1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) dạy học truyện ngắn vợ nhặt của nhà văn kim lân theo hướng phát triển năng lực

53 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy học truyện ngắn Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân theo hướng phát triển năng lực
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Bích Thu
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Nghiên cứu khoa học ứng dụng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ (2)
    • I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI (2)
    • II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU (3)
    • III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU (3)
    • IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (3)
    • V. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI (3)
    • VI. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI (3)
  • Phần 2: NỘI DUNG (4)
    • I. CƠ SỞ LÝ LUẬN (4)
      • 1. Khái niệm năng lực (4)
      • 2. Dạy học theo hướng phát triển năng lực (5)
      • 3. Dạy học theo hướng phát triển năng lực ở môn Ngữ văn (5)
    • II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC VĂN HIỆN NAY (10)
    • III. PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VỢ NHẶT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH (11)
      • 1. Hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức bài học và phát triển năng lực (11)
      • 2. Một số năng lực cụ thể hướng tới hình thành và phát triển cho học sinh qua dạy học truyện Vợ nhặt của Kim Lân (21)
      • 3. Giáo án thể nghiệm dạy đọc hiểu văn bản Vợ nhặt theo hướng phát triển năng lực của học sinh (24)
  • Phần 3: KẾT LUẬN (44)
    • I. KẾT LUẬN CHUNG (44)
    • II. KẾT QUẢ TRONG VIỆC ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM (44)
    • III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT (46)

Nội dung

Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định

NỘI DUNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng, 1998):

Năng lực là khả năng, là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lý và sinh lý đóng vai trò hình thành năng lực, giúp con người thực hiện một hoạt động với chất lượng cao.

Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm

Nhìn nhận theo cách tiếp cận hiện đại, năng lực là sự kết hợp linh hoạt và có tổ chức giữa kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị và động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả các yêu cầu phức tạp của một hoạt động trong bối cảnh cụ thể; năng lực được thể hiện qua sự vận dụng tổng hợp các yếu tố như phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng vào các hoạt động của cá nhân để thực hiện một loại công việc nhất định; đồng thời năng lực còn bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động và mọi công dân cần có, đặc biệt là các năng lực chung và cốt lõi, làm nền tảng cho sự phát triển và đóng góp của mỗi người trong tổ chức và xã hội.

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã xác định mười năng lực mà học sinh Việt Nam cần phải có gồm:

- Ba năng lực chung là:

+ Năng lực tự chủ và tự học + Năng lực giao tiếp và hợp tác + Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Bảy năng lực đặc thù là:

+ Năng lực tính toán + Năng lực sử dụng ngôn ngữ + Năng lực khoa học

+ Năng lực công nghệ + Năng lực tin học + Năng lực thẩm mĩ + Năng lực thể chất

Năng lực được hiểu là khả năng vận dụng một cách toàn diện các yếu tố chủ quan—những yếu tố có sẵn bên trong bản thân hoặc được hình thành qua quá trình học tập—để giải quyết hiệu quả các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống Đó là sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, giúp cá nhân thích nghi, ứng phó với thách thức và ra quyết định sáng suốt trong nhiều tình huống khác nhau.

2 Dạy học theo hướng phát triển năng lực

Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng xác định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục thông qua đổi mới chương trình theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của người học, với mục tiêu căn bản là giúp học sinh sau khi học có thể làm được những việc thực tế chứ không chỉ nắm vững kiến thức chuyên môn Cách tiếp cận này nhấn mạnh phát triển năng lực như một mục tiêu then chốt của giáo dục lần này, trong đó năng lực được hiểu là sự vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ và hứng thú để thực hiện công việc một cách hiệu quả Mục tiêu phát triển năng lực nhằm khắc phục tình trạng quá chú trọng trang bị kiến thức hàn lâm, kinh viện—khi người học có nhiều lý thuyết nhưng thiếu thực hành và vận dụng vào thực tế.

Trong dạy học theo hướng phát triển năng lực, giáo viên phải quan tâm đến phát triển năng lực cá nhân của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm và dùng đánh giá nhằm định hướng cho người học phương pháp học tập và con đường tiếp tục học tập; người học cần có cơ hội tham gia các hoạt động giáo dục có tính tương tác thay vì chỉ nghe thuyết giảng Để làm được điều này, giáo viên phải có khả năng đáp ứng yêu cầu mới trong giáo dục và nhà trường cần chủ động, làm chủ việc tiếp cận này Để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh phổ thông, cần vận dụng dạy học theo tình huống, dạy học định hướng hành động, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin một cách hợp lý Bên cạnh đó, kiểm tra, đánh giá phải chú trọng vào năng lực của người học, như tư duy sáng tạo và vận dụng để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, với các phương pháp như quan sát, phỏng vấn sâu, hội thảo, nhật ký học tập, hồ sơ học tập, bài tập lớn, đánh giá thực hành và tự đánh giá lẫn nhau Muốn làm được điều này, cần nâng cao nhận thức của giáo viên, tổ chức tập huấn cho giáo viên, thiết kế lại chương trình đào tạo nhấn mạnh mục tiêu hình thành năng lực cho người học và phối hợp với đổi mới kiểm tra, phương pháp dạy và học.

Để thực hiện kiểm tra đánh giá hiệu quả, cần sự phối hợp của nhiều đối tượng: cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh Sự tham gia đồng bộ này giúp thiết kế quy trình đánh giá khách quan, công bằng và minh bạch; đồng thời cho phép nhận diện đúng năng lực và nhu cầu học tập của từng học sinh Thông tin từ các bên được trao đổi thường xuyên sẽ hỗ trợ điều chỉnh phương pháp giảng dạy, nội dung kiểm tra và tiêu chí đánh giá phù hợp với thực tế ở mỗi lớp Sự hợp tác giữa nhà trường và gia đình đóng vai trò là chìa khóa để nâng cao chất lượng kiểm tra đánh giá và kết quả học tập.

Nhiều phương pháp nâng cao hiệu quả đánh giá được các đại biểu đề xuất, trong đó tập trung bồi dưỡng cho giáo viên các kỹ năng đánh giá và hình thức đánh giá; đồng thời đa dạng hóa các hình thức đánh giá như đánh giá bằng sản phẩm, đánh giá dự án và đánh giá qua khảo sát thực tế để phản ánh đầy đủ năng lực và kết quả học tập của người học.

3 Dạy học theo hướng phát triển năng lực ở môn Ngữ văn

Ngữ văn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh phát triển cả năng lực tổng quát lẫn năng lực đặc thù, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông Các năng lực tổng quát gồm tư duy, tưởng tượng và sáng tạo, hợp tác và tự học; các năng lực đặc thù gồm năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực thẩm mỹ, trong đó cảm thụ văn học đóng vai trò chủ đạo Năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy là yếu tố quan trọng trong học tập và công việc tương lai của học sinh, đồng thời giúp các em nâng cao chất lượng cuộc sống Bên cạnh đó, môn Ngữ văn còn có sứ mạng giáo dục tình cảm và nhân cách cho người học, góp phần hình thành phẩm chất và thái độ của các em.

Thông qua các tác phẩm văn học đặc sắc, học sinh phát triển năng lực thẩm mỹ, nhạy cảm và tinh tế với các sắc thái của tiếng Việt Các em từ đó biết đọc và có hứng thú đọc, đồng thời viết và thảo luận về các tác phẩm văn học một cách tự tin và sáng tạo Nhờ quá trình tiếp xúc với văn học, học sinh có cơ hội khám phá bản thân và thế giới quanh ta, thấu hiểu con người, hình thành cá tính và đời sống tâm hồn phong phú, từ đó hình thành quan niệm sống và cách ứng xử mang tính nhân văn.

Để phát triển toàn diện cho học sinh, chương trình tập trung nâng cao năng lực tư duy, đặc biệt là tư duy suy luận và phản biện, giúp các em biết đánh giá tính hợp lý và ý nghĩa của những thông tin và ý tưởng được tiếp nhận Quá trình này đồng thời kích thích năng lực tưởng tượng và sáng tạo, tăng cường sự tự tin và khả năng tự lập Việc phát triển năng lực hợp tác và tinh thần cộng đồng giúp các em học cách làm việc nhóm hiệu quả và đóng góp tích cực cho môi trường học tập Những yếu tố này hình thành nền tảng cho nhận thức, giải quyết vấn đề và phát triển cá nhân bền vững trong học tập và đời sống.

Việc hình thành và phát triển phương pháp học tập, đặc biệt là phương pháp tự học, giúp học sinh có thể tự học suốt đời và biết ứng dụng những kiến thức và kỹ năng đã học vào cuộc sống Nhờ được trang bị kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm đọc nhiều kiểu văn bản ở trường, khi trưởng thành học sinh có thể tự đọc sách để liên tục nâng cao vốn tri thức và văn hóa cần thiết cho cuộc sống và công việc.

Chương trình giáo dục tiếng Việt và văn học trang bị cho học sinh một hệ kiến thức phổ thông, căn bản và hiện đại nhằm phát triển vốn tri thức nền tảng và hình thành một nền văn hóa giàu có Qua đó, học sinh nắm được mối liên hệ thiết yếu giữa ngôn ngữ và văn học với đời sống xã hội, nhận thức rõ vai trò của ngôn ngữ trong giao tiếp, tư duy và phản ánh xã hội Việc học tập tiếng Việt và văn học không chỉ nâng cao kỹ năng ngôn ngữ mà còn mở rộng nhận thức về văn hóa và bản sắc cộng đồng.

Xây dựng cho học sinh thái độ tích cực đối với tiếng Việt và văn học, giúp các em trân trọng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam; nuôi dưỡng thói quen và niềm vui đọc sách; mở rộng tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới và khả năng hội nhập quốc tế, để trở thành công dân toàn cầu, đồng thời luôn ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Tóm lại, các năng lực cơ bản mà môn học Ngữ văn hướng đến:

Năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) được xem là một năng lực chung, thể hiện ở khả năng nhận thức và khám phá những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống mà chưa có định hướng kết quả trước Tuy có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về GQVĐ, các ý kiến đều đồng thuận rằng người có năng lực này có thể nhận diện vấn đề, phân tích nguyên nhân và tìm các giải pháp phù hợp Quá trình này đòi hỏi tư duy phản biện và tư duy logic, đồng thời phát huy tinh thần hợp tác để lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu cho từng tình huống, từ đó nâng cao hiệu quả học tập và khả năng thích nghi với cuộc sống.

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC VĂN HIỆN NAY

Mục tiêu của giờ đọc văn là cung cấp cho học sinh các phương pháp và cách đọc, giúp các em tiếp cận, khám phá sâu các vấn đề nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành năng lực tự đọc tích cực, chủ động và có sắc thái cá nhân, chứ không truyền đạt một chiều cảm nhận của giáo viên về văn bản; tuy nhiên, thực tế dạy học hiện nay vẫn tồn tại một thực trạng nhất định ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu này.

Đối với người dạy, đổi mới phương pháp dạy học vẫn chưa đồng bộ và nhiều giáo viên chưa thật sự tích cực triển khai, dù đa số đã có ý thức đổi mới nhưng việc thực hiện vẫn chưa thường xuyên và mang tính hình thức, đối phó; nguyên nhân chính là thời gian và công sức chuẩn bị cho một giờ dạy theo phương pháp mới quá lớn, đồng thời đòi hỏi sự phối hợp tích cực của học sinh để giờ học thành công Nhiều giáo viên vẫn duy trì thói quen dạy một chiều: thầy giảng, trò lắng nghe, ghi nhớ và nhắc lại đúng những gì thầy giảng mà chưa chú trọng tới việc tiếp thu và vận dụng kiến thức của học sinh cũng như chỉ rõ cho người học một con đường tích cực, chủ động để nắm kiến thức Do đó, nhiều giờ dạy diễn ra như một buổi thuyết trình hoặc thậm chí thầy đọc chậm để học sinh chép lại nội dung có sẵn trong giáo án, khiến giờ học tác phẩm văn chương không thu hút sự chú ý và sự tham gia của người học, thậm chí gây ra tâm lý chán học ở một bộ phận học sinh.

Trong thực tế giảng dạy Ngữ văn, nhiều học sinh vẫn thụ động trong quá trình học tập, chủ yếu nghe, chép và ghi nhớ thay vì tự tìm tòi, khám phá tri thức Các em lặp lại bài giảng một cách máy móc, rập khuôn, làm triệt tiêu óc sáng tạo và khả năng tự suy nghĩ, biến người học thành nô lệ của sách vở Vì thiếu hứng thú và chưa được luyện cách thể hiện suy nghĩ, tình cảm cá nhân trước tập thể, khi nói và viết các em gặp nhiều khó khăn Hiện tượng này càng rõ khi rất nhiều học sinh không bị cảm động trước các tác phẩm văn chương, nên khi làm bài dễ rơi vào suy luận chủ quan và liên hệ thực tế một cách gượng gạo.

Hiện nay, nhiều học sinh và phụ huynh chưa nhận thức đúng vai trò của môn Ngữ văn trong giáo dục, nên vẫn ưu tiên các môn tự nhiên để dễ thi cử và cho rằng Ngữ văn chỉ là công cụ để lên lớp hoặc đậu tốt nghiệp Mặc dù vậy, Ngữ văn không chỉ rèn luyện kỹ năng đọc hiểu và viết mà còn phát triển tư duy phân tích, khả năng trình bày ý tưởng và vốn từ vựng quan trọng cho mọi ngành nghề Nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của Ngữ văn sẽ giúp học sinh cân bằng giữa các môn và tận dụng tối đa cơ hội học tập cũng như thi cử Đưa Ngữ văn vào kế hoạch học tập một cách có hệ thống sẽ góp phần hình thành phẩm chất ngôn ngữ và tư duy phản biện, từ đó nâng cao kết quả thi cử và thành công sau này.

Trong thời gian gần đây, nhiều cuốn sách thiết kế bài giảng được xuất bản nhằm định hướng giáo viên khi tiếp cận tác phẩm, với những ưu điểm nổi bật như vận dụng các phương pháp dạy học tích cực (gợi mở, thảo luận) và gợi ý sử dụng một số đồ dùng dạy học hiệu quả, nhưng hạn chế chủ yếu là chưa xây dựng hệ thống câu hỏi mở và các tình huống học tập gắn với thực tế cuộc sống để hướng tới phát triển năng lực cho học sinh.

Trước thực trạng đó, với trách nhiệm của một người giáo viên và căn cứ vào lý luận đổi mới phương pháp dạy học, tôi đã nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực Những phương pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy học mà còn tập trung vào phát triển năng lực của học sinh, từ đó tăng cường khả năng tự học và vận dụng kiến thức Mục tiêu cuối cùng của tôi là khơi dậy hứng thú học tập cho học sinh, thức tỉnh một số năng lực thiết yếu và cải thiện hiệu quả giảng dạy.

PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VỢ NHẶT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH

1 Hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức bài học và phát triển năng lực

Dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật là quá trình đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt các thao tác và phương pháp dạy học để học sinh cảm nhận đầy đủ vẻ đẹp nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Giáo viên cần tổ chức các hoạt động phân tích, gợi mở suy nghĩ và kết nối ngôn ngữ nghệ thuật với đời sống người đọc, nhằm tăng cường kỹ năng đọc hiểu và thẩm mỹ cho học sinh Mục tiêu của dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật là giúp học sinh nhận diện các lớp ý nghĩa, nhận ra mạch tư tưởng và giá trị sáng tạo, từ đó hình thành khả năng đánh giá nghệ thuật một cách độc lập và có hệ thống Bằng cách áp dụng nhiều thao tác giảng dạy phù hợp, bài học sẽ trở nên sinh động, khơi gợi sự cảm nhận sâu sắc và nâng cao sự yêu thích đối với văn bản nghệ thuật.

Vợ nhặt được tiếp cận theo hướng phát triển năng lực của học sinh bằng cách áp dụng các phương pháp, kỹ thuật và hình thức dạy học tích cực để tối đa hoá việc hình thành các năng lực: tự học, tự tìm hiểu và vận dụng kiến thức đã học để đọc hiểu một tác phẩm truyện cụ thể đồng thời mở rộng khả năng đọc hiểu sang các tác phẩm cùng thể loại; vận dụng kiến thức và kỹ năng đã học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống và liên hệ với kiến thức xã hội, môn học khác để khám phá tác phẩm Để thực hiện mục tiêu đó, tôi đã vận dụng các phương pháp, kỹ thuật và hình thức dạy học tích cực của môn Văn và các phương pháp, kỹ thuật chung trong dạy văn bản Vợ nhặt nhằm phát triển tối đa các năng lực cho học sinh.

1.1 Về phương pháp: Dạy truyện ngắn Vợ nhặt theo hướng phát triển năng lực học sinh, tôi đã vận dụng các phương pháp dạy học tích cực như sau:

Trong đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn, dạy học đọc hiểu là nội dung căn bản để nâng cao khả năng tiếp nhận văn bản, đồng thời hướng học sinh đến cách đọc, cách tiếp cận và khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành năng lực tự đọc tích cực, chủ động và có sắc thái cá nhân Dạy học đọc hiểu không truyền thụ một chiều cảm nhận của giáo viên mà biến thầy thành người hướng dẫn đọc văn, tăng cường vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện cho học sinh tự học, khi đó thầy chỉ giảng những chỗ quan trọng và cần thiết nhất, khắc phục lối diễn giảng dài dòng trên lớp Hoạt động đọc - hiểu được thực hiện theo trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọc thông đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo; khi hình thành năng lực đọc - hiểu, học sinh cũng hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy Năng lực đọc - hiểu còn là sự tích hợp kiến thức, kỹ năng của các phân môn cũng như kinh nghiệm sống của học sinh, góp phần làm giàu quá trình tiếp nhận văn bản và phát triển toàn diện người học.

- Một số nhiệm vụ cơ bản của người học khi đọc - hiểu như:

+ Tìm kiếm thông tin từ văn bản

+ Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản

+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản

+ Khái quát tư tưởng bài văn Cho một số cách khái quát, tìm cách khái quát đúng ở trong đó, hoặc tự viết lời khái quát

Vận dụng kiến thức về các văn bản đã đọc để đọc và hiểu được nhiều loại văn bản khác nhau, từ thông tin cho đến nghị luận, từ văn bản giáo dục đến văn bản phổ thông, nhằm đáp ứng mục đích học tập và đời sống When nhận diện đặc điểm, cấu trúc và ngữ dụng của từng loại văn bản, người đọc có thể tóm tắt ý chính, phân tích quan điểm, so sánh nguồn tin và trình bày nội dung một cách logic Việc áp dụng những hiểu biết này không chỉ nâng cao kỹ năng đọc hiểu mà còn tăng cường khả năng giao tiếp và tự tin xử lý thông tin đa dạng trong môi trường học thuật và thực tiễn.

Với tác phẩm “Vợ nhặt”, tôi cũng lần lượt triển khai các nhiệm vụ sau cho học sinh:

Công việc chuẩn bị ở nhà cho bài học là học sinh nên đọc và tìm hiểu trước về tác giả và tác phẩm, nêu rõ xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác và tóm tắt nội dung tác phẩm; đồng thời nghiên cứu trước bối cảnh lịch sử của truyện, đặc biệt là nạn đói năm 1945, thông qua môn Lịch sử và các phương tiện thông tin truyền thông để có cái nhìn toàn diện về nguồn gốc, ý nghĩa và mối liên hệ giữa nội dung tác phẩm với thời kỳ lịch sử ấy.

Đọc và phân tích, nội dung chính của văn bản là tình người và khát vọng sống trong bối cảnh cận kề cái chết Các chi tiết quan trọng như cảnh chết đói, những người sống “đi lại dật dờ như những bóng ma”, ngoại hình người vợ nhặt, tiếng thở dài của Thị trước nhà Tràng và lá cờ đỏ ở cuối tác phẩm làm nổi bật thảm cảnh con người đồng thời định hình hướng đi tư tưởng theo chiều tích cực Những chi tiết này không chỉ phơi bày bi kịch xã hội mà còn gợi mở niềm tin về sức sống và sự đồng lòng của cộng đồng có thể tạo ra sự đổi thay trong số phận con người Từ đó, tác phẩm vừa phản ánh thực tế nghiệt ngã vừa khơi dậy hy vọng và nhấn mạnh giá trị của tình người như nguồn lực để vượt lên nghịch cảnh.

- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản:

Những phân tích về ý nghĩa và tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, câu văn và chi tiết trong nhan đề “Vợ nhặt” cho thấy đây không chỉ là một cái tên mà còn là công cụ gợi mở bi kịch và ý nghĩa xã hội sâu sắc Nhan đề gợi ra số phận thê thảm và giá trị rẻ rúng của con người trong cảnh nghèo đói, đồng thời phản ánh cách ngôn từ giản dị mà giàu nhịp điệu có thể khắc họa bức tranh hiện thực một cách sắc bén Hình ảnh và chi tiết được sử dụng một cách tinh tế để làm nổi bật sự mong manh của nhân phẩm và sự tàn nhẫn của hoàn cảnh, từ đó khắc sâu cảm giác đồng cảm ở người đọc Câu văn ngắn gọn, mạch lạc cùng nhịp điệu chậm rãi tăng thêm sự bi tráng, khiến người đọc nhìn thấy sự đánh đổi và lòng kiên cường của con người giữa nghèo khó Tóm lại, nhan đề “Vợ nhặt” mang đến một lớp ý nghĩa biểu tượng, vừa mời gọi độc giả suy ngẫm vừa đặt nền tảng cho toàn bộ phân tích về số phận, nhân phẩm và tình người trong tác phẩm.

Những chi tiết về ngoại hình của anh cu Tràng và các yếu tố liên quan đến căn nhà, mảnh vườn gợi lên hình ảnh một người thô ráp, xấu xí, mang vẻ hoang sơ và nghèo khó Những cử chỉ, hành động và ngôn ngữ của người vợ nhặt trước và sau khi về nhà Tràng cho thấy sự biến chuyển rõ nét của tâm trạng và tính cách của chị; đúng hơn, khi làm dâu, chị thể hiện vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam Chi tiết Thị nén một tiếng thở dài khi đứng trước cảnh ngộ mới cho thấy sự chịu đựng và những áp lực của đời sống gia đình Từ những chi tiết này, bài viết phác họa bức tranh xã hội nông thôn Việt Nam, làm nổi bật sự đối chiếu giữa thực tại khắc nghiệt và nội tâm phong phú của người phụ nữ, đồng thời giúp người đọc hiểu sâu sắc về nhân vật và ngữ cảnh câu chuyện.

Giang sơn nhà Tràng biểu thị sự thất vọng nhất thời khi đối mặt với đói khát và cảnh nghèo của gia đình Tràng; trước tình huống ấy, Tràng trải qua nỗi bất an rồi lựa theo cảm xúc của mình Chi tiết Tràng “chậc kệ” để rồi quyết định đưa người đàn bà về nhà là một bước đi vừa liều lĩnh vừa chứa đựng ý chí hướng tới hạnh phúc, đồng thời là một thách thức với cái đói và với hoàn cảnh xã hội khắc nghiệt Câu chuyện đặt ra câu hỏi về động lực thật sự của hành động ấy: là sự liều lĩnh trước nguy cơ hay sự kiên quyết tìm một mái ấm giữa nghèo khó nhằm thay đổi số phận cho hai người.

Biện pháp tương phản trong tác phẩm Vợ nhặt của Nam Cao được thể hiện qua hình ảnh những xác chết vì đói đứng cạnh người sống, cho thấy ranh giới giữa sự sống và cái chết quá mong manh Đêm tân hôn của Tràng và vợ diễn ra giữa những tiếng hờ khóc của gia đình và mùi hương cho người chết vốn được xem là thừa thãi giữa cảnh nghèo túng Những bát cháo cảm, vốn dành cho động vật, nay được người sống ăn để tồn tại, tạo thành một biểu hiện đầy xót xa về sự đảo lộn giá trị và bản chất khắc nghiệt của đời sống thiếu thốn, đồng thời làm nổi bật ý nghĩa của tình người giữa cơn đói và sự bất công xã hội.

+ Chỉ ra mối quan hệ giữa các thông tin trong văn bản: Tất cả các thông tin trong văn bản: Cảnh người chết đói “như ngả rạ”, hoàn cảnh cụ thể của gia đình Tràng, người vợ nhặt, tiếng trống thúc thuế, hình ảnh những người cướp kho thóc Nhật… đều hướng tới một nội dung: Sự bóc lột tàn tệ của bọn Thực dân, Phát xít đã đẩy người nông dân tới tình cảnh thê thảm – người chết đói đã đành, người sống còn thê thảm hơn

+ So sánh điểm tương đồng giữa các nhân vật: Cùng là nạn nhân của nạn đói, giàu tình thương, lạc quan tin tưởng vào tương lai

Phân tích mô hình tổ chức của văn bản cho thấy truyện được xây dựng theo hướng phát triển có dụng ý của tác giả: mở đầu bằng buổi chiều ảm đạm và kết thúc bằng một buổi sáng đầy ánh nắng; từ tâm trạng vô tư của Tràng mỗi khi về nhà đến nỗi tiếc nuối khi nghĩ tới những người đi cướp kho thóc và hình ảnh lá cờ đỏ thắm ở cuối truyện Kết cấu này thể hiện rõ niềm tin tưởng lạc quan của tác giả vào sự đổi đời của người lao động và sức sống mãnh liệt của họ.

Kết luận của văn bản nhấn mạnh sự cảm thông và sự trân trọng của nhà văn đối với số phận con người, đồng thời tôn vinh vẻ đẹp của con người và khẳng định sự bất tử của tình người Sự cảm thông được xem như nhịp cầu giữa số phận và niềm tin, cho thấy bản lĩnh và lòng nhân ái của nhân vật cũng như của người kể chuyện Vẻ đẹp của con người được khẳng định không chỉ ở hình thức mà còn ở ý chí, sự kiên nhẫn và tinh thần lạc quan trước nghịch cảnh Từ đó, văn bản khẳng định rằng tình người tồn tại ở mức độ vĩnh hằng, vượt lên mọi thời gian và hoàn cảnh.

- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản:

Bài viết đánh giá các cảm xúc và suy nghĩ của người viết, thể hiện cái nhìn đầy thương xót về thân phận con người, trân trọng các phẩm chất và vẻ đẹp tâm hồn của họ, và khẳng định niềm tin sâu sắc rằng sức sống của họ sẽ vượt qua nghịch cảnh.

+ Đánh giá khuynh hướng tư tưởng của người viết: Lòng thương yêu, tin tưởng vào tình người; phê phán những thế lực gây ra thảm cảnh cho con người

Với tư cách phân tích phê bình, "Vợ nhặt" được xem là một truyện ngắn xuất sắc của văn học hiện thực, nổi bật ở chỗ làm tỏa sáng tình người giữa bối cảnh nghèo đói và khắc nghiệt Khác với các tác phẩm cùng đề tài, Nam Cao không miêu tả sự tha hóa của nhân cách mà ngược lại khắc họa phẩm giá và tinh thần đoàn kết của con người trong hoàn cảnh khó khăn Truyện dùng hình ảnh và tâm lý sâu sắc để gợi mở một nhận thức mới về sự sẻ chia, lòng nhân ái và ý chí vượt lên số phận, qua đó khẳng định giá trị nhân văn của hiện thực xã hội đương thời Vì thế, sự khái quát hóa ở mức phê bình cho thấy "Vợ nhặt" không chỉ phản ánh hiện thực mà còn là một tác phẩm có đóng góp lớn cho cái nhìn về con người và xã hội Việt Nam.

Ngày đăng: 01/11/2022, 10:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 12, (tập 2 - NXB GD) Khác
2. Sách giáo viên Ngữ văn 12 tập 2, Nxb GD, H. 2008 Khác
3. Kĩ năng đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 12, NXB GD Khác
4. Chuyên đề dạy-học Ngữ văn 12, Vợ nhặt (Kim Lân), NXB GD Việt Nam, năm 2009 Khác
5. Đổi mới phương pháp dạy học và những bài dạy minh họa, Ngữ văn 12, NXB Đại học sư phạm Khác
6. Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng,môn Ngữ văn, lớp 12, NXB Đại học sư phạm Khác
7. Thiết kế bài dạy Ngữ văn THPT, NXB GD Khác
8. Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12, NXB Đại học QGHN 9. Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, NXB GD Việt Nam Khác
10. Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, năm 2014 Khác
11. 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, H. 1999 Khác
12. Sách giáo viên Ngữ văn 12 tập 2, Nxb GD, H. 2008 Khác
13. Từ điển tiếng Việt, Nxb, Đà Nẵng. 1998 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm