PowerPoint Presentation 1 Thực tiễn nhận thức và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 1 Các nguyên tắc của lý luận nhận thức 1 Các nguyên tắc của lý luận nhận thức Thừa nhận tính khách quan của đối.
Trang 21 Thực tiễn - nhận thức và vai trò của thực
tiễn đối với nhận thức
Trang 31 Các nguyên tắc của lý luận nhận thức
Trang 41 Các nguyên tắc của lý luận nhận thức
(1) Thừa nhận tính khách quan của đối tượng nhận thức
(2) Khẳng định khả năng nhận thức của con người Cảm giác, tri giác, ý
thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan(3) Nhận thức là quá trình biện chứng
(4) Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra nhận thức
Chương 2, III, 1
Trang 52 Nguồn gốc, bản chất của nhận thức
Trang 6a Nguồn gốc của nhận thức
Trang 7• Để nâng cao hiệu quả hoạt động, con người cần có hiểu biết (tri thức)
về đối tượng liên quan trong hoạt động
• Con người phải tìm hiểu thế giới: nhận thức
Vậy, nguồn gốc của nhận thức là hoạt động thực tiễn của con người
Chương 2, III, 2, a
Trang 8Các yếu tố của quá trình nhận thức
(1) Chủ thể nhận thức với điều kiện:
- Có khả năng nhận thức
- Có nhu cầu hiểu biết
- Trực tiếp, tích cực thực hiện nhận thức (2) Khách thể nhận thức: bộ phận của thế giới khách quan trong sự tương tác với chủ thể nhận thức
(3) Môi trường nhận thức: môi trường xã hội, hoạt động xã hội
Chương 2, III, 2, a
Trang 9b Bản chất của nhận thức
Trang 10Quan niệm duy tâm về nhận thức
- CNDTCQ: sự vật chẳng qua chỉ là phức hợp cảm giác của con người Do vậy, nhận thức là nhận thức cảm giác của con người về sự vật, nhận thức trạng thái chủ quan của con người về sự vật
- CNDTKQ: không phủ định nhận thức chân lý của con người, và giải thích thần bí
Platôn cho nhận thức là hồi tưởng lại, nhớ lại những cái mà linh hồn đã biết trước khi nhập vào thể xác con người
Hêghen cho nhận thức không phải là nhận thức bản thân sự vật mà là nhận thức tinh thần thế giới đang tha hoá thành tự nhiên, xã hội, lịch sử
Chương 2, Ⅲ, 2,
b
Trang 11Quan niệm DV trước Mác về nhận thức
- Chủ nghĩa duy vật trước Mác nhìn chung có quan niệm duy vật về
nhận thức nhưng lại siêu hình, máy móc, thiếu quan điểm lịch sử, thực tiễn về nhận thức
Ví dụ, Phoiơbắc quan niệm nhận thức một cách chết cứng, một lần là
đủ, không có tính lịch sử, không vận động, không biến đổi
- Những người theo trường phái hoài nghi chủ nghĩa thì nghi ngờ sự tồn tại của sự vật và nghi ngờ khả năng nhận thức của con người
- Những người theo thuyết không thể biết cho rằng, con người không
thể nhận thức được bản chất của sự vật, chỉ có thể nhận thức được những hiện tượng bộc lộ ra ngoài của sự vật mà thôi
Như vậy, không có đại biểu triết học nào trước Mác giải quyết một
cách đúng đắn, khoa học vấn đề bản chất của nhận thức
Chương 2, Ⅲ, 2,
b
Trang 12Quan niệm DVBC về bản chất nhận thức
- Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con
người trên cơ sở thực tiễn Điều này có nghĩa là chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con
người Cơ sở của nhận thức chính là thực tiễn lịch sử - xã hội
- Công nhận khả năng nhận thức thế giới của con người Không có cái gì mà
con người không nhận thức được, chỉ có cái mà con người chưa nhận thức
được mà thôi
- Nhận thức là quá trình biện chứng, có vận động biến đổi, phát triển, đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều hơn, từ chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn, từ bản chất cấp 1 đến bản chất cấp 2… nhưng không có giới hạn cuối cùng
- Nhận thức phải dựa trên cơ sở thực tiễn, lấy thực tiễn làm mục đích nhận thức, làm tiêu chuẩn kiểm tra chân lý
Tóm lại, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới
khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn 02/24/2024 12
Chương 2, Ⅲ, 2,
b
Trang 13Bản chất của nhận thức
• Cách hiểu thông thường, nhận thức (cognition) là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các qui trình tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá,
sự lí luận, sự tính toán, …
• Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
• Theo quan điểm DVBC, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng
động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn để tìm ra tri thức
• Sự nhận thức của con người vừa ý thức, vừa vô thức, vừa cụ thể, vừa trừu tượng và mang tính trực giác Quá trình nhận thức sử dụng tri thức có sẵn
Chương 2, Ⅲ, 2,
b
Trang 14Các cấp độ của nhận thức
1 Dựa vào khả năng phản ánh bản chất của đối tượng nhận
thức, người ta chia nhận thức thành nhận thức kinh nghiệm
và nhận thức lý luận; chúng là hai mức nhận thức khác nhau về đối tượng, tính chất, chức năng cũng như hình thức
và trình tự phản ánh
2 Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học Căn cứ
vào tính tự phát hay tự giác của sự phản ánh bản chất của đối tượng nhận thức, người ta chia nhận thức thành nhận thức thông thường và nhận thức khoa học
Chương 2, Ⅲ, 2,
b
Trang 15Nhận thức kinh nghiệm
- Nhận thức kinh nghiệm được hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, trong các thí nghiệm khoa học và trong các hình thức hoạt động thực tiễn không cơ bản khác Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm
- Có hai loại tri thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm thường- là những tri thức thu nhận được nhờ sự quan sát trực tiếp hàng ngày
và trong lao động sản xuất; tri thức kinh nghiệm khoa học - là
những tri thức thu được nhờ đúc kết những thí nghiệm khoa học
Cả hai loại tri thức này có quan hệ mật thiết, xâm nhập lẫn nhau tạo ra tính phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm
Chương 2, Ⅲ, 2,
b
Trang 16Nhận thức lý luận
- Nhận thức lý luận (còn gọi là lý luận) là nhận thức gián tiếp, trừu
tượng và khái quát về bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng
Nhận thức lý luận được hình thành trên cơ sở tổng kết nhận thức kinh nghiệm
- Cái khác của nhận thức lý luận so với nhận thức kinh nghiệm nằm ở chỗ, nhận thức lý luận có chức năng phản ánh gián tiếp, có tính khái quát và trừu tượng cao
- Nhận thức lý luận chỉ tập trung phản ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng Do vậy, tri thức lý luận (kết quả của nhận thức lý luận) là sự thể hiện chân lý sâu sác, chính xác và có hệ thống hơn nhận thức kinh nghiệm
Chương 2, Ⅲ, 2,
b
Trang 17Nhận thức thông thường
- Nhận thức thông thường (có tính tự phát) là nhận thức hình thành
tự phát, trực tiếp từ hoạt động hàng ngày của con người
- Loại nhận thức này phản ánh sự vật, hiện tượng xẩy ra với tất cả
những đặc điểm chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật, hiện tượng
Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phong phú, gắn liền với những quan niệm sống thực tế hàng ngày, chi phối hoạt động của
mọi người trong xã hội.
Chương 2, Ⅲ, 2,
b
Trang 18Nhận thức khoa học
- Nhận thức khoa học (có tính tự giác) là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu
- Đây là sự phản ánh diễn ra dưới dạng trừu tượng, khái quát vừa có tính
hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực
- Sự phản ánh đó vận dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu
và sử dụng ngôn ngữ thông thường và thuật ngữ khoa học để diễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu
Chương 2, Ⅲ, 2,
b
Trang 193 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với
nhận thức
Trang 20a Phạm trù thực tiễn
- Các nhà triết học trước Mác và ngoài Mác đều chưa trả lời được thực tiễn một cách thực
sự đúng đắn, khoa học
Các nhà triết học tôn giáo coi hoạt động sáng tạo ra vũ trụ của thượng đế là thực tiễn
Các nhà triết học duy tâm coi hoạt động tinh thần là hoạt động thực tiễn.
Điđờrô - nhà triết học người Pháp thế kỷ XVIII, coi thực tiễn là hoạt động thực nghiệm khoa học Quan niệm này đúng nhưng chưa đủ.
Phoiơbắc - nhà triết học người Đức thế kỷ XIX cho thực tiễn là những hoạt động buôn bán tầm thường Những quan niệm này là chưa khoa học
- Theo triết học duy vật biện chứng, thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất cảm tính,
có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Chương 2, Ⅲ, 3
Trang 21Đặc trưng của thực tiễn
- Thứ nhất, thực tiễn là hoạt động vật chất cảm tính Đó là những hoạt động mà con người phải dùng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm biến đổi chúng
Ví dụ, hoạt động cày ruộng, đào đất, xây nhà, sản xuất ra của cải vật chất nói chung
- Thứ hai, thực tiễn có tính lịch sử - xã hội Nghĩa là hoạt động thực tiễn
là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người, và trải qua những giai đoạn lịch sử nhất định, bị giới hạn bởi những điều kiện lịch sử - cụ thể nhất định
- Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích - nhằm trực tiếp cải tự nhiên và xã hội phục vụ con người
Chương 2, Ⅲ, 3,
a
Trang 22Các hình thức cơ bản của thực tiễn
- Sản xuất vật chất - hình thức cơ bản, đầu tiên quan trọng nhất; đóng vai trò quyết định các hình thức thực tiễn khác
- Hoạt động cải tạo xã hội - chính trị cũng như cải tạo các quan hệ xã hội Chẳng hạn như đấu tranh giai cấp, đấu tranh cho hoà bình, dân chủ, tiến bộ xã hội…
- Hoạt động thực nghiệm khoa học - hình thức đặc biệt của thực tiễn; được tiến hành trong những điều kiện mà con người chủ định tạo ra
để nhận thức và cải tạo tự nhiên - xã hội phục vụ con người
Mỗi hình thức hoạt động thực tiễn có vai trò, chức năng riêng
không thể thay thế, nhưng chúng quan hệ mật thiết với nhau Trong
đó, sản xuất đóng vai trò quyết định đối với các hình thức khác.
Chương 2, Ⅲ, 3,
a
Trang 23b Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thứ
Trang 24Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức
- Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật Trên cơ sở
đó con người có hiểu biết về chúng Nghĩa là thực tiễn cung cấp “vật liệu” cho nhận thức Không có thực tiễn không thể có nhận thức
- Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời Nói khác đi, chính thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức
phải giải quyết Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển
- Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan của con người
- Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiêụ quả hơn
Chương 2, Ⅲ, 3,
b
Trang 25Thực tiễn là mục đích của nhận thức
- Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại Ngay từ thủa mông muội, để sống con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh, tức là để sống, con người phải nhận thức Nghĩa là ngay từ khi con người xuất hiện trên
trái đất, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhu cầu thực tiễn
- Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận
dụng vào thực tiễn phục vụ con người Nói khác đi, chính thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá giá trị của tri thức - kết quả của nhận thức
Vì vậy, những tri thức khoa học kết quả của nhận thức càng có ý nghĩa, giá trị khi càng được nhiều người vận dụng vào thực tiễn
- Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức, chủ
nghĩa thành tích… thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng, sẽ phải trả giá
Chương 2, Ⅲ, 3,
b
Trang 26Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
• Triết học duy vật biện chứng khẳng định, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý Bởi lẽ, chỉ có thông qua thực tiễn, con người mới “vật chất hoá” được tri thức, “hiện thực hoá” được tư tưởng Thông qua quá trình đó, con người có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm
• Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là
nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối
Chương 2, Ⅲ, 3,
b
Trang 27Quan điểm của thực tiễn
- Nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, phải xuất phát từ thực tiễn
- Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với
hành
- Phải chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện
phát triển lý luận
- Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của lý luận
- Tránh tuyệt đối hoá thực tiễn và coi thường lý luận vì khi ấy sẽ rơi vào bệnh kinh nghiệm Ngược lại cũng cần tránh tuyệt đối hoá lý
luận và coi thường thực tiễn vì khi ấy sẽ rơi vào bệnh giáo điều
Chương 2, Ⅲ, 3,
b