.2.3 Phương pháp khảo sát

Để thực hiện đề tài, bên cạnh việc dùng phiếu khảo sát, chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu giáo án, bài giảng, trao đổi trực tiếp với giáo viên; dự giờ dạy một số giáo viên trong một số năm học liên tiếp

Trang 16

1.2.2.4 Kết quả khảo sát

* Đối với giáo viên: sau khảo sát chúng tôi thu được các số liệu như sau:

- Về vấn đề “Mức độ tiếp nhận lí luận về dạy học phát triển năng lực của thầy

cô ” có 100% GV được hỏi đã trả lời là “đã từng nghe qua”

- Về vấn đề Mức độ quan tâm của thầy/ cô về việc dạy học phát triển năng lực trong trường THPT”, đa số GV được hỏi trả lời là “rất quan tâm” 22/24 (91,6%)

- Về vấn đề “Khả năng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực của thầy/

cô” thì chỉ có 6/24 (25%) GV cho rằng “có khả năng cao” vận dụng các PPDH tích

cực trong quá trình giảng dạy Có 12/24 (50%) cho rằng mình có khả năng, còn lại 6/22 (25%) GV trả lời ở mức độ bình thường

- Về vấn đề “Phương pháp mà thầy/ cô sử dụng khi dạy bài Hạnh phúc của một tang gia” có 16/24 (67%) trả lời rằng chỉ sử dụng PPDH truyền thống, số còn lại cho rằng mình sử dụng cả 2 phương pháp

- Về vấn đề “Thầy/cô đã kiểm tra và đánh giá HS ở bài Hạnh phúc một tang gia

bằng hình thức nào” thì có tới 17/24 (70,8%) trả lời rằng đánh giá HS bằng hình thức

viết bài và câu hỏi phát vấn; chỉ có 7/24 GV sử dụng các hình thức đánh giá qua “làm

việc nhóm” hoặc “các sản phẩm sáng tạo”

Cùng với quá trình trao đổi, dự giờ của các đồng nghiệp, cộng với kết quả thu được qua khảo sát nói trên, chúng tôi kết luận một số vấn đề như sau về tình hình dạy

văn bản Hạnh phúc của một tang gia hiện nay như sau:

- Phần lớn GV đều rất quan tâm dến dạy học theo định hướng phát triển năng lực

và họ đều cho rằng áp dụng các PPDH tích cực là yêu cầu có tính chất bắt buộc

- Một số GV còn chưa thực sự tự tin và vận dụng linh hoạt, hiệu quả các PPDH tích cực Một số GV đã có nhiều cố gắng để tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát huy được phẩm chất, năng lực HS Việc kiểm tra, đánh giá chưa đa dạng Như vậy, vận còn hiện tượng nhiều GV chưa thực sự đổi mới PPDH hoặc việc vận dụng phương pháp của bộ phận GV trong thực tiễn dạy học còn nhiều điểm chưa thực sự hợp lí, nó cần

được điều chỉnh, cải tiến để dạy học văn bản có hiệu quả hơn

- Về hướng tổ chức dạy học văn bản, có 2 hướng như sau:

+ Hướng thứ nhất là theo PPDH truyền thống, đề cao vai trò của phương pháp thuyết trình, đàm thoại Phần đông GV đang lựa chọn phương pháp này Đóng vai trò chủ đạo trong lớp học là GV GV là người diễn giảng, thuyết trình còn HS chủ yếu vẫn

là ngồi nghe, ghi chép, đọc thuộc, suy nghĩ theo cách hiểu, kiến thức mà GV truyền cho Hình thức đánh giá HS chủ yếu là qua bài viết và các câu hỏi kiểm tra bài cũ

Hướng dạy học này giúp GV chủ động hơn trong dạy học, ít phải đầu tư thời gian, công

Trang 17

sức và đảm bảo được tiến trình giờ dạy Tuy nhiên, nó lại đem đế sự áp đặt cho HS, các em luôn thụ động, thiếu sáng tạo, không khí giờ học tẻ nhạt, nặng nề

+ Hướng thứ 2 - của một bộ phận nhỏ GV là tiến hành giờ dạy theo phương pháp mới, có áp dụng các phương pháp dạy học tích cực Các GV đã cố gắng tính tích cực hoá hoạt động của HS như: tổ chức hoạt động nhóm, dạy học theo tình huống có vấn

đề, sử dụng sơ đồ, tranh ảnh…nhưng chủ yếu được thực hiện khi có hoạt động thao giảng, dự giờ, thi giáo viên giỏi Tuy nhiên, việc thay đổi PPDH ở đây còn mang tính chắp vá, chưa có sự thay đổi về chất, các phương pháp sử dụng cũng chưa hẳn phù hợp, khiến cho hiệu quả không thực sự cao, HS không thực sự hứng thú Hơn nữa, việc đánh giá HS cũng chưa toàn diện, khoa học GV đang chú ý khai thác, phát hiện ở HS khá giỏi, các em HS có học lực yếu hơn chưa được GV quan tâm đúng mức

* Đối với học sinh: Qua việc trao đổi, quan sát trực tiếp với HS, qua 4 câu hỏi nhiều

lựa chọn, kết quả hỏi ý kiến 93 HS, cho thấy: 75,3 % số HS cho rằng GV “rất ít khi”

sử dụng các phương pháp dạy học khác ngoài phương pháp thuyết trình, hỏi đáp

61,3% số HS khẳng định việc xây dựng và sử dụng các phương pháp mới trong dạy

học ở trường THPT là “cần thiết”, và không có HS nào lựa chọn là “không cần thiết”

Về hứng thú của HS khi GV sử dụng các PPDH tích cực trong dạy học ở trường THPT thì hầu hết HS lựa chọn “Thích” hoặc “Rất thích” Cũng có một số ít HS lựa chọn “bình thường” Đặc biệt, các em HS ở trường THPT thích được tự mình trải nghiệm các nội dung liên quan đến văn bản trong quá trình học tập 95% số HS được

hỏi cho rằng là “thích” và “rất thích”

Cũng qua quá trình theo dõi hoạt động học tập của HS, bên cạnh những HS có

ý thức và kĩ năng học tập tốt thì chúng tôi nhận thấy việc tham gia học tập của HS vẫn còn một số tồn tại như: Đa số HS rất thụ động, chưa tích cực, tự lực trong quá trình học tập Các em chủ yếu ngồi nghe giảng, chờ GV đọc, ghi bảng để chép; khi

GV tổ chức hoạt động nhóm thì chỉ có một số HS làm việc, một số HS lại ngồi chơi

hoặc không trình bày được ý kiến cá nhân của mình với nhóm; nhiều HS rất ngại trao

đổi với thầy cô, bạn bè về những vấn đề mình đang khúc mắc; HS thiếu kĩ năng làm việc theo nhóm, theo tập thể…

Qua kết quả khảo sát GV - HS nêu trên, chúng tôi thấy rằng việc sử dụng các

PPDH mới nhằm góp phần phát triển năng lực cho HS nói riêng, văn bản Hạnh phúc

của một tang gia nói chung là cần thiết, phù hợp với nhu cầu học tập của HS Đặc biệt,

đối với Hạnh phúc của một tang gia, thời lượng cũ dành cho tác phẩm này rất ít - 2 tiết

(90 phút) Trên thực tế, 90 phút của bài học chỉ đủ để dạy những nội dung kiến thức cơ bản, không có thời gian để học sinh thực hành và GV tác động, giáo dục nhân cách, thái

độ sống tích cực và tạo điều kiện để các em phát triển được năng lực của mình Vì vậy, song song với việc điều chỉnh thời lượng dạy học văn bản từ 2 tiết lên 4 tiết cộng với ứng dụng linh hoạt các phương pháp dạy học sẽ góp phần khắc phục các hạn chế nêu trên Các biện pháp đề xuất sẽ được chúng tôi trình bày tiếp trong chương tiếp theo

Trang 18

CHƯƠNG 2

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT DẠY HỌC VĂN BẢN HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

Mục tiêu khi dạy đọc văn bản Hạnh phúc của một tang gia là góp phần bồi dường

phẩm chất cho học sinh: nhận diện và có thái độ kiên quyết trước cái xấu, cái giả dối,

lố lăng trong xã hội; có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị đạo đức, cách hành xử có tình người trong đời sống thực tại; biết nhận ra và từ bỏ lối sống đua đòi, vô bổ, thực dụng; có khát vọng đổi thay, hướng đến xã hội tốt đẹp hơn, nhân văn hơn Phẩm chất

đó được bồi dưỡng thông qua quá trình đọc hiểu văn bản, thể hiện ở tất cả các kĩ năng:

kĩ năng đọc – hiểu một trích đoạn tiểu thuyết trào phúng hiện đại, kĩ năng viết, nói – nghe và phát triển các năng lực khá như năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, hợp tác, tự chủ, tự học, phản biện… Để đạt được mục tiêu đó, chúng tôi đề xuất một số biện pháp như sau:

2.1 Sử dụng phương pháp đóng vai

Đóng vai là một PPDH trong đó người học thực hiện những tình huống hành động được mô phỏng (theo các vai) về một chủ đề gắn với thực tiễn, thường mang tính chất trò chơi, trong đó các tình huống, các vấn đề hoặc xung đột được thể hiện Đóng vai nhằm phát triển năng lực hành động thông qua sự trải nghiệm của chính bản thân người học và thông qua thông tin phản hồi từ người quan sát Ở đó người học sẽ hóa thân vào một vai "giả định" trong một tình huống hành động cụ thể để hành động, trình bày suy nghĩ, cảm nhận từ chỗ đứng, góc nhìn của vai mà họ đảm nhận

Trong môn Ngữ văn, Phương pháp đóng vai được thực hiện theo một số hình thức hoạt động sau: vào vai một nhân vật kể lại câu chuyện đã học; chuyển thể một VB văn học thành kịch bản sân khấu; vào vai để xử lí một tình huống giao tiếp giả định;

trình bày một vấn đề, một ý kiến (ở cả dạng viết và nói) từ các góc nhìn khác nhau…

Khi tiến hành phương pháp đóng vai thì cần phải thực hiện các bước sau:

- Bước 1: GV lựa chọn tình huống và cung cấp thông tin về vai diễn

- Bước 2: Chọn diễn viên và giao nhiệm vụ cho diễn viên GV quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian thực hiện của mỗi vai, xác định mục đích thực hiện

- Bước 3: HS làm quen và tập đóng vai

- Bước 4: HS đóng vai: HS diễn vai do mình đảm nhận và những HS khác không

trực tiếp tham gia đóng vai sẽ thực hiện việc quan sát

- Bước 5: GV và HS thảo luận, đánh giá và rút ra kết luận

Khi dạy HPCMTG, chúng tôi đã thiết kế hai tình huống để học vào vai "giả định"

Cách triển khai theo 5 bước như đã trình bày ở trên Tình huống thư nhất chúng tôi cho

Trang 19

học sinh thể hiện trong tiết học thứ nhất, tình huống thứ 2 thực hiện khi kết thúc bài học Cả 2 nhiệm vụ này giáo viên đều giao cho các nhóm học sinh chuẩn bị trước ở nhà

- Tình huống thứ nhất: tạo ra một cuộc phỏng vấn giữa phóng viên và nhà văn

Vũ Trọng Phụng Sản phẩm là cuộc trò chuyện giữa nhà văn và phóng viên

Yêu cầu: Nhập vai nhà văn Vũ Trọng Phụng để trả lời một cuộc phỏng vấn với

những gợi dẫn sau:

+ Thưa nhà văn, ông sinh ra và lớn lên trong bối cảnh thời đại như thế nào ạ?

+ Trong bối cảnh chung đó, cảnh sống của gia đình và bản thân ông có gì đặc biệt?

+ Ông đã đến với văn chương như thế nào? Ông cảm thấy có cảm hứng thực sự với thể loại nào? Vì sao? Những tác phẩm mà ông ưng ý nhất?

+ Dù không thuộc tầng lớp thượng lưu nhưng ông lại viết rất sâu, rất hay về tầng lớp đó Nguyên nhân sâu xa là gì ạ?

+ Ông có biết lịch sử văn học Việt Nam đã đánh giá như thế nào về ông? Cảm xúc của ông khi đón nhận những đánh giá đó?

( Hình ảnh cuộc phỏng vấn được thể hiện trong Phụ lục 1

Kịch bản phỏng vấn được thể hiện trong phụ lục 6)

- Tình huống thứ 2: thực hiện một cuộc casting diễn viên sau khi học sinh đã được

đọc và tìm hiểu văn bản

Cách thực hiện như sau: GV chọn 3 nhân vật để tuyển diễn viên: Tú Tân, cố Hồng, Phán mọc sừng HS đăng kí casting vai diễn GV thành lập Ban tuyển chọn gồm: Đạo diễn (GV); trợ lí đạo diễn (lớp trưởng, bí thư, lớp phó văn thể); thư ký GV cùng HS xây dựng tiêu chí chấm điểm Khi các nội dung trên đã hoàn tất thì học sinh được nhận vai diễn sẽ về nhà chuẩn bị sau đó trình diễn trước lớp

Có thể nói, PP đóng vai tạo cơ hội để HS tham gia vào những tình huống hành động, qua đó hình thành phẩm chất, năng lực học sinh

2.2 Sử dụng đa dạng các kĩ thuật dạy học tích cực: kỹ thuật KWL, kỹ thuật DR –

TA, kỹ thuật ReQuest, kỹ thuật QAR

Trong tiến trình hướng dẫn học sinh đọc văn bản, chúng tôi đã sử dụng một số

kĩ thuật dạy học tích cực để khơi gợi hoạt động tư duy và cảm xúc của HS

* Sử dụng Kĩ thuật KWL

Kĩ thuật dạy học KWL là một khái niệm trong PPDH hiện đại được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước, do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một hình thức dạy học

Trang 20

hoạt động đọc – hiểu KWL là cụm từ viết tắt của quá trình tiếp thu chủ động của học sinh, bao gồm: K (know): Điều đã biết W (want to know): Điều muốn biết, L (Leander):

Điều đã học được Kĩ thuật KWL (Know - Want - Learn) là cách thức tổ chức hoạt động học tập trong đó bắt đầu bằng việc HS sử dụng bảng KWL để viết tất cả những điều đã biết và muốn biết liên quan đến vấn đề, chủ đề học tập

Kĩ thuật này đã và đang được nhiều GV sử dụng để trợ giúp HS trong suốt tiến

trình đọc văn bản KWL gồm ba câu hỏi: Tôi đã biết gì về vấn đề này? Tôi muốn học/

muốn biết thêm những gì về vấn đề này? Tôi đã học được gì về vấn đề này?

Trong môn Ngữ văn, kĩ thuật KWL đặc biệt phù hợp để khơi gợi, kích hoạt kiến thức nền Vì vậy, GV có thể sử dụng kĩ thuật này ở giai đoạn trước khi đọc ở giờ học đọc, hoặc ở những giờ HS tìm hiểu về đặc điểm của các kiểu văn bản khi học viết hoặc cách thức trình bày một vấn đề cụ thể khi học nói và nghe

Tiến trình sử dụng kĩ thuật KWL này như sau:

- K: trước khi đọc văn bản, GV yêu cầu học sinh đọc lướt qua tựa đề, tên tác giả… và suy nghĩ về những gì các em đã biết (về đề tài, về ngữ ngĩa của tựa đề, về tác giả…) và ghi vào cột thứ nhất Bước này giúp HS động não, sử dụng kiến thức nền đã

có để chuẩn bị bước vào khám phá văn bản

- W: Tiếp theo, học sinh liệt kê những câu hỏi mà HS muốn biết trước khi đọc văn bản này Bước này giúp học sinh tiếp tục động não, khơi gợi sự tò mò, hứng thú của học sinh đồng thời giúp các em định hướng việc đọc có trọng tâm

- L: trong quá trình đọc, học sinh có thể tạm dừng để so sánh với những thông tin đã ghi trong cột K và W để kiểm tra và điều chỉnh cách hiểu của mình Sau khi đọc xong, HS trả lời những câu hỏi mà họ đã nêu trong cột W

Khi dạy đoạn trích HPCMTG, GV sử hướng dẫn HS lập bảng KWL bằng cách yêu cầu HS đọc trước văn bản, nhớ và tích hợp với những kiến thức đã học, chỉ ra những điều em đã biết liên quan đến việc tìm hiểu văn bản, nhất là tiêu đề Vì thế khi

sử dụng kĩ thuật này HS đã dễ dàng hoàn thiện bảng KWL ở nội dung tìm hiểu nhan đề chương truyện

- Nhan đề đem đến cảm nhận gì?

- Nhan đề đó có ý nghĩa gì?

Trang 21

- Nôi dung của trích đoạn đã “minh chứng cho nhan đề như thế nào?”

Như vậy, với việc sử dụng kĩ thuật KWL như trên, GV đã đạt được 2 mục tiêu của hoạt động tìm hiểu nhan đề chương truyện là kích hoạt kiến thức nền liên quan đến nội dung học của HS và tạo sự hứng thú, xây dựng mục đích học cho HS và tìm hiểu kĩ hơn nội dung liên quan đến văn bản

* Sử dụng kỹ thuật DR – TA

DR- TA là viết tắt của các từ Directed Reading – Thinking Activity ( đọc có hướng dẫn – hoạt động tư duy), được Russel Stauffer giới thiệu năm 1969 và được xem như một kĩ thuật hướng dẫn HS nêu câu hỏi về văn bản, dự đoán 1 nội dung của văn bản, sau đó đọc để xác nhận hoặc bác bỏ những dự đoán của mình, từ đó điều chỉnh cách hiểu

- Kỹ thuật này được thực hiện như sau:

+ GV xác định văn bản sẽ được sử dụng và chọn lựa trước những điểm sẽ cho

HS tạm dừng trong quá trình đọc để đặt câu hỏi và dự đoán

+ D = DIRECT (hướng dẫn): GV hướng dẫn và kích hoạt tư duy của HS về văn bản bằng cách yêu cầu của HS đọc lướt tựa đề, tên chương (với tiểu thuyết) … GV nên

sử dụng loại câu hỏi mở để hướng dẫn HS dự đoán về nội dung văn bản

+ R = READING (đọc): HS đọc đoạn đã được chọn GV gợi nhắc HS bằng những câu hỏi về những thông tin trong đoạn đã đọc và yêu cầu HS xem lại những dự đoán

mà bản thân đã nêu trước đó và điều chỉnh lại cách hiểu về nội dung văn bản

+ T= THINGKING (suy nghĩ): Khi đọc xong mỗi đoạn, HS suy nghĩ về dự đoán của mình và làm rõ, bổ sung cho những dự đoán bằng cách tìm những chi tiết trong văn

bản GV nên hỏi những câu hỏi như: Em suy nghĩ gì về dự đoán trước đó của mình?

Em có tìm ra chi tiết/ sự kiện/ hình ảnh nào trong văn văn bản để chứng minh cho dự đoán của em? Những gì đã đọc có làm cho em thay đổi dự đoán của kình hay không?

Đó là những thay đổi nào?

- Có 2 loại câu hỏi khi sử dụng kỹ thuật DR – TA:

+ Loại câu hỏi yêu cầu suy đoán, dự đoán, phân tích: Với tiêu đề này của văn

bản, em dự đoán nội dung gì của văn bản? Em nghĩ ta có thể tìm được những thông tin

gì trong văn bản này? Điều gì có thể xảy ra trong đoạn tiếp theo …

+ Loại câu hỏi yêu cầu rút ra kết luận hoặc trợ giúp hoạt động đọc của HS: Dựa

vào đâu mà em cho là như vậy? Vì sao? Làm thế nào mà em biết được điều này?

- Dạy HPCMTG, chúng tôi đã sử dụng kĩ thuật này trong suốt tiến trình hướng

dẫn học sinh đọc hiểu văn bản

Trang 22

+ Khi tìm hiểu nhan đề chương truyện, chúng tôi đã sử dụng kĩ thuật DR- TA song song với kĩ thuật KWL để nêu ra các câu hỏi để kích hoạt kiến thức nền và hướng

học sinh đến sự suy ngẫm, dự đoán: Khi một người thân ra đi, cảm xúc chung của chúng

ta là gì? Đọc nhan đề, em nghĩ đến điều gì? Nhan đề đưa cho em đến cảm nhận gì?

+ Khi đọc hiểu văn bản, chúng tôi sử dụng nhiều câu hỏi vì sao, nhận xét để yêu

cầu HS sử dụng tư duy phân tích Ví dụ: Khi nhận xét về cái chết của cụ Tổ, tác giả

viết: “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm” Em hiểu như thế nào về

lời nhận xét đó ? Nội dung, giọng điệu, thủ pháp nghệ thuật)? Em có nhận xét gì về niềm hạnh phúc, niềm vui của những người trong và ngoài tang quyến Từ đó, em hiểu

gì về họ? Từ niềm hạnh phúc riêng chung đó, tác giả muốn nói với người đọc điều gì?

Nhận xét nghệ thuật trào phúng của tác giả? Vì sao tác giả cho rằng, cảnh hạ huyệt là đỉnh điểm của sự bất lương?

- Khi kết thúc bài học, chúng tôi sử dụng câu hỏi dự đoán, phân tích: Nước ta

đang trong quá trình hội nhập thế giới một cách mạnh mẽ, có hiện tượng giẫm đạp lên các giá rị văn hóa truyền thống không? Cần phải làm gì để không đổ vỡ các giá trị, chuẩn mực văn hóa?

Có thể nói, việc sử dụng kỹ thuật này giúp HS trở thành người đọc tích cực, sâu sắc, toàn diện; kích hoạt được kiến thức nền của HS; hướng dẫn được HS kiểm soát việc hiểu văn bản của họ trong quá trình đọc, vận giúp HS vận dụng được thực tiến đồng thời phát triển được năng lực phê phán, phản biện của HS

* Sử dụng kỹ thuật QAR

QAR là chữ viết tắt của Q (question – câu hỏi), A (answer – câu trả lời), R(

relationship – quan hệ), nghĩa là mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời QAR được Raphael giới thiệu và bổ sung vào các năm 1982, 1984, 1986 QAR đã được các nhà giáo dục xem là một trong những kĩ thuật giúp HS hiểu mối quan hệ giữa những câu hỏi, thông tin trong văn bản và kiến thức nền của HS, giúp HS phát triển mức độ phức tạp của câu hỏi và câu trả lời Thực chất đó là phát triển tư duy Mà phát triển tư duy chính là một trong những yếu tố quan trọng của dạy học phát triển năng lực

Mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời được Raphael (1996) thể hiện như sau:

Ở đây

Suy nghĩ

và tìm kiếm

Trong trang sách Tác giả

và tôi

Dựa vào chính tôi

Trong đầu tôi

Trang 23

Sơ đồ này thực chất là thể hiện 4 mức độ của câu hỏi Và 4 mức độ này sẽ giúp cho GV thiết kế hệ thống câu hỏi theo thang tư duy Bloom một cách phù hợp

- Mức độ 1: “Ở đây”: sẽ là những câu hỏi yêu cầu tìm thông tin có sẵn trong văn

bản Câu hỏi của mức độ này chỉ là nhớ tái hiện Với những câu hỏi loại này, người đọc chỉ cần tìm thông tin có sẵn trong văn bản

Trong dạy văn bản HPCMTG, chúng tôi sử dụng các kiểu câu hỏi ở mức độ nhận

biết, ghi nhớ như: Ghi lại một cách vắn tắt hành động/ thái độ/ lời nói; niềm hạnh phúc;

bản chất của mỗi nhân vật? Ghi lại các sự vật có trong đám tang cụ Tổ?

- Mức độ 2: “Suy nghĩ và tìm kiếm”: Câu hỏi yêu cầu HS phải suy nghĩ ngoài việc tìm kiếm ở trong văn bản Các câu hỏi thể hiện mức độ này là: Hãy giải thích/ Hãy

so sánh/ Điều đó có nghĩa là gì

Khi dạy văn bản Hạnh phúc của một tang gia, chúng tôi sử dụng các kiểu câu

hỏi ở mức độ thông hiểu, vận dụng, phân tích theo thang đo Bloom Ví dụ: Người kể

chuyện bình luận: “Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong

quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu” Em hiểu như thế nào về lời bình này (nội dung, giọng điệu, thủ pháp trào phúng) Nhận xét tính chất hành động của các nhân vật Từ đó, tác giả đã lật tẩy sự thật gì về tầng lớp thượng lưu đương thời? Trong cảnh hạ huyệt cũng không hề nhắc đến người chết Dụng ý của Vũ Trọng Phụng?

- Mức độ 3: “Tác giả và tôi”: Loại câu hỏi này yêu cầu người học phải có khả

năng suy luận trên cơ sở trên cơ sở kiến thức nền và các minh chứng Nói cách khác, người đọc phải có khả năng “đọc giữa dòng” bởi vì ý nghĩ không nằm sẵn trên câu chữ

Loại câu hỏi dùng ở mức độ này là ở tư duy đánh giá

Chẳng hạn, trong bài Hạnh phúc một tang gia, có thể sử dụng một số câu hỏi

như: Nhận xét nghệ thuật trào phúng của tác giả khi khắc họa niềm hạnh phúc của đám

xã hội thượng lưu? Thái độ của tác giả khi viết “đám cứ đi…”? Qua việc miêu tả cảnh

hạ huyệt của đám tang cụ Tổ, tác giả thể hiện thái độ gì…

- Mức độ 4: “Dựa vào chính tôi”: Ở mức độ này, người học phải dựa vào suy

luận và chính trải nghiệm của bản thân để trả lời Đây là dạng câu hỏi ở mức độ vận dụng để người học buộc phải vận dụng các tri thức đã được học để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống Những câu hỏi này giúp HS suy ngẫm, trải nghiệm về những gì đã được học từ văn bản và chúng có mối liên hệ như thế nào đến chính bản thân HS và thế giới xung quanh Đây là một trong những mục tiêu của dạy học phát triển năng lực

Một số câu hỏi có thể vận dụng trong bài HPCMTG là: Nếu em là một người

tham dự đám tang cụ Tổ ngày hôm đó, chứng kiến hình ảnh của ông Phán mọc sừng

Em có cảm xúc gì? Đã bao giờ em chứng kiến/ nghe kể/ đọc được những câu chuyện,

Trang 24

những cách ứng xử “không bình thường” của con người trước cái chết của người thân/ những người xung quanh Hãy chia sẻ điều đó cùng cô và các bạn

Kĩ thuật QAR được xây dựng trên toàn bộ tiến trình đọc văn bản bản, giúp cho

GV tổ chức bài dạy một cách khoa học, giúp HS phát triển tư duy một cách tối đa

2.3 Sử dụng phương pháp dạy điều tra IBL

IBL hay “Investigative Learning”: Là mô hình dạy học lấy HS làm trung tâm, xuất phát từ kiến thức, kỹ năng và những nhu cầu mong muốn hiểu biết của HS; hợp tác với bạn đồng hành, thu hút HS tìm kiếm giải pháp, điều tra thông tin để tìm câu trả lời cho các câu hỏi dưới sự cố vấn của GV trong quá trình xây dựng kiến thức mới Mô hình dạy học điều tra được xây dựng bởi một số tư tưởng của một số nhà giáo dục lớn như Socrates, John Dewey, Lev Vygotsk…

Đặc điểm của câu hỏi khi dạy học theo hướng IBL: Hệ thống câu hỏi phải có cơ

sở khách quan, nội dung câu trả lời phải khoa học; câu hỏi không được quá khó đối với người học, có thể trả lời được; câu hỏi không phải là một sự kiện đơn giản, tức là không quá dễ đối với HS; câu trả lời HS chỉ biết được khi đã trải qua quá trình học tập cố gắng hết sức và âu hỏi không được quá riêng tư

- Các bước dạy học theo hướng IBL:

+ Đặt câu hỏi: GV đặt HS vào những tinh huống làm nảy sinh vấn đề, có tính thử thách

Câu hỏi này phải có nội dung khoa học, HS có thể trả lời được, câu hỏi có thể phân tích thành nhiều câu hỏi nhỏ, có ý nghĩa thực tiễn và hấp dẫn đối với HS

+ Khám phá nghiên cứu: HS phân tích câu hỏi bài học, đưa ra các câu hỏi làm cơ sở cho việc thu thập, chọn lọc thông tin, tìm hiểu và đưa ra câu trả lời

+ Hình thành hiểu biết: HS phân tích, tổng hợp, liên kết thông tin để giải quyết vấn đề + Thảo luận, phản ảnh: HS chia sẻ những hiểu biết của bản thân, GV quan sát, định hướng

Trong quá trình dạy học HPCMTG chúng tôi đã nêu một câu hỏi theo hướng IBL

để học sinh trao đổi, thảo luận:

+ Nếu như không có cái chết của cụ Tổ thì bản chất của những người được coi

là thuộc tầng lớp thượng lưu thành thị có bộc lộ rõ ràng hay không?

Rõ ràng, nếu như không có cái chết của cụ Tổ thì bản chất của những người được coi là thuộc tầng lớp thượng lưu thành thị không bộc lộ đầy đủ, không được thể hiện

một cách sắc nét Cái chết của cụ Tổ trở thành một phép thử, một “thứ nước rửa ảnh”

góp phần bộc lộ rõ bản chất giả dối, bất lương của tầng lớp xã hội thượng lưu ở thành thị trước Cách mạng tháng Tám

+ Tại sao khi miêu tả cảnh hạ huyệt, tác giả không hề nhắc tới người đã chết?

Trang 25

Bởi đó là cảnh tượng cuối cùng, kết lại tấn bi hài kịch của một đám tang ở gia đình đại tư sản Đó cũng là lúc nhà văn hạ huyệt, vùi lấp, chôn đi lũ người lố lăng, bất nhân, bất nghĩa; chôn vùi đi cả cái xã hội thượng lưu rởm đời, cái xã hội đã sụp đổ thành trì đạo đức trong cả phạm vi gia đình và xã hội Từ đó để thấy được “Niềm căm thù mãnh liệt với cái xã hội độc ác, bất công vô lí và “chó đểu” thời thuộc Pháp và khát vọng muốn đập phá tan tành nó đi để xây dựng một xã hội công bằng hơn, có nghĩa lí hơn”

+ Nếu trong đoạn trích tác giả Vũ Trọng Phụng cắt đi cảnh hạ huyệt ở cuối thì giá trị của đoạn trích có bị thay đổi không?

Rõ ràng là sẽ thay đổi rất nhiều vì cảnh hạ huyệt là đỉnh điểm của sự giả dối, bất lương Nếu không có cảnh hạ huyệt thì bản chất của đám thượng lưu sẽ không bị phơi

bỳ một cách xấu xa đến tận cùng như vậy

Có thể thấy việc dạy học theo phương pháp điều tra IBL sẽ giúp phát triển tư duy

và kĩ năng của HS, nhất là tư duy độc lập, giúp HS hình thành phương pháp tự học, làm tăng hứng thú và tính tích cực của HS trong học tập

2.4 Sử dụng đa dạng các phương pháp trực quan, sơ đồ, bảng biểu, phiếu học tập

Về khái niệm phương pháp trực quan (PPTQ), tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng:

PPTQ “là một loại phương pháp dạy học mà học sinh tiếp thu kiến thức nhờ các giác

quan tri giác trực tiếp các sự vật và hiện tượng trong thực tiễn”

Bên cạnh đó, việc sử dụng các loại sơ đồ, bảng biểu, phiếu học tập đều góp phần tích cực vào việc đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng, hiệu quả của giờ dạy Nó có tác dụng rất lớn trong quá trình nhận thức HS, giúp HS cụ thể hóa, hệ thống hóa các kiến thức thu nhận được

Khi dạy học bài HPCMTG GV nên vận dụng phương pháp trực quan và hệ thống bảng biểu, sơ đồ Cụ thể:

Trang 26

- Ở phần tìm hiểu về tác phẩm, chúng tôi cho HS tóm tắt và giới thiệu các thông tin về tác phẩm bằng các hình ảnh, lời giới thiệu về tác phẩm có tranh minh họa hoặc phác họa các chân dung sau khi đọc đoạn trích ở nhà Thay vì GV chuẩn bị, chúng tôi

đã chuyển giao nhiệm vụ đó cho các nhóm thực hiện ở nhà, đến lớp HS giới thiệu Cách làm này làm cho HS nhớ lâu thông tin và có ấn tượng tốt hơn với tác phẩm Đặc biệt, góp phần phát triển năng khiếu hội họa, khả năng thuyết trình và khả năng hợp tác cho các em HS

* Sơ đồ dạy học, hệ thống bảng biểu, phiếu học tập

- Khi hướng dẫn HS tìm hiểu về tác phẩm, chúng tôi yêu cầu HS hoàn thành phiếu học tập sau: Phiếu này đã được giao cho học sinh nhóm 3 thực hiện ở nhà

Số đỏ

Thể loại Tóm tắt Hoàn cảnh sáng tác Giá trị nội dung Giá trị nghệ thuật

- Khi hướng dẫn HS tìm hiểu niềm hạnh phúc của những người trong và ngoài tang quyến thì học sinh làm việc theo nhóm và hoàn thành 2 bảng biểu tập sau:

Ghi lại một cách vắn tắt hành động/ thái độ/ lời nói; niềm hạnh phúc; bản chất của mỗi nhân vật vào sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: dành cho nhóm 1,2,3 Sơ đồ 2: dành cho nhóm 4,5,6

Trang 27

- Khi tìm hiểu về các nhân vật được ngòi bút tác giả đặc tả trong cảnh hạ huyệt,

chúng tôi thiết kế phiếu học tập dưới dạng bảng sau để học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập:

Nhân vật Biểu hiện/ hành động Mục đích

- Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng sơ đồ Veen để tìm ra điểm giống nhau trong niềm hạnh phúc của những người trong và ngoài tang quyến trước cái chết của cụ Tổ

để từ đó giúp HS phát hiện bản chất thực sự của tầng lớp thượng lưu lúc bấy giờ

Với sơ đồ này, GV tổ chức cho HS hoạt động cặp đôi trong vòng 2 phút GV gọi đại diện 1 - 2 cặp lên viết vào bảng phụ (phần giao nhau giữa 2 vòng tròn chính là điểm giống nhau) do GV chuẩn bị sẵn

- Khi kết thúc bài học, chúng tôi sử dụng phiếu rời lớp để kiểm tra sự phản hồi

của học sinh sau khi học văn bản Phiếu được thiết kế dựa trên kĩ thuật 3-2-1 Phiếu được thiết kế với 3 câu hỏi như sau: 3 điều em học được trong tiết học? Hai điều trong bài học khiến em thích thú nhất? Một điều khiến em còn băn khoăn? Cần thay đổi điều

gì để tiết học sau hứng thú hơn? Với việc sử dụng phiếu này GV sẽ có những đánh giá

chính xác hơn về tiết học, sẽ rút kinh nghiệm cho bản thân trong những giờ dạy kế tiếp

( Mẫu phiếu rời lớp được trình bày ở phần phụ lục 7 )

Trang 28

thì phương pháp này sẽ tạo ra sự hứng thú và phát huy được tính sáng tạo, chủ động, tự giác của người học

Khi tiến hành trò chơi, phải thực hiện các bước: Giới thiệu trò chơi, mục đích của trò chơi, hướng dẫn cách chơi, phổ biến luật chơi; chơi thử (nếu cần, thường dùng với trò chơi phức tạp); chơi thật; nhận xét, rút kinh nghiệm và tổng kết trò chơi GV hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm; trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho đội thắng (nếu có); một HS hoặc GV nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện

Khi dạy văn bản HPCMTG, chúng tôi đã thiết kế các trò chơi như sau:

Trò chơi 1: HS liệt kê các sự vật, âm thanh, con người xuất hiện trong đám tang

cụ Tổ khi tìm hiểu cảnh đưa tang

Cách làm: GV chia lớp làm 3 đội, chuẩn bị bảng phụ sẵn, yêu cầu các đội cử đại

diện, thay nhau lên bảng thực hiện 3 nhiệm vụ: liệt kê các sự vật, âm thanh và những

người đi đưa tang Đội nào xong trước đội đó chiến thắng Yêu cầu: HS tham gia chơi,

đảm bảo tốc độ, chính xác những HS khác giám sát để bạn mình tranh thủ luật chơi

Trò chơi 2: Một học sinh mô phỏng lại hành động của một số nhân vật dựa vào

văn bản đoạn trích, các học sinh khác đoán tên nhân vật được mô tả

Cách làm: GV sử dụng thẻ tên Xóc hộp thẻ tên và gọi từng cặp; cặp đó sẽ bắt

thăm tên nhân vật (GV đã chuẩn bị sẵn giấy note ghi sẵn tên nhân vật) 1 người diễn

tả hành động, 1 người gọi tên nhân vật Thực hiện 4 – 6 lượt Học sinh trong lớp nhận xét GV trao quà cho 3 cặp có hành động mô phỏng giống nhất, ấn tượng nhất

Trò chơi 3: gắn thẻ tên.- “Hạnh phúc của tôi”

Cách làm: GV chia lớp làm 2 đội GV chuẩn bị sẵn 2 bảng phụ, ở đó ghi niềm

hạnh phúc riêng của các nhân vật (trong và ngoài gia đình) GV chuẩn bị sẵn thẻ ghi tên các nhân vật Mỗi đội cử 2 học sinh Khi lên bảng, đại diện 2 đội tìm thẻ tên tương ứng để gắn vào đặc điểm ở 2 bảng Thực hiện khi kết thúc bài học

Yêu cầu: Thực hiện trong thời gian phát một bài nhạc không lời Hết bản nhạc

là hết thời gian Đội nào xong trước, đúng nhất là đội chiến thắng Bảng “Nhân vật”

chính là đáp án, bảng cho trước là niềm hạnh phúc

(Hệ thống bảng phục vụ cho trò chơi được thể hiện trong phụ lục 8)

2.6 Sử dụng Rubric khi đánh giá các hoạt động học của học sinh

Kiểm tra, đánh giá là một khâu trọng yếu trong quá trình dạy học của bất cứ nền giáo dục, của bất cứ chương trình giáo dục nào Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 xác định việc kiểm tra đánh giá phải là kiểm tra đánh giá theo hướng năng lực Công

cụ đánh giá vì thế cũng cần phải phù hợp để có thể đánh giá được năng lực người học

Trang 29

Việc sử dụng rubric – một công cụ đánh giá theo các tiêu chí là phương tiện hiệu quả nhất, chính xác nhất trong quá trình đánh giá hoạt động thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh, bên cạnh các hình thức đánh giá có tính truyền thống

Rubric là một khái niệm được sử dụng rộng rãi từ giữa thế kỷ XX Có nhiều tác giả đã định nghĩa về rubric như Goodric H (1996), Steven D.D (2005) Reddy Y M (2007) … Mỗi tác giả có một quan niệm khác nhau nhưng đều gặp nhau ở các điểm:

Rubric là một công cụ đánh giá chỉ rõ các tiêu chí đạt được trên tất cả các nhiệm vụ

Đó là một bảng biểu được sử dụng nhằm mục đích đưa ra những đánh giá chuyên môn, dựa trên những liệt kê về sự mong đợi của người đánh giá đối với người được đánh giá

Một rubric sẽ có 3 phần: các tiêu chí đánh giá, các môt tả chất lượng và cách thức cho điểm

Khi xây dựng rubric để đánh giá hoạt động học cần thực hiện đúng quy trình sau:

Thứ nhất, xác định các tiêu chí đánh giá của rubric Muốn thực hiện được việc

này trước hết phải xác định rõ mục đích đánh giá là gì? Sau đó liệt kê các tiêu chí và thảo luận để lựa chọn, phân loại tiêu chí, lựa chọn tiêu chí cần thiết

Thứ hai, xác định mức điểm cho mỗi tiêu chí đánh giá Nhìn vào tiêu chí đánh

giá, giáo viên có thể chia điểm cho mỗi tiêu chí Thông thường, mức điểm cao nhất sẽ tương ứng với mức cao nhất của yêu cầu

Thứ ba, xác định các mức độ đánh giá và gia tăng các mô tả cụ thể cho mỗi mức

độ Sẽ có 4 mức độ được đưa ra: tốt – khá- trung bình – kém Ở mỗi mức độ sẽ có các

mô tả cụ thể và tương ứng Khi có được bảng rubric thì GV sẽ đánh giá được HS, HS

sẽ tự đánh giá được mình, bạn mình thuộc mức độ nào, từ đó có thể đánh giá một cách chính xác nhất, công bằng nhất

Khi dạy văn bản HPCMTG, chúng tôi đã thiết kế 4 rubric đánh giá ở các nội dung khác nhau, vừa có tiêu chí đánh giá người khác, vừa tự đánh giá mình Tất cả các rubric này chúng tôi đều cung cấp cho HS khi hướng dẫn chuẩn bị bài học để HS có được những sự chuẩn bị cần thiết

- Rubric 1: Tiêu chí đánh giá sản phẩm sáng tạo (khi sắm vai, tóm tắt tác phẩm, phác họa chân dung)

- Rubric 2: Tiêu chí đánh giá hoạt động nhóm

- Rubric 3: Tiêu chí đánh giá sản phẩm viết đoạn của học sinh

- Rubric 4: Tiêu chí tự đánh giá

(Nội dung cụ thể của các rubric được trình bày ở phần Phụ lục 5) 2.7 Dạy học gắn liền với truyền thống văn hóa và phong tục của nhân dân ta

Mỗi tác phẩm văn học nói chung, văn học Việt Nam nói riêng đều này sinh từ đời sống, quay trở lại phục vụ đời sống Do đó, nó đều mang trong mình những nét văn

Trang 30

hóa Việt hoặc từ đó để hướng đến các giá trị văn hóa Việt Vì vậy, khi dạy HPCMTG,

GV cũng cần phải liên hệ, gắn liền với văn hóa, phong tục, truyền thống của dân tộc

Điều này không chỉ giúp HS hiểu sâu hơn về bài học mà còn cảm nhận sâu sắc, nhận

ra đúng sai để có nhận thức, hành động đúng với thuần phong mĩ tục Cụ thể:

- Mở đầu bài học, trong phần khởi động, GV cho HS xem video vè đám tang của

Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau đó nêu ra câu hỏi: Cảm xúc của mọi người khi dự lễ tang

của chủ tịch Hồ Chí Minh; Ghi ra các từ ngữ diễn tả trạng thái tình cảm, cảm xúc của một người khi chứng kiến sự ra đi của một ai đó?

Từ đó GV hướng HS đến vấn đề: đám tang thường đem đến cảm xúc tiếc thương, đau đớn để từ đó HS có được ấn tượng ban đầu về tác phẩm của Vũ Trọng Phụng – đám tang hạnh phúc Đây là chuyện ngược đời, và nó đi lại quy luật tình cảm của con người nói chung, người Việt nói riêng

- Khi dạy đến phần các nhân vật, GV đặt câu hỏi để HS suy nghĩ về trang phục, niềm hạnh phúc, ngôn ngữ, hành động của các nhân vật có phù hợp với đám tang hay không? Bởi thông thường, đám tang bao giờ mọi người thường kiệm lời, trang nghiêm, trang phục kín đáo, để từ đó thấy sự vô văn hóa của đám người thượng lưu nhà cụ cố Hồng và bạn bè của gia đình đó

- Khi dạy đến phần tổ chức đám tang, GV nêu câu hỏi: Gọi tên các sự vật có

trong đám tang? Cách thức tổ chức đám tang?Hành động của mọi người khi hạ huyệt?

Để từ đó hướng đến đám tang cụ Tổ được tổ chức không đúng với phong tục tang ma của người Việt, để từ đó HS hiểu hơn về sự lố lăng, kệch cỡm của đám người đó cũng như hiểu hơn về phong tục đám ma vừa giản dị vừa thiêng liêng của người Việt

- Cuối bài học, GV đặc biệt chú ý hướng dẫn HS vận dụng liên hệ thực tiễn đời sống để hướng các em đến những vấn đề tích cực, đúng đắn, nhân văn, kiên quyết đấu tranh chống lại cái xấu, cái kệch cỡm, cái vô đạo đức để bảo vệ các chuẩn mực văn hóa,

để giữ gìn giá trị Việt Gv nêu ra các câu hỏi:

Đã bao giờ em chứng kiến/ nghe kể/ đọc được những câu chuyện, những cách ứng xử “không bình thường” của con người trước cái chết của người thân/ những người xung quanh Hãy chia sẻ điều đó cùng cô và các bạn

+ Nước ta đang trong quá trình hội nhập thế giới một cách mạnh mẽ Cần phải làm gì để không đổ vỡ các giá trị, chuẩn mực văn hóa?

Trang 31

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm

- Mục đích: TNSP được tiến hành nhằm đánh giá tính đúng đắn, tính khả thi, tính hiệu quả và sự phù hợp của các biện pháp đề xuất trong việc dạy học văn bản HPCMTG theo định hướng phát triển năng lực.Vì vậy, việc thực nghiệm không chỉ có ý nghĩa đối với người thực hiện đề tài mà còn có ý nghĩa phương pháp luận trong việc đánh giá các

kĩ thuật đã nêu trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông

- Yêu cầu: Với mục đích như trên, chúng tôi đã xác định các nhiệm vụ TNSP như sau:

Chọn đối tượng để tổ chức TNSP; xác định nội dung và phương pháp TNSP; chuẩn bị các kế hoạch bài học, phương tiện dạy học, bộ công cụ đánh giá; lập kế hoạch và tiến hành TNSP; xử lí kết quả TNSP, rút ra kết luận

3.2 Nội dung thực nghiệm 3.2.1 Bài dạy thực nghiệm: Chúng tôi sẽ thể hiện tường minh nhất những biện pháp

phát triển năng lực HS thông qua dạy học văn bản Hạnh phúc của một tang gia

3.2.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm

- Đối tượng thực nghiệm: Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm giảng dạy ở 2 lớp:

1 Thái Văn Phú Quỳnh Lưu 2 11D2 42 11D5 42

2 Nguyễn Thị Thu Hường Hoàng Mai 2 11A4 41 11A2 40

3 Hồ Thị Quế Quỳnh Lưu 3 11A1 41 11D2 40

Trang 32

3.2.3 Thời gian thực nghiệm: Các tiết thực nghiệm và đối chứng được tổ chức thực

hiện trong thời gian từ tháng 10 – 12 năm 2021

3.3 Tiến trình thực nghiệm 3.3.1 Các bước tiến hành thực nghiệm

- Chuẩn bị thực nghiệm: Tiến hành lựa chọn nội dung TN, tìm hiểu đối tượng

và địa bàn TN, lên kế hoạch về thời gian, xây dựng kế hoạch bài học Hạnh phúc của

một tang gia, trao đổi với GV dạy thực nghiệm và đối chứng, biên soạn các đề kiểm tra

theo yêu cầu TN đề ra

- Tiến hành thực nghiệm: Chúng tôi tiến hành các hoạt động khác nhau: thống

nhất giáo án với GV dạy TN – ĐC, GV lên lịch dạy và thực hiện phương án đã thống nhất

+ Ở lớp dạy thực nghiệm: GV tiến hành dạy theo nội dung sáng kiến trong các

giờ học, kể cả trên lớp và ngoài giờ lên lớp; quan sát thái độ và các hoạt động học tập của HS xem các em có phát huy được tính tích cực, tự giác và có phát triển được các

năng lực cần thiết hay không; tiến hành bài kiểm tra (30 phút) sau khi thực nghiệm

* Ở lớp đối chứng: GV thực hiện quan sát hoạt động học tập của HS ở lớp đối

chứng được GV giảng dạy các bài tập cùng nội dung trong SKKN nhưng không theo hướng đi của sáng kiến; tiến hành cùng một đề kiểm tra như lớp thực nghiệm; chấm điểm và so sánh kết quả bài kiểm tra giữa 2 lớp trong cùng một cặp TN – ĐC

- Đánh giá thực nghiệm: chúng tôi quan sát giờ dạy của GV, hoạt động học của

HS và qua bài kiểm tra

3.3.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm: Giáo án được thiết kế dựa theo chuẩn kiến thức,

kỹ năng và phát triển năng lực cho HS trong dạy học Ngữ văn hiện nay

Theo kế hoạch giáo dục đã xây dựng ngày từ đầu năm học đã được Trường THPT

Quỳnh Lưu 2 và Sở giáo dục đào tạo Nghệ An phê duyệt, văn bản Hạnh phúc của một

tang gia được tiến hành dạy trong 4 tiết

Đọc hiểu: HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA

Trang 33

2 Phát triển năng lực

a Kỹ năng đọc, hiểu: biết đọc hiểu một trích đoạn truyện trào phúng hiện đại:

- Nhận biết và phân tích được các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện, sự kiện,

nhân vật và mối quan hệ của chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm; khái quát vấn

đề, gọi tên bản chất từ hiện tượng, nhận xét được những chi tiết quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản

- Phân tích được thái độ phê phán mạnh mẽ và bút pháp châm biếm sâu cay, mãnh liệt, đầy tài năng của Vũ Trọng Phụng: vừa xoay quanh mâu thuẫn trào phúng cơ bản, vừa sáng tạo ra những tình huống khác nhau, xây dựng những chân dung biếm

họa, tạo nên một màn hài kịch phong phú, biến hoá của chương XV của tiểu thuyết Số

đỏ

- Vận dụng được kinh nghiệm đọc, trải nghiệm về cuộc sống và hiểu biết về lịch

sử văn học Việt Nam hiện đại để nhận xét, đánh giá văn bản văn học

- Phân tích được ý nghĩa hay tác động của văn bản văn học trong việc làm thay đổi suy nghĩ, tình cảm, cách nhìn và cách thưởng thức, đánh giá của cá nhân đối với văn học và cuộc sống

b Kỹ năng viết

- Tạo lập được văn bản tự sự

- Viết đoạn văn về một nhân vật, chi tiết, tình huống trong truyện ngắn

- Biết sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác, gợi cảm khi tạo lập văn bản

c Kỹ năng nói và nghe

- Biết trình bày một vấn đề trước tập thể một cách trôi chảy

- Biết cách kể được một câu chuyện sinh động, hấp dẫn

- Nghe và nhận biết được tính hấp dẫn, ý nghĩa của một truyện ngắn hiện đại, một tiểu thuyết hiện đại

II Phương tiện, phương pháp và kĩ thuật dạy học

1 Phương tiện dạy học

* Giáo viên: SGK, SGV Ngữ văn 11 tập 1, các tài liệu liên quan khác; máy tính, máy

chiếu; bút dạ, bảng phụ…; hướng dẫn HS chuẩn bị bài

* Học sinh: SGK, tài liệu tham khảo; chuẩn bị bài theo hướng dẫn của giáo viên

2 Phương pháp, kĩ thuật dạy học

GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các PP và kĩ thuật dạy học như sau:

Trang 34

- Phương pháp dạy học: Phương pháp đàm thoại – phát vấn, phương pháp làm việc nhóm, phương pháp đóng vai, phương pháp trò chơi, phương pháp IBL…

- Kĩ thuật dạy học: kĩ thuật trình bày 1 phút, kĩ thuật sử dụng sơ đồ, kĩ thuật KWL, kỹ thuật DR – TA, kỹ thuật ReQuest, kỹ thuật QAR…

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:

1 Ổn định tổ chức lớp học

2 Nội dung bài học

HOẠT ĐỘNG 1: HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG Cách tiến hành:

- Cho học sinh xem 1 đoạn video về đám tang của Bác Hồ ( 2 phút đầu)

- Gv đặt câu hỏi: Cảm xúc của mọi người khi dự lễ tang của chủ tịch Hồ Chí Minh?

Ghi ra các từ ngữ diễn tả trạng thái tình cảm, cảm xúc của một người khi chứng kiến

sự ra đi của một ai đó?

- HS cảm nhận, trả lời Hs làm việc cá nhân GV nhận xét, chuyển vào bài mới

HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI

GV hướng dẫn HS tìm hiểu những nét chính về tác giả tác phẩm

- Tìm hiểu về tác giả: Sử dụng phương pháp đóng vai – tạo ra một cuộc trò

chuyện giữa một nhà văn trẻ và Vũ Trọng Phụng

+ GV đã giao nhiệm vụ này về nhà để HS

tìm hiểu và chuẩn bị trước theo hình thức cặp đôi

(1 số câu hỏi gợi ý dành cho cuộc trò chuyện: hướng dẫn cho hs tìm hiểu, chuẩn

Phong trào Âu hóa, “vui vẻ trẻ trung” như một nạn dịch lan tràn

- Cuộc đời:

+ Xuất thân trong một gia đình bình dân,

“nghèo gia truyền” (Ngô Tất Tố), bị giày

vò bởi miếng cơm manh áo hàng ngày

Cha mất khi ông mới 7 tuổi

+ Sống chật vật, bấp bênh bằng nghề viết

văn, làm báo Ông mất trong nghèo đói

- Con người:

Trang 35

3 Ông đã đến với văn chương như thế nào?

Ông cảm thấy có cảm hứng thực sự với thể loại nào? Vì sao? Những tác phẩm mà ông ưng ý nhất?

3 Dù không thuộc tầng lớp thượng lưu nhưng ông lại viết rất sâu, rất hay về tầng lớp đó Nguyên nhân sâu xa là gì ạ?

4 Ông có biết lịch sử văn học Việt Nam đã đánh giá như thế nào về ông? Cảm xúc của ông khi đón nhận những đánh giá đó?

+ Tại lớp GV gọi 1 cặp HS lên thực hiện cuộc trò chuyện ngắn trước lớp (thời gian

Cho HS xem thêm một đoạn trong clip giới thiêu về Vũ Trọng Phụng

(2 phút đầu tiên trong video)

https://www.youtube.com/watch?

v=o69OTbvCuso

* Gv tổ chức cho học sinh tìm hiểu về tác

phẩm Số đỏ dựa theo những gợi dẫn sau

đây sau khi đã có sự chuẩn bị ở nhà:

Số đỏ

Thể loại Tóm tắt Hoàn cảnh sáng tác Giá trị nội dung Giá trị nghệ thuật

+ Bình dị, khuôn phép, mực thước … + Tiếp xúc nhiều với hai loại người: loại giàu thì tàn ác, lưu mạnh, đê tiện (những

mụ me tây, những nhà tư sản); loại nghèo thì dốt nát, thô lậu (con sen, ma cô, gái điếm )

=> cái nhìn bi quan về cuộc đời và thực

sự căm ghét xã hội thực dân nửa phong kiến

– Sự nghiệp:

+ Có sức sáng tạo dồi dào

+ Có khối lượng tác phẩm đồ sộ Thành công ở cả thể loại phóng sự và tiểu thuyết

+ Quan điểm: “Các ông cho tiểu thuyết

cứ là tiểu thuyết Tôi và những người cùng chí hướng với tôi cho tiểu thuyết là

sự thực ở đời” (VTP)

– Vị trí: “Ông vua phóng sự đất Bắc”,

“Nhà tiểu thuyết trác tuyệt” VTP có vị trí vững chắc trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại

2 Tác phẩm

– Tiểu thuyết trào phúng Số đỏ:

+ Hoàn cảnh sáng tác: viết năm 1936

Đây là năm đầu của Mặt trận dân chủ Đông Dương, không khí đấu tranh dân chủ sôi nổi Chế độ kiểm duyệt sách báo khắt khe của chính quyền thực dân tạm thời bãi bỏ nên các nhà văn đã mạnh mẽ thể hiện tiếng nói của mình, nhất là tiếng

nói phản kháng xã hội

- Tóm tắt: SGK

- Giá trị tác phẩm:

Ngày đăng: 01/11/2022, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w